Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022

Nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay


Đảng ta rất coi trọng công tác dự báo chiến lược. Sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã minh chứng rõ rằng, những thành tựu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng đưa tới những thắng lợi vĩ đại trong công cuộc giải phóng dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ đổi mới, có sự đóng góp quan trọng của công tác dự báo chiến lược.

Công tác dự báo chiến lược là một trong những nhiệm vụ đặc biệt của công tác xây dựng Đảng. Kết quả của công tác dự báo chiến lược thể hiện năng lực, tư duy dự báo, tầm nhìn chiến lược của Đảng. Mục đích của công tác này là nghiên cứu, đánh giá và tiên lượng từ sớm, từ xa các biến động, các yêu cầu phát triển của thực tiễn; từ đó, chủ động phòng, chống, đẩy lùi và triệt tiêu các nguy cơ, gia tăng các yếu tố có lợi. Kết quả dự báo là nền tảng, cơ sở khoa học và lý luận, cung cấp hệ thống luận cứ quan trọng để Đảng hoạch định đường lối, chủ trương trong lãnh đạo xây dựng và phát triển đất nước đúng định hướng, đạt hiệu quả, mục tiêu đề ra qua mỗi nhiệm kỳ đại hội.

Tư duy chiến lược là sự phản ánh trình độ của năng lực tư duy, thể hiện qua cách tư duy rộng, tư duy sâu, tư duy dài hạn, để từ đó xác định chiến lược phát triển, điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức, rà soát, phân tích các điều kiện khách quan và chủ quan trong tương lai, chỉ ra các cơ hội, nguy cơ, thách thức; trên cơ sở đó, có định hướng đúng đắn, đề xuất được các giải pháp hiệu quả, phù hợp với quy luật khách quan, nhằm đạt tới mục tiêu chiến lược. Với tư duy chiến lược, khả năng của chủ thể trong phát hiện bản chất, quy luật, xu hướng vận động của hiện thực khách quan, tầm nhìn xa, tính sáng tạo sẽ được thể hiện đầy đủ, rõ nét.

Điều mấu chốt quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng chính là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, có năng lực, trình độ, khả năng phân tích, dự báo các vấn đề nảy sinh, các nhân tố ảnh hưởng, nắm rõ các mục tiêu của đường lối, chủ trương, định hướng chính sách, để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng. Khả năng dự báo đúng và trúng của đội ngũ cán bộ sẽ góp phần giúp cho Đảng có những quyết sách đúng đắn, phù hợp; ngược lại, nếu dự báo sai lầm về mặt chiến lược, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng.

Qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử với tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng nâng cao. Đây chính là nền tảng và động lực quan trọng để đưa đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới.

Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá và khẳng định: “Năng lực dự báo, hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng được nâng lên rõ rệt... Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trong đó có các chủ trương, nghị quyết để lãnh đạo thực hiện những nhiệm vụ mới, quan trọng. Việc Trung ương ban hành kịp thời, đồng bộ hệ thống văn bản trên hầu hết các lĩnh vực đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự Đảng Chính phủ đã khẩn trương chỉ đạo việc thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng thành các văn bản pháp luật của Nhà nước để thực hiện. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã kịp thời cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành các nghị quyết, chỉ thị, đề án, kế hoạch, chương trình hành động sát với tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị”(1).

Dù vậy, kinh tế - xã hội phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém. Việc thể chế hóa, cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của Đảng thành pháp luật của Nhà nước chưa đầy đủ, kịp thời. Việc ban hành nghị quyết của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nghị quyết còn chưa nghiêm, hiệu quả thấp, chưa đạt yêu cầu đề ra. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đúng mức, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác nắm tình hình, dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh có lúc chưa thật chủ động. Chính vì vậy, bài học kinh nghiệm sâu sắc được Đại hội XIII của Đảng rút ra là, phải chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất ngờ.

Thực tế cho thấy, khả năng, năng lực dự báo của một bộ phận cán bộ các cấp vẫn còn hạn chế về trình độ, hạn hẹp về tầm nhìn, bảo thủ, giáo điều, nặng về chủ nghĩa kinh nghiệm; thiếu tư duy sáng tạo, thiếu sự nhạy bén với thời cuộc, với cái mới, nhất là còn mang nặng tư duy nhiệm kỳ, không nắm bắt được những quy luật khách quan, dẫn đến hệ quả là trong tham mưu ban hành các chủ trương, nghị quyết chưa đánh giá hết các yếu tố khách quan, chủ quan; do vậy, không sâu sát, thiếu tính khả thi, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phong phú, sinh động.

Những hạn chế này có nhiều nguyên nhân, cả về khách quan và chủ quan. Một mặt, công cuộc xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp cách mạng lâu dài và khó khăn. Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, càng nảy sinh nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn, không thể giải quyết trong “một sớm, một chiều”. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ nước ta đại đa số có nguồn gốc xuất phát từ văn hóa nông nghiệp, lại chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề bởi hậu quả các cuộc chiến tranh, bởi tư duy kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp...; mặt khác, một bộ phận cán bộ chưa thực sự nhận thức sâu sắc về tư duy chiến lược; việc cập nhật tri thức khoa học - công nghệ, kỹ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ chưa theo kịp và chưa đáp ứng với sự phát triển nhanh chóng của xu hướng thời đại. Đồng thời, công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận còn nhiều bất cập.

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng ngày càng cao, phức tạp hơn trong tình hình mới, vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đội ngũ làm công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, công tác thống kê, phân tích. Đội ngũ này phải có năng lực dự báo, tiên lượng đúng và ứng phó nhanh nhạy trước các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình thế giới. Đó là nhân tố quan trọng, điều kiện cần thiết để đội ngũ cán bộ nâng cao được chất lượng công tác tham mưu phục vụ việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước; giúp đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trên con đường hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; hoàn thành thắng lợi các mục tiêu của công cuộc đổi mới, từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại”(2). Nâng cao năng lực dự báo chiến lược sẽ tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng, góp phần làm cho đất nước giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng một lần nữa khẳng định: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát; lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, Hiến pháp và pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp”(3).

Theo đó, để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thì phải chú trọng tiếp tục “đổi mới và nâng cao chất lượng công tác hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Coi trọng nâng cao năng lực dự báo và ứng phó với các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình. Khi hoạch định đường lối, chủ trương, giải pháp phải bám sát và xuất phát từ thực tiễn, đánh giá tác động, cân đối, bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Nâng cao năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng”(4).

Việc nâng cao chất lượng công tác dự báo, tầm nhìn chiến lược phải bảo đảm hai yếu tố: 1- Tính khách quan, xác thực dựa trên cơ sở phương pháp khoa học, tin cậy; dự báo đầy đủ cả hai mặt thuận - nghịch, hai chiều thuận lợi và rủi ro, cơ hội, thời cơ và nguy cơ, thách thức. Dự báo càng sát, càng trúng thì giá trị của dự báo càng cao; 2- Phải bám sát thực tiễn, thời cuộc và yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng; kết quả dự báo phải có tầm nhìn xa, dài hạn, có tác động tích cực đến các vấn đề căn cốt của cách mạng, bảo đảm lợi ích của quốc gia - dân tộc và phải có tính hướng đích rõ ràng.

Trên cơ sở yêu cầu của thực tiễn, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Nghị quyết xác định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng.

Đảng xác định mục tiêu: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đất nước ngày càng phồn vinh, nhân dân ngày càng hạnh phúc.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh, công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”; theo đó, cần tập trung xây dựng “đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(5).

Như vậy, để nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương, định hướng của Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII và những năm tiếp theo, yêu cầu đặt ra ngày càng cao đối với đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, dự báo, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cụ thể là:

Về tư tưởng chính trị: Không ngừng nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ và tính chiến đấu; luôn tiên phong, gương mẫu; có khát vọng, góp phần cùng từng ngành, từng địa phương và cả nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đưa nước ta vươn lên trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; có ý chí, năng lực nổi trội, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Về đạo đức, lối sống: Phải thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình; luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; tự mình phòng, tránh và đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ; nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời; tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày; thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người cán bộ lãnh đạo. Đặc biệt, cán bộ cấp chiến lược càng phải nêu cao tinh thần vì nhân dân phục vụ; thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm “cán bộ có chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu”; thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình; nghiêm túc tiếp thu ý kiến giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của bản thân.

Về năng lực và uy tín: Cần có năng lực nổi trội trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; có năng lực dự báo và ứng phó với các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình thế giới; có năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chủ trương của Đảng; kiên quyết khắc phục những yếu kém, trì trệ, không né tránh trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện. Thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”, nắm bắt và giải quyết thỏa đáng, kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân.

    Trước những biến đổi mau lẹ, phức tạp của tình hình chính trị thế giới, những quốc gia có tư duy chính trị sáng suốt mới có khả năng tận dụng cơ hội, hóa giải thách thức, xác định được đường hướng phát triển đúng đắn. Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo. Sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín trên trường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động”(6).

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy những đột phá về công nghệ, như trí tuệ nhân tạo, internet siêu tốc, vật liệu mới, lưu trữ năng lượng và tin học lượng tử... xóa nhòa ranh giới trong nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học, tác động mạnh mẽ đến tốc độ, phạm vi của hệ thống kinh tế công nghiệp toàn cầu. Tình hình này sẽ có tác động mạnh, nhiều chiều đến các mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải không ngừng nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị; có ý thức tự rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức, có tư duy đổi mới, tư duy chiến lược, thì mới đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương, phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước nhanh, bền vững trong những năm tới.

Quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương; đổi mới việc xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng các nghị quyết của Đảng; khắc phục tình trạng ban hành nghị quyết chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi. Đồng thời, nâng cao năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả.

Lãnh đạo Quốc hội, Chính phủ thể chế hóa và thực hiện có hiệu quả Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính, cải cách tư pháp”(7).

Nhận thức rõ bối cảnh, điều kiện mới, Đảng ta xác định: Cần chú trọng nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại; kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện; thực hiện có hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Trên tinh thần đó, cần tập trung nghiên cứu và thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ các cấp về vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của công tác dự báo chiến lược, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng; quán triệt những yêu cầu mới đối với công tác này cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược. Coi đây là một trong những tiêu chí quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng chú trọng tư duy chiến lược. Đa dạng hóa nội dung, cách thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn, qua trao đổi học tập ở trong nước và nước ngoài. Tạo cơ hội cho cán bộ có điều kiện tham gia vào hoạt động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, rèn luyện năng lực tư duy biện chứng, phương pháp khoa học, khắc phục lối tư duy kinh nghiệm, giáo điều.

Ba là, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là tư duy biện chứng duy vật, khả năng nhận định, nắm bắt, phán đoán, dự liệu và tiên đoán. Yêu cầu đặt ra ở đây là, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính cách mạng và tính khoa học, giữa lập trường, quan điểm, nhận thức và phương pháp hành động, trên cơ sở nắm vững nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp hài hòa các vấn đề dân tộc và thời đại, dự báo đúng và trúng các xu hướng phát triển, những nội dung, vấn đề chiến lược của khu vực và thế giới, giúp Đảng hoạch định đúng đắn, hiệu quả đường lối chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, chú trọng thực hiện, bảo đảm đội ngũ cán bộ, đảng viên thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, có ý thức trách nhiệm, hiểu rõ và thực hành đúng những chuẩn mực, giá trị về đạo đức công vụ và văn hóa chính trị; không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận, bản lĩnh chính trị để đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ.

ốn là, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với hoạch định chủ trương, đường lối theo hướng toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, có tính đột phá với các vấn đề cốt lõi của chiến lược cần hoạch định, nhất là nhận diện kịp thời các nguy cơ, thách thức lớn có tác động đến chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh... của đất nước; giúp cho Đảng có khả năng hoạch định chiến lược theo hướng chủ động, tích cực, “chủ động ngăn ngừa các nguy cơ” từ sớm, từ xa.

Năm là, tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức cán bộ, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu lý luận. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nòng cốt trong dự báo và hoạch định chiến lược; tích cực ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trong công tác dự báo. Phát huy tối đa công năng, hiệu quả trong tổ chức, huy động trí tuệ tập thể của các cơ quan chuyên môn và chuyên gia tham gia phối hợp để có thể đưa ra các dự báo chiến lược phù hợp, hoàn chỉnh, có chất lượng cao, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đầu tư xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong bối cảnh, điều kiện mới; có cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng, đãi ngộ thỏa đáng các chuyên gia đầu ngành.

Đặc biệt, cần dự báo sát, nâng cao hơn nữa tính chủ động trong nắm bắt tình hình tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, kịp thời xử lý thông tin, làm tốt công tác định hướng dư luận xã hội, bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội để tạo ra sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới./.

(Theo Tạp chí cộng sản ngày 25-10-2022) 

Ở ĐÂU GIAN KHÓ, Ở ĐÓ CÓ BỘ ĐỘI

 

Cơn bão số 5 trong tháng 10 vừa qua với trận mưa lũ lịch sử đặc biệt đã để lại hậu quả rất nặng nề trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Hàng trăm ngôi nhà bị ngập nặng, tài sản của nhà nước và nhân dân bị thiệt hại lên đến 1.500 tỷ đồng. Đặc biệt là nghĩa trang xã Hòa Sơn (Hòa Vang), nghĩa trang lớn nhất thành phố có 6 điểm bị sạt lở trên tổng diện tích hơn 2 ha; khối lượng đất, đá sạt lở hơn 15.600 m3.
Trước tình hình đó, từ ngày 20/10, Bộ CHQS Thành phố Đà Nẵng huy động hơn 1.000 cán bộ, chiến sỹ, dân quân các đơn vị, địa phương cùng với cấp ủy, chính quyền đã tham gia khắc phục sạt lở đất đá tại nghĩa trang Hòa Sơn.
Khiêng vác đất đá, san ủi nền nghĩa trang trong phần đất có mộ… tất cả các công việc đều thực hiện bằng công sức của bộ đội. Hơn 10 ngày qua, các lực lượng đã khắc phục mọi khó khăn, phát huy tinh thần trách nhiệm, dầm mưa dãi nắng, nỗ lực, phấn đấu khắc phục lại hiện trạng nghĩa trang trong thời gian sớm nhất. Đến nay, các đơn vị đã xúc, vận chuyển về các bãi tập kết hơn 10.700m3 đất đá. Hiện còn khoảng 8.000m3 đang tiếp tục được xử lí.
Những ngày qua, Đại tá Nguyễn Văn Hòa, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS thành phố; Đại tá Đoàn Duy Tân, Chính ủy BCHQS thành phố đã trực tiếp đến thăm, kiểm tra, tặng quà các đơn vị, biểu dương tinh thần trách nhiệm vì nhân dân phục vụ của cán bộ, chiến sĩ, động viên các lực lượng hoàn thành nhiệm vụ giúp dân một cách hiệu quả nhất. Các đồng chí lãnh đạo Thành ủy, UBND, UBMTTQVN thành phố, Liên đoàn lao động, Đoàn thanh niên, Hội LHPN phụ nữ thành phố… cũng đến thăm và tặng quà. Các đoàn thể xã hội, Hội phụ nữ các đơn vị quân đội thuộc Quân khu 5, tiểu thương các chợ dân sinh cũng quyên góp, ủng hộ lương thực, thực phẩm, nước uống, bao tay để các đơn vị có thêm động lực vượt qua khó khăn thực hiện tốt nhiệm vụ “đặc biệt” này.
Với phương châm "Ở đâu gian khó, ở đó có bộ đội", cán bộ, chiến sĩ các đơn vị quân đội luôn sát cánh cùng nhân dân trong mọi khó khăn, thể hiện phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Việc làm nhân văn của những người lính khu 5 đã mang lại tình cảm, niềm thương và sự yên tâm cho những người dân có phần mộ thân nhân bị sạt lở tại nghĩa trang nói riêng và nhân dân thành phố nói chung./.
(Theo Đất và người Khu 5)
273
6 bình luận
22 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

"HỌC ĐỂ LÀM VIỆC, LÀM NGƯỜI, LÀM CÁN BỘ"

Trong cuốn sách “Học tập: Một kho báu tiềm ẩn” - công trình khoa học về giáo dục do Nhà xuất bản UNESCO công bố tháng 4-1996 có nêu lên bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI: Learning to know; Learning to do; Learning to live together; Learning to be (Học để biết; Học để làm việc; Học để chung sống với nhau; Học để làm người). Công trình này là một kho báu cần được khai thác, phát huy, bởi nó thể hiện rõ tư duy mới về giáo dục thế kỷ XXI, với cách tiếp cận mới về những con đường đa dạng cho sự học tập, thể hiện ý tưởng về xây dựng một xã hội học tập, học tập suốt đời của con người và trí tuệ của con người. Do vậy, được nhiều quốc gia trên thế giới đánh giá rất cao; được thảo luận kỹ ở nhiều hội nghị quốc tế và đã có nhiều nước thành viên UNESCO áp dụng.

Kỳ lạ thay, cách thời điểm công trình trên ra đời gần 50 năm, vào tháng 9-1949, trong dịp đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi vào sổ của Trường:
“Học để làm việc,
làm người,
làm cán bộ,
Học để phụng sự Đoàn thể,
phụng sự giai cấp và nhân dân,
phụng sự Tổ quốc và nhân loại
Muốn đạt mục đích, thì phải
Cần, kiệm, liêm, chính,
Chí công, vô tư”.
Quan điểm đó của Người đã thể hiện những điều căn cốt nhất về giáo dục trong chế độ mới và có ý nghĩa rất lớn cho nền giáo dục nước nhà hiện nay. Cụ thể là:
1. Nền giáo dục bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước
Hồ Chí Minh nêu những nội dung phản ánh về mục tiêu giáo dục của Việt Nam ngay trong năm học đầu tiên khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (9-1945) và nhất quán trong suốt quá trình phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Trong Thư gửi các học sinh, Người viết: “Từ giờ phút này giở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam”. Đó là “một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em,… Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Mục tiêu này tuyệt nhiên không phải là một nền giáo dục chạy theo bằng cấp, mà giáo dục để đào tạo ra con người mới phụng sự Tổ quốc, làm rạng danh non sông. Bởi vậy, giáo dục theo mục tiêu đó thì không phải cứ chạy theo khối lượng kiến thức, mà là ở chỗ trang bị kiến thức gì để đạt chất lượng phục vụ cho mục tiêu. Hồ Chí Minh mượn ý của Nho giáo để đưa ra một thông điệp: vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Trồng người, sự nghiệp đó mới chính là mục tiêu mà nền giáo dục của nước ta phải đạt tới. Vì thế, sự học không có trang sách cuối cùng, như Hồ Chí Minh đã làm: học trên ghế nhà trường, học trong cuộc sống, học cả cuộc đời.
2. Giáo dục toàn diện
Hồ Chí Minh quan niệm: con người là một chỉnh thể gồm cả đức và tài, hoặc theo cách diễn đạt khác là “vừa hồng, vừa chuyên”, nghĩa là vừa có phẩm chất vừa có năng lực. Nếu thiếu một trong hai vế đó thì không phải là “con người” theo đúng nghĩa hoàn chỉnh. Do vậy, việc giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất. Thực chất, đó là quan điểm để phát triển con người Việt Nam (“con người mới”, “con người Việt Nam hiện đại”), với những phẩm chất và năng lực, như: có lý tưởng, đạo đức cách mạng, tình yêu đất nước, tinh thần nhân văn, có quan hệ đúng mực với những người xung quanh, có ý chí vươn lên về mọi mặt trong cuộc sống để trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, có những kỹ năng cần thiết để ứng xử thành công với tất cả các mối quan hệ tự nhiên, xã hội; có tri thức chuyên sâu về chuyên môn, nghiệp vụ, áp dụng vào thực tế lao động, làm lợi cho xã hội, cho cộng đồng, cho gia đình và bản thân. Con người như vậy phải thường xuyên rèn luyện để có sức khỏe tốt. Và trên hết, đó là con người có văn hóa.
Nhà trường, gia đình, xã hội và tự bản thân mỗi con người Việt Nam phải có trách nhiệm vươn lên để đáp ứng được những yêu cầu đó. Trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định, con người có thể chỉ được giáo dục chuyên sâu, chuyên biệt về một hay nhiều lĩnh vực nào đó, nhưng chỉ khi được giáo dục toàn diện văn - đức - thể - mỹ,…; đức - tài trọn vẹn, thì mới là người được giáo dục thành công.
3. Giáo dục thiết thực
Giáo dục thiết thực không phải là theo lối thực dụng, mà để phục vụ mục tiêu xây dựng con người: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu khoa học, yêu đạo đức. Cho nên, Hồ Chí Minh chú trọng tới giáo dục thiết thực để làm cho con người có đủ đức - tài phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đối với các em học sinh, Người đặt ra yêu cầu: “Khi ở nhà phải thương yêu cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ về công việc, giúp đỡ về tinh thần,… ở trường thì phải đoàn kết giúp đỡ anh chị em thi đua học tập. Phải đoàn kết giữa thày và trò làm cho trường mình luôn luôn tiến bộ. Ở xã hội, các cháu có thể giúp được nhiều việc có ích”. Rõ ràng, giáo dục thiết thực ở đây hoàn toàn khác với kiểu giáo dục nhồi nhét.
4. Học đi đôi với hành
Đây là nội dung được Hồ Chí Minh đề cập trong nhiều bài viết, bài nói. Thực hành là một mặt quan trọng để đạt mục tiêu giáo dục. Để học đi đôi với hành, phương pháp giáo dục đóng vai trò rất quan trọng. Trong thời gian dạy ở Trường Dục Thanh và các lớp huấn luyện cán bộ, trong đó có các lớp của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã áp dụng phương pháp dạy và học tích cực; coi trọng việc tự học, tự nghiên cứu; lấy tự học làm cốt, có sự thảo luận và chỉ đạo, hướng dẫn. Người cũng không ít lần nhắc nhở những người làm công tác giáo dục là phải nhận rõ đối tượng, những đặc điểm của đối tượng để giáo dục cho thích hợp; phải giảng giải rõ ràng, dễ hiểu, đừng sáo rỗng; chống học vẹt; phải làm cho học sinh độc lập suy nghĩ, tự do tư tưởng; học tập suốt đời, học lẫn nhau, học mọi lúc, mọi nơi. Hiện nay, việc học đi đôi với hành ở các cấp học của nước ta vẫn còn những hạn chế nhất định; khả năng thích ứng với công việc của học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp còn yếu; phương pháp giảng dạy chưa phát huy hết khả năng sáng tạo, tư duy độc lập của người học.
5. Chăm lo xây dựng đội ngũ thầy, cô giáo
Nói đến lĩnh vực giáo dục, trước hết phải nói đến đội ngũ thầy, cô giáo. Theo Hồ Chí Minh, thầy giáo là lực lượng tiên phong, xung kích trên mặt trận giáo dục. Người đặt ra yêu cầu đối với lực lượng này: phải luôn luôn tự giáo dục, rèn luyện, phải yêu nghề, tận tâm, tận lực vì sự nghiệp giáo dục của nước nhà. Có kiến thức và phương pháp giáo dục tốt; kiên trì, nhẫn nại, không quản ngại khó khăn, gian khổ. Để đạt được điều đó, cả xã hội phải quan tâm, chăm lo xây dựng đội ngũ thầy, cô giáo vừa có phẩm chất, vừa có năng lực để đội ngũ này hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang, mà theo Hồ Chí Minh, nhiệm vụ đó được tôn vinh, không có tượng đồng, bia đá nào sánh kịp.
6. Một số điều cho hôm nay
Cần đẩy mạnh chống bệnh lười học tập trong cán bộ, đảng viên. Năm 1961, tâm sự với các đảng viên hoạt động lâu năm, Hồ Chí Minh nói: “Công việc ngày càng nhiều, càng mới. Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ. Một mặt, đảng viên già phải cố gắng mà học. Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ tôi phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Trong lúc bộn bề trăm thứ việc sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đã nhận ra ba thứ giặc cần tập trung sức lực của toàn dân để chống, đó là: giặc ngoại xâm, giặc đói và giặc dốt.
Lĩnh vực giáo dục nói riêng và việc nâng cao dân trí nói chung có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Sự nghiệp “trồng người” mà Hồ Chí Minh khởi xướng vẫn luôn là chiến lược hành động của toàn hệ thống chính trị. Vì vậy, trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, việc đầu tư cho giáo dục, nâng cao dân trí chính là sự đầu tư cho phát triển. Hầu hết các quốc gia có tốc độ tăng trưởng và chỉ số phát triển con người (HDI) cao đều do sự đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục. Hiện nay, chỉ số HDI và sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã có sự cải thiện, song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Một trong những lực cản là trình độ dân trí chưa cao và “bệnh” lười học tập.
Đã là “bệnh” thì đều có hại. Nhưng, cán bộ, đảng viên lười học tập thì cái “hại” nặng nề hơn rất nhiều, ảnh hưởng tiêu cực tới sự nghiệp đổi mới và công cuộc xây dựng một xã hội học tập của nước ta. Công việc cách mạng đang rất cần những tri thức, nếu cán bộ, đảng viên lười học tập, trình độ yếu kém thì không thể đáp ứng được yêu cầu. Sự tụt hậu, yếu kém về trí tuệ của mỗi cán bộ, đảng viên đều dẫn đến sự yếu kém của toàn Đảng. Do đó, học tập, học tập suốt đời không những là yêu cầu của con người Việt Nam hiện đại nói chung, mà là yêu cầu tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Học thực chất, không chạy theo bằng cấp, chứng chỉ. Bằng cấp, chứng chỉ là cần thiết với điều kiện là bằng cấp chứng chỉ đó ghi nhận đúng thực chất trình độ, năng lực của người học. Tuy nhiên, hiện tượng tiêu cực, học giả, bằng giả trong giáo dục ở các cấp học hiện nay vẫn đang tồn tại, làm ảnh hưởng đến mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, thậm chí còn là nguy cơ làm hỏng cả chế độ chính trị. Bằng cấp chỉ nên coi là một chỉ số tham khảo, không nên lấy đó là chỉ số tiến thân trên con đường đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Như vậy, yêu cầu đòi hỏi việc học tập để có đức, có tài là phải đi vào thực chất. Bản thân Hồ Chí Minh và nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta trước đây không có nhiều bằng cấp, nhưng luôn thể hiện được bản lĩnh chính trị cũng như trí tuệ, năng lực cao. Bởi lẽ, Hồ Chí Minh và các đồng chí ấy đã học tập một cách thực chất, học trên ghế nhà trường, học thầy, học bạn, học trong đường đời, học trong thực tế, học suốt đời, tự học. Sự học đó là để làm việc, làm người, làm cán bộ; học để phụng sự Đảng, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại; cho sự tiến bộ chung của đất nước và sự phát triển của thế giới chứ không phải học để “trang trí” cho cá nhân. Trong những căn bệnh “chạy” đã được Đảng ta chỉ ra, có căn bệnh “chạy bằng cấp”. Đó là điều đáng báo động và phải ra sức khắc phục.
Học thực chất như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy luôn đi liền với sự tu dưỡng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Chỉ có như thế đất nước mới thực hiện thành công mục tiêu xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc chủ nghĩa xã hội. (sưu tầm)