Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

Phát huy giá trị đạo đức quân nhân của thanh niên Quân đội là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục đạo đức cách mạng cho các thế hệ thanh niên Việt Nam, trước lúc đi xa Người căn dặn Đảng ta: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Vì vậy, phát huy giá trị đạo đức quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam làm cho thanh niên quân đội có ý thức tự nguyện, tự giác, tinh thần trách nhiệm, hành động vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân để họ phục vụ cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Phát huy giá trị đạo đức quân nhân của thanh niên quân đội là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay, nhằm góp phần nâng cao đạo đức cách mạng, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Giá trị đạo đức quân nhân của thanh niên quân đội được phát triển là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: tinh hoa giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc trải qua hàng ngàn năm lịch sử; tinh hoa giá trị đạo đức nhân loại, mà nội dung cốt lõi là giá trị đạo đức cộng sản; việc học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; sự kết tinh những giá trị đạo đức quân nhân được rút ra từ thực tiễn đấu tranh cách mạng kiên cường, bền bỉ của quân đội ta. Trong những năm qua, nhờ làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, kết hợp với giáo dục, rèn luyện đạo đức với giáo dục, rèn luyện kỷ luật của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cùng với sự tự giác nỗ lực tự học tập, tự rèn luyện của thanh niên quân đội... nên đã có những chuyển biến rõ rệt về nhận thức và giải quyết các mối quan hệ đạo đức, cơ bản đúng những chuẩn mực đạo đức quân nhân, phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới. Thanh niên quân đội luôn tuyệt đối trung thành vào sự lãnh đạo của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ sự nghiệp đổi mới, bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc , hạnh phúc của nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, có nhiều tấm gương sáng của thanh niên quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chính vì thế mà, phát huy giá trị đạo đức quân nhân của thanh niên quân đội là hành trang cho họ hiểu biết toàn diện về chủ nghĩa Mác - Lênin, về đạo đức cách mạng và tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cùng với những tinh hoa đạo đức có chọn lọc, hun đúc trong quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng, quá trình xây dựng, chiến đấu trưởng thành của quân đội với những giá trị cốt lõi như: yêu nước; trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; dũng cảm, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, tính kỷ luật cao; chủ nghĩa tập thể và tinh thần đoàn kết; tinh thần quốc tế vô sản; chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa và truyền thống nhân văn, nhân ái của “Bộ đội Cụ Hồ”. Các giá trị đạo đức đó phải thật sự trở thành phẩm chất đạo đức cách mạng của thanh niên quân đội, là nền tảng trong đời sống tinh thần của họ và là động lực để thanh niên quân đội phấn đấu học tập, rèn luyện trưởng thành. Tình hình thế giới và khu vực đang có nhiều biến đổi to lớn và khó lường, khoa học và công nghệ có bước tiến nhảy vọt, tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có quốc phòng, an ninh và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, quân đội nhân dân nói riêng. Với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới, thế và lực của nước ta đã mạnh lên nhiều, chúng ta có những cơ hội thuận lợi để phát triển nhanh, bền vững. Song, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá nước ta bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, chúng đang ra sức thực hiện các thủ đoạn chiến lược làm chuyển hóa từ bên trong, tạo cớ can thiệp từ bên ngoài nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa , “phi chính trị hóa quân đội”, vô hiệu hóa lực lượng vũ trang nhân dân và quân đội nhân dân. Do vậy chúng ta không thể xem thường, mà phải kiên quyết đấu tranh làm trong sạch các tổ chức của Đảng và toàn Đảng, cũng như phát huy giá trị đạo đức quân nhân của thanh niên quân đội trong tình hình hiện nay. Phát huy giá trị đạo đức quân nhân là sự thể hiện sinh động đạo đức cách mạng của thanh niên quân đội, quy tụ những giá trị đạo đức quân nhân cao đẹp nhất, phản ánh bản chất, truyền thống đạo đức của Quân đội nhân dân Việt Nam. Giá trị đạo đức quân nhân phản ánh những giá trị riêng biệt về đạo đức cách mạng của thanh niên quân đội. Giá trị đạo đức quân nhân đó gắn bó chặt chẽ với nhau, hợp thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân giữ vai trò chủ đạo chi phối toàn bộ nội dung khác trong giá trị đạo đức quân nhân của thanh niên quân đội. Vận dụng những vấn đề có tính quy luật để phát huy giá trị đạo đức quân nhân của thanh niên quân đội trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, trong đó cần coi trọng giáo dục và tự giáo dục của họ trên nền tảng kinh tế - xã hội phát triển và môi trường văn hóa đạo đức lành mạnh.

Gương mẫu - nói phải đi đôi với làm

 Đề cập đến phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong đó có nhấn mạnh quan điểm “Để tiếp tục đổi mới thành công phương thức lãnh đạo của Đảng phải chủ động, tích cực, có quyết tâm chính trị cao”.

Bí thư Chi bộ thôn Xuân Nộn, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Lê Thị Dĩnh cho rằng, việc đổi mới phương thức phải lấy hiệu quả trong thực tiễn làm thước đo. Để đổi mới, đầu tiên phải thực hiện nói đi đôi với làm. Muốn làm được điều này, trước hết, các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức, cơ quan, đơn vị thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”. "Nói đi đôi với làm" không chỉ là nguyên tắc, đạo đức, lẽ sống mà còn là biểu hiện của sự gương mẫu, trong sáng của mỗi con người.

Cùng với đó, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sớm phát hiện những biểu hiện sai lệch trong cách nói, cách làm trong công việc. Mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng, thường xuyên tổ chức tự phê bình và phê bình, rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động của cơ quan, đơn vị. Đây là một nguyên tắc và là cơ sở xây dựng đức tính trung thực, thẳng thắn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Phát hiện và nhân rộng điển hình, gương người tốt, việc tốt đi đôi với đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.

Muốn hướng dẫn nhân dân, bản thân cán bộ phải mực thước. Điều này càng đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo quản lý phải nêu cao ý thức trách nhiệm thực hiện nêu gương từ việc nhỏ đến lớn, từ việc riêng đến việc chung. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự mình phấn đấu thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đảng viên làm bất kỳ việc gì cũng phải gương mẫu”. Thực hiện, làm đúng những gì đã nói, làm tốt những việc cần làm, đáng làm vì lợi ích của quê hương, đất nước, lợi ích chính đáng của nhân dân; đổi mới tác phong, lề lối làm việc, dân chủ, khoa học và phải là hạt nhân hội tụ đoàn kết trong cơ quan, đơn vị. 

Với mỗi cán bộ, đảng viên, việc lời nói đi đôi với việc làm rất quan trọng và cần thiết, vì cán bộ là gốc của mọi công việc, là những tấm gương để quần chúng nói theo, “nói đi đôi với làm” còn là biểu hiện của sự gương mẫu, trung thực, trong sáng của cán bộ, đảng viên nêu gương trước nhân dân. Bởi “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” như lời Bác dạy.

Bà Lê Thị Dĩnh cho rằng, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị là cần thiết để đáp ứng với tình hình mới. Trong quá trình thực hiện cần kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc dân chủ, nêu cao tinh thần trách nhiệm của tổ chức và cá nhân, nhất là người đứng đầu, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo tập trung, thống nhất, kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm quyền lực đi đôi với trách nhiệm. Mọi cán bộ, đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và kỷ luật Đảng.

Củng cố niềm tin yêu với Đảng

 Quan tâm, theo dõi Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, nhất là bài phát biểu khai mạc và bế mạc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, bà Nguyễn Thị Hoài Thanh (40 năm tuổi Đảng, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội) rất tâm đắc với điểm mới của Hội nghị là lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét, quyết định để ba Ủy viên Trung ương Đảng sau khi bị kỷ luật, thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Theo bà Nguyễn Thị Hoài Thanh, các Ủy viên Trung ương Đảng bị kỷ luật đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của Đảng, về những điều đảng viên không được làm để xảy ra nhiều sai phạm trong tổ chức, cơ quan do mình quản lý... Do vậy, việc bị kỷ luật, cho thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII theo chủ trương của Bộ Chính trị tại Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3/11/2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ sau khi bị kỷ luật là hết sức đúng đắn.

Từ việc kỷ luật trên cho thấy, mục đích chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên là rất rõ ràng. Bởi tham nhũng, tiêu cực thường diễn ra ở những người có chức, có quyền, do tha hóa quyền lực mà gây tổn hại nhiều mặt đến đời sống xã hội, thậm chí vi phạm quyền con người. Vì vậy, thái độ trong chống tham nhũng, tiêu cực là phải thật kiên quyết, không khoan nhượng và hành động thật quyết liệt, cụ thể, hiệu quả.

Nguyên là giáo viên, bà Nguyễn Thị Hoài Thanh nêu quan điểm, tình trạng tham nhũng, tiêu cực, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân, tôi tin tưởng rằng, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần "Cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cái cây" như Bác Hồ đã từng chỉ dạy, sẽ tạo sinh khí mới, quyết tâm cao, hành động mạnh mẽ để đánh thắng “giặc nội xâm” và Đảng ngày càng vững vàng, bản lĩnh, tiếp tục lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần củng cố niềm tin yêu của nhân dân đối với Đảng, với chế độ.

Ông Phạm Tiến Vinh (67 tuổi, 34 năm tuổi đảng, Bí thư Chi bộ địa bàn dân cư số 3, phố Lạc Trung, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội) cho rằng, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực rất kiên quyết, dứt khoát. Đây là công việc quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần củng cố lòng tin trong nhân dân đối với Đảng.

Về những vấn đề này ở các giai đoạn trước đây, chúng ta cho là nhạy cảm, có phần né tránh, thì hiện tại công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được xác định không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Chính vì thế, thời gian qua nhiều cán bộ đảng viên, bị thi hành kỷ luật, đây là vụ việc đau xót, không chỉ đối với các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước mà ngay trong cả đội ngũ cán bộ đảng viên khi thấy các đồng chí mình vi phạm pháp luật nghiêm trọng, tới mức phải xử lý hình sự. Dư luận trong nhân dân đánh giá cao chủ trương xử lý nghiêm minh của Đảng, cho rằng đây là chủ trương rất đúng đắn, hợp lòng dân, đúng kỷ cương, phép nước.

Theo phóng viên TTXVN tại Tokyo, tập đoàn truyền thông Nikkei của Nhật Bản vừa công bố Chỉ số Phục hồi COVID-19 tháng 10/2022, theo đó Việt Nam đứng ở vị trí thứ 8 trong số 121 quốc gia/vùng lãnh thổ trên thế giới với 75 điểm. Đây là tháng thứ 4 liên tiếp Việt Nam nằm trong top 10 của bảng xếp hạng này.

 Nikkei lần đầu công bố bảng xếp hạng Chỉ số Phục hồi COVID-19 vào tháng 7/2021. Chỉ số này phản ánh năng lực kiểm soát lây nhiễm, những tiến bộ trong việc tiêm vaccine phòng COVID-19 và việc duy trì các hoạt động xã hội. Chỉ số này càng cao thể hiện quốc gia/vùng lãnh thổ đó càng tiến gần tới sự phục hồi với tỷ lệ nhiễm mới và tử vong thấp, tỷ lệ bao phủ vaccine cao và có các biện pháp giãn cách xã hội ít nghiêm ngặt hơn.

Vào thời điểm mới công bố tháng 7/2021, Việt Nam đứng ở vị trí 100 trên bảng xếp hạng. Tuy nhiên, theo Nikkei Asia, kể từ tháng 5/2022 tới nay, Việt Nam đã thăng tiến vượt bậc trên bảng xếp hạng và lọt vào top 10 cách đây 4 tháng.

Ngoài Việt Nam, một số quốc gia Đông Nam Á khác cũng có sự cải thiện đáng kể, trong đó đáng chú ý Campuchia đứng ở vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng với 76,5 điểm, cao nhất ở Đông Nam Á, ngay trước Việt Nam.

THỦ TƯỚNG SẼ ĐỐI THOẠI VỀ THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ

Hội nghị đối thoại với Thủ tướng Chính phủ về “Thúc đẩy bình đẳng giới và phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội” sẽ được tổ chức vào sáng 15/10 theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Ngày 11/10, tại Hà Nội, Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN) Việt Nam tổ chức gặp mặt các cơ quan thông tấn báo chí thông tin về các hoạt động kỷ niệm 92 năm thành lập Hội LHPN Việt Nam (20/10/1930 - 20/10/2022) và Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10. Theo thông tin cung cấp, Hội nghị đối thoại với Thủ tướng Chính phủ về “Thúc đẩy bình đẳng giới và phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội” sẽ được tổ chức vào sáng 15/10 theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến tới 62 tỉnh/thành phố. Hội nghị còn có sự tham dự của đại diện các bộ/ngành, cán bộ, hội viên, phụ nữ tiêu biểu trong các lĩnh vực. Để chuẩn bị cho hội nghị này, các cấp Hội đã tổ chức lấy ý kiến, tổng hợp đề xuất, kiến nghị của hội viên, phụ nữ thông qua sinh hoạt hội viên, tiếp công dân, giải quyết đơn thư, đồng thời, Trung ương Hội LHPN Việt Nam cũng nắm bắt dư luận xã hội, thu thập ý kiến trên hệ thống cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử và mạng xã hội của Hội; Chuyên mục trên Báo Phụ nữ Việt Nam. Qua đó, nội dung đối thoại sẽ tập trung vào 3 nhóm vấn đề chính: Phụ nữ với phát triển kinh tế; Phụ nữ và các vấn đề an sinh xã hội, bình đẳng giới; Phụ nữ và thế hệ tương lai. Sau Hội nghị đối thoại với Thủ tướng, chương trình nghệ thuật “Tinh hoa Áo dài Việt” sẽ diễn ra vào tối 18/10 tại Trung tâm Phụ nữ và Phát triển. Chương trình nhằm tôn vinh giá trị của áo dài trong đời sống, văn hóa, xã hội Việt Nam, khơi dậy tình yêu, niềm tự hào và trách nhiệm giữ gìn, phát huy giá trị di sản áo dài, quảng bá hình ảnh áo dài, văn hóa, đất nước, con người Việt Nam nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng đến gần hơn với đông đảo bạn bè trong nước và quốc tế. Chương trình có sự tham gia biểu diễn của các nghệ sĩ, diễn viên Nhà hát kịch Việt Nam, kết hợp trình diễn bộ sưu tập áo dài của nhà thiết kế Đỗ Trịnh Hoài Nam và các nhà thiết kế nữ khác theo 3 chủ đề: Cội nguồn - Hà Nội xưa (bộ sưu tập Áo dài về hoạ tiết xưa, 12 mùa hoa…); Tinh hoa (các bộ sưu tập về nàng thơ, sen, thủ công làng nghề...) và Hội nhập (bộ sưu tập quốc kỳ và dạ hội). Trong tháng 10, cùng với Tháng sách Phụ nữ “Chào Tháng 10” tại các điểm bán sách của Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam còn diễn ra các cuộc triển lãm như: triển lãm ảnh “Phụ nữ trong cuộc sống” tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam (từ ngày 18 đến ngày 24/10) dành cho các nhiếp ảnh nữ chuyên và không chuyên trên toàn quốc, tạo điều kiện cho chị em có sân chơi nghệ thuật lành mạnh, bổ ích và triển lãm “Huyền thoại màu xanh” có nội dung xuyên suốt về Tín ngưỡng thờ Mẫu; Vai trò của người phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp cũng như khắc phục những trở ngại của thiên nhiên để sản xuất, canh tác tại Trung tâm Văn hóa Châu Á, Gwangju, Hàn Quốc trong thời gian từ 21/10/2022 đến 19/2/2023. Dịp này, Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội đã tặng Bằng khen cho 8 tập thể và 11 cá nhân có đóng góp tích cực trong công tác tuyên truyền Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII; tặng Bằng khen cho nữ vận động viên Vũ Phương Thanh, vô địch thế giới Giải ba môn phối hợp SwissUltra 2022. Đức Cường 30A ST

Cần phải chăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đoàn viên thanh niên hôm nay

Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là tương lai của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”, “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Để giáo dục các thế hệ thanh niên Việt Nam, Bác coi trọng cả đức và tài, trong đó đức là gốc. Ngày 11.10, tại Trụ sở T.Ư Đảng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy T.Ư đã gặp mặt thân mật 80 đại biểu ưu tú đại diện cho 450 đại biểu về dự Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X, nhiệm kỳ 2022 - 2027. Phát biểu tại cuộc gặp mặt, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định vai trò nòng cốt của thanh niên quân đội dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, cũng luôn một lòng một dạ trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, xứng đáng với lòng yêu mến, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nội dung trong giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đoàn viên thanh niên đó là: - Trung thành: Trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ quốc, với Đảng, với giai cấp. - Dũng cảm: Không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm”, “gian khổ thì đi trước, hưởng thụ sau mọi người”. - Khiêm tốn: Không nên tự cho mình là tài giỏi, không khoe công, không tự phụ”. Đồng thời, Bác còn chỉ ra sáu điều mà thanh niên cần phải chống là: “Chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang”… Tiếp bước các lớp cha anh, trong những năm qua, cùng với tuổi trẻ cả nước, đoàn viên thanh niên Quân đội đã không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội cụ Hồ”; luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; tiếp tục phát huy truyền thống, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước; xung kích, đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ; chấp nhận khó khăn, gian khổ, hăng hái học tập, rèn luyện, công tác, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Để lại những dấu ấn, kỷ niệm đẹp trong cuộc đời quân ngũ

 Thay mặt Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng biểu dương những cống hiến và sự tiến bộ, trưởng thành của thanh niên Quân đội…

Đại tướng Phan Văn Giang đánh giá, trong 5 năm qua, công tác Đoàn và phong trào Đoàn thanh niên Quân đội đã có bước phát triển mạnh mẽ, đổi mới, được triển khai toàn diện, với những nội dung, hình thức phong phú, sáng tạo, thiết thực, hiệu quả.

Tuổi trẻ quân đội đã phát huy tốt vai trò xung kích, sáng tạo trên các lĩnh vực công tác, đảm nhiệm những việc khó, việc mới, nhiệm vụ quan trọng, đi đầu trong nghiên cứu phát triển, ứng dụng KHCN vào lĩnh vực quân sự, tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc.

Đặc biệt, tuổi trẻ toàn quân đã thường xuyên cảnh giác, thực hiện tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, luôn là lực lượng nòng cốt xung kích đi đầu, sẵn sàng có mặt ở nơi hiểm nguy để cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường, cùng với các lực lượng và nhân dân phòng chống lũ lụt, cứu ngư dân gặp nạn trên biển. Khi đại dịch Covid-19 bùng phát, thanh niên quân đội đã tham gia ở nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kiểm soát, ngăn chặn dịch trên biên giới; điều phối, tiếp viện, cách ly y tế tập trung; vận chuyển, xét nghiệm, tiêm vắc xin và cả công tác hậu sự.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bày tỏ: “Những hình ảnh, những việc làm của các đồng chí thanh niên trong Quân đội, đoàn viên trong quân đội sẽ mãi mãi là những dấu ấn, những kỷ niệm đẹp không phai trong cuộc đời quân ngũ của mình. Đây cũng là những hành trang để các đồng chí bước tiếp trong cả một hành trình của một con người”.

Để phát huy sức mạnh to lớn, vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên và công tác đoàn trong Quân đội, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu tuổi trẻ toàn quân tập trung làm tốt một số nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ xây dựng hình mẫu người thanh niên Quân đội: “Khát vọng lớn - Trách nhiệm cao; Học tập tốt - Hành động giỏi; Đoàn kết tốt - Kỷ luật nghiêm”.

Thanh niên Quân đội cần nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng, bản lĩnh chính trị; xây dựng niềm tin và truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu để thanh niên có kiến thức tổng hợp và chuyên sâu, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, có khả năng tự lực, tự rèn, thích ứng nhanh với thực tiễn, không ngừng phấn đấu vươn lên làm chủ khoa học, công nghệ và vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại.

Bộ trưởng Quốc phòng lưu ý, cần không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả sinh hoạt và hoạt động của tổ chức Đoàn trong Quân đội phù hợp với tâm lý tuổi trẻ, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự quản của đoàn viên, thanh niên.

“Chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các tác động tiêu cực, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đang hằng ngày, hằng giờ tác động vào thanh niên”, Đại tướng Phan Văn Giang giao nhiệm vụ.

Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đặt trọn niềm tin vào tuổi trẻ toàn quân, đồng thời luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để thanh niên thực hiện khát vọng cống hiến trong sự nghiệp xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đại hội của hành động

 Khai mạc Đại hội, Đại tướng Lương Cường - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam cho biết, Đại hội có ý nghĩa rất quan trọng, định hướng, cổ vũ, động viên tuổi trẻ toàn quân kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng, vươn lên chiếm lĩnh, xác lập những đỉnh cao mới trên các lĩnh vực, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới. Đại hội tiếp tục khẳng định dù trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, thanh niên Quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa công tác Đoàn và phong trào thanh niên Quân đội phát triển lên tầm cao mới.

Đại hội có nhiệm vụ tổng kết, kiểm điểm, đánh giá kết quả công tác Đoàn và phong trào thanh niên Quân đội 5 năm, giai đoạn 2017 – 2022; xác định phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và chương trình hành động 5 năm tới; đóng góp vào dự thảo Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đoàn khóa XI trình Đại hội XII và bầu đại biểu đại diện cho tuổi trẻ Quân đội dự Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII.

Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam nhấn mạnh, đây là Đại hội của hành động, thể hiện niềm tin, ý chí và quyết tâm cống hiến của tuổi trẻ Quân đội, thành công của Đại hội đánh dấu bước phát triển mới về công tác Đoàn và phong trào thanh niên Quân đội. Khẳng định sự đoàn kết, thống nhất và khát vọng cao đẹp của tuổi trẻ Quân đội là được đem sức trẻ, tài năng, trí tuệ của mình cùng với tuổi trẻ cả nước xung kích, sáng tạo thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Trình bày báo cáo Chính trị tóm tắt của Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam trình Đại hội, Đại tá Trần Viết Năng, Trưởng ban Thanh niên Quân đội cho biết, 5 năm qua, công tác Đoàn và phong trào thanh niên Quân đội được triển khai toàn diện, ngày càng phát triển vững chắc. Thanh niên Quân đội xung kích thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện kỷ luật, xây dựng nếp sống chính quy, môi trường văn hóa... đạt nhiều kết quả nổi bật.

Những kết quả đạt được đã khẳng định niềm tin, khát vọng cống hiến, chiếm lĩnh những đỉnh cao quyết thắng của thanh niên Quân đội, xứng đáng là lá cờ đầu trong phong trào thanh niên của cả nước.

Việc được bầu vào Hội đồng nhân quyền LHQ khẳng định nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy quyền con ngườ

 Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Hiệu khẳng định việc Việt Nam được Đại hội đồng LHQ bầu vào Hội đồng Nhân quyền LHQ có ý nghĩa hết sức to lớn, khẳng định sự công nhận vị thế của Việt Nam, đồng thời khẳng định và ghi nhận nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy bảo vệ quyền con người trong suốt thời gian vừa qua.

Thứ trưởng Phạm Quang Hiệu nêu rõ đây là nỗ lực rất lớn và cũng là chủ trương, đường lối, chính sách xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người đồng thời cũng là một trong những nội dung, chương trình nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang hướng tới. Cộng đồng quốc tế rất kỳ vọng Việt Nam với việc lần thứ hai tham gia Hội đồng Nhân quyền sẽ thúc đẩy nỗ lực bảo vệ quyền con người và đóng góp chung vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế.

Theo Thứ trưởng Phạm Quang Hiệu, đến nay Việt Nam đã tham gia vào nhiều trụ cột lớn của LHQ, từ chính trị, phát triển cho đến thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Đây là chủ trương rất đúng đắn của Việt Nam khi tham gia LHQ nói riêng và tham gia thúc đẩy, nâng tầm vị thế của ngoại giao đa phương nói chung, thực hiện Chỉ thị 25 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến 2030.

Việc Việt Nam đạt được những kết quả này có sự chỉ đạo hết sức sát sao và đôi khi là trực tiếp của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, sự phối hợp của các bộ, ngành liên quan trong việc ứng cử, vận động thành công để Việt Nam tham gia vào một trong các cơ quan quan trọng nhất của LHQ là Hội đồng Nhân quyền. Ngoài ra, cũng có sự phối hợp rất chặt chẽ của các cơ quan truyền thông và Bộ Ngoại giao để có những kế hoạch, chiến lược hết sức phù hợp và nhờ đó đạt được kết quả ngày hôm nay.

Cần chống bệch lười học lý luận chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ ra một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Thực tế cho thấy, Đảng ta luôn chú trọng đến công tác học tập lý luận chính trị. Hằng năm, Đảng và Nhà nước dành nguồn lực không nhỏ để nghiên cứu, biên soạn nhiều loại tài liệu lý luận chính trị phù hợp với các đối tượng; chỉ đạo tiến hành công tác giáo dục lý luận chính trị rất sát sao. Tuy nhiên, trong thực hiện thì chưa đạt được mục tiêu mong muốn vì bệnh thành tích, bệnh qua loa đại khái, bệnh cả nể, cũng như các nguyên nhân khác. Hiện nay, nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương xem nhẹ việc học lý luận chính trị cả khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và rút kinh nghiệm. Thời gian học tập bị rút ngắn vì nhiều lý do. Nhiều cán bộ, đảng viên làm bài thu hoạch, kiểm tra chính trị chỉ sao chép lấy lệ. Việc đầu tư thời gian vào nghiên cứu lý luận chính trị còn rất hạn chế. Qua nghiên cứu các vụ việc vi phạm kỷ luật, pháp luật gần đây, đặc biệt là sự việc xảy ra ở Bệnh viện Tim Hà Nội, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội hay ở Bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, nguyên nhân chính do tình trạng yếu kém về bản lĩnh chính trị, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm trong một số cán bộ, đảng viên có chức quyền. Điều này đã một phần nào cho thấy, việc học tập lý luận chính trị là chưa thực chất, nên chưa tạo được sức đề kháng và bản lĩnh cho đảng viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Để làm tốt việc này, các tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm chắc Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Trong đó, cần nắm chắc chủ trương “xây dựng chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị định kỳ, thường xuyên đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý” để thực hiện. Cần phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên chủ trì cơ quan, đơn vị, địa phương trong học tập lý luận chính trị, đặc biệt là thực hiện triệt để phương châm “nói và làm theo nghị quyết, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng”. Xây dựng được phong trào tự giác học tập, tự giác nghiên cứu để nâng cao trình độ lý luận chính trị theo tinh thần “học ở trường, ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân". cần coi trọng khâu kiểm tra, đánh giá; kiên quyết loại bỏ các biểu hiện thờ ơ, xem nhẹ hoặc hời hợt, qua loa trong kiểm tra, đánh giá kết quả. Bên cạnh đó, cần biểu dương những tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên gương mẫu thực hiện tốt việc học tập, nghiên cứu lý luận chính trị; đồng thời, góp ý, phê bình nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên có biểu hiện lơ là, thiếu nghiêm túc trong học tập. Thực hiện nghiêm quy định lấy kết quả thu hoạch chính trị làm căn cứ để đánh giá, xếp loại, phân loại cán bộ, đảng viên và bình xét thi đua hằng năm. Trong thực tiễn đã xuất hiện hiện tượng học lý luận chính trị “thuộc làu làu” thông qua “tầm chương trích cú”, cốt để làm bình phong, khoe với tổ chức, đánh bóng thương hiệu cá nhân, nhưng khi vận dụng vào thực tế lại trái ngược, thậm chí quên đi trách nhiệm, lý tưởng đảng viên mà thay vào đó là cách làm việc cơ hội, trục lợi. Để ngăn ngừa hiện tượng này cần có giải pháp đấu tranh quyết liệt thông qua việc mở rộng dân chủ, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình. Lý luận chính trị được ví như “kim chỉ nam” soi đường hành động cho tổ chức và mỗi cán bộ, đảng viên. Không nắm chắc lý luận chính trị thì khó có bản lĩnh vững vàng, xây dựng được quyết tâm, dám nghĩ, dám làm, dám tìm ra giải pháp tối ưu để vượt qua khó khăn. Không có bản lĩnh chính trị thì cán bộ, đảng viên rất dễ bị gục ngã trước những cám dỗ vật chất luôn cận kề. Học tập lý luận chính trị là cơ sở để đảng viên nắm chắc đường lối, chủ trương; loại bỏ chủ nghĩa cá nhân; ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; từ đó, cống hiến tích cực, hiệu quả hơn cho sự nghiệp của Đảng, của nhân dân.

 Những điểm mới, đột phá trong chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế, phát huy nguồn lực đất đai, tạo động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới


TCCS - Nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách đặt ra trong thực thi chính sách, pháp luật về đất đai, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW. Nội dung Nghị quyết thể hiện nhiều điểm mới, đột phá, làm định hướng quan trọng để các cấp, các ngành chung tay tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, phát huy nguồn lực đất đai, tạo động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.


Bám sát Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013, kế thừa, phát triển và cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về quản lý và sử dụng đất qua các kỳ đại hội, nhất là Đại hội XIII, Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, “Về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao” (gọi tắt là Nghị quyết số 18-NQ/TW hay Nghị quyết) có nhiều điểm mới, đột phá. Xét trên giác độ các điểm mới cụ thể, Nghị quyết đưa ra định hướng nhằm giải quyết cơ bản những vướng mắc, bất cập kéo dài do lịch sử để lại (như đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh, đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, đất tôn giáo, đất của các cơ sở sản xuất, đơn vị sự nghiệp công lập đã di dời ra khỏi trung tâm các đô thị lớn, đất sau cổ phần hóa...); những vấn đề phát sinh trong bối cảnh mới (như đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động, sản xuất và xây dựng kinh tế, đất sử dụng đa mục đích, đất lấn biển...) tạo động lực để đưa nước ta phát triển nhanh và bền vững với các định hướng mới trong quy hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất; hỗ trợ, bồi thường, tái định cư, thu hồi đất; giá đất; tài chính đất đai; cải cách hành chính trong quản lý đất đai; nâng cao năng lực quản lý đất đai...

Những điểm mới này được thể hiện xuyên suốt trong nội dung của Nghị quyết, từ quan điểm, mục tiêu đến nhiệm vụ, giải pháp và tổ chức thực hiện, nhưng tựu trung lại ở ba điểm lớn, cơ bản, đó là: 1- Nâng cao vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất; 2- Nâng cao vai trò đại diện chủ sở hữu và năng lực quản lý của Nhà nước về đất đai; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực đất đai; 3- Bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người dân, nhà đầu tư và Nhà nước, trong đó người dân là trung tâm và không để ai bị bỏ lại phía sau. Đây cũng chính là những yêu cầu lớn đặt ra đối với việc hoàn thiện thể chế, chính sách về đất đai.

Nâng cao vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất

Đất đai là tài nguyên hữu hạn, là nguồn lực rất quan trọng cho phát triển. Do đó, để phát huy tối đa nguồn lực đất đai, để đất đai mang lại giá trị cao nhất, nguồn lực này cần được phân bổ cho những ngành, lĩnh vực và những người sử dụng hiệu quả nhất, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy, thị trường là cơ chế hữu hiệu nhất để thực hiện điều này. Vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất được nâng cao giúp tăng cường tính công khai, minh bạch, qua đó thị trường sẽ hoạt động hiệu quả hơn và Nhà nước có đầy đủ hơn các thông tin để quản lý và điều tiết thị trường hoạt động hiệu quả.

Định hướng nâng cao vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất trong Nghị quyết số 18-NQ/TW được thể hiện cụ thể ở những điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, Nghị quyết đặt ra yêu cầu đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng đất phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, Nghị quyết khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Đồng thời, chỉ rõ tính tài sản của quyền sử dụng đất: Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu. Điều này giúp cho quyền sử dụng đất có thể vận hành được trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, Nghị quyết định hướng mở rộng quyền tiếp cận đất đai đối với người dân và doanh nghiệp. Cụ thể là, mở rộng hạn mức và đối tượng được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp; quy định việc giao và cho thuê đất chủ yếu được thực hiện thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu dự án có sử dụng đất(1); bỏ khung giá đất và quy định có cơ chế, phương pháp xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường(2); tiếp tục thực hiện cơ chế tự thỏa thuận giữa doanh nghiệp và người dân trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án về đô thị, nhà ở thương mại; sớm xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách để các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình có thể tham gia vào dự án đầu tư thông qua việc chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; xây dựng ngân hàng cho thuê đất nông nghiệp; đẩy mạnh thương mại hóa quyền sử dụng đất;...

Ở nước ta, quá trình tập trung, tích tụ đất nông nghiệp diễn ra chậm. Đất nông nghiệp chủ yếu là quy mô nhỏ với khoảng 78 triệu thửa ruộng lớn, nhỏ khác nhau, trung bình mỗi hộ có khoảng 2,5 thửa với diện tích khoảng 0,5ha; chỉ có khoảng 10% số hộ có thửa liền bờ nhau; tỷ lệ hộ sử dụng đất trên 5ha khoảng 3% trong tổng số 8,8 triệu hộ nông nghiệp. Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp chiếm khoảng 1% trong tổng số doanh nghiệp cả nước. Một trong những nguyên nhân khiến cho đất đai bị bỏ hoang là việc áp dụng chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp. Người nông dân sẵn sàng bỏ ruộng đất hoang hóa nhưng vẫn nắm giữ đất, họ cũng không có động lực phải trả hay khai thác. Khi có ngân hàng cho thuê đất nông nghiệp, người dân hoàn toàn yên tâm cho ngân hàng thuê đất và khi đó đất đai được góp để cho doanh nghiệp thuê.

Do vậy, việc định hướng nâng cao vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất sẽ giúp cho thị trường quyền sử dụng đất trở nên linh hoạt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập trung đất đai và ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp, qua đó làm tăng hiệu quả sử dụng đất; khắc phục tình trạng bỏ hoang đất nông nghiệp và tâm lý “sợ mất đất” của người nông dân; tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong tiếp cận đất đai và chủ động hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; làm tăng tính công khai, minh bạch và hạn chế được tình trạng lạm dụng, tham nhũng, tiêu cực trong quản lý và sử dụng đất.

Nâng cao vai trò đại diện chủ sở hữu và năng lực quản lý của Nhà nước về đất đai; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực đất đai

Đất đai không chỉ là tài nguyên hữu hạn, là nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước, mà còn là lãnh thổ quốc gia, không gian sinh tồn của dân tộc. Do đó, đất đai không chỉ cần được quản lý và sử dụng hiệu quả, mà còn cần được bảo vệ, được quản lý và sử dụng bền vững, đúng mục đích và tiết kiệm.

Nghị quyết nêu rõ, đất đai thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Do vậy, việc nâng cao vai trò đại diện chủ sở hữu và năng lực quản lý của Nhà nước về đất đai có ý nghĩa rất quan trọng, bảo đảm việc quản lý và sử dụng đất vì lợi ích chung của toàn dân và để nhân dân có thể tiếp cận, sử dụng đất công bằng, công khai, hiệu quả và bền vững. Khi vai trò đại diện chủ sở hữu và năng lực quản lý của Nhà nước về đất đai được nâng cao, đất đai sẽ được quản lý và sử dụng một cách minh bạch, công khai; thị trường bất động sản sẽ được điều tiết để phát triển lành mạnh hơn, hiệu quả hơn. Đồng thời, tính kỷ luật, kỷ cương trong quản lý và sử dụng đất đai cũng sẽ được nâng cao hơn. Qua đó, giúp giảm thiểu tiêu cực, lãng phí, tham nhũng trong quản lý và sử dụng đất đai.

Định hướng nâng cao vai trò đại diện chủ sở hữu và năng lực quản lý của Nhà nước về đất đai được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, Nghị quyết nêu rõ ý nghĩa của sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý cũng như cụ thể hóa sự thống nhất quản lý của Nhà nước về đất đai.

Sở hữu toàn dân về đất đai không tách rời sự quản lý thống nhất của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu. Thực hiện sở hữu toàn dân là để bảo đảm đất đai được quản lý và sử dụng vì lợi ích chung của toàn dân, nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất công bằng, công khai, hiệu quả và bền vững. Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai là quản lý theo lãnh thổ quốc gia, bao gồm cả diện tích, chất lượng, giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường; phân công hợp lý giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương, đồng thời có sự phân cấp, phân quyền phù hợp, hiệu quả đối với địa phương.

Thứ hai, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất cần có tầm nhìn dài hạn, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ; kết hợp giữa chỉ tiêu các loại đất gắn với không gian, phân vùng sử dụng đất, hệ sinh thái tự nhiên, thể hiện thông tin đến từng thửa đất. Đặc biệt, Nghị quyết nêu rõ: Nhà nước bảo đảm đủ nguồn lực để lập quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất.

Trên thực tế, trong thời gian qua, nhiều địa phương huy động nguồn lực xã hội để thực hiện công tác quy hoạch. Cụ thể, những địa phương này nhận tài trợ quy hoạch từ các nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp. Điều này, một mặt, góp phần giúp cho quy hoạch sát với yêu cầu của thị trường và khắc phục việc thiếu kinh phí cho lập quy hoạch, nhất là ở những địa phương còn nhiều khó khăn; mặt khác, việc nhận tài trợ quy hoạch từ nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp còn chứa đựng rủi ro lạm dụng và tiêu cực, nhất là khi nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp “nắn” quy hoạch theo hướng có lợi cho họ. Việc Nhà nước bảo đảm đủ kinh phí để thực hiện quy hoạch sẽ giúp giảm thiểu việc lạm dụng quy hoạch để trục lợi, qua đó, nâng cao được hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước trong quản lý và sử dụng đất.

Thứ ba, có biện pháp đồng bộ, cụ thể để xử lý những trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng(3). Kiên quyết thu hồi đất của tổ chức, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp sử dụng không đúng mục đích, nhất là tại các vị trí có lợi thế, có khả năng sinh lời cao, ngăn chặn thất thoát vốn, tài sản nhà nước(4).

Thứ tư, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đất đai tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ, thống nhất; nâng cao năng lực, trình độ cán bộ, công chức ngành quản lý đất đai; đẩy mạnh cải cách hành chính; ứng dụng công nghệ hiện đại và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về đất đai, trọng tâm là xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin về đất đai, tập trung, thống nhất và hiện đại.

Cơ sở dữ liệu về đất đai phải được xây dựng đồng bộ, thống nhất không chỉ về số lượng, chất lượng, diện tích mà cả về giá trị, lịch sử giao dịch. Khi cơ sở dữ liệu về đất đai được số hóa sẽ dễ dàng theo dõi được sự thay đổi, bao gồm cả sự thay đổi về giá trị và sự chuyển dịch về đất đai giữa các bên liên quan. Mọi giao dịch về đất đai sẽ trở nên minh bạch, cụ thể và trực quan. Điều này giúp Nhà nước thực hiện tốt hơn chức năng đại diện chủ sở hữu về đất đai thông qua việc cung cấp thông tin, báo cáo và thực hiện trách nhiệm giải trình. Đồng thời, hiệu lực, hiệu quả quản lý được nâng cao khi Nhà nước có đủ thông tin để ra các quyết định quản lý.

Thứ năm, tăng cường phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước về đất đai gắn liền với điều kiện thực thi và kiểm soát, giám sát quá trình thực hiện. Nghị quyết đặt ra yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của các bên liên quan trong quản lý và sử dụng đất, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu; đổi mới, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm soát của Nhà nước; nâng cao vai trò của cơ quan tư pháp trong giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, các bên liên quan và nhân dân. Tất cả những điều đó sẽ giúp nâng cao tính linh hoạt, chủ động, sáng tạo của địa phương, đồng thời giúp phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực.

Thứ sáu, tập trung nguồn lực đầu tư cho công tác điều tra, đánh giá tài nguyên đất; thống kê, kiểm kê đất đai; giám sát sử dụng đất; bảo vệ, cải tạo và phục hóa đất(5). Điều này sẽ góp phần giúp cho đất đai được quản lý và sử dụng tiết kiệm và bền vững hơn.


Bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người dân, nhà đầu tư và Nhà nước, trong đó người dân là trung tâm và không để ai bị bỏ lại phía sau

Điều này sẽ giúp giảm tình trạng khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp, tố cáo về đất đai(6); khắc phục tình trạng đất đai bị hoang hóa, sử dụng không đúng mục đích; đồng thời, góp phần khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ ta trong quản lý và sử dụng đất. Qua đó, hiệu quả quản lý và sử dụng đất được nâng cao.

Yêu cầu bảo đảm sự hài hòa trong lợi ích giữa người dân, nhà đầu tư và Nhà nước trong quản lý và sử dụng đất, trong đó người dân là trung tâm, không để ai bị bỏ lại phía sau, được thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, quy định cụ thể hơn về thẩm quyền, mục đích, phạm vi thu hồi đất, điều kiện, tiêu chí cụ thể việc Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; trường hợp Nhà nước thu hồi đất mà phải tái định cư thì phải thực hiện tái định cư trước khi thu hồi đất. Đồng thời, phải bảo đảm được sinh kế cho người dân. Cụ thể là, hỗ trợ người dân trong việc đào tạo nghề, tạo việc làm, tổ chức lại sản xuất...

Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, một số địa phương chưa thực hiện đúng các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, như chưa xây dựng khu tái định cư trước khi quyế#t định thu hồi đất hoặc đã xây dựng nhưng vị trí không thuận lợi, kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ, không phù hợp với phong tục, tập quán của địa phương nơi người có đất bị thu hồi cư trú; thiếu quyết liệt trong chỉ đạo tổ chức thực hiện và phối hợp giữa các cơ quan có trách nhiệm trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Phần lớn các địa phương chưa quan tâm đúng mức đến tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi trong độ tuổi lao động, chưa bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân. Hậu quả là, người dân mất đi sinh kế, đời sống thấp hơn so với trước nên dẫn đến việc khiếu nại, khiếu kiện. Một khi lợi ích của người dân có đất bị thu hồi được bảo đảm bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ thì họ sẽ cảm thấy không bị thiệt thòi, qua đó giúp giảm khiếu nại, khiếu kiện và những tiêu cực khác trong quản lý và sử dụng đất.

Thứ hai, chính sách tài chính về đất đai phải bảo đảm hài hòa được lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư; nghiên cứu có chính sách điều tiết chênh lệch địa tô, bảo đảm công khai, minh bạch.

Nghị quyết đưa ra định hướng: Quy định mức thuế cao hơn đối với người sử dụng nhiều diện tích đất, nhiều nhà ở, đầu cơ đất, chậm sử dụng đất, bỏ hoang đất. Đồng thời, Nghị quyết đặt ra yêu cầu: Có chính sách ưu đãi thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phù hợp với lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư; đối với hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình người có công với cách mạng; những địa phương được quy hoạch sản xuất nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ các loại rừng, nhất là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng...

Như vậy, những người sử dụng nhiều nhà, đất và đầu cơ đất đai sẽ phải chịu mức thuế cao hơn, còn những người trong tình trạng yếu thế hay có những trách nhiệm mang tính quốc gia, cộng đồng sẽ có những chính sách bảo đảm cho họ có cơ hội tiếp cận và sử dụng đất tốt hơn.

Thuế là vấn đề rất phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến mọi người dân, tổ chức và hộ gia đình, nên Nghị quyết đặt ra yêu cầu rà soát chính sách, pháp luật về thuế chuyển quyền sử dụng đất, trên cơ sở đó, xây dựng, hoàn thiện chính sách về thuế chuyển quyền sử dụng đất theo thông lệ quốc tế nhưng phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam (trình độ phát triển và điều kiện cụ thể) và theo một lộ trình thích hợp. Đây chính là sự hài hòa trong lợi ích giữa người dân, Nhà nước, nhà đầu tư và bảo đảm không để ai bị bỏ lại phía sau. Điều này giúp giảm khiếu nại, khiếu kiện và đất đai sẽ được quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hơn.

Thứ ba, bên cạnh định hướng về sớm xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách để các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình có thể tham gia vào dự án đầu tư thông qua việc chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, Nghị quyết đưa ra yêu cầu có quy định cụ thể việc khai thác hiệu quả quỹ đất vùng phụ cận các công trình kết cấu hạ tầng và chính sách ưu tiên cho người có đất ở bị thu hồi được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng theo quy định của pháp luật; quy định cơ chế góp quyền sử dụng đất, điều chỉnh lại đất đai đối với các dự án phát triển, chỉnh trang đô thị và khu dân cư nông thôn.

Như vậy, những điểm mới lớn, đột phá kể trên cũng chính là những yêu cầu quan trọng trong chủ trương của Đảng đối với việc hoàn thiện thể chế, chính sách về đất đai, trong đó trọng tâm là sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 và các luật khác có liên quan, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ. Đây chính là yêu cầu phải xử lý tốt mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong quản lý và sử dụng đất.

Việc thể chế hóa chủ trương mới của Đảng về quản lý và sử dụng đất sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ, chặt chẽ và thống nhất, bảo đảm cho Nhà nước có đầy đủ công cụ pháp lý để thực hiện quyền và nghĩa vụ đại diện chủ sở hữu, chủ thể sử dụng đất. Vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất được nâng lên sẽ giúp cho đất đai được phân bổ hợp lý và hiệu quả hơn. Tất cả những điều đó cùng với việc bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người dân, nhà đầu tư và Nhà nước trong quản lý và sử dụng đất sẽ giúp giảm thiểu lãng phí, tiêu cực; giảm tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến đất đai; đất đai sẽ được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững hơn, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu./.

------------

(1) Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định trường hợp giao đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất không quy định các trường hợp đấu thầu dự án có sử dụng đất. Báo cáo kiểm toán cho thấy, công tác giao đất tại nhiều địa phương còn bất cập, hạn chế, trong đó chủ yếu là giao đất theo hình thức chỉ định, không đấu giá quyền sử dụng đất, ban hành văn bản công nhận chủ đầu tư theo hình thức chỉ định, vi phạm Luật Đấu thầu (Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, số 599/BC-KTNN, ngày 10-6-2021, của Kiểm toán Nhà nước).
(2) Chính phủ quy định khung giá đất và khung giá đất được điều chỉnh 5 năm một lần. Trên cơ sở khung giá đất, các địa phương xây dựng bảng giá đất để các cá nhân, tổ chức thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Giá trị bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xác định dựa trên giá đất cụ thể theo các phương pháp định giá khác nhau (tùy thuộc vào quy mô, giá trị của mảnh đất). Do nhiều nguyên nhân khác nhau, giá đất được xác định để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thường thấp hơn so với giá thị trường. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khiếu nại, khiếu kiện gia tăng và nguy cơ tham nhũng, tiêu cực.
(3) Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến tháng 6-2021, kết quả kiểm tra, rà soát các dự án, công trình đã được giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; có thông báo thu hồi đất; có chủ trương đầu tư nhưng không sử dụng đất hoặc chậm đưa đất vào sử dụng là 3.790 dự án, công trình với tổng diện tích là 219.991,80ha. Một bộ phận người dân giàu lên nhanh chóng, mua bán đầu cơ đất đai, nhà ở trong các dự án bất động sản nhưng không sử dụng tạo nên những khu đô thị không có người ở, nhà bỏ hoang.
(4) Việc quản lý quỹ đất của doanh nghiệp trước và sau cổ phần hóa, xác định giá trị quyền sử dụng đất (trong đó có lợi thế vị trí địa lý) để đưa vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa còn bất cập, có trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất tại một số vị trí đắc địa không phù hợp với phương án cổ phần hóa đã được phê duyệt. Việc bán tài sản trên đất, đặc biệt là chuyển quyền sử dụng đất đã và đang gây thất thoát tài sản nhà nước. Năm 2020, theo số liệu của Thanh tra Chính phủ, toàn ngành thanh tra đã phát hiện hành vi vi phạm về kinh tế 64.551 tỷ đồng, 7.077ha đất; kiến nghị thu hồi 26.007 tỷ đồng và trên 1.174ha đất; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán do chưa thực hiện đúng quy định và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý 38.544 tỷ đồng, 5.903ha đất. Nguồn: Hàn Tín: “Xử lý tài sản công tập trung vào nhà đất”, báo Đầu tư online, ngày 1-6-2021, https://baodautu.vn/xu-ly-tai-san-cong-tap-trung-vao-nha-dat-d143862.html
(5) Kết quả điều tra, đánh giá đất đai do các cơ quan ở Trung ương thực hiện cho thấy, có tới 11,838 triệu héc-ta hay 35,7% quỹ đất đai của cả nước đã bị thoái hóa, làm suy giảm sức sản xuất và hiệu quả sử dụng đất. Xuất hiện tình trạng ô nhiễm kim loại nặng trong đất vượt ngưỡng quy định ở một số khu vực có hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề. Hiện tượng xâm nhập mặn tại các vùng cửa sông, thoái hóa đất do xói mòn rửa trôi tại vùng đồi núi có xu hướng tăng, đặc biệt là hiện tượng mặn hóa, phèn hóa, xâm thực mặn ở các cửa sông và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hiện tượng sa mạc hóa xảy ra ở khu vực miền Trung.
(6) Số vụ án liên quan tới đất đai chiếm trên 70% số vụ án được xét xử hằng năm. Các vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai vẫn chiếm 60% tổng số đơn, thư khiếu nại. Các kiến nghị đối với sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai, nhất là tại một số tổng công ty, tập đoàn lớn của Nhà nước... còn kéo dài, khó xử lý dứt điểm.

                                                                                                                Nguồn: PGS, TS. NGUYỄN HỒNG SƠN

                                                                                                                    Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương

 Việt Nam lần thứ 2 trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc

Đoàn Việt Nam tham dự phiên họp bỏ phiếu và công bố kết quả thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ. Ảnh: TTXVN

Phái đoàn Việt Nam tham dự phiên họp. Ảnh: TTXVN.

Các thành viên LHQ tham gia ứng cử được chia thành 5 khu vực địa lý, trong đó, nhóm châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có sự cạnh tranh cao nhất cho vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ này với 7 nước giới thiệu ứng cử từ giữa năm 2020 (1 nước rút ứng cử vào phút chót).

Việt Nam được các thành viên của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhất trí ủng hộ là ứng cử viên duy nhất của ASEAN cho vị trí này; đồng thời cũng là ứng cử viên châu Á duy nhất của Cộng đồng Pháp ngữ.

Việc trúng cử trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền, cơ quan có vai trò quan trọng hàng đầu trong hệ thống LHQ trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực.

Đây cũng là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, là bước tiến mới trong nỗ lực triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng và Chỉ thị 25 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến 2030.

Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Hiệu, Trưởng đoàn Việt Nam tham dự phiên họp khẳng định kết quả này không chỉ cho thấy sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với thành tựu bảo đảm quyền con người của Việt Nam mà còn là thành quả từ sự chỉ đạo sát sao và tham gia trực tiếp của Lãnh đạo cấp cao, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, trong đó có vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đây cũng là minh chứng cho thấy vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được củng cố, nâng cao.

Có thể thấy, thời gian vừa qua, Việt Nam luôn tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động của HĐNQ LHQ từ khi cơ quan này được thành lập. Trong đó, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên HĐNQ LHQ nhiệm kỳ 2014-2016, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

Việt Nam tham gia tích cực các hoạt động của HĐNQ, thúc đẩy các sáng kiến thể hiện dấu ấn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao như tham gia Nhóm Nòng cốt tại HĐNQ về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”, trực tiếp là tác giả một số nghị quyết được HĐNQ thông qua bằng đồng thuận về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với các nhóm dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em…).

Việt Nam cũng tham gia đồng tác giả, đồng bảo trợ hàng chục nghị quyết của HĐNQ trong giai đoạn này, tập trung vào các lĩnh vực quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới, chống phân biệt đối xử, xóa bỏ các biện pháp cấm vận đơn phương ảnh hưởng đến thụ hưởng quyền con người, quyền của nông dân, vấn đề dân chủ hóa đời sống quốc tế và tăng cường đoàn kết quốc tế.

Đoàn Việt Nam tham dự phiên họp bỏ phiếu và công bố kết quả thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Ảnh: TTXVN

Đoàn Việt Nam tham dự phiên họp bỏ phiếu và công bố kết quả thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Ảnh: TTXVN.

Việt Nam có nhiều đóng góp, làm cầu nối thúc đẩy hợp tác và đối thoại giữa các nước, các nhóm nước nhằm thúc đẩy cách tiếp cận cân bằng, tiến bộ, hướng tới con người của HĐNQ trên những vấn đề còn khác biệt ví dụ như về quyền sức khỏe sinh sản, chống bạo hành với phụ nữ, xóa bỏ phân biệt đối xử và bạo lực dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tình dục…

Việt Nam cũng đã thúc đẩy đối thoại trong khuôn khổ HĐNQ giữa các nước liên quan, các tổ chức khu vực và các cơ chế của LHQ về quyền con người nhằm giải quyết những quan tâm cụ thể về các vấn đề liên quan đến nhân quyền, nhân đạo; gắn với việc phối hợp với các nước đang phát triển đấu tranh để bảo đảm HĐNQ hoạt động đúng nguyên tắc, thủ tục, không chính trị hóa, không can thiệp công việc nội bộ các nước.

Các nội dung trên tiếp tục nằm trong các ưu tiên, định hướng cho tham gia của Việt Nam trong nhiệm kỳ tới, như thể hiện trong các Cam kết tự nguyện khi ứng cử mà Việt Nam gửi tới LHQ theo quy định của Đại hội đồng.

Hội đồng Nhân quyền LHQ trực thuộc Đại hội đồng LHQ (ĐHĐ LHQ) được thành lập năm 2006 là cơ chế quan trọng nhất về quyền con người của trong hệ thống LHQ, có chương trình nghị sự trải rộng trên 10 đề mục, một mặt bám sát các quan tâm chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người, mặt khác cũng phản ánh rõ nét những ưu tiên, chiến lược lớn của các nước và các nhóm nước trong lĩnh vực này.

HĐND có một hệ thống các cơ quan, cơ chế trực thuộc đặc biệt, được quan tâm và tham gia rộng rãi, đầy đủ nhất là Cơ chế Rà soát định kỳ Phổ quát (UPR).

Gồm 47 thành viên có nhiệm kỳ 3 năm, HĐNQ LHQ là diễn đàn đối thoại, hợp tác và thúc đẩy cân bằng tất cả các quyền con người, kể cả quyền phát triển; hoạt động trên cơ sở khách quan, hợp tác và đối thoại, trên tinh thần xây dựng, không thiên vị, chọn lọc, chính trị hóa và tiêu chuẩn kép. 

                                                                                                                    Nguồn: XDĐ