Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2022

Ngăn chặn âm mưu tác động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh

 

Hiện nay, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nguy cơ hết sức nghiêm trọng đối với sự tồn vong, vững mạnh của đất nước ta, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, trong đó có quốc phòng, an ninh. Đây thực sự là một hiểm họa tiềm tàng, một loại kẻ thù giấu mặt, một thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm, cần được nhận diện, ngăn ngừa, đấu tranh.

Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đã chỉ rõ: “Bước vào giai đoạn phát triển mới,đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, 4 nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,“tự diễn biến”,“tự chuyển hoá”còn diễn biến phức tạp”.

Lợi dụng những vấn đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của đất nước, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá. Mục đích của họ là tuyên truyền, kích động nhằm làm lung lạc, suy giảm hoặc mất niềm tin của nhân dân đối với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sự nghiệp an ninh, quốc phòng. Vì vậy, cần phải nhận diện và đề cao cảnh giác.

Ở mức độ biểu hiện đầu tiên, người có biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có thái độ thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh trong bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã viết nên những trang sử vẻ vang với bao chiến công chói lọi chống lại kẻ thù ngoại xâm. Nhưng đáng buồn thay, một số kẻ đã vội quên đi những chiến thắng oanh liệt được đánh đổi bằng hi sinh, xương máu của các thế hệ cha anh.

Nhìn lại sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014, khi tình hình biên giới, biển, đảo có diễn biến phức tạp, nhạy cảm, những người này thể hiện sự bi quan, hoang mang. Một số quay sang phê phán đường lối xử lý của Đảng, Nhà nước ta. Thậm chí có quan điểm còn cho rằng, Việt Nam là nước nhỏ nên cần phải nhượng bộ, “chấp nhận” theo sự sắp đặt của các nước lớn. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét các vấn đề về quốc phòng, an ninh; làm ảnh hưởng tới sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.

Ở mức độ tiếp theo, từ thiếu niềm tin, họ bắt đầu đòi hỏi phải có sự đổi mới nhưng theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. Họ muốn đi theo các nước lớn để nhận được sự giúp đỡ về vũ khí, trang bị kỹ thuật nhằm gia tăng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đây là suy nghĩ phiến diện, một chiều, có thể gây ra mối nguy hại về lâu dài cho đất nước. Bởi lẽ, trên thế giới đã có việc nước nhỏ dựa vào nước lớn để trợ giúp về vũ khí, quân sự. Tuy nhiên, sự trợ giúp này không phải là “miễn phí”, mà còn kèm theo những yêu cầu, đòi hỏi từ nước lớn nên thường dẫn tới yếu tố gây mất ổn định chính trị, thậm chí nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh.

Ở mức độ cuối cùng, họ xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đây là mức độ biểu hiện, phản ánh rõ ràng tính chất trầm trọng và đặc biệt nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau. Chủ yếu vẫn là: đòi phi chính trị hóa Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển...

Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân và dư luận quốc tế; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo ra sự nghi ngờ, hoang mang trong nhân dân; làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào CAND, QĐND hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của CAND và QĐND.

Với vai trò là lực lượng vũ trang nhân dân, “thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, CAND có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình, lực lượng CAND đã thực hiện và hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị quan trọng. Đã chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa nhiều âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; tổ chức có hiệu quả công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, gương mẫu đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng“Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”...

Bên cạnh những kết quả đạt được, cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của lực lượng CAND vẫn còn một số hạn chế, nhất là trong công tác quản lý cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ còn bộc lộ sơ hở, có nơi để xảy ra một số vụ việc cán bộ, chiến sĩ vi phạm kỷ luật của Đảng, của ngành, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, truyền thống của lực lượng. Trong công tác và chiến đấu, một số cán bộ, chiến sĩ còn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thiếu ý chí rèn luyện, phấn đấu vươn lên, thậm chí có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống.

Để đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” nói chung và “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh nói riêng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải nhận diện chính xác những biểu hiện của “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”; kiên quyết, kiên trì, chủ động ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Là lực lượng tiên phong, gương mẫu đi đầu, cán bộ, chiến sĩ CAND cần không ngừng rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, quyết tâm giữ mình trong sạch; không sa ngã trước những cám dỗ; không để các thế lực thù địch lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, tác động.

Không thể cổ xúy hành vi núp bóng tự do internet để miệt thị cá nhân, cộng đồng

 Sự bùng nổ mạnh mẽ của mạng xã hội những năm gần đây đã tăng thêm tiện ích để mọi người thể hiện quyền tự do cá nhân. Tuy nhiên, mặt trái của mạng xã hội là các phát ngôn lệch chuẩn, các thông tin giả, độc hại được lan truyền ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội.

Điều đáng nói là một số hành vi sai trái trên mạng xã hội bị phát giác và được xử lý theo đúng quy định của pháp luật, song các thế lực thù địch cố ý vin vào để chống phá.

Hồi tháng 3/2022, Công an TP Hồ Chí Minh khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, sinh năm 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, trú tại 17-19 Ngô Đức Kế, phường Bến Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh với tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331, Bộ luật Hình sự. Điều đáng nói là dù việc khởi tố điều tra, tạm giam với bà Nguyễn Phương Hằng là thực hiện theo các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và được thông báo công khai trên các phương tiện truyền thông, song một số tổ chức, cá nhân lại tìm cách “bẻ lái, xoay chiều”. Một số tổ chức, hội nhóm phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông như RFA, RFI, VOA… đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, sai trái rồi quy chụp “Ở Việt Nam này luật pháp không tồn tại”, “quyền tự do dân chủ bị bóp nghẹt”… Số này đưa ra các bài viết tô vẽ, đánh bóng hình ảnh bị can Nguyễn Phương Hằng như một thần tượng, từ đó hướng lái dư luận rằng ở Việt Nam, hễ ai “cứ nổi tiếng trên mạng xã hội thì sẽ bị “diệt”!

Trước đó, sau khi phiên toà xét xử bị cáo Trương Châu Hữu Danh và đồng phạm kết thúc, trang BBC giật tít: “Vụ xử “Báo Sạch”: Việt Nam đừng nên coi truyền thông là kẻ thù”. Bài báo dẫn lời Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch), ông Phil Robertson nói rằng “Việt Nam không nên coi truyền thông là kẻ thù của nhà nước, việc bỏ tù thêm nhiều nhà báo công dân sẽ không ngăn được người dân lên tiếng, hoặc yêu cầu cải cách ở Việt Nam”. Từ đó kêu gọi “Chính phủ nên công nhận các nhà báo công dân và truyền thông độc lập là đồng minh của công tác quản trị nhà nước tốt”!

Việc xử phạt vi phạm hành chính áp dụng đối với những cá nhân vi phạm ít nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên việc xử phạt được thực hiện kịp thời để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.

Chẳng hạn, ngày 22/8/2022, Công an tỉnh Lâm Đồng có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H.N.M, chủ tài khoản TikTok H.M số tiền 10 triệu đồng do người này đăng clip miệt thị người miền Trung. Dư luận cho rằng, những lời lẽ H.N.M đưa ra là không có cơ sở nhưng đã gây hiệu ứng mạng nguy hiểm, nội dung trong video đã thể hiện sự phân biệt đối xử, kỳ thị vùng miền, tạo tâm lý đố kỵ, chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, đi ngược với tinh thần xây dựng nếp sống văn hoá, đoàn kết toàn dân. Điều đáng nói là dù việc xử phạt đã được tiến hành công khai và đúng quy định pháp luật, người vi phạm cũng thừa nhận hành vi sai trái, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội nhưng một số kênh thông tin lại “bẻ lái”, cho rằng việc đăng clip như vậy “là cần thiết” và việc cơ quan chức năng xử phạt H.N.M là “bịt miệng người dân, trấn áp vô lý”!

Đặc biệt, đối tượng mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá là một số cá nhân nổi tiếng có lượt người theo dõi, tương tác cao trên các nền tảng mạng xã hội. Khi những phát ngôn gây sốc, lệch chuẩn, những hành vi vi phạm pháp luật trên mạng xã hội gây bức xúc trong dư luận được cơ quan chức năng xử lý theo luật định, họ lại tỏ vẻ bênh vực, cổ xúy cho những hành vi sai trái đó. Đồng thời, họ đưa ra luận điệu bóp méo, bôi đen bức tranh hiện thực về tình hình tự do ngôn luận ở Việt Nam, công kích cơ quan chức năng, phủ nhận hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề tự do ngôn luận trên không gian mạng.

Mục đích của các thế lực thù địch là đánh tráo bản chất các sai phạm về tự do ngôn luận trên mạng xã hội, biến đối tượng vi phạm pháp luật từ có sai phạm thành không sai phạm. Họ thậm chí tán dương cho lối ứng xử thiếu văn hóa, phát ngôn sai trái, lệch lạc trên mạng xã hội. Thực chất của âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm gây phân tâm trong cộng đồng xã hội, tạo ra sự hoài nghi về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận; từ đó, phủ nhận những thành tựu, nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người trên không gian mạng; hạ thấp vị thế, uy tín nước ta trên trường quốc tế.

Đảng, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do ngôn luận của công dân. Tuy nhiên, đối với việc sử dụng mạng xã hội để dàn dựng, xuyên tạc sự thật, tung tin sai trái, thất thiệt với ngôn ngữ, nội dung phản cảm, thô tục, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm đến các tổ chức, cá nhân, xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc thì phải chấn chỉnh, xử lý để răn đe người vi phạm và phòng ngừa chung.

Không chỉ riêng Việt Nam, mà nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều có các biện pháp khuyến khích công dân ứng xử có văn minh trên mạng xã hội, bảo đảm cho tự do ngôn luận đi theo chiều hướng tích cực, có lợi, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi khách quan. Việc xây dựng các quy định luật pháp về tự do ngôn luận của mỗi quốc gia đều căn cứ truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán, những điều kiện, bối cảnh lịch sử cụ thể… Như tại Singapore, luật pháp quy định phạt đến 100.000 đôla Singapore hoặc phạt tù tới 3 năm với hành vi nói xấu, phỉ báng, vu khống trong sinh hoạt hằng ngày và trên mạng xã hội; nếu bị phát hiện đưa tin giả lên mạng xã hội, khi nhà chức trách yêu cầu cải chính mà không chấp hành, có thể sẽ bị phạt đến 20.000 đôla Singapore hoặc 12 tháng tù. Luật pháp nước này nghiêm cấm các hành vi đi ngược lợi ích và ổn định cộng đồng, làm tổn hại an ninh và an toàn cộng đồng, làm tổn hại sức khỏe, kích động sự hận thù giữa các nhóm xã hội, suy giảm niềm tin vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, làm tổn hại quan hệ giữa Singapore với các quốc gia khác

Ngay như ở một số nước tư bản phát triển, quyền tự do ngôn luận không thể bất tuân pháp luật. Như ở Mỹ, Tối cao pháp viện nước này đã khẳng định, tự do ngôn luận không có nghĩa là có quyền bịa chuyện vu khống, phỉ báng cá nhân; giới hạn về tự do ngôn luận thể hiện qua án lệ của tòa án, cho phép chính quyền có quyền ngăn chặn, trừng phạt phát ngôn có tính khiêu dâm, phỉ báng, tục tĩu, xúc phạm, gây hấn. Ở Pháp, pháp luật cũng quy định những giới hạn, có các chế tài nghiêm khắc đối với hành vi lạm dụng tự do ngôn luận xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, đồng thời chống lại việc vu khống, bôi nhọ, phân biệt chủng tộc, tôn giáo, kích động bạo lực, gây hận thù. Bộ luật Dân sự của Pháp cấm xâm phạm đời tư cá nhân; Luật Hình sự nước này cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia; Luật Tự do báo chí điều chỉnh hành vi tổ chức, cá nhân trên mạng internet. Ở Anh ban hành “Quy tắc hành nghề cho các nhà cung cấp nền tảng truyền thông xã hội trực tuyến” hay ở Australia cũng ra “Bộ Quy tắc ứng xử trên truyền thông xã hội và bình luận trực tuyến”, điều này cho phép các quốc gia này kiểm soát vấn đề ngôn luận trên nền tảng mạng xã hội, truyền thông.

 Không chỉ mỗi quốc gia riêng biệt, Liên minh châu Âu (EU) cũng ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Twitter, Google, TikTok; cam kết bảo đảm các công ty, tổ chức, cá nhân tiếp cận nhanh chóng, đánh dấu và gỡ bỏ các phát ngôn thù địch cùng nội dung bất hợp pháp trên các nền tảng của họ. Việc các nền tảng mạng xã hội chủ động tuân theo bộ quy tắc xuất phát từ việc EU sẽ trực tiếp giám sát hoạt động này. Báo cáo mới nhất của EU đánh giá kết quả thực thi của Bộ Quy tắc năm 2020 đã ghi nhận 71% nội dung xác nhận là phát ngôn thù địch bất hợp pháp đã bị gỡ bỏ, tăng so với con số 26% của năm 2016.

Tự do ngôn luận là một trong các quyền cơ bản của con người, tuy nhiên quyền này không thể đặt ngoài khuôn khổ pháp luật. Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 chỉ rõ: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 xác định mọi người đều có quyền tự do quan niệm, tự do phát biểu quan điểm, tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tin tức, ý kiến bằng phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. Đồng thời, Điều 29 Tuyên ngôn cũng bắt buộc mọi người phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng quyền của người khác, đáp ứng các đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.

Theo đó, luật pháp quốc tế khẳng định quyền tự do ngôn luận không phải là tự do vô hạn, bất tuân pháp luật; trong một số trường hợp, điều kiện, hoàn cảnh, ở các quốc gia tự do ngôn luận bị giới hạn. Từ thực tế trên cho thấy, không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối trong bất cứ chế độ chính trị nào, các quốc gia đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung; những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận mà gây hại đến tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia - dân tộc đều bị xử lý.

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để quyền tự do ngôn luận của người dân được thực thi nghiêm túc và toàn diện, các luật, văn bản dưới luật về tự do ngôn luận đã cụ thể hóa Hiến pháp, ngày càng được hoàn thiện để vừa bảo đảm quyền của công dân, vừa giúp quyền đó thực hiện trên cơ sở luật pháp. Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018 nghiêm cấm mọi hành vi lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Nghiêm cấm những hành vi đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Ngày 17/6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông có Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội quy định cho tổ chức, cá nhân khi tham gia mạng xã hội có những ứng xử phù hợp.

Để lành mạnh hóa môi trường mạng xã hội, góp phần thúc đẩy, bảo đảm tự do ngôn luận của các tổ chức, cá nhân, điều cần thiết là mỗi người dân cần nhận thức đúng đắn về quyền tự do ngôn luận, nêu cao ý thức trách nhiệm khi ứng xử trên mạng xã hội, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh, phản bác các âm mưu, thủ đoạn sai trái về tự do ngôn luận ở Việt Nam.

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG VIỆC LAN TOẢ THÔNG TIN TÍCH CỰC!

         Hầu hết chúng ta nghe và nói rất nhiều về việc lan tỏa thông tin tích cực, nhưng thế nào là thông tin tích cực hay trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong vấn đề này như thế nào thì không phải ai cũng hiểu rõ. Trên thực tế, trước khi đặt ra vấn đề trách nhiệm của mình thì các cán bộ, đảng viên trong vai trò của một công dân cũng luôn quan tâm đến việc lan tỏa thông tin để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

Thế nào là thông tin
tích cực
     Hiểu một cách phổ biến, thông tin tích cực là thông tin đúng đắn, chính xác về một sự việc, một nhân vật, một mô hình, một giải pháp hay, có ý nghĩa, có giá trị. Thông tin đó có thể gieo cho người đọc những nhận thức, tình cảm tốt đẹp; có thể thúc đẩy người tiếp nhận có suy nghĩ tích cực, từ đó có hành vi tích cực; cung cấp cho người đọc những kiến thức, nhận thức đúng đắn, phù hợp, có ý nghĩa thiết thực…
     Có khi, đó là thông tin xác định rõ một vấn đề đang có nhiều ý kiến khác nhau hoặc bác bỏ một thông tin sai trái đang được lưu truyền; hoặc là thông tin giải đáp được thắc mắc, nghi vấn của nhiều người về một vấn đề nào đó.
     Do đó, nhìn rộng ra, thông tin tích cực chính là các thông tin giúp củng cố lòng tin đối với tổ chức, cá nhân, dư luận xã hội…

Chọn thông tin
tích cực để lan tỏa
     Mỗi cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm trong việc chia sẻ thông tin tích cực, cả ở khía cạnh phải chọn thông tin phù hợp và thường xuyên thực hiện việc lan tỏa các thông tin đó. Mỗi người trước khi chia sẻ phải tư duy phản biện, thẩm định, đánh giá, phân tích, đối chiếu, so sánh… khi tiếp nhận thông tin. Không phải thông tin nào được lan truyền rộng rãi, được nhiều người đọc và chia sẻ cũng là thông tin chính xác, đúng đắn. Do đó, cần thiết phải tìm cách khẳng định tính xác thực của thông tin chứ không dễ dàng tin theo và làm lan tỏa thông tin đó khi chưa biết rõ mức độ tin cậy của thông tin. Tuyệt đối không nên xác tín theo cách “thông tin do mạng A nói”, “do ông X trên mạng B nói”… mà phải căn cứ trên những nguồn thông tin chính thức, chính thống.
     Đồng thời, phải chú ý chọn thông tin nào mà mình tin là đúng, cảm nhận được cái hay, cái đẹp, bản thân được truyền cảm hứng. Mỗi người phải luôn ý thức rằng thông tin của mình sẽ có người đọc và ít nhiều chịu tác động, nên chọn thông tin tốt nhất, hay nhất, có ích nhất, ý nghĩa nhất.
     Không chỉ vậy, là cán bộ, đảng viên còn phải luôn nghĩ đến liệu thông tin có gây hiểu lầm hoặc thúc đẩy ai đó nhận thức sai lệch không; nếu cảm thấy có thì không chia sẻ.

Gợi ý cách lan tỏa
thông tin tích cực
     Mỗi cán bộ, đảng viên có thể sử dụng tài khoản mạng xã hội hoặc trang mạng internet cá nhân của mình để chia sẻ, đăng tải, cung cấp, định hướng thông tin có ích cho người khác, cho xã hội và đất nước. Điều này hiện có thể được thực hiện dễ dàng bởi hầu hết chúng ta đều có ít nhất một tài khoản mạng xã hội; một số người còn có nhiều tài khoản đồng thời ở facebook, instagram, zalo, twitter…
     Chúng ta cũng có thể đăng trên các trang diễn đàn (trên mạng internet hoặc các nền tảng mạng xã hội), trang cộng đồng (fanpage), nhóm (group)… những thông tin mà mình có căn cứ xác thực cho là đúng đắn, chính xác để có độ lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn. 
     Trong điều kiện của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tuyên truyền, động viên để nhiều người khác hiểu rõ và thực hiện các quy chuẩn, quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên khi sử dụng mạng internet và mạng xã hội.
     Trên trang mạng xã hội của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tích cực kêu gọi, động viên mọi người chấp hành tốt các quy định của pháp luật, các chủ trương, chính sách, các cuộc vận động, nhất là các nội dung có tính thời sự, đang cần sự tham gia của đông đảo người dân, các vấn đề đang có ý kiến khác nhau… Đồng thời, tích cực giới thiệu, quảng bá các hình ảnh, thông tin tốt, có ích về địa phương, cơ quan, đơn vị, về quê hương và đất nước…; làm lan tỏa những gương người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến, các câu chuyện có giá trị nhân văn… Việc góp phần lan tỏa những thông tin tốt, hình ảnh đẹp, câu chuyện hay đó không chỉ giúp người khác thưởng lãm mà còn có thể tác động đến suy nghĩ, tình cảm, hành động của họ, từ đó có thêm những hành động tích cực khác.
     Sau cùng, chúng ta nên luôn gương mẫu, chuẩn mực khi phát ngôn, đăng tải hình ảnh, chia sẻ thông tin… trên mạng internet và mạng xã hội. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên nên luôn ý thức rằng mỗi thông tin, mỗi status mình đưa lên “có ích gì cho ai không”, chứ không phải nghĩ đến câu hỏi “có hại gì cho ai không”. Bởi trách nhiệm của chúng ta là đồng thời phải làm lan tỏa thông tin tích cực và tìm cách hạn chế, đẩy lùi các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc./.
Yêu nước ST.

NHỮNG CÂU NÓI CỦA BÁC VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG!

❤🇻🇳❤🇻🇳❤🇻🇳❤🇻🇳❤️
1. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người.

2. Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

3. Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.

4. Cần mà không Kiệm thì làm chừng nào xào chừng ấy. Cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

5. Không có đạo đức cách mạng thì tài cũng vô dụng.

6. Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

7. Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang.

8. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

9. Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần - Kiệm - Liêm - Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

10. Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác./.
Yêu nước ST.

TÊN CÁC ĐẢO THUỘC QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA!

     Quần đảo Trường Sa có hàng trăm đảo nổi và đảo chìm, hiện nay Việt Nam đang quản lý 21 đảo (33 điểm đóng quân) gồm 9 đảo nổi và 12 đảo chìm!

Có 9 đảo nổi, 12 đảo chìm
9 ĐẢO NỔI
Trường Sa thị trấn mến thương
Là đảo lớn nhất có đường tầu bay
Song Tử Tây lớn thứ hai
Nam Yết không rộng, nhưng dài, thứ ba.

Sinh Tồn gần với Sơn Ca
Sinh Tồn Đông tiếp theo là Phan Vinh
Trường Sa Đông nhỏ mà xinh
Phía Nam có mỗi một mình An Bang.

12 ĐẢO CHÌM
Phía Bắc có đảo Đá Nam
Đá Lớn 3 điểm luồng làm khá to
Tầu vào neo đậu trong hồ
Mặc cho bão lớn sóng to thế nào.

Đá Thị, Cô Lin, Len Đao
Mỗi đảo một điểm thảo nào giống nhau
Tốc Tan ba điểm từ đầu
Hồ to, luồng rộng tầu vào tự do.

Núi Le hai điểm có hồ
Nhưng luồng chưa có để cho tầu vào
Tiên Nữ tên đẹp làm sao
Nằm xa bờ nhất, ngọn sào phía đông.

Đá Tây bạn có biết không
Nơi Bộ Thủy Sản nuôi trồng cá tôm
Cùng 3 điểm đảo sớm hôm
Tầu bè qua lại vui hơn ở bờ.

Đá Đông tròn rộng, có hồ
Nhưng luồng hơi hẹp, ra vô hơi phiền
Thuyền Chài ai đã đặt tên
Hình như tại giống con thuyền hay chăng!
Còn một đảo nữa thưa rằng
Là đảo Đá Lát ở đằng phía Tây
Từ bờ ra tới đảo này
Tầu ra thăm đảo, một ngày tới nơi./.
Ảnh: Đảo Trường Sa lớn!
Yêu nước ST.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN CÁCH MẠNG CÀNG LÀM CHO CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI THÊM TỎA SÁNG!

         Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Nga, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Mười năm 1917, mở ra bước ngoặt mới trong tiến trình lịch sử nhân loại. Thế nhưng, các thế lực thâm thù luôn xuyên tạc về Cách mạng Tháng Mười, song “bàn tay không che nổi mặt trời”, cuộc Cách mạng vĩ đại này vẫn luôn tỏa sáng.
     Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 mở ra trang sử mới đối với nước Nga và tiến trình phát triển của nhân loại - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thắng lợi đó đã khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cho toàn thể nhân loại, đưa đến khả năng sáng tạo to lớn và cách mạng triệt để của giai cấp vô sản cùng nhân dân lao động ở các nước trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, đế quốc. Đồng thời, là “ngọn đuốc” dẫn đường cho giai cấp vô sản vững tin bước lên vũ đài chính trị với tư cách là giai cấp trung tâm của thời đại - “hạt nhân” của phong trào cách mạng thế giới, đưa thời kỳ “bão táp cách mạng” từ châu Âu lan tỏa nhanh chóng và mạnh mẽ sang châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ La-tinh, làm cho giai cấp tư sản run sợ, buộc phải lùi bước, xuống thang và thay đổi chính sách.
     Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội hiện thực với mục tiêu “độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội” đã trở thành giá trị phổ quát mang tính thời đại, được đông đảo các nước trên thế giới hướng tới xây dựng và nhanh chóng phát triển thành một hệ thống lớn mạnh trên thế giới. Thực tế đó đã làm sụp đổ hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân, đế quốc thiết lập trên toàn thế giới trong nhiều thế kỷ; sự “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản không còn nữa, nó đã bị phủ định về mặt nguyên tắc; mọi mưu toan hòng bôi nhọ, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chủ nghĩa xã hội, phủ nhận giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga đều vô vọng./.




Môi trường (Yêu nước) ST.

VẪN CÒN ĐÓ "CUỘC CHIẾN ĐẤU TRONG THỜI BÌNH", XIN "ĐỪNG NGỦ QUÊN TRONG CHIẾN THẮNG"!

Nhận diện đúng “tích cũ chiêu trò mới” trong chống phá Việt Nam
     Tiếng vang, tầm ảnh hưởng và sức nóng của những tín hiệu vui từ kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII cả Đảng đã lan tỏa và tác động mạnh mẽ đến Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII của Đảng và Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV, làm cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta náo nức chờ đón những tin vui mới, nuôi dưỡng niềm khát vọng và động lực để tiếp tục đổi mới phương thức cầm quyền, lãnh đạo của Đảng; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quyết tâm lập thành tích cao nhất chào mừng kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng vào năm 2030 và chào mừng kỷ niệm 100 năm thành lập nước vào năm 2045, xây dựng nước ta thành một nước pháp triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có thu nhập cao, nhân dân có cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.
     Thế nhưng, các thế lực thù địch lại không muốn như vậy, chúng đang sôi lên như “đỉa phải vôi” vì không chịu đựng nổi những kết quả, thành công mà chúng ta đạt được qua hơn 35 năm đổi mới, lại không thể chấp nhận: từng ngày chúng ta tiếp tục gặt hái những thành tựu mới, có ý nghĩa lịch sử khi các cột mốc chào mừng kỷ niệm những sự kiện trọng đại của Đảng, của đất nước đang đến gần. Vì vậy, chúng ra sức đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, đưa lên “sân khấu chính trị” và “mạng xã hội” các chiêu trò vô cùng “chướng tai, gai mắt”, đặc biệt phản cảm và lố bịch để thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ trên cơ sở sử dụng các tích cũ, chiêu trò cũ nhưng được cách tân nên rất nguy hiểm; trong đó, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là chính với ý đồ thâm độc: trước thì gây khó khăn cho quá trình tổ chức và phổ biến kết quả Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII của Đảng, sau là chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta về mọi mặt, tạo ra xung lực lớn để cản bước, chặn đường không cho nhân dân ta thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
     Chiêu trò nổi bật nhất chúng đang triệt để áp dụng là khai thác tối đa những hạn chế, thiếu sót trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Bằng mọi cách, chúng thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền vi phạm kỷ luật đảng đến mức phải xử lý pháp luật để mở cuộc tấn công, hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
     Chúng phao tin đồn nhảm rằng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các tệ nạn xã hội ở Việt Nam đã vượt quá ngưỡng, trở thành “căn bệnh nan y”, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công cuộc đấu tranh, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, thậm chí chúng còn phóng đại những nguy cơ, sự đe dọa sự mất còn của Đảng, Nhà nước và chế độ ngay sau khi hết nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng do “người đốt lò nghỉ hưu”, những mâu thuẫn trong nội bộ của Đảng sẽ bùng phát, nhất là sự tranh chấp quyền lực giữa Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ. Chúng đã và đang vẽ ra các kịch bản, các chiêu trò bỉ ổi nhằm xuyên tạc hiện thực, làm cho bức tranh về Việt Nam trong tương lai đầy gam màu đen tối, khiến cho không ít người dân hoang mang, dao động, giảm sút niềm tin vào sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
     Chúng đang cố tình “gieo gió từ bên ngoài để tạo bão từ bên trong” Việt Nam. Mũi nhọn tấn công chính của chúng là thực hiện âm mưu chuyển hóa, hướng lái Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, làm cho các nhân tố “tư bản chủ nghĩa lớn dần lên” đến mức lấn át các “nhân tố xã hội chủ nghĩa”. Vì lẽ đó, các thế lực thù địch đã và đang áp dụng nhiều thủ đoạn, biện pháp tinh vi, thâm độc với chính sách hai mặt: vừa ve vãn, lôi kéo, vừa gây sức ép đối với Việt Nam, thực hiện chiêu bài “phân hóa bộ máy lãnh đạo Đảng”, nhất là “bộ máy chóp bu, tứ trụ”; qua đó tạo ra sự nghi kỵ, kèn cựa, đấu đá nội bộ, gây mâu thuẫn đến mức “làm cho nội bộ mọt ruỗng từ bên trong”, cán bộ, đảng viên và nhân dân bị mê hoặc đến mức mơ hồ về chính trị trong xác định đối tác và đối tượng, bạn và thù. Cùng hướng này, chúng triệt để sử dụng các phần tử bất mãn, các đối tượng cơ hội chính trị có thâm thù với chế độ để chia rẽ, tách Đảng, Nhà nước ra khỏi đời sống xã hội, quân đội, công an và nhân dân ta.

Chương cũ của “diễn biến hòa bình” đã khép lại, nhưng chương mới lại mở ra
     Thêm một chiêu thức mới nguy hiểm rất cần nhận diện đúng, cảnh giác cao. Đó là việc tái diễn chiêu bài “mưa dầm thấm sâu”, “nước chảy đá mòn” nhằm “chiến thắng Việt Nam trong tương lai” bởi các chiêu thức “hạ gục nhanh, tiêu diệt gọn” đã bại lộ, bị thất bại vì Việt Nam vẫn đứng vững sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Liên Xô, các nước Đông Âu sụp đổ. Chương cũ của “diễn biến hòa bình” chúng đã khép lại, chương mới chúng lại mở ra với âm mưu, thủ đoạn mới “chiến thắng mà không cần chiến tranh”.
     Gần đây, phương Tây một mặt, đẩy mạnh quan hệ với Việt Nam, tăng cường các chuyến thăm cấp cao và hợp tác kinh tế, ủng hộ Việt Nam gia nhập một số tổ chúc quốc tế, tạo điều kiện cho Việt Nam xuất khẩu hàng hóa vào phương Tây, EU… Mặt khác, lại tìm cách xâm nhập, tác động, chi phối một số lĩnh vực, thông qua chiêu bài “viện trợ kinh tế”, “ngoại giao thân thiện”, “hỗ trợ sáng kiến” để thúc đẩy “cải cách dân chủ”, “chuyển hóa” chế độ chính trị ở Việt Nam theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, có lợi cho họ. Đó là cái cách họ dễ bề “làm việc khác” như xâm nhập, luồn sâu, leo cao, chui vào nội bộ; hướng lái ngành giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế và truyền thông Việt Nam theo các giá trị phương Tây, đưa nội dung “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” kiểu phương Tây vào hệ thống báo chí và nền khoa học, giáo dục và đào tạo của Việt Nam nhằm tác động, chuyển hóa tư tưởng, lối sống ở Việt Nam, nhất là các thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên, thực hiện mưu đồ “gió Tây thổi bạt gió Đông”, “văn minh phương Tây thay thế văn minh phương Bắc”.
     Vì vậy, chúng ráo riết triển khai thực hiện mưu đồ: (1) “Dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và xã hội Việt Nam; (2) Chọn báo chí, truyền thông làm mũi nhọn để đẩy mạnh “dân chủ hóa”, đưa “làn gió mát của phương Tây vào xã hội Việt Nam”. Bằng mọi cách, chúng cố gắng làm cho hai yếu tố - hai phương thức này gắn chặt với nhau, trong đó, lấy yếu tố “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước Việt Nam làm yếu tố quyết định, chi phối tiến trình “dân chủ hóa” trong báo chí và truyền thông Việt Nam.
     Gần đây, các thế lực thù địch công khai ý đồ và xác định rõ con đường chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo phương Tây là đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, xúc tiến cuộc “cách mạng màu” ở Việt Nam, “làm thay đổi trạng thái tâm lý, tư tưởng và lập trường của cán bộ, đảng viên”. Vì vậy, chúng không cần đạn, bom, đánh phá theo phương thức quân sự, chỉ cần “biện pháp phi quân sự”, thực hiện dân chủ hóa báo chí, truyền thông, gió dục và đào tạo, lấy mạng xã hội làm phương tiện là đưa “dân chủ” vào trong báo chí, đào tạo, truyền thông nhà nước, thúc đẩy vai trò truyền thông phi chính thống; tung các thông tin xấu, độc lên không gian mạng để “pha loãng nền văn hóa chính trị cộng sản” và “ô nhiễm môi trường chính trị” Việt Nam do Đảng lãnh đạo đến mức cần thiết để “cấy ghép và lan tỏa dần dần văn hóa phương Tây” ở đất nước hơn 100 triệu dân.
     Bám sát sự kiện Đảng ta tổ chức Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII của Đảng, Kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa XIV, đặc biệt là sau các vụ xét xử đại án tham nhũng và các đại án liên quan đến Công ty Việt Á, v.v., các thế lực thù địch, cơ hội chính trị dùng mọi cách để moi tin, viết và tung tin xấu, độc; xuyên tạc, bóp méo sự thật đang diễn ra để bôi đen bức tranh đời sống xã hội Việt Nam, rằng trong nội bộ “tứ trụ” của Đảng, bộ máy của Nhà nước, Quốc hội đang “diễn ra cuộc đấu đá nội bộ”, “mâu thuẫn, bất đồng chính kiến ở Việt Nam đang lên cao”. Chúng hoan hỷ rằng “con vi rút Covid-19 nhỏ xíu nhưng vô cùng mạnh mẽ, lại rất độc hại”, đã “hạ gục nhiều cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an”, làm cho xã hội Việt Nam thời hậu Covid-19 “chìm sâu trong hắc ám”, kích thích “sự thanh trừng lẫn nhau giữa các phe phái” rằng “ở Việt Nam không còn sự đoàn kết, thống nhất”, v.v..
     Cùng với đó, chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội và “tai mắt” bọn bất mãn, cơ hội chính trị để tung tin kêu gọi biểu tình, đình công, khiếu kiện tập thể và các vấn đề môi sinh, môi trường, giải phóng mặt bằng; ngập mặn ở Nam Bộ, khô hạn và lũ lụt ở miền Trung, Tây Nguyên để làm mất tinh thần, sự bất an của người dân. Hơn thế, chúng thổi phống, phóng đại những sai lầm, khuyết điểm của một số cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước bị thi hành kỷ luật, thậm chí bị khai trừ Đảng, truy tố… để nói xấu công tác cán bộ của Đảng, tung ra luận điệu “Việt Nam không trọng dụng người tài”, v.v...

“Đừng say sưa với chiến thắng”! Đừng ngủ quên trong chiến thắng!
     Từ lâu, chúng ta đã nhận thức rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng nên đã có biện pháp đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn chống phá ấy. Thế nhưng, chúng vẫn “chứng nào tật ấy”, “vẫn ngựa quen đường cũ”, đã và đang tìm mọi cách chống phá mới. Bằng cách “mớn mồi”, cung cấp tài liệu, hối thúc một số người viết “tâm thư”, “kiến nghị” với Đảng, Nhà nước ta để gây áp lực, ép Đảng, Nhà nước ta phải cải cách chính sách, luật pháp theo ý đồ của phương Tây. Qua đó, tìm cách tác động, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, nhất là các chủ trương, chính sách đối ngoại của Việt Nam, bằng cách thổi phồng nguy cơ, mối đe dọa từ phía Trung Quốc đối với biển, đảo của Việt Nam.
     Cùng với đó, chúng tìm mọi cách chia rẽ quan hệ Việt - Lào, Việt Nam - Campuchia; phá vỡ mối quan hệ đặc biệt vốn có lịch sử lâu đời và truyền thống tốt đẹp của ba nước Đông Dương. Các thế lực thù địch đã và đang toan tính bằng mọi giá phải phá vỡ mối quan hệ đặc biệt, tình hữu nghị vĩ đại Việt - Lào, các quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt - Trung, Việt - Nga,.
     Vì vậy, chúng ta phải nêu cao tinh thần cảnh giác, thận trọng trong giải quyết mọi vấn đề liên quan đến quốc kế, dân sinh, có đối sách xử lý khôn khéo, hiệu quả đối với các vấn đề “nhạy cảm”, có liên quan trực tiếp đến lợi ích sống còn của quốc gia - dân tộc; sự ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Tuyệt đối không để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng những vấn đề bức xúc của quần chúng nhân dân, xúi giục họ tham gia biểu tình, bạo loạn chính trị, v.v...
     Trong bất luận điều kiện hoàn cảnh nào, chúng ta cần hết sức tỉnh táo, sáng suốt trong ứng xử, xử lý các mối quan hệ, các vụ việc, tình huống cụ thể có liên quan đến nhân sự các cấp, nhất là nhân sự cấp chiến lược; chủ động, tích cực kiện toàn, ổn định các tổ chức đảng, chính quyền từ cấp trung ương đến cơ sở; mọi việc lớn, bé đều phải giải quyết sao cho thấu tình đạt lý, “trên thuận dưới hòa”, “trong ấm ngoài êm”, “dọc ngang thông suốt, trên dưới đồng lòng”; không mắc mưu các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; không tự làm khó mình.
     Lúc này cần nêu cao ý thức dân tộc, đề cao cảnh giác, không mắc mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của các thế lực thù địch. Hãy cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn “rút tỉa bất đồng trong quá khứ, củng cố hợp tác trong hiện tại và mở rộng định hướng chiến lược cho tương lai” của một số đối tác, tổ chức quốc tế khi quan hệ với Việt Nam và sự chia rẽ trong nội bộ. Nhìn chung, cần ý thức rõ mục tiêu, đối tượng, chủ thể nội dung, phương thức của “cuộc chiến đấu trong thời bình”, có giải pháp tối ưu nhất để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy. Xin “đừng say sưa với chiến thắng”! Xin đừng ngủ quên trong chiến thắng./.


Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2022

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA NGÀY 15 THÁNG 10 NĂM 1949!

         “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”!
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Dân vận”, ký tên X.Y.Z, đăng trên Báo Sự thật số 120, ngày 15 tháng 10 năm 1949. 
     Giữa lúc công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc ta ở vào thời điểm vô cùng cam go, quyết liệt, đòi hỏi phải huy động sức mạnh của cả dân tộc. Nhận thức sâu sắc và đánh giá cao vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Dân vận”. Đây là “cẩm nang” kịp thời chỉ dẫn một cách đầy đủ và sâu sắc cả về mục đích, đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, tính hiệu quả... của công tác dân vận đối với cán bộ, đảng viên; tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể.
     Thấu triệt tư tưởng chỉ đạo của Bác, mọi cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, vì nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân, từ đó luôn chủ trương phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, để xây dựng nên khối đại đoàn kết và không ngừng phát huy sức mạnh của cả dân tộc. Ngành Dân vận và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận đã luôn chủ động tham mưu cho Đảng và Nhà nước những chủ trương, chính sách lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác Dân vận, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc. Cán bộ làm công tác Dân vận luôn tích cực học tập, nghiên cứu nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; phong tục, tập quán của từng địa phương, từng dân tộc; âm mưu, thủ đoạn chống phá của địch để tuyên truyền, vận động cho quần chúng nhân dân thông suốt, hiểu được quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyết tâm cùng với toàn Đảng, toàn quân nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách giành được những thắng lợi vẻ vang trong kháng chiến, thành công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
     Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh; luôn được dân mến, dân tin, dân giúp đỡ. Mối quan hệ quân - dân trở thành mối quan hệ mẫu mực được ví như máu thịt, như cá với nước, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn tích cực hưởng ứng và làm tốt các công tác dân vận, tham gia xoá đói, giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới. Các phong trào, mô hình: “Cảnh sát biển đồng hành cùng ngư dân”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tết Biên phòng, ấm lòng dân bản”… đã, đang được triển khai quyết liệt với tình cảm, trách nhiệm cáo của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, góp phần cùng với toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước manh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ BÀI HỌC TU DƯỠNG, TRÁNH CÁM DỖ

 Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: "Một người lo bằng kho người làm", triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi "nhà dột từ nóc".

Lại có câu ca dao: "Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào" là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải "lo" đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.

Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại "nhúng chàm" để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành "tấm gương mờ" để người đời bêu riếu... "Tài" và "đức" là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có "tài" nhưng còn thiếu "đức". Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: "Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang"(1). Những "tấm gương mờ" kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không "gánh được nặng" và chẳng "đi được xa".

Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là "cần, kiệm, liêm, chính". Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự "thực hành": "Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời"(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!

Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức "vô liêm", không trong sạch thì làm sao "được lòng dân". Người xưa rất coi trọng chữ "liêm". Cụ Khổng Tử mỉa mai: "Người mà không liêm, không bằng súc vật". Cụ Mạnh Tử trăn trở: "Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy". Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về "tấm gương" của Napoléon "đại tài nhưng tham lam", từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: "Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không "tri túc" (chừng mực) mà thất bại"(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng "kết quả bị rơi xuống đất", theo Bác Hồ có 3 lý do là "tham lam", "không khiêm tốn", "không biết lượng sức mình". Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng "đã làm con giời lại muốn làm cả giời". Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.

Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và "kết quả" thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!

Phật giáo coi tính "tham" là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến "bể khổ". Khổng Tử coi sự "tham lợi" chỉ có ở kẻ "tiểu nhân". Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: "Ít lòng tham muốn về vật chất"! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!

Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ "trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng", đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: "Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách "hứa" sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ "làm gương" như thế nào, bằng cách nào?

Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương "đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ"(4). Hình tượng ẩn dụ "cây" Đảng ta tươi tốt là nhờ "gốc rễ" được "thấm nhuần" máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.

Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: "Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được"(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào "sáng" hơn "đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng".

Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ "coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài"(6). Xa dân nên thành "quan cách", không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không "cần kiệm" mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía "một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào" nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy "hoang phí là một tội ác" thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.

Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý "chín bỏ làm mười", "xuê xoa", "an phận thủ thường", "đấu tranh là... tránh đâu"... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.

Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải "gương mẫu", "nêu gương", phải là "đầu tàu"... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải "thực hành trước" các nguyên tắc "Cần, kiệm, liêm, chính", "chí công", "vô tư" . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!


VIỆT NAM TRÚNG CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC NHIỆM KỲ 2023-2025

 Việt Nam là một trong 14 quốc gia được Đại hội đồng bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023-2025.

Đêm muộn ngày 11/10, tại trụ sở Liên hợp quốc tại New York (Mỹ), Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu 14 quốc gia làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, trong đó có Việt Nam.

Trong nhiệm kỳ 2023-2025, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc được bầu mới 14 thành viên, trong đó khu vực châu Á – Thái Bình Dương bầu 4 thành viên. Tại cuộc bỏ phiếu, Việt Nam trúng cử và lần thứ hai trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Các thành viên khác trúng cử lần này gồm có: Algeria, Bangladesh, Bỉ, Chile, Costa Rica, Grudia, Đức, Kyrgyzstan, Maldives, Maroc, Romania, Nam Phi và Sudan.

Các thành viên Liên hợp quốc tham gia ứng cử được chia thành 5 khu vực địa lý, trong đó, nhóm châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có sự cạnh tranh cao nhất cho vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ này với 7 nước giới thiệu ứng cử từ giữa năm 2020 (1 nước rút ứng cử vào phút chót). Việt Nam được các thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhất trí ủng hộ là ứng cử viên duy nhất của ASEAN cho vị trí này; đồng thời cũng là ứng cử viên châu Á duy nhất của Cộng đồng Pháp ngữ.

Việc trúng cử trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền, cơ quan có vai trò quan trọng hàng đầu trong hệ thống Liên hợp quốc trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực.

Đây cũng là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, là bước tiến mới trong nỗ lực triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng XIII và Chỉ thị 25 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến 2030.

Trả lời phỏng vấn báo chí ngay sau khi công bố kết quả, Trưởng đoàn Việt Nam, Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Hiệu khẳng định, kết quả này không chỉ cho thấy sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với thành tựu bảo đảm quyền con người của Việt Nam mà còn là thành quả từ sự chỉ đạo sát sao và tham gia trực tiếp của Lãnh đạo cấp cao, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, trong đó có vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đây cũng là minh chứng cho thấy vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được củng cố, nâng cao.

Đại sứ Đặng Hoàng Giang -Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc, nhấn mạnh tầm quan trọng của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc và mức độ cạnh tranh cao giữa các nước ứng cử, nhất là trong nhóm châu Á-Thái Bình Dương. Song với sự đồng hành của các bộ, ngành, đội ngũ cán bộ ngoại giao cả ở trong và ngoài nước, đã hết sức nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, tiến hành vận động bài bản, chủ động, sáng tạo, đồng bộ và hiệu quả thời gian qua, đóng góp quan trọng vào kết quả này.

Với thông điệp tôn trọng và hiểu biết. Đối thoại và hợp tác. Tất cả các quyền con người - cho tất cả mọi người, trong nhiệm kỳ làm thành viên Hội đồng nhân quyền ba năm sắp tới, Việt Nam sẽ đóng góp trực tiếp vào công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên toàn thế giới, là một trong ba nhiệm vụ trụ cột của Liên hợp quốc.

Việt Nam sẽ thúc đẩy các ưu tiên đã được xác định khi tham gia Hội đồng nhân quyền thông qua đối thoại và hợp tác, nhất là về bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương và bảo đảm quyền con người trong ứng phó với các vấn đề toàn cầu. Điều này không chỉ góp phần giải quyết những quan tâm chung, cấp bách của nhân loại mà còn giúp mở ra những cơ hội chia sẻ và học hỏi những kinh nghiệm tốt, tranh thủ sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, giúp cho người dân Việt Nam được thụ hưởng các quyền con người, quyền công dân ngày càng tốt hơn.

Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, trực thuộc Đại hội đồng Liên hợp quốc, gồm có 47 thành viên, phân bổ theo khu vực địa lý (khu vực châu Á - Thái Bình Dương có 13 đại diện) và được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu trực tiếp thông qua bỏ phiếu kín. Mỗi nhiệm kỳ của một thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc kéo dài 3 năm. Nhiệm kỳ của thành viên mới bắt đầu từ ngày 1/1.

Việc Việt Nam lần thứ hai ứng cử và được tín nhiệm bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng… Kết quả này cũng thể hiện vị thế và uy tín ngày càng cao của đất nước trên trường quốc tế.

Kể từ khi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc được thành lập ngày 15/3/2006, Việt Nam luôn tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động của cơ quan này. Dấu ấn đậm nét phải kể đến là việc đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

Ngày 12/11/2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016.

Trong suốt nhiệm kỳ 2014-2016, Việt Nam luôn thể hiện là một thành viên nghiêm túc, có trách nhiệm, chủ động, tích cực và xây dựng; tham gia phát biểu, thảo luận tại hàng trăm cuộc họp, xây dựng và thương lượng các nghị quyết, quyết định của Hội đồng Nhân quyền, đóng góp vào việc bảo đảm các giá trị chung về quyền con người.

Việt Nam cũng nghiêm túc thực hiện cơ chế UPR (rà soát phổ quát định kỳ): Rà soát chuẩn bị báo cáo quốc gia chu kỳ I và chu kỳ II; đối thoại thẳng thắn với các nước tại phiên bảo vệ UPR; thực hiện nghiêm túc các khuyến nghị mà Việt Nam chấp thuận. Trong chu kỳ II, Việt Nam chấp nhận 182/227 khuyến nghị. Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch tổng thể để thực hiện các khuyến nghị. Nhiều bộ, ngành cũng đề ra các kế hoạch riêng về thực hiện khuyến nghị.

Tại khóa họp thường kỳ lần thứ 51 của Hội đồng Nhân quyền diễn ra từ ngày 12/9 đến 7/10 vừa qua, Đại sứ Lê Thị Tuyết Mai - Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva (Thụy Sĩ), Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam dự khóa họp đã nhấn mạnh các ưu tiên và cam kết của Việt Nam khi ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025.

Theo đó, chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam lấy con người là trung tâm của sự phát triển, bảo đảm người dân được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển. Đại sứ nêu bật các nỗ lực, cam kết và thành tựu cũng như khả năng đóng góp của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên thế giới; thúc đẩy đối thoại, hợp tác tại Hội đồng Nhân quyền trên tinh thần khách quan và xây dựng, gắn liền với các trọng tâm của Liên hợp quốc và quan tâm chung của cộng đồng quốc tế như phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ và thúc đẩy quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ.

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH QUÂN ĐỘI LẦN THỨ X THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP

 Chiều 12-10, Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X (2022-2027) đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình và kết thúc tốt đẹp.

Trong phiên làm việc buổi chiều, các đại biểu đã nghiêm túc, sôi nổi đóng góp ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trình đại hội và các văn kiện của Trung ương Đoàn trình Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII. Các ý kiến tham luận được chuẩn bị công phu, thể hiện trách nhiệm chính trị, tính chiến đấu cao. Chất lượng ý kiến tốt, có cơ sở lý luận và thực tiễn, tập trung làm rõ những nội dung quan trọng và bổ sung một số nội dung để hoàn thiện các báo cáo.

Đại hội nhất trí cao với Báo cáo chính trị với chủ đề “Thanh niên Quân đội trung thành, dũng cảm, khát vọng cống hiến, xung kích, sáng tạo, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội xác định chương trình hành động của công tác đoàn và phong trào thanh niên Quân đội 5 năm tới (2022-2027). Trong đó, tập trung thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và rèn luyện đoàn viên, thanh niên; triển khai hiệu quả phong trào“Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”; củng cố xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”; nâng cao chất lượng, hiệu quả phối hợp với tổ chức đoàn địa phương, đơn vị kết nghĩa, góp phần thực hiện tốt chức năng đội quân công tác; tham gia hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng, góp phần thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước, Quân đội.

Đại hội đã tiến hành bầu đoàn đại biểu Quân đội dự Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII (20 đại biểu chính thức, 5 đại biểu dự khuyết), với số phiếu tín nhiệm cao.

Sau 1,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm, Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X (2022-2027) đã kết thúc tốt đẹp, thể hiện bản lĩnh, khát vọng, ý chí cách mạng, nguyện vọng, niềm tin và trách nhiệm cao cả của tuổi trẻ Quân đội đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuổi trẻ Quân đội nguyện ra sức thi đua, học tập, rèn luyện, kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, nắm vững thời cơ, vượt qua thách thức, đoàn kết, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

KHÔNG PHẢI NƯỚC NÀO CŨNG NHẬN ĐƯỢC LÒNG TIN TỪ LIÊN HỢP QUỐC NHƯ VIỆT NAM

 Trao đổi với phóng viên tại Australia, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải, nghiên cứu viên trung tâm Tương lai Chính sách, Đại học Queensland cho rằng Việt Nam có thể tự hào về những đóng góp của mình trên trường quốc tế cũng như các nỗ lực phát triển, đảm bảo quyền con người.

Đánh giá về thành tựu phát triển, đảm bảo quyền con người và vai trò vị thế của Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nhắc lại câu nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nhấn mạnh, câu này đã khái quát sự phát triển toàn diện các mặt của Việt Nam sau 35 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, từ kinh tế đến an ninh-quốc phòng và đối ngoại.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải khẳng định vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam có được như ngày nay là nhờ vào sự đóng góp của Việt Nam trên trường quốc tế, trong đó có việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (LHQ).

Chính vì sự tham gia của Việt Nam xuất phát từ ý thức trách nhiệm, chứ không phải xem đó là nghĩa vụ, nên Việt Nam đã giành được lòng tin của LHQ, các đối tác, và nước sở tại mà lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam có mặt. Theo ông, không phải nước nào, lực lượng gìn giữ hòa bình của nước nào cũng nhận được lòng tin như vậy.

Đề cập những nỗ lực, đóng góp của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nêu bật Việt Nam là một trong số những nước tiên phong tham gia nhiều công ước quốc tế về quyền người, trong đó riêng công ước về quyền trẻ em, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai ở châu Á-Thái Bình Dương ký kết gia nhập và phê chuẩn công ước này.

Việt Nam cũng đã tham gia và phê chuẩn công ước về chống phân biệt đối xử với phụ nữ, công ước về quyền của người khuyết tật. Sau khi gia nhập và phê chuẩn các công ước này, Việt Nam đã chủ động và tích cực nội luật hóa những quy định của các công ước này. Nhờ đó, có thể nói rằng khung pháp luật quốc gia của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền của những nhóm yếu thế này được hoàn chỉnh hơn và phù hợp, tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế trong việc bảo vệ quyền của các nhóm này.

Ông Nguyễn Hồng Hải nhận định kinh tế phát triển đã góp phần to lớn vào thành tích xóa đói giảm nghèo của Việt Nam. Ông viện dẫn số liệu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) trong giai đoạn 1993 - 2014, cho biết Việt Nam đã đưa hơn 40 triệu người, nghĩa là xấp xỉ một nửa dân số đất nước, thoát nghèo. Sự phát triển kinh tế vượt bậc của Việt Nam đã được nhiều chuyên gia quốc tế ghi nhận và dự đoán Việt Nam sẽ trở thành một con hổ, con rồng kinh tế Á Đông.

Trong hơn hai năm bị ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực để đảm bảo các quyền của người dân như được chăm sóc y tế miễn phí, tiêm vaccine phòng bệnh, có nhiều gói hỗ trợ doanh nghiệp và người dân gặp khó khăn.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải đánh giá đây là chủ trương và chính sách vừa nhân văn, vì người dân và cũng vừa vì sự phát triển của đất nước. Kết quả của chiến dịch tiêm vaccine Covid-19, thành tích kiểm soát dịch của Việt Nam để kinh tế đất nước có đà phục hồi như hiện nay là đáng tự hào.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải cho rằng trên bình diện quốc tế, việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ mang một ý nghĩa đặc biệt bởi Việt Nam từng là nạn nhân của chiến tranh, từng là nước đi tìm kiếm và mưu cầu hòa bình, nay là nước góp phần kiến tạo và xây dựng hòa bình cho những nước là nạn nhân của chiến tranh. Điều này cho thấy trách nhiệm của Việt Nam.


QUỐC TẾ CÔNG NHẬN THÀNH TỰU BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆT NAM

 Ngày 11-10-2022 tại Trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu 14 quốc gia làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, trong đó có Việt Nam. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào cơ quan này. Năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016.

Chúc mừng Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, ông Veeramalla Anjaiah – một nhà nghiên cứu cao cấp thuộc Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á (CSEAS), nhà báo nổi tiếng người Indonesia đã khẳng định: đây là “sự công nhận” cam kết của Việt Nam trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

Ông nhấn mạnh: “Là một quốc gia có trách nhiệm, Việt Nam luôn ủng hộ việc bảo vệ quyền con người và nhân phẩm trên toàn cầu. Việt Nam cũng luôn tham gia các nỗ lực bảo vệ quyền con người ở Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác”.

Nhắc lại rằng không chỉ 9 nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mà nhiều nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đã bỏ phiếu tán thành Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, ông Anjaiah cho biết trên thực tế, người dân Việt Nam được hưởng nhiều quyền tự do và quyền con người.

Theo ông Anjaiah, Chính phủ Việt Nam luôn cam kết vì lợi ích của người dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việt Nam đã đạt được những thành công và tiến bộ đáng kể trong tất cả các mục tiêu phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc với tổng cộng 72,76 điểm.

Ông Anjaiah đánh giá cao tỷ lệ nghèo của Việt Nam đã giảm xuống còn 2,23% vào năm 2021 từ mức 40,5% vào năm 2012. Điều này đồng nghĩa với việc Chính phủ Việt Nam đã thành công khi đưa hàng triệu người dân thoát khỏi cảnh đói nghèo.

70 NĂM CHIẾN DỊCH TÂY BẮC: NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH XUẤT SẮC CỦA ĐẢNG.

 Chiến thắng Tây Bắc (Thu Đông 1952) trực tiếp mở ra những tiền đề thuận lợi để quân và dân ta giành thắng lợi to lớn trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ ngay trên chiến trường Tây Bắc.

Từ ngày 14/10 đến 10/12/1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Việt Nam tổ chức thực hiện thành công Chiến dịch Tây Bắc, giáng đòn nặng nề vào chính sách xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta phát triển vững chắc. Năm nay, tròn 70 năm diễn ra sự kiện này.

Chọn địa bàn Tây Bắc để mở chiến dịch trong Thu Đông 1952.

Sau thắng lợi Chiến dịch Biên giới (1950), phát huy quyền chủ động, trong năm 1951, ta mở tiếp 3 chiến dịch lớn ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ (Chiến dịch Trần Hưng Đạo, Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Chiến dịch Quang Trung), nhưng không đạt được mục đích chiến lược đề ra và chịu nhiều tổn thất. Nguyên nhân chính là do ta chọn hướng chiến dịch không phù hợp, vì trung du và đồng bằng là nơi quân địch đông, phát huy được chỗ mạnh của chúng (về hỏa lực, sự cơ động); trong khi đó trình độ, trang bị của bộ đội chủ lực ta cũng còn nhiều hạn chế, nên chưa thể phát huy được sức mạnh và sở trường của mình.

Rút kinh nghiệm từ thực tế đó, nên bước sang năm 1952, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chuyển hướng, chọn địa bàn Tây Bắc để mở chiến dịch trong Thu Đông 1952. Đây là quyết định rất đúng đắn, chính xác, bởi: Thứ nhất, Tây Bắc là chiến trường có tầm quan trọng về chiến lược, là cầu nối giữa căn cứ địa Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 của ta và vùng Thượng Lào, có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc. Thứ hai, địa hình Tây Bắc chủ yếu là rừng núi chia cắt mạnh, địch khó phát huy thế mạnh của chúng (về pháo binh, không quân, sự cơ động), nhưng lại là nơi phù hợp với trình độ tác chiến và sở trường của bộ đội ta. Thứ ba, lực lượng quân địch cùng hệ thống phòng thủ Tây Bắc tương đối yếu, trong trường hợp bị ta tiến công, quân Pháp sẽ tăng viện đối phó, nhưng không thể khắc phục hết những khó khăn do chúng ở thế bị động, chiến trường rộng lớn, địa hình chia cắt. Ta tuy có gặp một số khó khăn (khó khăn lớn nhất là vấn đề bảo đảm hậu cần) song với quyết tâm cao có thể khắc phục được.

Sau thắng lợi Chiến dịch Biên giới (1950), ta khai thông biên giới Việt - Trung, phá được thế bị bao vây cô lập và tiếp nhận một số viện trợ từ các nước XHCN, tăng cường tiềm lực kháng chiến. Tuy nhiên, từ đây cũng ít nhiều nảy sinh tư tưởng dựa vào viện trợ nước ngoài, tỏ ra nôn nóng muốn “đánh lớn, thắng nhanh”. Mặt khác, do ta chủ quan trong nhận định tình hình nên các chiến dịch thực hiện trong năm 1951, ta thường đề ra nhiệm vụ cao hơn khả năng thực tế, chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ quân sự là tiêu diệt sinh lực địch (càng nhiều càng tốt), phát triển chiến tranh du kích, tiến tới “tổng phản công”.

Nhưng lần này, mục đích, nhiệm vụ của Chiến dịch Tây Bắc được Bộ Chính trị họp bàn kỹ lưỡng. Tây Bắc (bao gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái) là địa bàn có tầm quan trọng về chiến lược, nhưng do địch khủng bố, ra sức tuyên truyền xuyên tạc lừa bịp, nên hiểu biết của nhân dân về cách mạng, về đường lối kháng chiến của Đảng chưa đầy đủ, cơ sở quần chúng của cách mạng yếu, phong trào du kích chiến tranh phát triển không đều. Kinh tế vùng Tây Bắc nghèo nàn, lạc hậu, lại bị địch ra sức vơ vét, bóc lột nên đời sống nhân dân rất khó khăn. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị đề ra ba nhiệm vụ cụ thể của Chiến dịch Tây Bắc: 1- Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; 2 - Tranh thủ nhân dân; 3 - Giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc. Ba nhiệm vụ có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó tiêu diệt sinh lực địch là nhiệm vụ chính. Như vậy, nhiệm vụ Chiến dịch Tây Bắc đã phản ánh sự kết hợp chặt chẽ, rõ nét hơn giữa nhiệm vụ quân sự với nhiệm vụ chính trị, đây cũng là nét mới về tư duy nghệ thuật quân sự nói chung, nghệ thuật chiến dịch nói riêng của Đảng ta.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh Chiến dịch

Ngay từ tháng 2/1952, Bộ Chính trị đã họp bàn và có ý định sơ bộ mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc. Nhưng mọi công việc chuẩn bị chính thức bắt đầu từ tháng 4/1952, trước chiến dịch diễn ra khoảng 5 tháng.

Về tổ chức lực lượng, Bộ Chính trị nhất trí với đề nghị của Tổng Quân ủy, điều động các đại đoàn chủ lực (308, 312, 316) và một số đơn vị binh chủng cùng lực lượng vũ trang địa phương tham gia chiến dịch, do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy. Tổng quân số trực tiếp chiến đấu trong phạm vi chiến dịch khoảng 35.000 quân (không kể quân số các hướng nghi binh phối hợp). Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được cử làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch.

Công tác bảo đảm hậu cần được Trung ương Đảng đặc biệt coi trọng, vì Tây Bắc là chiến trường xa căn cứ hậu phương của ta, đường vận chuyển phải đi qua địa hình rừng núi hiểm trở, nguồn nhân lực, vật chất tại chỗ hạn chế. Nhưng với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, ta đã huy động được gần 20 vạn dân công từ khắp các Liên khu Việt Bắc, Khu Tây Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 với tổng số gần 7 triệu ngày công tham gia phục vụ chiến dịch. Các địa phương đã cung cấp cho chiến dịch hơn 11.000 tấn gạo, cùng hàng trăm tấn thực phẩm, vật chất khác. Đặt trong hoàn cảnh chiến tranh và khó khăn ngày ấy, đây thực sự là cố gắng phi thường, biểu hiện ý chí cách mạng gang thép và lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân ta, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi cuối cùng của kháng chiến.

Đặc biệt trong chiến dịch này, Chủ tịch Hồ Chí Minh vượt bao khó khăn đường xa đến dự Hội nghị cán bộ bàn kế hoạch tác chiến Chiến dịch Tây Bắc (diễn ra từ ngày 6/9 - 9/9/1952), động viên cán bộ, chiến sĩ, dân công toàn mặt trận ra sức khắc phục mọi khó khăn, nêu cao ý chí quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Để giữ bí mật hướng chiến dịch, “vượt qua” hệ thống tình báo theo dõi của quân Pháp, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tham mưu của ta đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị làm tốt công tác phòng gian, bảo mật; đồng thời tổ chức kế hoạch nghi binh rất chu đáo, chặt chẽ. Theo đó, ta đưa một bộ phận quân chủ lực (Đại đoàn 320, Đại đoàn 304) cùng một số đại đội trinh sát của Bộ về tăng cường hoạt động ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình (thuộc đồng bằng Liên khu 3). Các đại đoàn trực tiếp tham gia chiến dịch Tây Bắc (308, 312, 316) đang đứng chân ở trung du Bắc Bộ được lệnh cơ động về Tây Bắc, để lại hệ thống điện đài thường dùng nguyên vị trí cũ và phát sóng theo phiên thường lệ... Hoạt động nghi binh đó của ta đã “đánh lừa” được Bộ chỉ huy quân Pháp. Chúng nhận định các đại đoàn 308, 312, 316 của ta “án binh bất động” ở trung du Bắc Bộ và phán đoán hướng tiến công chủ yếu của ta trong Thu Đông 1952 là đồng bằng Bắc Bộ và tìm cách chuẩn bị đối phó. Khi ta nổ súng chiến dịch Tây Bắc, quân Pháp rất bất ngờ, nhanh chóng rơi vào tình thế bị động, lúng túng và chịu thất bại. Đây cũng là nét đặc sắc về nghệ thuật nghi binh tài tình của ta.

Tiền đề quan trọng dẫn đến Chiến thắng Điện Biên Phủ

Chiến dịch Tây Bắc đã giành được thắng lợi to lớn. Ta diệt và bắt hơn 6.000 địch, giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 30.000km2 với 250.000 dân), nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, giữ vững thế chủ động tiến công, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng của địch, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của quân Pháp trên toàn chiến trường Đông Dương, đúng như tướng Pháp Nava (P. Henri Navarre) trong cuốn “Đông Dương hấp hối” sau này đã thừa nhận: Thất bại tại Tây Bắc đã làm tăng khó khăn từ phạm vi Việt Nam ra đến toàn Đông Dương và hoàn toàn bất ngờ đối với phía Pháp.

Chiến thắng Tây Bắc (Thu Đông 1952) trực tiếp mở ra những tiền đề thuận lợi để quân và dân ta giành thắng lợi to lớn trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ ngay trên chiến trường Tây Bắc, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 9 năm (1945 - 1954).

Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Chiến thắng Tây Bắc 1952 – Tầm vóc lịch sử và bài học kinh nghiệm” được tổ chức vào 14/10 tại TP. Yên Bái (tỉnh Yên Bái). Hội thảo nhằm làm rõ bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước; phân tích âm mưu, thủ đoạn, ý đồ của thực dân Pháp trong Thu-Đông năm 1952, đặc biệt là âm mưu tập trung lực lượng, đẩy mạnh càn quét, bình định quyết liệt, hòng mở rộng và kìm kẹp chặt vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.


CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN KHÔNG THỜ BÁC HỒ, BÁC GIÁP... LẠI ĐI THỜ QUAN VŨ!

     Nhiều người Việt Nam vì mê tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, vốn chỉ 3 phần thực, bảy phần hư; trong đó tác giải luôn ưu ái nhà Thục Hán của Lưu Bị nên viết có phần ca ngợi một chiều. Quan Vũ theo đó mà được phong là "Thánh võ" của Trung Quốc, đặt ngang hàng với Khổng Phu Tử (Thánh văn). Quan Vũ chỉ là một võ tướng, vì kiêu căng tự phụ mà mất mạng ở Mạch Thành, mất luôn trong địa Kinh Châu, là nguyên nhân sâu xa khiến Thục Hán suy yếu và diệt vong vào năm 263. Luận về võ, Quan Vũ không bằng Lã Bố, cầm quân mưu trí thua xa nhiều vị tướng thời Tam Quốc như Từ Hoảng, Trương Liêu, Cam Ninh hay chính người anh em kết nghĩa vườn Đào là Trương Phi...
     Cái duy nhất mà Quan Vũ có là tín, nghĩa. Thế nhưng so với Hưng Đạo Vương, bỏ thù nhà vì tổ quốc và 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông. Đức Thánh Trần là một trong những anh hùng cổ kim hiếm gặp. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, giữ ấn tín để chỉ đạo toàn bộ quân dân nhà Trần ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, đội quân được coi là thiên hạ vô địch thời kỳ đó vào các năm 1258, 1285, 1288. Vị nguyên soái của hào khí Đông A (chữ Đông và chữ A ghép lại thành chữ Trần trong Hán tự). Hưng Đạo Vương mỗi khi ra trận thường sử dụng trường kiếm hoặc trường côn được bịt sắt nhọn một đầu. Hay Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người cầm quân lỗi lạc, chiến thắng cả Pháp, Nhật, Mỹ, Trung Quốc, Khơ Me Đỏ... thì Quan Vũ không có cửa. Những Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương, Lê Lợi, Quang Trung, Võ Nguyên Giáp hơn xa những danh tướng trong thời đại Tam Quốc, thậm chí là cả lịch sử Trung Quốc.
     Việt Nam có lịch sử hào hùng, anh hùng, danh tướng như lộc biếc mùa Xuân. Có chăng là cách truyền đạt của ta còn nhiều hạn chế, khô khan và không đạt hiệu quả cao. Người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản làm phim về lịch sử dân tộc họ rất thành công, nhiều chi tiết được thần thánh hóa nhưng người xem từ trong đến ngoài nước đều rất thích thú, hào hứng đón nhận. Họ làm được, tại sao chúng ta lại không? Trông người mà ngẫm đến ta, nghĩ rất buồn cho việc giáo dục lịch sử, truyền thông, điện ảnh nước nhà và cả những người làm công tác định hướng trên mặt trận văn hóa, tư tưởng và mặt trận giáo dục của nước nhà. Con người có tổ, có tông/ như cây có cội, như sông có nguồn! Việt Nam có nhiều anh hùng, danh tướng xứng đáng để thờ hơn Quan Vũ, tướng thất trận, làm quỷ không đầu. Người Cộng sản không thờ Bác Hồ, Bác Giáp...lại thờ Quan Vũ. Điềm rất gỡ, chê./.
Yêu nước ST.

“Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, ký tên Hồ Chí Minh; đăng trên Báo Cứu quốc, số ra ngày 17-10-1945.

 Cách mạng Tháng Tám thành công dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Đất nước ta, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, đã xuất hiện một bộ phận nhỏ cán bộ có tư tưởng công thần, hách dịch, vun vén lợi ích cá nhân, thiếu sâu sát, quan tâm đến đời sống của quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm phát hiện và Người viết bài đấu tranh, lên án gay gắt; đồng thời nghiêm khắc chấn chỉnh.

Suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho mỗi người, quyền có cuộc sống ấm no, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc, người già, người nghèo, người tàn tật được giúp đỡ. Các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội được chú trọng và hoàn thiện. Ở Bác, quyền dân tộc và quyền con người là thống nhất trong cả nhận thức và hành động, trong quan điểm, đường lối, chính sách và pháp luật mà Người mong muốn thực hiện. Không có độc lập chân chính, bền vững thì không thể thực hiện được quyền con người và thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản, thiết thực của con người.

Quán triệt tư tưởng của Người, những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, quan tâm chăm lo nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; chú trọng phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Những nhiệm vụ trọng tâm đó là sự thống nhất giữa quyền và lợi ích dân tộc với quyền, lợi ích và nghĩa vụ của con người, của công dân, như tâm nguyện của Bác kính yêu.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội luôn tập trung lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng tổ chức đảng TSVM, đơn vị VMTD. Thường xuyên quan tâm, chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội; coi đây là trách nhiệm, là tình cảm với bộ đội; hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới, để bộ đội yên tâm công tác, xác định tốt nhiệm vụ, thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, góp phần giữ gìn và phát huy phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ.

Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt

“Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”- Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới”, đăng trên báo Nhân Dân, số 5299, ngày 16-10-1968. Đây là bức thư cuối cùng Người gửi cho ngành giáo dục nước nhà.

Sau khi dựng lên sự kiện “Vinh Bắc Bộ” (1964), từ năm 1965, đế quốc Mỹ sử dụng không quân, hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc; miền Bắc từ thời bình chuyển sang thời chiến, nhằm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ và làm tròn vai trò, nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Giữa muôn vàn khó khăn, dù tuổi Bác đã cao, sức Bác cũng đã yếu nhiều, nhưng Người vẫn luôn dành cho ngành giáo dục nước nhà sự quan tâm ần cần, đặc biệt, với bao tâm huyết, kỳ vọng để chuẩn bị tốt nhất nguồn nhân lực cao cho công cuộc kiến thiết nước nhà, sau khi Nam - Bắc sum họp một nhà.

Thực hiện lời dạy của Bác, đội ngũ nhà giáo, cán bộ, người lao động, học sinh, sinh viên, học viên ngành Giáo dục và Đào tạo không ngừng nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, mỗi nhà giáo luôn là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo, chung sức, chung lòng xây dựng một nền giáo dục vững mạnh, đã đào tạo cho đất nước nguồn nhân lực chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, xứng đáng với nhận định của Bác về nghề dạy học: “Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang”... Lớp lớp các thế hệ học sinh, sinh viên, học viên… luôn tâm niệm sâu sắc lời Bác dạy năm xưa, đoàn kết, thi đua: “Học, học nữa, học mãi”, “Học để lập thân, lập nghiệp”… vươn lên giành nhiều thành tích cao trong học tập, rèn luyện. Hằng năm, các đội tuyển học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi cấp châu lục và thế giới đều đạt giải cao, góp phần nâng cao uy tín, vị thế nước nhà trên trường quốc tế, thiết thực góp phần chuẩn bị tốt để đất nước hội nhập, phát triển trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Các học viện, nhà trường, giáo viên, học viên trong quân đội đã luôn chủ động khắc phục khó khăn, gian khổ, thi đua “Dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt” đào tạo kịp thời, có chất lượng hàng chục vạn cán bộ có chất lượng tốt cung cấp cho các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, đáp ứng kịp thời trong điều kiện chiến tranh cũng như giai đoạn hiện nay. Đối với các cơ quan, đơn vị, học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đã cụ thể hoá thành  các phong trào thi đua: “Huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao”, “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”… góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

“Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh phấn đấu”- Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Lời cảm ơn đồng bào công giáo”, Người viết ngày 14-10-1945, ký tên Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 70, ngày 18-10-1945.

Trong tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, tư tưởng đoàn kết tôn giáo là bộ phận không thể tách rời. Đoàn kết tôn giáo cũng chính là đoàn kết dân tộc. Người đã tìm ra sự tương đồng giữa các tôn giáo, lấy đó làm cơ sở khoa học cho việc thực hiện đoàn kết tôn giáo qua lý giải: Các tôn giáo chân chính đều có hy vọng giải thoát con người, mong muốn con người được tự do, sung sướng, hạnh phúc: Phật sinh ra để lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha, Đức Giêsu hy sinh là vì muốn loài người được tự do, hạnh phúc, Khổng Tử sinh ra cũng là để giúp con người sống nhân nghĩa vì một thế giới đại đồng; tín đồ tôn giáo nhìn chung đều là những người lao động bị chế độ cũ áp bức, bóc lột, họ có quyền mưu cầu hạnh phúc, họ là những người yêu nước và cũng là lực lượng không thể thiếu của cách mạng, là bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân với tư cách là chủ thể của cách mạng.

Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được Đảng, nhà nước ta kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo phù hợp tình hình thực tiễn. Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo nào của nhân dân; đồng thời xác định: “Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”. Điều này được hiến định tại Khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” và tại Điều 6, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực từ ngày 1-1-2018.

Sự thật hiển nhiên là thế, nhưng các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề tự do, tín ngưỡng, dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, kích động,… hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Có thể khẳng định, không một quốc gia đa tôn giáo nào trên thế giới mà các tôn giáo lại sống bình đẳng như ở Việt Nam, một đất nước không có xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo. Đó là sự thật! Tự nó bác bỏ mọi sự xuyên tạc, kích động hòng chia rẽ tôn giáo với chính quyền, chia rẽ những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thấu triệt lời Bác Hồ dạy năm xưa, cán bộ chiến sĩ các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo; căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm, tình hình địa bàn đóng quân để xây dựng kế hoạch, đề ra nhiều giải pháp cụ thể, phù hợp, tích cực tổ chức thực hiện công tác tôn giáo, tham gia xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh vùng đồng bào có đạo trên địa bàn cả nước một cách cụ thể, thiết thực. Trong nội bộ từng cơ quan, đơn vị, cấp uỷ, chỉ huy luôn quan tâm xây dựng tốt mối quan hệ đoàn kết, giúp đỡ nhau trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, nghĩa đồng đội giữa cán bộ, chiến sĩ theo tôn giáo và không theo tôn giáo đều chung sức, đồng lòng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.