Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

Dư luận quốc tế hoan nghênh Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc

 Ngày 11/10 (giờ địa phương), Việt Nam đã lần thứ 2 trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) nhiệm kỳ 2023-2025, tại phiên họp của Đại hội đồng LHQ khóa 77, diễn ra ở New York, Mỹ.

Kết quả này phản ánh những nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người suốt thời gian qua, đồng thời khẳng định sự công nhận vị thế của "đất nước hình chữ S". Trong khoảnh khắc xúc động và tự hào này, bạn bè quốc tế đã gửi lời chúc mừng và bày tỏ hy vọng rằng Việt Nam sẽ tiếp tục mang đến những đóng góp thiết thực trong công cuộc thúc đẩy tất cả các quyền con người trên cơ sở khách quan, hợp tác và đối thoại.

Ngay sau khi Việt Nam trúng cử, trở thành 1 trong 14 thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Thứ trưởng Thường trực Ngoại giao Banglades, ông Shahriar Alam đã gửi lời chúc mừng tới Chính phủ và nhân dân Việt Nam.

Trả lời phỏng vấn TTXVN, ông Shahriar Alam cho rằng kết quả này thể hiện khát vọng của người Việt. Ông Shahriar Alam nhận định, Việt Nam và Bangladesh có những điểm tương đồng về văn hóa và đều từng trải qua chiến tranh để giành lại nền độc lập. Vì vậy, với tư cách cùng là quốc gia trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền dịp này, ông nhấn mạnh hai nước cần coi hòa bình là giá trị trung tâm của các quyết định, khẳng định Bangladesh sẽ tiếp tục thắt chặt hợp tác với Việt Nam để đóng góp nhiều hơn cho Hội đồng Nhân quyền LHQ thời gian tới.

Trong khi đó, nhà nghiên cứu cao cấp thuộc Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á (CSEAS) Veeramalla Anjaiah khẳng định đây là sự công nhận cam kết của Việt Nam trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Theo chuyên gia Veeramalla Anjaiah, dựa trên thực tế rằng người dân Việt Nam được hưởng nhiều quyền tự do và quyền con người, không chỉ 9 nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mà nhiều nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đều bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam.

Được biết, ngoài việc là nước duy nhất trong ASEAN được các thành viên nhất trí đề nghị ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam cũng là ứng cử viên châu Á duy nhất của Cộng đồng Pháp ngữ. Ông Gérard Daviot, nguyên Chủ tịch Hội Hữu nghị Pháp-Việt (AAFV) đã đánh giá cao sự kiện này.

"Đối với tôi, việc Việt Nam được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ là rất chính đáng bởi Việt Nam đã vạch ra mục tiêu cho cả chặng đường và hiện thực hóa điều đó thành công. Bản thân tôi tự coi mình như một công dân toàn cầu và tôi đánh giá rất cao con đường mà Việt Nam đã đi qua với việc trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhiều lần được bầu làm Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ và giờ đây tiếp tục là thành viên Hội đồng Nhân quyền của LHQ".

Về phía Hiệp hội Hữu nghị Canada - Việt Nam, ông Philip Fernandez và ông Steve Rutchinski khẳng định, dưới sự lãnh đạo đã kinh qua thử thách của Đảng Cộng sản Việt Nam, người dân có quyền lợi kinh tế, chính trị, xã hội bình đẳng.

Ông Fernandez đánh giá, Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới đã có những tiến bộ đáng kể trong việc đạt được các Mục tiêu Thiên niên kỷ của LHQ. Cụ thể, vào cuối năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam là 2,75% trên tổng dân số gần 100 triệu người.

Lý giải một trong những lý do về việc Việt Nam được tín nhiệm, ông Steve Rutchinski cho rằng Việt Nam đã tích cực tham gia những sứ mệnh nhân đạo trong thành phần phái bộ gìn giữ hòa bình của LHQ và hai lần được bầu vào Hội đồng Bảo an.

"Cộng đồng quốc tế cần tiếng nói chính đáng của Việt Nam. Các thành viên của Hội hữu nghị Việt Nam-Canada cảm ơn Việt Nam vì những đóng góp cho sự nghiệp hòa bình chung", ông Steve Rutchinski bày tỏ.

Trước đó, khi bắt đầu tham gia ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền, tờ Washington Times hôm 21/9 đã có bài viết ủng hộ Việt Nam, nhấn mạnh rằng kể từ khi chính thức trở thành thành viên LHQ vào tháng 9/1977, đất nước đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động của LHQ trong xây dựng hòa bình, phát triển và bảo đảm quyền con người. Bài viết khẳng định, việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền sẽ góp phần làm sâu sắc thêm sự tham gia của Việt Nam vào hệ thống quốc tế.

Cuộc bỏ phiếu của Đại hội đồng LHQ được thực hiện với hình thức bỏ phiếu kín. Việc xem xét lựa chọn của Đại hội đồng dựa trên những đóng góp của các quốc gia ứng cử trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, những cam kết tự nguyện của quốc gia đó trong lĩnh vực này. Trên thực tế, tranh cử vào Hội đồng Nhân quyền thường diễn ra quyết liệt vì đây là một cơ quan quan trọng của LHQ, chịu trách nhiệm chính trong thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người trên toàn cầu.

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã nhiều lần khẳng định rằng chính sách nhất quán của Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Điều này đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 và nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Đặc biệt, những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người thời gian vừa qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Mới đây nhất, tháng 3/2022 Việt Nam đã công bố báo cáo giữa kỳ, tự nguyện thực hiện các khuyến nghị mà Việt Nam đã tiếp nhận theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người, gọi tắt là UPR chu kỳ III, thể hiện trách nhiệm của quốc gia thành viên, minh bạch và nghiêm túc của Việt Nam đối với cơ chế UPR nói riêng và trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về đảm bảo quyền con người nói chung.

Người Phát ngôn nhấn mạnh: "Việt Nam luôn tích cực thể hiện tinh thần hợp tác với các thủ tục đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền LHQ, đồng thời thường xuyên duy trì cơ chế đối thoại nhân quyền song phương với một số nước, sẵn sàng cung cấp, trao đổi các vấn đề hai bên cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở và tôn trọng lẫn nhau".

DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG: VĂN HÓA, VĂN NGHỆ HƯỚNG ĐẾN NHÂN VĂN-CHÂN-THIỆN-MỸ!

         Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa như: chúng đòi “văn hóa, văn nghệ đứng ngoài chính trị”. Đây là quan điểm phản động về chính trị và phản khoa học nhằm phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa, văn nghệ; xuyên tạc mục tiêu hướng đến các giá trị chân - thiện - mỹ, nhân văn, vì nhân dân, vì con người của văn hóa, văn học, nghệ thuật cách mạng nước ta. Quan điểm của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam là một bước phát triển tư duy của Đảng về văn hóa phù hợp với tình hình, thể hiện khát vọng của dân tộc và con người Việt Nam.
     Quan điểm đúng đắn này của Đảng là cơ sở để đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu và hành vi sai trái chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa. Trong tình hình hiện nay, văn hóa được Đảng và Nhà nước xác định tiếp tục là lĩnh vực quan trọng trong công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung thiết yếu cần phải được quan tâm./.


Môi trường (Yêu nước) ST.

Đừng hòng xuyên tạc chính sách ngoại giao của Việt Nam!

 Chiều 31-10, tại Đại lễ đường Nhân dân, Thủ đô Bắc Kinh, lễ đón chính thức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã được tổ chức trọng thể theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình cho biết, chuyến thăm có ý nghĩa đặc biệt đối với hai nước và quan hệ Việt Nam - Trung Quốc; đồng thời nhấn mạnh việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là lãnh đạo đầu tiên Trung Quốc được đón tiếp sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc và việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc đầu tiên sau Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện sự coi trọng cao độ quan hệ hai Đảng, hai nước. 

Lợi dụng sự kiện chính trị, ngoại giao này, các đối tượng xấu, chống đối, cơ hội chính trị đã ra sức xuyên tạc, đưa ra nhiều thông tin lệch lạc, sai trái nhằm tấn công Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trong đó, “Tiếng dân news” rêu rao cho rằng “chính sách ngoại giao của Việt Nam là chính sách “tầm gửi”, “ăn bám” vào thân cây khác để sống”, “ngoại giao cây tre của Việt Nam không có mục đích phục vụ cho lợi ích của đất nước và dân tộc mà chỉ nhằm phục vụ cho Đảng”… Từ đó, các đối tượng xuyên tạc chính sách “ngoại giao cây tre” của Việt Nam, phủ nhận những thành quả đối ngoại mà Đảng, Nhà nước Việt Nam đã đạt được. Đây là những thông tin hết sức độc hại, thể hiện rõ mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước.

Phải khẳng định rõ, ngay từ khi mới thành lập, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ý thức rất rõ ràng về sự tự lực, tự cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Quay ngược thời gian, năm 1949, cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc hoàn thành thắng lợi. Đây là một trong những sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại trên thế giới. Khi được nhà báo Harold Issacs hỏi về việc tình hình Trung Quốc sẽ có ích cho công cuộc độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn trả lời: “Độc lập của Việt Nam luôn luôn nhờ nơi lực lượng của Việt Nam”. 

Từ chính cách mạng Việt Nam, Bác Hồ đã nhiều lần chỉ rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của sức mạnh dân tộc. Bác khẳng định: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”, “Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”, “Thực lực mạnh ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn”…

Có thể thấy, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước ta cũng khẳng định sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định mọi thắng lợi của đất nước. Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có việc Đảng, Nhà nước Việt Nam “ăn bám”, lợi dụng, phụ thuộc vào nước khác để có thể phát triển.

Về chính sách “ngoại giao cây tre”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mô tả hết sức chi tiết. Đó là: Mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”!

Vì sao Việt Nam thực hiện chính sách “ngoại giao cây tre”? Có phải chính sách này không có mục đích phục vụ lợi ích của đất nước và dân tộc mà chỉ nhằm phục vụ Đảng như những gì các “nhà dân chủ” đang rêu rao hay không? Xin thưa, mọi chính sách được Đảng, Nhà nước Việt Nam đưa ra đều nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc. Các chính sách đối ngoại không phải bất biến, cố định mà có sự thay đổi phù hợp với thời đại. Nếu như năm 1953, chúng ta xác định “thế giới có hai phe: Phe dân chủ do Liên Xô lãnh đạo và Trung Quốc giúp sức. Đứng về phe này thì tranh được độc lập và tự do. Phe đế quốc do Mỹ cầm đầu. Đi theo phe này hại dân, mất nước. Ta phải cương quyết đứng về một phe, không thể đứng chông chênh giữa hai phe. Quyết không có con đường thứ ba (bài viết của Bác với bút danh Đ.X đăng trong mục “Thường thức chính trị” trên Báo Cứu quốc năm 1953), thì hiện nay, với sự mở rộng của toàn cầu hóa, chúng ta thực hiện đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại… Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Đây chính là sự mềm dẻo, linh hoạt của “ngoại giao cây tre” mà Việt Nam đang thực hiện. Đích đến cuối cùng là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Với chính sách “ngoại giao cây tre”, chúng ta đã được gì? Xin trả lời, từ việc chỉ có quan hệ với 30 nước (năm 1986), đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 nước của Liên hợp quốc. Trong đó, nước ta đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước (có 3 đối tác chiến lược toàn diện), 13 đối tác toàn diện, tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực. Đảng Cộng sản Việt Nam đã thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, bao gồm khoảng 90 đảng cộng sản và công nhân quốc tế, các đảng cầm quyền và tham chính có vai trò quan trọng. Quốc hội nước ta có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam được mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khung khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác. Chỉ tính riêng trên lĩnh vực kinh tế, xuất khẩu hàng hóa của nước ta tăng từ 162 tỷ USD năm 2015 lên 281,5 tỷ USD năm 2020, tăng bình quân 11,7% giai đoạn 2016-2020, là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế.

Những luận điệu xuyên tạc chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc, tấn công chính sách “ngoại giao cây tre” của Việt Nam đều là những hoạt động chống phá đất nước, cần phải được xử lý nghiêm minh theo đúng quy định pháp luật.

XT st

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022

ĐỂ TỪ CHỨC TRỞ THÀNH NÉT VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA CÁN BỘ!

     Trong đời sống xã hội, tuy không phải là hiếm, nhưng rất khó khăn để một cán bộ từ chức dù với lý do nào. Có nhiều rào cản khiến cho việc từ chức không hề dễ như nguyên tắc “có lên-có xuống”, “có vào-có ra” trong công tác cán bộ.
     Điều đó cho thấy, để từ chức thực sự trở thành vấn đề bình thường, là nét văn hóa ứng xử trong công vụ cần có cả quá trình thay đổi từ quan niệm, nhận thức đến hành vi của mỗi người, cùng những thiết chế phù hợp.

Vì sao từ chức
khó khăn?
     Trong hệ thống công quyền ở nước ta, cán bộ từ chức hiện nay được nhìn nhận dưới hai góc độ. Thứ nhất là cán bộ có sai phạm khi thực thi công vụ. Trong đó, một số từ chức vì tự trọng, danh dự khi sai phạm của họ chưa đến mức phải cách chức. Số còn lại từ chức, nghỉ việc vì sai phạm của họ đến mức phải xử lý, nếu họ không từ chức thì tổ chức cũng sẽ cách chức. Thứ hai là cán bộ từ chức vì sức khỏe; vì tạo cơ hội cho người khác; vì công việc không phù hợp với chuyên môn; vì có định hướng khác... Thẳng thắn nhìn nhận, từ chức vốn là vấn đề không dễ dàng với mỗi cá nhân do nó liên quan đến lợi ích, quyền lực, danh dự... thậm chí là "cơm áo" hằng ngày của chính người đó. 
     Những năm tháng kháng chiến, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, cán bộ phần lớn xả thân đi làm cách mạng, chịu mọi tù đày cũng chỉ mong cách mạng thành công, đến ngày được giải phóng. Khi đó, bổng lộc, quyền lợi với họ chỉ là thứ yếu, họ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng vì tổ chức. Bởi thế, chuyện họ từ chức khi thấy mình không hoàn thành tốt công việc, hay nhường cơ hội cho người khác... diễn ra nhẹ nhàng. Ngày nay, nhiều cán bộ trưởng thành trong hòa bình (một số được thừa hưởng cuộc sống đầy đủ từ gia đình), gắn liền với quyền lợi, bổng lộc, bởi thế không dễ để họ từ bỏ những điều đang có.
     Bên cạnh đó, gánh nặng khiến nhiều cán bộ không dám từ chức đó là sức ép từ gia đình, dòng họ, đồng nghiệp. Sức ép từ quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ” là áp lực lớn với nhiều cán bộ. Chức tước ở nước ta vẫn bị mặc định là “tiêu chuẩn” đánh giá sự thành đạt, địa vị xã hội không chỉ với cá nhân mà còn với gia đình, dòng họ, thậm chí mang tính địa phương. Dân tộc ta trọng tri thức, trọng danh nên luôn quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ”, “làm quan phát tài”. Về bản chất, đây là những quan niệm tốt đẹp, cái “cả họ được nhờ” ở đây là tiếng tốt, tiếng thơm, nhưng dần dần nó mặc nhiên được hiểu là sự nâng đỡ, mang lại lợi ích vật chất, quyền lực cho dòng họ.
     Mặt khác, dù là một góc khuất nhưng rất cần “điểm mặt, chỉ tên” đó là tình trạng cán bộ chạy chức, chạy quyền không phải là chuyện hiếm. Ai đó, bỏ tiền bạc để chạy chức thì khó để họ từ chức.
     Mặc dù Đảng, Nhà nước đã có những quy định rõ ràng cũng như khuyến khích cán bộ có sai phạm, không đủ uy tín từ chức, tuy vậy, chúng ta chưa xây dựng được thiết chế thuận tiện để cán bộ đã từ chức, nghỉ việc quay trở lại làm việc. Thực tế, những cán bộ đã từ chức, nghỉ việc thì rất khó có cơ hội trở lại hệ thống công quyền.

Những tấm gương
trong lịch sử
     Từ chức theo Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 của Bộ Chính trị “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” là việc cán bộ tự nguyện xin thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm và được cấp có thẩm quyền chấp thuận.
     Ở một chừng mực nhất định, trong lịch sử dân tộc, văn hóa công vụ về từ chức đã hình thành dù chưa phổ biến. Nó thể hiện lòng tự trọng, giữ phẩm giá của mỗi người. Khi thấy mình không đủ năng lực, không đủ uy tín để lãnh đạo, dẫn dắt, mở đường thì từ chức là cần thiết. Từ chức đúng cũng là tiếng nói phản biện, chống lại cái sai, cái không phù hợp. Lịch sử dân tộc ta đã có những người như thế. Nhà giáo-đại quan Chu Văn An, đại thi hào Nguyễn Trãi, Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm... là những người đã khẳng khái từ quan khi khuyên can triều đình những việc làm sai trái mà không được chấp thuận. Lịch sử dân tộc còn ghi việc nhiều vị quan tướng đã từ quan để phản đối sau khi Vua Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn ký các hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp. Cũng trong lịch sử các triều đại phong kiến, nhiều bậc danh tướng cầm quân đánh giặc, khi thất bại đã từ chức, tự trói mình chịu tội với triều đình.
     Thời đại Hồ Chí Minh, vì sự nghiệp lớn lao của cách mạng, nhiều đồng chí giữ các cương vị quan trọng đã sẵn sàng rút lui khỏi chức vụ để thuận lợi cho cách mạng, sẵn sàng từ chức khi thấy mình chưa hoàn thành tốt trọng trách. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành lập, khi tổ chức Chính phủ lâm thời, có những đồng chí trong Ủy ban Trung ương Quốc dân Đại hội bầu ra, đáng lẽ cũng tham dự Chính phủ, song các đồng chí ấy đã tự động xin rút, để nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước nhưng còn ở ngoài Việt Minh. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần phát biểu trước Đảng, trước dân cũng đã đánh giá rất cao công lao và sự hy sinh quyền lợi của các đồng chí đó. Trong quá trình công tác, cũng có nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng tự nguyện xin rút khỏi các vị trí lãnh đạo. Sau sai lầm của cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đảng, đồng chí Trường Chinh xin từ chức Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã xin rút khỏi Bộ Chính trị. Hay như đồng chí Nguyễn Văn Linh từng xin rút khỏi Bộ Chính trị, nhưng sau đó, với những đóng góp quan trọng cho Đảng, cho đất nước, ông trở lại tham gia Bộ Chính trị rồi trở thành Tổng Bí thư.
     Ngày nay, có một số cán bộ mạnh dạn từ chức để dành cơ hội cho người khác. Một trong số đó là ông Nguyễn Sự, nguyên Bí thư Thành ủy Hội An (Quảng Nam). Ông Nguyễn Sự từ chức Bí thư Thành ủy trước hai năm của nhiệm kỳ. Việc ông Nguyễn Sự từ chức đã gây sự tiếc nuối với nhiều người vì ông là cán bộ có uy tín, luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao và không có sai phạm.
     Trên thực tế, thời gian qua, đã có một số cán bộ giữ các chức vụ quan trọng ở cả Trung ương và địa phương xin từ chức. Phần lớn số cán bộ này từ chức là do có vi phạm khuyết điểm. Dù việc họ từ chức là thể hiện sự chủ động, tuy nhiên việc từ chức sau khi đã nhận hình thức kỷ luật thì tính chất, ý nghĩa cũng khác. Chúng ta cần những cán bộ làm gương như ông Nguyễn Sự, với lời chia sẻ của ông: "Mình đã làm được một thời gian rồi, tư duy của mình không thể tạo ra những cái mới, vì thế, để tạo điều kiện cho lớp trẻ kế tục sự nghiệp của mình và sự nghiệp chung thì tốt nhất nên từ chức...".

Cần có “Khoán 100”, “Khoán 10” về từ chức-phục chức
     Trên thực tế, Đảng, Nhà nước đã có các quy định pháp lý cho việc từ chức. Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng "về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ" xác định phải "xây dựng quy định để việc nhận trách nhiệm, từ chức, từ nhiệm trở thành nếp văn hóa ứng xử của cán bộ". Luật Công chức, viên chức cũng quy định những vấn đề này. Đặc biệt, ngày 3-11-2021, Bộ Chính trị ban hành Quy định 41-QĐ/TW “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” và ngày 8-9-2022, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Thông báo số 20-TB/TW Kết luận của Bộ Chính trị “về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật”. Điểm đáng chú ý, Bộ Chính trị khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức.
     Có thể thấy, những quy định này đã có nội hàm rất rõ khi coi việc từ chức là vấn đề bình thường trong thực thi công vụ. Nó cũng mở đường cho những cán bộ có sai phạm, yếu kém; đồng thời tạo thuận lợi cho những cán bộ muốn từ chức vì những lý do chính đáng khác. Tuy nhiên, trên thực tế, còn một rào cản khác khiến cho cán bộ không dễ dàng từ chức, đó là nếu đã từ chức thì gần như không còn cơ hội để quay lại hệ thống công quyền. Thực tế, các quy định của Đảng không chặn đường tiến của cán bộ đã từ chức. Điểm 2 Điều 10 Quy định số 41-QĐ/TW nêu: “2. Cán bộ đã từ chức và bố trí công tác khác, nếu được cấp có thẩm quyền đánh giá tốt, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện và khắc phục được những yếu kém, sai phạm, khuyết điểm thì có thể được xem xét để quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử theo quy định”. Dù vậy, trên thực tế vẫn còn quan điểm nặng nề, định kiến khi phục chức, hay thăng chức cho một cán bộ từ chức. Dư luận dường như chưa sẵn sàng chấp nhận điều đó. Có ý kiến cho rằng, cần có một “Khoán 100”, “Khoán 10” trong việc “từ chức-phục chức”.
     Như đã đề cập, nếu ai đó đã chạy chức thì rất khó để họ từ chức, mà bằng mọi cách để giữ chức. Bởi thế, cần xử lý cương quyết với tình trạng chạy chức. Cùng với thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về cán bộ nêu gương, chống chạy chức, chạy quyền thì điều rất quan trọng là thực hiện các giải pháp để ngăn chặn hành vi này. Từ thực tiễn cho thấy, Đảng phải kiên quyết siết chặt quy trình, quy định về công tác bổ nhiệm cán bộ theo hướng gắn trách nhiệm cụ thể của người đề cử cán bộ và người đứng đầu cấp ủy đề nghị bổ nhiệm. Trường hợp cán bộ có sai phạm trong phạm vi thời gian nhất định thì người đề cử và người đứng đầu cấp ủy đề nghị bổ nhiệm cán bộ đó cũng bị xem xét xử lý kỷ luật. Cùng với đó, cần thực hiện công khai danh sách cán bộ từ quy hoạch đến đề bạt, bổ nhiệm, đánh giá, luân chuyển để quần chúng biết và cùng giám sát. Thực hiện cơ chế cạnh tranh bình đẳng để tuyển chọn những người tài giỏi, trong sạch làm lãnh đạo, quản lý. Và điều quan trọng nhất, phải ban hành được tiêu chuẩn đánh giá cán bộ hằng năm một cách công khai, minh bạch, công bố trong tập thể để giám sát. Những người bị đánh giá hạn chế về năng lực, phẩm chất, không có quy hoạch thì cũng không dễ để chạy chức.
     Trở lại vấn đề gốc của người cán bộ thì từ chức cần được xem là vấn đề bình thường trong bộ máy công quyền, đúng cả về lý luận và thực tiễn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhiều lần khẳng định quan điểm xuyên suốt: “Cán bộ là công bộc của dân”; chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ... Chức tước, địa vị của cán bộ thực ra là do nhân dân ủy thác. Khi thấy mình không thể làm tốt vai trò là một công bộc thì từ chức là việc nên làm. Đó không đơn thuần là một hành động mà cần xem nó là văn hóa ứng xử của cán bộ, rất cần thiết dù trong bất cứ môi trường, công việc nào./.
Yêu nước ST.

Bảo vệ văn hóa dân tộc trước biến tướng của ngoại lai

 



Trong xu thế hòa nhập văn hóa thế giới, Halloween trở thành lễ hội phổ biến và được đa số người trẻ nhiệt tình hưởng ứng. Thế nhưng, dựa trên thực trạng của sự hóa trang quá đà tôn sùng ma quỷ đã diễn ra, chúng ta chỉ vừa “hòa nhập” đã vội “hòa tan”. Những sự học đòi vô tội vạ, không giới hạn trong văn hóa đã tạo ra những biến tướng khủng khiếp.

20 năm thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (thường được gọi tắt là Tuyên bố DOC) được ASEAN và Trung Quốc ký ngày 4/11/2002 nhân dịp Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 8 tại Phnôm Pênh (Căm-pu-chia).

Là văn kiện chung đầu tiên giữa ASEAN và Trung Quốc trực tiếp liên quan vấn đề Biển Đông, Tuyên bố DOC 2002 có ý nghĩa to lớn trong việc duy trì hoà bình và ổn định ở vùng biển này nói riêng và cả khu vực nói chung.

 Nhân dịp kỷ niệm 20 năm ký văn kiện quan trọng này, xin trân trọng giới thiệu về những nội dung cơ bản và tình hình thực hiện bản Tuyên bố trong thời gian qua

1. Nội dung Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông

 Một là, các bên khẳng định cam kết đối với mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ), Công ước Luật Biển năm 1982 của LHQ, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Ðông - Nam Á, 5 nguyên tắc tồn tại hòa bình và các nguyên tắc phổ cập khác của pháp luật quốc tế. Cam kết này mang tính chủ đạo. Một mặt nó gắn với nghĩa vụ của các bên theo các văn kiện quốc tế mang tính toàn cầu là Hiến chương LHQ và Công ước Luật Biển năm 1982 cũng như các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó cam kết này cũng gắn với nghĩa vụ của các bên theo điều ước quốc tế mang tính khu vực liên quan các nước là Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á.

 

Hai là, các bên cam kết giải quyết mọi tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp về quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thông qua trao đổi ý kiến và thương lượng hữu nghị giữa các quốc gia có chủ quyền liên quan phù hợp với các nguyên tắc phổ cập của pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982. Căn cứ pháp luật quốc tế cũng như quy định tại Ðiều 33 của Hiến chương LHQ thì các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp gồm có thương lượng, môi giới, trung gian, hòa giải, trọng tài và tòa án quốc tế. Ðiều này có nghĩa là các bên có rất nhiều sự lựa chọn và các bên hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn các biện pháp hòa bình này. Ðiều mấu chốt là các bên không được đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp liên quan ở Biển Ðông.

 

        Ba là, các bên khẳng định tôn trọng tự do hàng hải và tự do bay ở Biển Ðông như đã được quy định bởi các nguyên tắc phổ cập của pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982. Theo các quy định liên quan của Công ước Luật Biển năm 1982, tàu thuyền của mọi quốc gia (bất kể ở trong khu vực hay ngoài khu vực) đều được quyền tự do hàng hải trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước ven Biển Ðông cũng như vùng biển quốc tế ngoài phạm vi 200 hải lý; tàu bay của mọi quốc gia được quyền tự do bay trên vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven Biển Ðông và ở vùng trời trên các vùng biển quốc tế. Mục đích của việc các nước ASEAN và Trung Quốc đưa quy định này vào DOC chính là tái khẳng định lại nghĩa vụ của họ theo Công ước Luật Biển năm 1982.

 

Bốn là, các bên cam kết kiềm chế không tiến hành các hoạt động có thể làm phức tạp thêm hoặc gia tăng tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định. Tuyên bố đặc biệt nhấn mạnh việc kiềm chế không đưa người lên các đảo, bãi hiện nay không có người ở. Thực hiện cam kết này vừa tạo điều kiện cho việc tăng cường quan hệ láng giềng hữu nghị giữa các nước trong khu vực vừa tạo tiền đề cần thiết cho các nước có tranh chấp ở Biển Đông từng bước tìm kiếm các giải pháp cho các tranh chấp. Hoà bình và ổn định ở Biển Đông cũng gắn với hòa bình và ổn định của khu vực và thế giới. Do đó việc thực hiện cam kết này cũng chính là để đóng góp tích cực cho việc duy trì hoà bình của khu vực và trên thế giới.

 

Năm là, các bên đồng ý căn cứ vào các nguyên tắc Hiến chương LHQ, Công ước Luật Biển năm 1982, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Ðông - Nam Á, 5 nguyên tắc tồn tại hòa bình và các nguyên tắc phổ cập khác của pháp luật quốc tế, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau để tìm kiếm các phương cách xây dựng lòng tin. Từ cam kết mang tính nguyên tắc đó, ASEAN và Trung Quốc nhất trí là trong khi tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các tranh chấp, các bên cam kết tăng cường nỗ lực để xây dựng lòng tin như tiến hành đối thoại quốc phòng; đối xử nhân đạo với người bị nạn trên biển; thông báo cho các bên liên quan về các cuộc diễn tập quân sự, trao đổi thông tin liên quan. Việc thông báo và trao đổi như vậy được các bên liên quan tiến hành trên cơ sở tự nguyện.

 

Sáu là, các bên đồng ý trong khi tìm kiếm giải pháp toàn diện và lâu dài cho vấn đề tranh chấp ở Biển Ðông, các bên có thể tìm kiếm và tiến hành các hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an toàn và an ninh hàng hải, tìm kiếm, cứu nạn trên biển, đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia (buôn bán ma túy, cướp biển, cướp có vũ trang trên biển và buôn lậu vũ khí). Các bên sẽ thỏa thuận phương thức, địa điểm và phạm vi của các hoạt động hợp tác này trước khi triển khai.

 

Bảy là, các bên long trọng cam kết tôn trọng các quy định của DOC và hành động phù hợp với các nội dung của DOC. ASEAN và Trung Quốc đồng ý sẽ cùng nhau hợp tác trên cơ sở đồng thuận để đạt mục tiêu cuối cùng cao hơn là thông qua một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Ðông (COC). Các bên đều nhất trí rằng việc thông qua Bộ Quy tắc đó sẽ tăng cường hơn nữa hòa bình và ổn định của khu vực. Ðồng thời ASEAN và Trung Quốc cũng khuyến khích các quốc gia khác tôn trọng các nguyên tắc trong DOC.

 

2. Thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông

 

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc là kết quả nỗ lực chung của cả ASEAN và Trung Quốc. Việc ký kết văn kiện này là một bước tiến quan trọng trong việc đối thoại giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông. Việc tuân thủ nghiêm chỉnh các cam kết trong DOC góp phần tránh được các xung đột tại Biển Ðông, giữ ổn định cho khu vực và có lợi cho toàn khu vực.

 

Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị cấp cao ASEAN 16 tại Hà Nội (tháng 4/2010) đã coi DOC năm 2002 là một trong số các công cụ và cơ chế quan trọng hiện nay của ASEAN, đặt DOC bên cạnh các văn kiện pháp lý như Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Ðông - Nam Á (TAC), Hiệp ước về khu vực phi vũ khí hạt nhân ở Ðông - Nam Á (SEANWFZ), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC) và Công ước ASEAN về chống khủng bố.

 

Chính giới và dư luận quốc tế cũng đánh giá cao vai trò của DOC và sự cần thiết thực hiện đầy đủ các cam kết trong văn kiện này. Tuyên bố của Chủ tịch ARF 17 tại Hà Nội (tháng 7/2010) nêu rõ các Bộ trưởng khẳng định tầm quan trọng của DOC như là một văn kiện lịch sử giữa ASEAN và Trung Quốc, thể hiện cam kết tập thể nhằm đảm bảo các giải pháp hòa bình cho các tranh chấp trong khu vực. Các Bộ trưởng nhấn mạnh hiệu quả của DOC trong việc xây dựng sự tin cậy lẫn nhau và sẽ giúp cho việc duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực. Các Bộ trưởng khuyến khích các nỗ lực theo hướng thực hiện đầy đủ DOC và cuối cùng tiến tới COC. Tuyên bố chung của các nguyên thủ và Thủ tướng các nước ASEAN và Trung Quốc về đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc (Ba-li, In-đô-nê-xi-a ngày 8/10/2003) đã coi việc thực hiện DOC là một biện pháp trong hợp tác an ninh giữa ASEAN và Trung Quốc.

 

Ðể thúc đẩy thực hiện đầy đủ các quy định trong DOC, ASEAN và Trung Quốc đã lập 2 cơ chế là Hội nghị quan chức cấp cao ASEAN - Trung Quốc về DOC (SOM ASEAN - Trung Quốc) và Nhóm Công tác chung ASEAN - Trung Quốc về thực hiện DOC (ACJWG). Dưới sự chỉ đạo của SOM ASEAN - Trung Quốc về DOC, từ năm 2005 đến năm 2011 Nhóm Công tác chung đã tập trung thương thảo về bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC.

 

Tại Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 44 tại Ba-li, In-đô-nê-xi-a (tháng 7/2011), ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí thông qua Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện Tuyên bố DOC. Bản Quy tắc nêu rõ: DOC phải được thực hiện từng bước một phù hợp với các điều khoản của DOC; các bên tham gia thực hiện DOC tiếp tục tăng cường đối thoại và tham vấn, phù hợp với tinh thần DOC; việc tiến hành các hoạt động hoặc các dự án đã được quy định trong DOC cần được xác định rõ ràng; việc tham gia các hoạt động hoặc các dự án cần được thực hiện trên cơ sở tự nguyện; các hoạt động ban đầu trong phạm vi DOC cần phải là các biện pháp xây dựng lòng tin; quyết định thực hiện các biện pháp hoặc các hoạt động cụ thể của DOC cần dựa trên sự đồng thuận của các bên và phải hướng đến mục tiêu cuối cùng là thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông; trong quá trình thực hiện các dự án đã được thoả thuận, khi cần thiết, sẽ trưng cầu sự đóng góp của các chuyên gia, các nhân vật nổi tiếng. Bản Quy tắc hướng dẫn quy định tiến trình thực hiện các hoạt động và các dự án đã được thoả thuận trong DOC sẽ được báo cáo hàng năm cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN-Trung Quốc.

 

Bước phát triển mới trong quá trình thực hiện Tuyên bố DOC năm 2002 là tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 18 (Gia-các-ta, In-đô-nê-xi-a, tháng 5/2011), các nhà lãnh đạo cấp cao ASEAN đã quyết định tăng cường nỗ lực thực hiện toàn diện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông và đề nghị thảo luận để bắt đầu xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Ðông vào năm 2012 nhân kỷ niệm 10 năm ký kết Tuyên bố DOC. Thực hiện quyết định đó, trong năm 2012 các nước ASEAN đang tích cực trao đổi và cho đến nay đã đạt được nhiều kết quả trong việc xây dựng các thành tố cơ bản của COC. Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 20 (Nông-pênh, tháng 4/2012) tiếp tục nhấn mạnh để bảo đảm hoà bình, ổn định và an ninh ở Biển Đông, trong đó có an ninh và an toàn hàng hải, các bên liên quan cần giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình, tuân thủ pháp luật quốc tế, đặc biệt Công ước Luật Biển năm 1982, bảo đảm tôn trọng và thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông, sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông.

 

3. Việt Nam và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông

 

Với chính sách đối ngoại hòa bình, Nhà nước ta đã nhiệt liệt ủng hộ Tuyên bố năm 1992 của ASEAN về Biển Ðông, mặc dù lúc đó chúng ta chưa phải là thành viên của ASEAN. Sau khi gia nhập ASEAN, chúng ta đã tích cực thúc đẩy và có đóng góp lớn vào việc xây dựng Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông. Ban đầu chúng ta chủ trương và nỗ lực theo hướng ASEAN và Trung Quốc ký một văn kiện có tính pháp lý cao hơn liên quan vấn đề Biển Ðông. Tuy nhiên, trong quá trình thương lượng nảy sinh một số vấn đề kỹ thuật không đạt được sự nhất trí chung. Trong bối cảnh đó, Nhà nước ta đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, có bước đi linh hoạt, mềm dẻo cần thiết, đồng ý bước đầu ký văn kiện ở hình thức Tuyên bố như văn bản DOC hiện hành. Từ khi Tuyên bố DOC được ký đến nay, chúng ta tiếp tục các nỗ lực to lớn, tuân thủ các cam kết trong DOC, đồng thời yêu cầu các nước liên quan thực hiện đúng các cam kết trong Văn kiện này. Tuyên bố DOC thực sự có đóng góp quan trọng cho việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Ðông. Nghiêm túc tôn trọng tinh thần Tuyên bố DOC và thực hiện đầy đủ DOC sẽ có lợi cho cả ASEAN và Trung Quốc, đồng thời đáp ứng mong mỏi và nguyện vọng chung của khu vực và thế giới về một Biển Ðông hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

 

Trong quá trình thực hiện DOC, Việt Nam trước sau như một kiên trì chủ trương giải quyết mọi tranh chấp liên quan Biển Ðông bằng các biện pháp hòa bình, căn cứ pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982, thúc đẩy thực hiện đầy đủ DOC, tiến tới xây dựng COC vì mục đích góp phần duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Ðông. Chúng ta cũng tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực về biển với các nước láng giềng liên quan. Các nỗ lực và việc làm của nước ta được chính giới và dư luận quốc tế và khu vực đánh giá tích cực.

 

Trả lời câu hỏi liên quan đến chủ đề Biển Ðông tại buổi họp báo ngày 9/4/2010 về kết quả Hội nghị cấp cao ASEAN 16, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: "Duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn trên Biển Ðông là lợi ích chung và là mối quan tâm lớn của các nước ASEAN, trong khu vực. Các nước liên quan đã xây dựng nhiều thỏa thuận và cơ chế hợp tác nhằm đảm bảo hòa bình, ổn định và cùng hợp tác ở khu vực, trong đó có Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Ðông (DOC). Ðây là văn kiện được ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc, nhằm thúc đẩy xây dựng lòng tin, hợp tác”. Thủ tướng nước ta nhấn mạnh: "Với thiện chí của các bên và vì lợi ích chung của khu vực, các bên liên quan sẽ tiếp tục tuân thủ và thực hiện tốt DOC, cũng như Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, góp phần thiết thực duy trì hòa bình, ổn định, an ninh ở Biển Ðông”.

 

Với tinh thần đó, từ thực tiễn hiện nay của ASEAN, chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục cùng các nước ASEAN tham khảo nội bộ chặt chẽ giữa các nước thành viên để thống nhất về các thành tố cơ bản của COC. Từ đó, ASEAN và Trung Quốc sẽ bàn bạc để sớm hoàn thành Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 20 tại Nông-pênh vừa qua, lãnh đạo ta đánh giá cao việc thông qua Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC và đề nghị ASEAN cần sớm thống nhất các thành tố cơ bản của COC để làm cơ sở đối thoại với Trung Quốc.

 

Cách tiếp cận hợp tình, hợp lý và các nỗ lực tích cực của Việt Nam trong việc thúc đẩy thực hiện toàn diện DOC và phối hợp chặt chẽ với các nước ASEAN khác trong việc xây dựng COC sẽ góp phần nâng cao hơn nữa vai trò và ý nghĩa của DOC, đóng góp xứng đáng vào nỗ lực chung của ASEAN và cộng đồng quốc tế vì một Biển Ðông hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Đằng sau luận điệu “Việt Nam nghèo đói”

Cho đến thời điểm hiện tại, rất khó hiểu khi một số trang thông tin vẫn kiên quyết cho rằng Việt Nam vẫn là một quốc gia ngập chìm trong nghèo đói. Vậy thực sự đằng sau những nhận định ấy là gì?

Mỹ, Anh cảnh báo về mối đe dọa “khủng bố”

 Theo cố vấn an ninh của Đại sứ quán Mỹ tại Nigeria, có “nguy cơ cao xảy ra các cuộc tấn công khủng bố ở Nigeria, đặc biệt là ở Abuja.

BÀI HỌC XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA LÊ NIN ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ.


V.I Lê Nin đã cảnh báo Đảng Cộng sản Liên Xô : " Không có kẻ thù nào, dù chúng hùng mạnh và hung hãn nhất có thể đánh bại được Chủ nghĩa Cộng sẵn, ngoại trừ những người cộng sản tự tiêu diệt chính họ, bằng

Cách mạng Tháng Mười Nga – Chủ đề cũ nhưng luôn luôn mới và hấp dẫn


Hơn 105 năm đã trôi qua, kể từ ngày Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi trên đất nước của Lênin và nhân dân Nga vĩ đại, đến nay, những “kẻ thù lớn nhỏ” của ông và Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn luôn

CẢNH GIÁC TRƯỚC THỦ ĐOẠN NHÂN DANH PHẢN BIỆN XÃ HỘI ĐỂ KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ.

Phản biện xã hội (PBXH) là sự tham gia của cá nhân, các tổ chứcvề một vấn đề, chủ trương, chính sách nào đó của Đảng, Nhà nước nhằm làm cho chủ trương, chính sách đó đầy đủ, đúng đắn, hoàn thiện hơn trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo nên sự đồng thuận, phục vụ tốt hơn những vấn đề quốc kế, dân sinh.

CÁC THẾ LỰC THU ĐỊCH LẠI XUYÊN TẠC VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII là xem xét Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến

Kỷ niệm 55 năm ngày mở màn chiến dịch Đak Tô - Tân Cảnh 1967

Chiến dịch Đắk Tô - Tân Cảnh hay Trận Đắk Tô - Tân Cảnh năm 1967, là một trận đụng độ trực tiếp giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với quân đội Hoa Kỳ, diễn ra từ ngày 3 đến 22 tháng 11 năm 1967, tại cứ điểm E42 (còn gọi là đồi Charlie) gần quốc lộ 14, thuộc xã Tân Cảnh cũ, nay thuộc địa bàn thị trấn Đắk Tô huyện Đắk Tô tỉnh Kon Tum.

Một người lính Mỹ gọi cho một y tá là Tiểu đoàn 1,
các trận đánh 503 binh binh cho Đồi 882, phía tây nam Đăk Tô, tháng 11 năm 1967
Bắt đầu từ ngày 3 và kết thúc vào ngày 22/11/1967, chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh được coi là một trận đánh thắng ngoạn mục của quân và dân ta trước Quân đội Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam
Khu Chiến Thuật Quân Đoàn II, Tây Nguyên Nam Việt Nam
Nhìn từ trên không của Trại Đăk Tô nhìn về phía Lào .
Trong trận đánh này, phía Quân giải phóng đã dụ được một lực lượng chủ lực cơ động của Mỹ lên Tây Nguyên hay còn gọi là Cao Nguyên Trung Phần vào thời đó để tiêu diệt. 
173 quân trong Không quân trong Chiến dịch Greeley
Hoạt động Greeley và khu vực Đăk Tô
Thiếu Tướng William R. Peers, Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Bộ Binh và tổng tư lệnh Hoa Kỳ tại Đắk Tô
Chuẩn Tướng Leo H. Schweiter, Tư Lệnh Lữ Đoàn 173 Dù
Tham gia trận đánh này, phía Mỹ có 16.000 quân cùng với pháo binh yểm trợ đã bắn tổng cộng 151.900 quả đạn pháo. Ngoài ra còn có 2101 phi vụ trực thăng vận, 2096 phi vụ ném bom, 257 phi vụ ném bom bằng B-52, ném tổng cộng 10.000 tấn bom.
Thành viên của Công ty C, Tiểu đoàn 1, 8 binh xuống bên cạnh Đồi 742,
tọa lạc năm dặm về phía tây bắc Dak To. 14–17 tháng 11 năm 1967
Phía ta hoàn toàn ngược lại, chỉ có 6000 quân với một đại đội súng cối hỗ trợ.
Xây dựng tại Đắk Tô
Với lối đánh nghi binh, luồn lách, cơ động, ào lên tấn công trực diện ở cự ly gần rồi lại rút lui nhanh, quân ta đã khiến phía Mỹ phải vất vả chống đỡ. 
Lính Mỹ bị thương chuyển đến một trạm cứu trợ trong trận chiến với Hill 882
Nếu như địa hình rừng núi quá quen thuộc với ta thì đối với binh lính Mỹ, địa hình này là cơn ác mộng khi trực thăng không thể tiếp cận còn binh lính Mỹ rất khó xác định khoảng cách để gọi pháo dội chính xác do bị cây cối che chắn tầm nhìn.
Pháo binh 105 mm của Mỹ đang hoạt động ở Tây Nguyên.
Ngoài ra, phía ta cũng tiến hành nghi binh chiến thuật ở nhiều hướng, đặc biệt là ở những khu vực phía sau lưng địch và sau phòng tuyến của địch, khiến chúng bị hỗn loạn, không thể phán đoán được vị trí của các đơn vị chủ lực của ta để tiến hành đánh lớn.
Quân đội Mỹ trong chiến đấu trên đồi 875.

Những người lính kiệt sức của Không quân 173 sau khi vận động ở Tây Nguyên.
Trong chiến dịch này, các cuộc đụng độ lớn giữa ta và địch chủ yếu chỉ diễn ra trên một vài cao điểm trọng yếu bao gồm cao điểm 882, cao điểm 875, cao điểm 724, cao điểm 823 và cao điểm 1262. 
Nguồn ảnh: Wiki.
Những cao điểm này đã phải hứng chịu hàng vạn quả đạn pháo của đối phương, cháy trụi hết cây cối và oằn mình dưới những màn dội bom từ B-52. Mặc dù vậy, phía Quân giải phóng vẫn ngoan cường bám trụ, tiến hành cơ động đánh địch trên địa hình trống trải, tiêu hao nhiều sinh lực địch
Nguồn ảnh: Tom.
Thậm chí, tại cao điểm 875 phía ta còn tổ chức tấn công bao vây, áp đảo lực lượng Quân đội Mỹ đang bị kìm chặt dưới chân đồi, bắn rơi tới 12 máy bay trực thăng khi chúng cố giải vây cho lính Mỹ. 
Nguồn ảnh: Life.
Cuộc đụng độ ở cao điểm 875 được Mỹ coi là cuộc đụng độ đẫm máu nhất đối với quân đội nước này trong chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh. Thậm chí ở Mỹ, trận đụng độ ở cao điểm 875 mà Mỹ gọi là Đồi 875 thậm chí còn nổi tiếng hơn cả chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh. Ảnh: Mỗi đôi giày tượng trưng cho một binh lính Mỹ đã ngã xuống. 
Nguồn ảnh: Tumblr
Tổng cộng, trong số 570 lính Mỹ tham chiến ở đồi 875, có 123 lính thiệt mạng tại chỗ và 252 lính bị thương, kèm theo 12 máy bay bị bắn rơi. 
Nguồn ảnh: Flickr
Tổng kết toàn chiến dịch, phía Quân giải phóng giành được cả hai chiến thắng về mặt chiến thuật và chiến lược. Phía Mỹ có 4570 lính thiệt mạng, mất 70 máy bay, 3 sân bay bị phá hỏng, 52 xe quân sự trong đó có 16 xe tăng-thiết giáp bị bắn cháy, 2 kho đạn và 3 kho xăng bị phá hủy hoàn toàn.
Nguồn ảnh: Press
Trận Đăk Tô - 1967, được coi là chiến thắng lớn đối với quân ta khi đã tiêu hao nặng những đơn vị thiện chiến nhất của Mỹ, đây cũng được xếp vào là 1 trong 3 chiến dịch thắng lớn nhất trên địa bàn Tây Nguyên cùng với chiến dịch Plây Me năm 1965 và chiến dịch Đăk Siêng năm 1970.