Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

Quyết chống "giặc nội xâm"

 

Người xưa có câu: “Quốc dĩ dân vi bản, dân dĩ thực vi tiên”, nghĩa là: Nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm đầu. Nói cho dễ hiểu là nhân dân quan trọng như gốc của cây, cây không thể không có gốc, nếu gốc không vững chắc thì cây không thể phát triển tốt và tồn tại vững bền. Được nhân dân đồng lòng, đồng sức ủng hộ thì nước mới mạnh và muốn nhân dân đồng thuận ủng hộ thì phải chăm lo cho cuộc sống của nhân dân.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Đặc biệt, Người nhắc nhở rất ngắn gọn, dễ hiểu mà vô cùng sâu sắc, trở thành nguyên tắc hành động đối với các cơ quan, tổ chức, mọi cán bộ cách mạng: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, phải tiền phong, gương mẫu. Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Việc gì có lợi cho dân dù nhỏ nhất vẫn phải cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ nhất cũng phải tránh. 

Theo quan điểm ấy, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tiền phong, gương mẫu, nói đi đôi với làm; luôn phấn đấu vì nhân dân, đất nước nên quy tụ được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc-nhân tố quyết định để đánh thắng những kẻ thù xâm lược. 

Tuy nhiên, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật, chúng ta nhận thấy hiện nay, việc huy động sức mạnh lòng dân để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước đang gặp phải những rào cản từ một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất với các biểu hiện: Nói, viết và làm không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; kén chọn chức danh, vị trí công tác, chọn nơi có nhiều lợi ích, việc dễ làm; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi khó khăn; chỉ tập trung giải quyết những vấn đề có lợi cho mình...

Nhân dân không khỏi tâm tư trước tình trạng một số cán bộ, công chức "giàu thần tốc" không phải từ thu nhập chính đáng. Rồi trong thời kháng chiến, rất nhiều con cháu cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước xung phong vào quân ngũ, xông pha nơi gian khổ, hiểm nguy nhưng bây giờ ngày càng ít con cháu cán bộ cấp cao tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc xông pha nơi khó khăn, gian khổ. Một số cán bộ không những nuông chiều con cháu thái quá mà còn tìm cách ưu ái để con cháu được thăng tiến “thần tốc”, được công tác ở những vị trí nhàn nhã...

Ở góc độ khác, có những cán bộ, đảng viên không chỉ vô trách nhiệm mà còn vô liêm sỉ, trục lợi trên nỗi đau khổ của người dân (mà vụ án liên quan đến Công ty Việt Á và vụ lợi dụng những chuyến bay giải cứu đồng bào ở nước ngoài trong lúc cao điểm dịch Covid-19, với hàng chục, hàng trăm cán bộ, đảng viên vi phạm đã và đang bị nghiêm trị-là điển hình của loại cán bộ thoái hóa, biến chất).  

Quần chúng cũng không khỏi bất bình trước hiện tượng một số cán bộ ưu ái và bảo kê cho "doanh nghiệp sân sau"; doanh nghiệp ngang nhiên sai phạm mà cán bộ sở tại, lực lượng chức năng vẫn phớt lờ "cho qua" dù người dân nhiều lần phản ánh, kiến nghị cần kiểm tra, xử lý.

Tư tưởng tính toán thực dụng, háo danh, hám lợi, làm gì cũng chỉ đặt lợi ích của bản thân và gia đình mình lên trên hết, trước hết là biểu hiện rõ nhất của chủ nghĩa cá nhân-kẻ thù nguy hại số một đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng. Đây chính là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, thổi phồng nhằm chống phá cách mạng, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ ta. Chính vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải ra sức đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân bởi đó chính là "giặc nội xâm", là kẻ thù của những người cách mạng, là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. 

Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, nhất là chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đang được Đảng ta tiến hành mạnh mẽ với quyết tâm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai", được nhân dân rất đồng tình, ủng hộ. Đó là phương thức vô cùng quan trọng để giữ vững và củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ-giữ vững "thế trận lòng dân". Tuy nhiên, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn hiện hữu là thực tế cần được nghiêm túc xem xét, đề ra giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn và quyết liệt đấu tranh, khắc phục hiệu quả, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo thành sức mạnh to lớn, vô địch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử hư hỏng, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.

Ngày 1-8-2022, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ban hành Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW về một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực, trong đó xác định rõ 19 nhóm hành vi tiêu cực của cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức (trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị) phải tập trung đấu tranh, xử lý. Việc quy định rõ những hành vi vi phạm này là hết sức cần thiết, có tác dụng cảnh báo, răn đe để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức soi xét lại hành vi của mình nhằm tránh vi phạm; đồng thời làm cơ sở cho nhân dân giám sát, phòng, chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức từ cấp trung ương tới cơ sở. Mong rằng, tổ chức đảng các cấp quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm hướng dẫn này để phòng, chống hiệu quả tham nhũng, tiêu cực và những hành vi là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, qua đó giữ vững và củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và chính quyền để thế trận lòng dân thêm vững chắc.     

Để từ chức trở thành nét văn hóa ứng xử của cán bộ

 

Trong đời sống xã hội, tuy không phải là hiếm, nhưng rất khó khăn để một cán bộ từ chức dù với lý do nào. Có nhiều rào cản khiến cho việc từ chức không hề dễ như nguyên tắc “có lên-có xuống”, “có vào-có ra” trong công tác cán bộ.

Điều đó cho thấy, để từ chức thực sự trở thành vấn đề bình thường, là nét văn hóa ứng xử trong công vụ cần có cả quá trình thay đổi từ quan niệm, nhận thức đến hành vi của mỗi người, cùng những thiết chế phù hợp.

Vì sao từ chức khó khăn?

Trong hệ thống công quyền ở nước ta, cán bộ từ chức hiện nay được nhìn nhận dưới hai góc độ. Thứ nhất là cán bộ có sai phạm khi thực thi công vụ. Trong đó, một số từ chức vì tự trọng, danh dự khi sai phạm của họ chưa đến mức phải cách chức. Số còn lại từ chức, nghỉ việc vì sai phạm của họ đến mức phải xử lý, nếu họ không từ chức thì tổ chức cũng sẽ cách chức. Thứ hai là cán bộ từ chức vì sức khỏe; vì tạo cơ hội cho người khác; vì công việc không phù hợp với chuyên môn; vì có định hướng khác... Thẳng thắn nhìn nhận, từ chức vốn là vấn đề không dễ dàng với mỗi cá nhân do nó liên quan đến lợi ích, quyền lực, danh dự... thậm chí là "cơm áo" hằng ngày của chính người đó. 

Những năm tháng kháng chiến, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, cán bộ phần lớn xả thân đi làm cách mạng, chịu mọi tù đày cũng chỉ mong cách mạng thành công, đến ngày được giải phóng. Khi đó, bổng lộc, quyền lợi với họ chỉ là thứ yếu, họ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng vì tổ chức. Bởi thế, chuyện họ từ chức khi thấy mình không hoàn thành tốt công việc, hay nhường cơ hội cho người khác... diễn ra nhẹ nhàng. Ngày nay, nhiều cán bộ trưởng thành trong hòa bình (một số được thừa hưởng cuộc sống đầy đủ từ gia đình), gắn liền với quyền lợi, bổng lộc, bởi thế không dễ để họ từ bỏ những điều đang có.

Bên cạnh đó, gánh nặng khiến nhiều cán bộ không dám từ chức đó là sức ép từ gia đình, dòng họ, đồng nghiệp. Sức ép từ quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ” là áp lực lớn với nhiều cán bộ. Chức tước ở nước ta vẫn bị mặc định là “tiêu chuẩn” đánh giá sự thành đạt, địa vị xã hội không chỉ với cá nhân mà còn với gia đình, dòng họ, thậm chí mang tính địa phương. Dân tộc ta trọng tri thức, trọng danh nên luôn quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ”, “làm quan phát tài”. Về bản chất, đây là những quan niệm tốt đẹp, cái “cả họ được nhờ” ở đây là tiếng tốt, tiếng thơm, nhưng dần dần nó mặc nhiên được hiểu là sự nâng đỡ, mang lại lợi ích vật chất, quyền lực cho dòng họ.

Mặt khác, dù là một góc khuất nhưng rất cần “điểm mặt, chỉ tên” đó là tình trạng cán bộ chạy chức, chạy quyền không phải là chuyện hiếm. Ai đó, bỏ tiền bạc để chạy chức thì khó để họ từ chức.

Mặc dù Đảng, Nhà nước đã có những quy định rõ ràng cũng như khuyến khích cán bộ có sai phạm, không đủ uy tín từ chức, tuy vậy, chúng ta chưa xây dựng được thiết chế thuận tiện để cán bộ đã từ chức, nghỉ việc quay trở lại làm việc. Thực tế, những cán bộ đã từ chức, nghỉ việc thì rất khó có cơ hội trở lại hệ thống công quyền.

Những tấm gương trong lịch sử

Từ chức theo Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 của Bộ Chính trị “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” là việc cán bộ tự nguyện xin thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm và được cấp có thẩm quyền chấp thuận.

Ở một chừng mực nhất định, trong lịch sử dân tộc, văn hóa công vụ về từ chức đã hình thành dù chưa phổ biến. Nó thể hiện lòng tự trọng, giữ phẩm giá của mỗi người. Khi thấy mình không đủ năng lực, không đủ uy tín để lãnh đạo, dẫn dắt, mở đường thì từ chức là cần thiết. Từ chức đúng cũng là tiếng nói phản biện, chống lại cái sai, cái không phù hợp. Lịch sử dân tộc ta đã có những người như thế. Nhà giáo-đại quan Chu Văn An, đại thi hào Nguyễn Trãi, Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm... là những người đã khẳng khái từ quan khi khuyên can triều đình những việc làm sai trái mà không được chấp thuận. Lịch sử dân tộc còn ghi việc nhiều vị quan tướng đã từ quan để phản đối sau khi Vua Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn ký các hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp. Cũng trong lịch sử các triều đại phong kiến, nhiều bậc danh tướng cầm quân đánh giặc, khi thất bại đã từ chức, tự trói mình chịu tội với triều đình.

Thời đại Hồ Chí Minh, vì sự nghiệp lớn lao của cách mạng, nhiều đồng chí giữ các cương vị quan trọng đã sẵn sàng rút lui khỏi chức vụ để thuận lợi cho cách mạng, sẵn sàng từ chức khi thấy mình chưa hoàn thành tốt trọng trách. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành lập, khi tổ chức Chính phủ lâm thời, có những đồng chí trong Ủy ban Trung ương Quốc dân Đại hội bầu ra, đáng lẽ cũng tham dự Chính phủ, song các đồng chí ấy đã tự động xin rút, để nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước nhưng còn ở ngoài Việt Minh. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần phát biểu trước Đảng, trước dân cũng đã đánh giá rất cao công lao và sự hy sinh quyền lợi của các đồng chí đó. Trong quá trình công tác, cũng có nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng tự nguyện xin rút khỏi các vị trí lãnh đạo. Sau sai lầm của cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đảng, đồng chí Trường Chinh xin từ chức Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã xin rút khỏi Bộ Chính trị. Hay như đồng chí Nguyễn Văn Linh từng xin rút khỏi Bộ Chính trị, nhưng sau đó, với những đóng góp quan trọng cho Đảng, cho đất nước, ông trở lại tham gia Bộ Chính trị rồi trở thành Tổng Bí thư.

Ngày nay, có một số cán bộ mạnh dạn từ chức để dành cơ hội cho người khác. Một trong số đó là ông Nguyễn Sự, nguyên Bí thư Thành ủy Hội An (Quảng Nam). Ông Nguyễn Sự từ chức Bí thư Thành ủy trước hai năm của nhiệm kỳ. Việc ông Nguyễn Sự từ chức đã gây sự tiếc nuối với nhiều người vì ông là cán bộ có uy tín, luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao và không có sai phạm.

Trên thực tế, thời gian qua, đã có một số cán bộ giữ các chức vụ quan trọng ở cả Trung ương và địa phương xin từ chức. Phần lớn số cán bộ này từ chức là do có vi phạm khuyết điểm. Dù việc họ từ chức là thể hiện sự chủ động, tuy nhiên việc từ chức sau khi đã nhận hình thức kỷ luật thì tính chất, ý nghĩa cũng khác. Chúng ta cần những cán bộ làm gương như ông Nguyễn Sự, với lời chia sẻ của ông: "Mình đã làm được một thời gian rồi, tư duy của mình không thể tạo ra những cái mới, vì thế, để tạo điều kiện cho lớp trẻ kế tục sự nghiệp của mình và sự nghiệp chung thì tốt nhất nên từ chức...".

Cần có “Khoán 100”, “Khoán 10” về từ chức-phục chức

Trên thực tế, Đảng, Nhà nước đã có các quy định pháp lý cho việc từ chức. Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng "về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ" xác định phải "xây dựng quy định để việc nhận trách nhiệm, từ chức, từ nhiệm trở thành nếp văn hóa ứng xử của cán bộ". Luật Công chức, viên chức cũng quy định những vấn đề này. Đặc biệt, ngày 3-11-2021, Bộ Chính trị ban hành Quy định 41-QĐ/TW “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” và ngày 8-9-2022, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Thông báo số 20-TB/TW  Kết luận của Bộ Chính trị “về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật”. Điểm đáng chú ý, Bộ Chính trị khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức.

Có thể thấy, những quy định này đã có nội hàm rất rõ khi coi việc từ chức là vấn đề bình thường trong thực thi công vụ. Nó cũng mở đường cho những cán bộ có sai phạm, yếu kém; đồng thời tạo thuận lợi cho những cán bộ muốn từ chức vì những lý do chính đáng khác. Tuy nhiên, trên thực tế, còn một rào cản khác khiến cho cán bộ không dễ dàng từ chức, đó là nếu đã từ chức thì gần như không còn cơ hội để quay lại hệ thống công quyền. Thực tế, các quy định của Đảng không chặn đường tiến của cán bộ đã từ chức. Điểm 2 Điều 10 Quy định số 41-QĐ/TW nêu: “2. Cán bộ đã từ chức và bố trí công tác khác, nếu được cấp có thẩm quyền đánh giá tốt, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện và khắc phục được những yếu kém, sai phạm, khuyết điểm thì có thể được xem xét để quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử theo quy định”. Dù vậy, trên thực tế vẫn còn quan điểm nặng nề, định kiến khi phục chức, hay thăng chức cho một cán bộ từ chức. Dư luận dường như chưa sẵn sàng chấp nhận điều đó. Có ý kiến cho rằng, cần có một “Khoán 100”, “Khoán 10” trong việc “từ chức-phục chức”.

Như đã đề cập, nếu ai đó đã chạy chức thì rất khó để họ từ chức, mà bằng mọi cách để giữ chức. Bởi thế, cần xử lý cương quyết với tình trạng chạy chức. Cùng với thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về cán bộ nêu gương, chống chạy chức, chạy quyền thì điều rất quan trọng là thực hiện các giải pháp để ngăn chặn hành vi này. Từ thực tiễn cho thấy, Đảng phải kiên quyết siết chặt quy trình, quy định về công tác bổ nhiệm cán bộ theo hướng gắn trách nhiệm cụ thể của người đề cử cán bộ và người đứng đầu cấp ủy đề nghị bổ nhiệm. Trường hợp cán bộ có sai phạm trong phạm vi thời gian nhất định thì người đề cử và người đứng đầu cấp ủy đề nghị bổ nhiệm cán bộ đó cũng bị xem xét xử lý kỷ luật. Cùng với đó, cần thực hiện công khai danh sách cán bộ từ quy hoạch đến đề bạt, bổ nhiệm, đánh giá, luân chuyển để quần chúng biết và cùng giám sát. Thực hiện cơ chế cạnh tranh bình đẳng để tuyển chọn những người tài giỏi, trong sạch làm lãnh đạo, quản lý. Và điều quan trọng nhất, phải ban hành được tiêu chuẩn đánh giá cán bộ hằng năm một cách công khai, minh bạch, công bố trong tập thể để giám sát. Những người bị đánh giá hạn chế về năng lực, phẩm chất, không có quy hoạch thì cũng không dễ để chạy chức.

Trở lại vấn đề gốc của người cán bộ thì từ chức cần được xem là vấn đề bình thường trong bộ máy công quyền, đúng cả về lý luận và thực tiễn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhiều lần khẳng định quan điểm xuyên suốt: “Cán bộ là công bộc của dân”; chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ... Chức tước, địa vị của cán bộ thực ra là do nhân dân ủy thác. Khi thấy mình không thể làm tốt vai trò là một công bộc thì từ chức là việc nên làm. Đó không đơn thuần là một hành động mà cần xem nó là văn hóa ứng xử của cán bộ, rất cần thiết dù trong bất cứ môi trường, công việc nào.

THÀNH TỰU CỦA CM VIỆT NAM KHÔNG THỂ BÁC BỎ, PHỦ NHẬN!

     Năm 2022, năm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng sắp đi qua, đánh dấu những thắng lợi quan trọng của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của đất nước, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước. Nền kinh tế đất nước đang dần phục hồi sau ảnh hưởng của đại dịch Covid - 19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Một năm sau bước chuyển hướng chiến lược sang thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam đã tăng trưởng, bứt phá ngoạn mục: Từ chỗ GDP giảm sâu vào quý III/2021, sang quý III/2022, GDP tăng trưởng 13,67%, cao nhất tính từ năm 2011. Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đều hoàn thành và vượt mức đề ra. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện. Văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh, phúc lợi xã hội được quan tâm chăm lo, bảo đảm đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, lãng phí được đẩy mạnh và đạt được những kết quả tích cực. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, tăng cường. Công tác đối ngoại ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu.
      Trong bối cảnh phức tạp của tình hình quốc tế, khu vực, Việt Nam trở thành một số ít nước trên thế giới vừa đạt được tăng trưởng cao, vừa kiểm soát được lạm phát, giữ vững ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và tiếp tục là điểm sáng về sự ổn định, an toàn, an ninh, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế./.


Yêu nước ST.

Cội nguồn sức mạnh vô địch của Đảng

 

Thực tiễn lịch sử dân tộc ta, thực tiễn cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới đã chứng minh một chân lý: Có dân là có tất cả; mất dân cũng có nghĩa là mất tất cả.

Sức mạnh của Đảng nằm trong mối liên hệ mật thiết với nhân dân: “Dân là gốc của nước, gốc có vững thì nước mới yên”. Ông cha ta đã để lại những tư tưởng bất hủ, như: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”; “Lật thuyền mới biết dân như nước”; “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; Cái gốc của nhạc là ở nơi “thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu”... An Dương Vương chủ quan, mất cảnh giác, chỉ dựa vào vũ khí, không biết dựa vào sức mạnh nhân dân để chống giặc ngoại xâm nên kết cục là mất nước.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đặt vị trí của nhân dân lên một tầm cao mới, khẳng định nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, tạo ra mọi của cải, vật chất và những giá trị văn hóa, tinh thần. Nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan niệm rất độc đáo, sáng tạo về nhân dân; không những khẳng định dân là gốc của nước, của cách mạng mà còn đặt nhân dân ở vị trí tối thượng. Người viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của nhân dân”; “... Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Người nhấn mạnh: Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân; nhân dân cần Đảng dẫn đường. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn tỏ rõ là một Đảng cách mạng chân chính, hết lòng phấn đấu vì nhân dân, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân luôn được củng cố, tăng cường. Sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, đó chính là nền tảng, nguồn gốc tạo nên sức mạnh vô địch của Đảng. Lênin từng căn dặn rằng: Nguy cơ lớn nhất của một đảng cầm quyền là sai lầm về đường lối và quan liêu, xa rời quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh: Đảng phải gần dân, trọng dân, tin dân, học dân để lãnh đạo dân. Củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân là vấn đề có tính quy luật trong sự hình thành, tồn tại và phát triển của Đảng ta.

Để xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, cần nắm vững và làm tốt những vấn đề cơ bản sau đây:

Một là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân.

Chính quyền phải gần dân, sát dân, thân dân. Khi đã trở thành đảng cầm quyền, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trước hết và chủ yếu ở mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân thông qua pháp luật, chính sách, thông qua hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. “Tất cả cán bộ chính quyền... đều phải phụ trách dân vận” như Bác Hồ đã căn dặn. Cần tránh quan niệm cho rằng, cán bộ chính quyền chỉ làm công tác hành chính, không làm công tác dân vận. Không hiểu công tác dân vận và không thực sự làm dân vận thì chưa thể là cán bộ, công chức, viên chức cách mạng, công bộc của dân. 

Hai là, giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội.

Không giải quyết tốt vấn đề này thì khó có thể xây dựng được mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân và xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc một cách vững chắc, lâu dài. Lợi ích là nhân tố nổi lên hàng đầu, là vấn đề mấu chốt trong việc củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo chính quyền quản lý xã hội thì vấn đề quan trọng nhất là các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải đáp ứng lợi ích thiết thân của nhân dân, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong sự hài hòa giữa các lợi ích, thống nhất quyền lợi, nghĩa vụ công dân. 

Chủ trương, chính sách đúng với đường lối của Đảng, hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân, được tổ chức thực hiện dân chủ, mang lại lợi ích thiết thực, cơ bản cho dân sẽ có ý nghĩa cực kỳ to lớn để củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và dân. Nếu chúng ta không chăm lo đến những lợi ích thiết thực của dân, các thế lực thù địch sẽ tập trung khai thác mặt yếu này để tranh thủ quần chúng, kích động khiếu kiện, biểu tình gây mất ổn định chính trị-xã hội.

Ba là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng-một vấn đề mấu chốt để củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân là cầu nối rất quan trọng thắt chặt mối quan hệ giữa và Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, qua đó tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố sự nhất trí về chính trị tinh thần trong xã hội, củng cố và tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với dân. 

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội và phải luôn được củng cố, phát triển sâu rộng trên cơ sở liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Chính trong sự đoàn kết đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân được củng cố, tăng cường và phát triển. Đảng phải là hạt nhân cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phải tiêu biểu cho sự đoàn kết đó.

Bốn là, phát huy vai trò làm chủ và thực hiện tốt quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững kỷ cương phép nước.

Đảng cần phải tăng cường lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền chăm lo phát huy và thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân theo pháp luật, tăng cường đồng thuận xã hội. Các cấp ủy đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân; tin dân, tôn trọng những người có ý kiến khác; làm tốt công tác dân vận, có cơ chế, pháp luật để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình. Đồng thời, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh những biểu hiện vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, cũng như những biểu hiện lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, kích động nhân dân, gây rối trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị, xã hội và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chỉ có thực sự phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa mới có đồng thuận xã hội và đoàn kết thực sự, bền vững. 

Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập của Đảng, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên của đảng cầm quyền phải luôn nêu cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính; phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết, thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; phải đi sâu, đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Có như vậy, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân mới được củng cố, tăng cường. Khi Đảng đã gắn bó máu thịt với dân, dân tin yêu Đảng thì Đảng sẽ có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi thác ghềnh, vững tay chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam thẳng hướng đi lên, cập bến quang vinh.

Mưu đồ đằng sau “thư ngỏ”, “thư khuyến nghị”!

 Chủ trương, quan điểm, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về củng cố quốc phòng, an ninh với mục đích hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, ngăn ngừa các nguy cơ xung đột, chiến tranh. Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách xuyên tạc nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Vừa qua, một số hội, nhóm tự xưng “cải cách, dân chủ” đưa ra cái gọi là “thư ngỏ”, “thư khuyến nghị” nhằm mục đích xuyên tạc chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng, Nhà nước ta, tạo cớ chống phá.

Bản chất của “thư khuyến nghị”

Có thể điểm tên các tổ chức tung ra “thư ngỏ”, “thư khuyến nghị” như Lập quyền dân; Diễn đàn xã hội dân sự; Ban vận động văn đoàn độc lập; Bauxite Việt Nam; Câu lạc bộ Nguyễn Trọng Vĩnh; Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng; Câu lạc bộ Hoàng Quý… Theo nội dung “thư khuyến nghị”, các hội, nhóm trên đưa ra yêu cầu rằng: Việt Nam đang phải dựa vào Mỹ, Nhật, phương Tây để vừa phát triển kinh tế vừa ngăn ngừa xảy ra chiến tranh; Việt Nam nên mạnh dạn mở cửa cảng Cam Ranh cho tất cả các nước, tạo điều kiện cho Nhật, Mỹ và các nước phương Tây cùng phát triển đầu tư các cơ sở hạ tầng để “tạo nên một cái thế để đối trọng” với nước khác… Để cổ súy, tung hô, tán dương cho chiêu trò trên, RFA có bài viết lên giọng “khuyến nghị Việt Nam hợp tác với Mỹ và phương Tây” để chống lại các nguy cơ đe dọa chủ quyền biển đảo. Họ đưa tin theo kiểu lập lờ đánh lận con đen, đánh đồng việc liên minh quân sự là một phần của mở rộng, hợp tác quan hệ quốc tế; phủ nhận đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam bằng việc đưa ra luận điệu Việt Nam phải tham gia liên minh quân sự, phải theo bên này để chống bên kia…

Phương thức chống phá với chiêu bài “khuyến nghị” là không mới, thực ra đó là trò giả tạo, ra vẻ vì đất nước, vì nhân dân nhưng đó là cái vỏ bọc bên ngoài để che đậy những nội dung sai trái, xuyên tạc bên trong với luận điệu kệch cỡm. Cách lập luận, diễn giải mang nặng tính áp đặt chủ quan, phiến diện, thể hiện rõ tư tưởng, ý đồ phá hoại đất nước.

Mục đính của số hội, nhóm trên nhằm đưa Việt Nam vào việc chọn bên, chia phe, thế đối đầu trong các quan hệ quốc tế, cố tình hướng lái dư luận đến với những nhận thức sai lầm, gieo rắc tâm lý ỷ lại, dựa dẫm vào quốc gia khác trong củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; kích động tâm lý “bài nước này, thân nước kia” trong một bộ phận người dân; gây ra sự hoài nghi, phân tâm về đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng, Nhà nước ta, làm giảm ý thức cũng như sự chung tay, cống hiến của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; cố tình làm cho thế giới hiểu sai về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, thân thiện.

Bảo vệ vững chắc Tổ quốc không đến từ việc liên minh quân sự

Thực tiễn lịch sử cách mạng của nước ta đã chứng minh, thắng lợi trong giải phóng dân tộc, những thành tựu to lớn của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay không đến từ việc liên minh quân sự, không đến từ việc chọn bên, chia phe, thân bên này chống bên kia trong các quan hệ quốc tế. Việt Nam giành được độc lập, thống nhất đất nước đến từ việc kết hợp sức mạnh nội lực với ngoại lực, trong đó xác định nội lực là chính, quyết định, ngoại lực là quan trọng. Thành quả cách mạng ấy là sự kết tinh của ý chí tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước trên thế giới. Bác Hồ đã từng chỉ ra rằng: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Bảo vệ Tổ quốc cũng vậy, không thể trông chờ, ỷ lại vào nước khác mà phải bằng chính bản lĩnh, trí tuệ, tiềm lực của đất nước, bằng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại. Lịch sử dân tộc ta trải qua mấy nghìn năm, công cuộc dựng nước luôn gắn liền với giữ nước. Chính sách quốc phòng “bốn không” được đúc kết từ truyền thống, kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của ông cha, phù hợp với tình hình thực tiễn thế giới, khu vực và trong nước, chính sách ấy ngày càng chứng minh tính đúng đắn, hiệu quả trên thực tế.

Trong chính sách quốc phòng Việt Nam, không liên minh quân sự là chính sách tối ưu, hữu hiệu để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam. Chúng ta quán triệt và thực hiện nhất quán tinh thần “thêm bạn, bớt thù”. Nếu tham gia liên minh quân sự, buộc chúng ta sẽ phải gắn với một bên, tạo ra sự đối trọng, thế đối đầu với các nước khác - tức là “chuốc” thêm kẻ thù, hoàn toàn trái ngược với tinh thần trên. Đồng thời, tham gia liên minh quân sự thì Việt Nam phải chia sẻ trách nhiệm về tài chính, nhân lực, thậm chí có thể phải nhân nhượng một số lợi ích quốc gia, dân tộc; kéo theo nguy cơ xung đột, chiến tranh, điều mà nhân loại yêu chuộng hòa bình, trong đó có nhân dân Việt Nam không hề mong muốn. Việt Nam chỉ chọn đứng về hòa bình, đứng về lẽ phải, công lý trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

Trong chính sách quốc phòng “bốn không”, Việt Nam cũng thực hiện nghiêm nguyên tắc không liên kết với nước này để chống nước kia. Nguyên tắc này giúp cho chúng ta có vị thế phù hợp để đối thoại với các nước hay tham gia vào các cơ chế đối thoại quốc phòng an ninh, quan sát viên các hội nghị, các cuộc tập trận ở khu vực.

Chúng ta tuyên bố rõ ràng với thế giới là không chấp nhận cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, sử dụng một phần lãnh thổ Việt Nam để phát động chiến tranh xâm lược nước khác. Với quân cảng Cam Ranh, đây là căn cứ riêng của Hải quân Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam đã cho xây dựng cảng quốc tế Cam Ranh để đáp ứng yêu cầu thúc đẩy giao lưu, hợp tác vì hòa bình. Hoạt động của tàu quân sự, hải quân nước ngoài tại cảng quốc tế Cam Ranh hay các cảng khác ở nước ta phải tuân thủ nguyên tắc “không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam chống lại nước khác”. Đến nay, Việt Nam đã đón tiếp nhiều tàu hải quân nước ngoài, bao gồm Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia, Pháp, Anh, Canada, New Zealand, Nga, Trung Quốc... đến thăm, ghé đậu tại cảng quốc tế Cam Ranh vì mục đích thúc đẩy giao lưu hợp tác trên tinh thần hòa bình, phát triển chung.

Kiên trì chính sách “bốn không” gắn với mở rộng hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh

Liên minh quân sự và mở rộng đối ngoại quốc phòng, an ninh là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau. Việt Nam không tham gia liên minh quân sự không có nghĩa là chúng ta khép kín, không mở rộng hợp tác, thúc đẩy quan hệ đối ngoại quốc phòng, an ninh. Trong tình hình mới, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; làm sâu sắc, hiệu quả hơn đối ngoại quốc phòng, an ninh; với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; kiên định về chiến lược, linh hoạt về sách lược; đan xen lợi ích và duy trì quan hệ cân bằng với các quốc gia, nhất là các nước lớn; không theo bên này để chống bên khác; không để đất nước rơi vào thế bị bao vây, cô lập, lệ thuộc vào nước ngoài; Việt Nam làm bạn, làm đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đây là cơ sở, tiền đề quan trọng để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững đất nước.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 viết: “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”. Điều này cho phép Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo đảm sự linh hoạt, chủ động ứng phó trong những tình huống phức tạp hoặc khi có yêu cầu cấp thiết bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, Việt Nam thiết lập, mở rộng ngoại giao với 189 trong tổng số hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong đó, quan hệ đối ngoại quốc phòng ngày càng phát triển với hơn 80 quốc gia trải rộng cả 5 châu lục, đặc biệt chúng ta có quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Đây là minh chứng rõ nét chứng minh đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh đúng đắn, hợp lý, linh hoạt, sáng tạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam, là kết quả của sự hội tụ sức mạnh “ý Đảng, lòng dân” trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế. Đồng thời, mở ra những thuận lợi, cơ hội để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước và con người, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Khuyến nghị được hiểu là đưa ra lời khuyên, lời đề nghị với thái độ trân trọng, chân thành, mang tinh thần xây dựng, vì lợi ích quốc gia dân tộc nhưng cái cách mà các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã làm hoàn toàn ngược lại. Họ mượn vỏ bọc “khuyến nghị”, lợi dụng “khuyến nghị”, làm méo mó, biến dạng “khuyến nghị”, xuyên tạc, chống phá đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh cũng như phủ nhận mọi nỗ lực và thành tựu trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước trong thời gian qua.

Luận điệu bôi nhọ công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta

 Thời gian qua, với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất đã được Đảng, Nhà nước ta tiến hành một cách công khai, minh bạch, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở. Hàng loạt cán bộ cấp cao sai phạm thuộc diện Trung ương và địa phương quản lý đều đã bị xử lý về các hành vi tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.

Chỉ trong chưa đầy một năm trở lại đây, có 3 ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII bị cách chức hoặc bị khởi tố và 2 ủy viên Trung ương Đảng khác đang bị đề nghị xem xét, kỷ luật vì có những vi phạm nghiêm trọng, làm thiệt hại lớn về tiền, tài sản của Nhà nước. Dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và sự tham gia của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất đã được nhân dân hết sức đồng tình, tin tưởng, ủng hộ; uy tín của chế độ ngày càng được củng cố. 


Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, trên diễn đàn mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã lợi dụng công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái, biến chất của Đảng, Nhà nước ta để xuyên tạc, bóp méo, cho đó là “cuộc đấu tranh thanh trừng nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích”, vu cáo  Đảng, Nhà nước ta đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị! Lợi dụng một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là liên quan đến vụ kit test Việt Á, các cá nhân, tổ chức thù địch đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp rằng toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước “đang rơi vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, thoái hóa, biến chất”. Họ vu cáo rằng, đó là bản chất, là “căn bệnh nan y, kinh niên” của chế độ độc đảng cầm quyền.

Nhiều bài viết còn phủ nhận những kết quả về công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta khi cho rằng, Đảng, Nhà nước đã phát động chống tham nhũng, suy thoái nhưng đều thất bại, không thành công, tệ nạn ngày càng gia tăng. Từ đó, số này đưa ra quan điểm, chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực, kêu gọi phải thay đổi thể chế thì mới có thể chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.

Điển hình như trên trang RFA (Đài Á châu tự do) ngày 24/6/2022 đã đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: thay đổi thể chế”. Bài viết đánh lận vấn đề rằng, “Việt Nam từ nhiều năm qua ra quyết tâm chống tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật bằng nhiều hình thức do tham nhũng. Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không?”.

Tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là hiện tượng mang tính xã hội, nó tồn tại ở các quốc gia, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo. Chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Tổ chức Minh bạch quốc tế (AI) đã từng cho rằng tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó, đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Một số quốc gia có biểu hiện nguy hiểm khi tình trạng tham nhũng đã leo đến tận các nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Brazil Colombia, Malaysia; một số quốc gia thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng” đều theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo.

Do đó, việc RFA cũng như các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế, là sự quy chụp, suy diễn. Âm mưu của chúng là nhằm gây ra tình trạng nghi ngờ, hoang mang, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin.

Thực tế, từ khi ra đời đến nay, Đảng, Nhà nước ta đã luôn nhận thức rõ tính nguy hiểm của tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Đảng, Nhà nước đã luôn có quyết tâm chính trị cao và kiên quyết phòng, chống, khắc phục tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đảng viên và cán bộ Nhà nước. Đảng, Nhà nước ta luôn coi tham nhũng, tiêu cực là “giặc nội xâm”, một trong các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, phải kiên quyết đấu tranh loại ra khỏi đời sống xã hội. Đảng ta cũng xác định phải chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng. Kết hợp giữa xây và chống, phòng ngừa gắn liền với xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam.

Minh chứng rõ cho điều đó là các văn kiện của Đại hội Đảng, các chỉ thị, nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, việc xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng, tiêu cực, không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” đã được thể hiện rõ kết quả trong báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 được Bộ Chính trị tổ chức vào ngày 30/6/2022 vừa qua.

Trong 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.

Vậy nên, những luận điệu cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái của cán bộ trong Đảng, Nhà nước ta là phổ biến, là “căn bệnh kinh niên, nan y không thể chữa trị của chế độ độc đảng cầm quyền” hay đó là cuộc “đấu tranh, thanh trừng nội bộ giữa các phe phái”… là hoàn toàn sai trái.  Đó là những quan điểm cố tình bôi đen, xuyên tạc nhằm làm sai lệch bản chất, ý nghĩa công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta, cố tình lấy cớ để chống phá, can thiệp vào công việc nội bộ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ.

Lật tẩy những chiêu trò tung hỏa mù, gây ngờ vực

 Tiếp tục nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, từ đầu năm 2022 đến nay, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực đã tập trung chỉ đạo các cơ quan chức năng đấu tranh mạnh với tội phạm tham nhũng và kinh tế.

Một số vụ án điển hình như vụ Công ty Việt Á, những "chuyến bay giải cứu", mua sắm thiết bị trong lĩnh vực y tế, giáo dục… được phát hiện, xử lí. Qua đó, nhiều tổ chức, cá nhân bị kỉ luật; đã có những cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lí bị khởi tố, bắt giam vì cáo buộc nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Và mới đây nhất, tối 20/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố bị can, bắt tạm giam cựu Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai, bà Bồ Ngọc Thu về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Đây là diễn tiến của việc mở rộng điều tra vụ án được khởi tố cuối tháng 4/2022 đối với Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty AIC Nguyễn Thị Thanh Nhàn cùng một số bị can có hành vi thông thầu, gian lận trong đấu thầu, vi phạm Luật Đấu thầu để AIC trúng 12 gói thầu với tổng giá trị hơn 476 tỉ đồng…

Đấu tranh phòng, chống tội phạm lĩnh vực kinh tế từ đầu năm 2022, nổi lên là vụ Trịnh Văn Quyết (chủ tịch FLC) với hành vi thao túng thị trường chứng khoán; vụ Đỗ Anh Dũng, chủ tịch Tân Hoàng Minh cùng đồng phạm thông qua phát hành trái phiếu lừa đảo, chiếm đoạt hơn 8.000 tỉ đồng (khoảng 320 triệu USD); vụ Vạn Thịnh Phát với hành vi gian dối phát hành, mua bán trái phiếu, chiếm đoạt hàng nghìn tỉ đồng của nhà đầu tư…

Riêng vụ Trịnh Văn Quyết, theo kết quả điều tra bước đầu, từ năm 2014 đến năm 2016, thông qua việc tăng vốn điều lệ khống từ 1,5 tỉ đồng lên 4.300 tỷ đồng tương ứng 430 triệu cổ phần của Công ty CP Xây dựng Faros. Khi được niêm yết 430 triệu cổ phiếu ROS trên sàn chứng khoán, Trịnh Văn Quyết và một số đồng phạm đã bán, chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư hơn 6.400 tỉ đồng (khoảng 260 triệu USD).

Những vụ việc trên cho thấy, tội phạm kinh tế đã gây thiệt hại khủng khiếp đối với nền kinh tế nói chung, với các nhà đầu tư và người dân nói riêng. Đã có biết bao người khánh kiệt tài sản, bao gia đình tan nhà nát cửa vì bỗng chốc trở thành nạn nhân của những kẻ lừa đảo siêu hạng.

Và việc điều tra, xử lí cương quyết nhằm ngăn chặn tội phạm, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt là nhiệm vụ cấp bách mà Bộ Công an và các cơ quan chức năng đã và đang nỗ lực thực hiện, dưới sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt và hiệu quả của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thực tế sờ sờ như vậy song vẫn có những luận điệu ở cả trong và ngoài nước tung hỏa mù dưới chiêu bài: Nào là, Công an Việt Nam đang hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự; nào là chống tham nhũng tiêu cực ở Việt Nam vẫn chỉ “tắm từ vai” và chỉ nhằm vào những người không cùng cánh hẩu; nào là Công an sắp sửa “sờ gáy” tập đoàn này, doanh nghiệp kia, v.v. khiến một bộ phận dư luận, nhà đầu tư dao động, làm ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán nói riêng, sự phát triển của nền kinh tế nói chung.

Không chỉ tung hỏa mù, gây ngờ vực vào quyết tâm và hiệu quả chống tham nhũng, tiêu cực, các thế lực thù địch còn đặt vấn đề: Càng chống thì tiêu cực, tham nhũng càng nhiều; muốn chống tham nhũng hiệu quả, thì cần thay đổi thể chế…

Những luận điệu sai trái, trơ trẽn nêu trên được một số người triệt để khai thác, lợi dụng, nhằm mục đích “giảm cường độ” và hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; đảo ngược quá trình lành mạnh hóa, minh bạch hóa các hoạt động đầu tư, kinh doanh và thị trường chứng khoán cũng như nền kinh tế.

Nhìn lại 3 năm qua, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành khiến hàng vạn người thiệt mạng, sản xuất đình đốn, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế bị trùng xuống; tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, mọi mặt đời sống xã hội, quốc phòng và an ninh vẫn được bảo đảm. Đáng mừng, từ cuối năm 2021, sản xuất, xuất khẩu phục hồi, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là sáng sủa nhất ở khu vực và châu Á…

Trong đó IMF dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2022 đạt khoảng 7-7,5%; lạm phát trung bình thấp hơn so với mục tiêu 4% và thấp so với các nước trên thế giới và khu vực; các hoạt động sản xuất kinh doanh đang phục hồi mạnh mẽ và rộng khắp.

"Đây là điều chúng tôi không quan sát được ở các nền kinh tế khác, ví dụ, nhiều nước tăng trưởng tốt nhưng lạm phát rất cao. Chúng ta có thể thấy các tin xấu đến hằng ngày nhưng với Việt Nam thì chúng ta có căn cứ để tin tưởng rằng nhìn chung bức tranh kinh tế là tích cực bất chấp các cú sốc bên ngoài. Nếu thực hiện tốt các giải pháp thì Việt Nam hoàn toàn có thể vượt qua năm 2023 rất khó khăn và hướng tới năm 2024 một cách tích cực hơn nữa. Các yếu tố nền tảng của Việt Nam vẫn chắc chắn và các nhà đầu tư vẫn tin tưởng vào Việt Nam" – như nhận định của bà Era Dabla-Norris, Trưởng đoàn giám sát của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) về kinh tế vĩ mô và tài chính, tiền tệ của các nước hội viên khi gặp gỡ Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hà Nội chiều 3/10/2022.

Đây là một trong nhiều ý kiến của các nhà chuyên môn, đại diện các tổ chức quốc tế uy tín với nền kinh tế Việt Nam.

Thực tế đó cho thấy kết quả, hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ trong thời gian qua. Đồng thời, việc Bộ Công an khởi tố điều tra một số cá nhân, tổ chức trong các vụ án như FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát… đã góp phần bảo đảm thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường tài chính, ngân hàng hoạt động ổn định, lành mạnh, minh bạch, an toàn và phát triển bền vững; bảo vệ lợi ích hợp pháp của người dân, nhà đầu tư và doanh nghiệp.

Đây là việc làm cần thiết, đúng quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với chuẩn mực pháp lý quốc tế.

Nói một cách ngắn gọn, những hành vi như “phù phép” vài tỉ đồng thành hàng ngàn tỉ đồng thông qua việc tăng vốn điều lệ khống; sau đó, niêm yết trên sàn chứng khoán rồi bán, chiếm đoạt hàng ngàn tỉ đồng của nhà đầu tư, của người người dân… thì không thể là một giao dịch kinh tế, dân sự bình thường.

Đó là tội phạm thao túng thị trường chứng khoán, lừa đảo chiếm đoạt tài sản,... cần xử lí nghiêm theo pháp luật.

Không đánh đồng vai trò phản biện xã hội của báo chí với chỉ trích cực đoan

 Các nhà báo không nên đánh đồng vai trò, chức năng giám sát và phản biện xã hội với việc chỉ trích cực đoan, nhìn xã hội với một màu đen, với những góc nhìn tiêu cực. Báo chí cách mạng Việt Nam phải thể hiện tính khách quan, chân thật, công bằng, nhân văn, phải mang tính xây dựng, hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn.

Đó là khẳng định chung của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học, nhà báo uy tín lâu năm trong hội thảo khoa học quốc gia "Phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của báo chí trong bối cảnh hiện nay" tại Hà Nội, ngày 16/6.

Phát huy đúng vai trò giám sát phản biện xã hội

Hội thảo do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp tổ chức. Nhà báo Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; PGS.TS Lê Văn Lợi, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; PGS.TS Phạm Minh Sơn, Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Học viện Báo chí và Tuyên truyền; PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang, Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền chủ trì hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, nhà báo Lê Quốc Minh khẳng định: Ở Việt Nam, báo chí là phương tiện thông tin thiết yếu, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và là diễn đàn của quần chúng nhân dân. Nền báo chí cách mạng Việt Nam là nền báo chí trách nhiệm, phụng sự và đậm chất nhân văn. Báo chí cách mạng không chỉ thực hiện chức năng thông tin - giao tiếp, chức năng tư tưởng, chức năng văn hoá - giáo dục, chức năng kinh tế - dịch vụ mà còn có vai trò, chức năng quan trọng là tham gia giám sát, phản biện xã hội.

Trong thời gian qua, nhiều cơ quan báo chí, nhà báo cách mạng tiên phong thực hiện vai trò, chức năng giám sát, phản biện xã hội, tạo nên thương hiệu báo chí trong lòng công chúng. Nhiều nhà báo với trách nhiệm công dân cao cả đã dũng cảm dấn thân, hy sinh lợi ích cá nhân để điều tra tận cùng, phanh phui các vụ việc tham nhũng - tiêu cực, cùng với các cơ quan chức năng đưa ra ánh sáng nhiều tội phạm nguy hiểm gây thất thoát, tổn hại cho đất nước.

Nhà báo Lê Quốc Minh cũng cho rằng, báo chí muốn thể hiện và phát huy vai trò, trách nhiệm trong thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội, trước hết phải đổi mới nội dung, phương thức làm báo theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp. Các nhà báo cần đổi mới tư duy làm báo, kết hợp tính chính thống và truyền thống với phong cách tác nghiệp hiện đại, áp dụng chiến lược nội dung đa phương tiện và đa nền tảng, nắm bắt các công nghệ làm báo mới mẻ, tăng cường tính sáng tạo trong các sản phẩm báo chí. Các nhà báo không nên đánh đồng vai trò, chức năng giám sát và phản biện xã hội với việc chỉ trích cực đoan, nhìn xã hội với một màu đen, với những góc nhìn tiêu cực.

Báo chí cách mạng Việt Nam phải thể hiện tính khách quan, chân thật, công bằng và nhân văn, có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Báo chí có vai trò định hướng tư tưởng, chính trị, dư luận xã hội theo hướng tích cực; cung cấp kiến thức, tri thức hữu ích, hướng thiện cho công chúng.

Báo chí cách mạng Việt Nam phải mang tính xây dựng, hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn. Bên cạnh nhiệm vụ thực hiện các chức năng xã hội của mình, mỗi cơ quan báo chí, mỗi nhà báo cách mạng chân chính phải có trách nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước và nhân dân…

Nhiều bài học, giải pháp thiết thực từ các nhà báo uy tín

Tại hội thảo, các đại biểu đã cùng làm sáng rõ hơn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò giám sát và phản biện xã hội của báo chí. Nhà báo, TS Đặng Thị Huyền, Trưởng Ban Kinh tế - Pháp luật, Báo CAND chia sẻ kinh nghiệm tác nghiệp về đề tài phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên Báo CAND.

Theo Thượng tá Đặng Thị Huyền, trên thế giới cũng như tại Việt Nam, mảng thông tin về các vấn đề liên quan đến tội phạm được công chúng rất quan tâm. Thông tin về tội phạm là một dạng thông tin đặc biệt kích thích với công chúng. Trong bối cảnh báo chí đương đại với các phương thức truyền thông kỹ thuật số hiện đại thì báo chí viết về tội phạm vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ, hình thành nên một dòng báo chí đặc biệt trên thế giới - báo chí chuyên về tội phạm. Tuy nhiên, tội phạm chứa đựng trong đó hành vi, hành động nguy hiểm cho xã hội, trong đó có thể là tội ác đến man rợ. Thông tin về tội phạm vì thế rất dễ sa đà vào mô tả tội ác, giật gân câu khách.

Đội ngũ những người duyệt và tổ chức thông tin của toà soạn Báo CAND nhận thức được rằng, đằng sau những thông tin "đầu rơi máu chảy", "tình, tiền, tù, tội", báo chí phải đưa ra được những bài học có tính chất cảnh báo, phòng ngừa. Đó là trách nhiệm xã hội của báo chí, đồng thời phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ của báo chí trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Trong những năm qua, khi tổ chức thông tin về các vấn đề liên quan đến tội phạm và phòng, chống tội phạm, Báo CAND đã không chỉ phục vụ nhu cầu thông tin nhanh của công chúng về các vụ án mà còn góp phần truyền thông đến họ các bài học cảnh giác, phòng ngừa tội phạm nhằm nâng cao năng lực nhận thức của công chúng, cổ vũ, động viên họ tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Nhiều nhà báo có uy tín cũng đã chia sẻ ý kiến tâm huyết và giải pháp thiết thực nhằm phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của báo chí hiện nay. Trong đó, nhà báo Nguyễn Văn Hải, Thư ký toà soạn Báo Tuổi trẻ chia sẻ nhiều bài học kinh nghiệm đối với các nhà báo trẻ khi viết điều tra, giám sát phản biện xã hội về các vụ việc tham nhũng, tiêu cực lớn. Nhà báo Nguyễn Công Khanh, Thư ký toà soạn Báo Đại Đoàn Kết chia sẻ thực tiễn và kinh nghiệm giám sát, phản biện xã hội của báo Đại Đoàn Kết qua vụ việc lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng để hành nghề mê tín dị đoan của "Câu lạc bộ tình người"…

Theo PGS.TS Phạm Minh Sơn, hơn 70 tham luận cùng nhiều ý kiến của các nhà quản lý, nhà khoa học, nhà báo uy tín tại hội thảo đã góp phần tạo nên bức tranh toàn diện về vấn đề phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của báo chí. Hội thảo là cơ sở cung cấp một số luận cứ khoa học để kiến nghị với Đảng, Nhà nước ban hành chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời, phù hợp với điều kiện thực tiễn nhằm tiếp tục phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của báo chí hiện nay và thời gian tới.

Cảnh giác trước thủ đoạn nhân danh phản biện xã hội để kích động chống phá

 

Phản biện xã hội (PBXH) là sự tham gia của cá nhân, các tổ chứcvề một vấn đề, chủ trương, chính sách nào đó của Đảng, Nhà nước nhằm làm cho chủ trương, chính sách đó đầy đủ, đúng đắn, hoàn thiện hơn trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo nên sự đồng thuận, phục vụ tốt hơn những vấn đề quốc kế, dân sinh.

PBXH thể hiện rõ trong việc nêu ý kiến góp ý, bổ sung, những vấn đề chưa tán thành của người dân đối với những chủ trương, chính sách, quyết định, phán quyết... của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức, cơ quan, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương. Mục đích của PBXH là làm sáng tỏ bản chất của vấn đề, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, những điểm chưa hợp lý, bất cập của những chủ trương, chính sách, phán quyết, quyết định đó. Như vậy, bản chất của PBXH là thực hành dân chủ, góp phần bổ sung, sửa chữa những khiếm khuyết, tồn tại, những sai sót, đem lại những lợi ích chính đáng, hợp pháp, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. PBXH có ý nghĩa chính trị sâu sắc, phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân và hơn thế, nó thể hiện sâu sắc dân chủ XHCN, bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN - quyền lực thuộc về nhân dân. PBXH tập hợp sức sáng tạo và trí tuệ của các giai tầng, tạo nên sức mạnh nội lực để giải quyết các vấn đề xã hội, là sự thể hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, một mặt còn là thước đo trình độ phát triển, trình độ văn minh Nhận thức đầy đủ ý nghĩa, vai trò của PBXH, Đảng và Nhà nước ta luôn trân trọng lắng nghe và tiếp thu những ý kiến phản biện của các tầng lớp nhân dân. Điều đó được thể hiện rõ trong quá trình xây dựng Hiến pháp, hệ thống luật, các cơ chế, chính sách về các vấn đề trong đời sống xã hội.

Tuy nhiên, cùng với sự đóng góp thiết thực, có ý thức xây dựng của các tầng lớp nhân dân thì một số thành phần đã lợi dụng PBXH để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân ta.

Trong âm mưu thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các đối tượng lợi dụng quyền tự do ngôn luận, lợi dụng PBXH để tập hợp lực lượng chống đối chính trị, thúc đẩy sự đối kháng trong xã hội, tạo các lực lượng đối lập, nhân danh phản biện để phản đối, chống đối các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Âm mưu của các thế lực thù địch là bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở Việt Nam. Đặc biệt là trước và trong quá trình tổ chức đại hội nhiệm kỳ của Đảng, các kỳ bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp, các thế lực thù địch, phản động càng chống phá quyết liệt.

Trong thời gian qua, trên mạng xã hội có không ít người tự cho mình là người “phản biện”, có tư tưởng “tiến bộ”, lấy danh nghĩa PBXH để nêu những ý kiến về các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, từ những vấn đề lớn của đất nước đến các chính sách, quyết sách cụ thể ở các bộ, ngành, địa phương. Họ đưa ra ý kiến với những cách thức như viết các “thư ngỏ”, “kiến nghị” gửi các cấp, các ngành, gửi các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đăng tải trên mạng xã hội, blog, web[1]site cá nhân… Họ trả lời phỏng vấn của các đài, báo nước ngoài với nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thổi phồng, bôi lem những tồn tại, hạn chế của đời sống xã hội. Trên cơ sở nêu vài nội dung mang tính phản biện nhưng lại thể hiện bằng ngôn ngữ miệt thị, chửi bới, công kích, bóp méo sự thật nên về thực chất là lợi dụng để xuyên tạc, chống phá chứ không còn ý nghĩa phản biện. Một số người tự xưng là “nhà lý luận” còn lợi dụng PHXH để kích động, tuyệt đối hóa tự do, dân chủ, rằng chúng ta đang xây dựng một xã hội “thiếu không gian tự do”, “tự do là không chính trị”, “dân chủ hóa, giải phóng con người là chiếc chìa khóa vạn năng”...

Ở đây, khái niệm tự do đã bị hiểu theo nghĩa không còn tổ chức, không còn quy tắc, văn hóa, pháp luật, nghĩa là không còn gì ràng buộc. Và họ vội vã kết luận mang tính quy chụp, rằng nguyên nhân trì trệ về kinh tế là do trì trệ về chính trị, nguyên nhân các tồn tại, yếu kém là “do độc Đảng”! Như vậy, bằng con đường tiếp cận sai trái, họ đã đổ lỗi cho chế độ chính trị của Việt Nam, đổ lỗi cho Đảng, hướng lái quan điểm, tâm lý người dân để gây mâu thuẫn, kích động chống phá. Thử hỏi, ở mọi quốc gia, dân chủ đều phải gắn với kỷ cương, xã hội sẽ như thế nào nếu tự do, dân chủ một cách vô nguyên tắc, phi pháp luật? Thực tế đã cho thấy, không thể áp dụng một cách máy móc kiểu “tự do”, “dân chủ” ở nước này sang nước khác do những đặc điểm riêng về lịch sử xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, trình độ nhận thức của người dân.

Nguy hiểm hơn, một số trường hợp sau khi rời các vị trí, chức vụ trong Đảng, Nhà nước thì vì tư lợi hẹp hòi, vì động cơ xấu, họ lại lợi dụng danh nghĩa phản biện để đưa ra những quan điểm trái khoáy, lấy cớ góp ý với Đảng, Nhà nước mà mục đích chính là nhằm làm mất niềm tin trong nhân dân, chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ. Đã có không ít vụ việc lấy danh nghĩa PBXH, họ đã đưa lên báo chí nước ngoài hoặc mạng xã hội nội dung không đúng sự thật, thiếu công tâm, phản biện sai lệch, kéo theo nhiều hậu quả khôn lường, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, gây hoang mang dư luận. Mục đích của những trường hợp trên nhằm thu hút sự chú ý của người đọc đối với những bài viết của họ và tấn công trực diện vào các chủ trương, đường lối, chính sách, uy tín của Đảng và Nhà nước, phủ nhận tất cả những thành quả mà đất nước đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thậm chí tung ra các bài viết, bình luận bằng các ngôn từ cay độc, vô văn hóa, vô đạo đức…

Rõ ràng, PBXH nếu được thực hiện một cách có hiệu quả có thể giúp điều chỉnh xã hội từ vi mô tới vĩ mô, làm cho các chủ trương, chính sách ngày càng hoàn thiện, đem lại hiệu quả tốt hơn. PBXH là biểu thị cho tính dân chủ của xã hội. Nhưng nếu lợi dụng PBXH để kích động, thổi phồng, xuyên tạc nhằm gây nhiễu loạn thông tin, gây ra sự ngộ nhận, nhầm lẫn trong dư luận khiến nhiều người hiểusai về hiện tình đất nước, hiểu sai về Đảng, Nhà nước thì hành vi đó là phá hoại, cần phải đấu tranh, loại trừ.

PBXH không chỉ là sự phân tích, chỉ ra những khiếm khuyết của các chủ trương, chính sách về các vấn đề xã hội mà thông qua PBXH, khi tạo được sự góp ý, hoàn thiện, nó còn là sự thể hiện đồng thuận xã hội, sự khuyến khích, cổ vũ của xã hội với những chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân. Chính vì vậy, làm tốt công tác PBXH sẽtạo được sức mạnh to lớn cho các phong trào hành động cách mạng.

Để PBXH đem lại hiệu quả, ý nghĩa tích cực phải dựa trên nền tảng tri thức, thái độ khách quan, lấy lợi ích của cộng đồng làm mục đích hướng đến. Nếu không, PBXH sẽ dễ chỉ là ý kiến chủ quan, cảm tính và phiến diện, thậm chí cực đoan, không đóng góp với tiến trình phát triển của xã hội, của đất nước.

Mỗi người dân khi tiếp cận các thông tin được cho là PBXH đăng tải trên không gian mạng cần trang bị cho mình “bộ lọc” và có chủ kiến khi tiếp cận các vấn đề phản biện. Đặc biệt, với người được các thế lực xấu tung hô, ca ngợi là “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”… thì phải cẩn trọng thanh lọc. Không nên vội vàng đọc mà tin ngay vào các ý kiến dạng phản biện của ai đó khi mình chưa xác định được đầy đủ về tính chính xác của thông tin, động cơ của việc nêu ý kiến đó. Do vậy, để nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng PBXH để gây nhiễu thông tin, chống phá đất nước của các thế lực thù địch, phản động, trước mỗi thông tin được cho là PBXH, cần chú ý nguồn gốc thông tin đó ở đâu? Thực tế có những thông tin sai lệch không rõ nguồn, chỉ được viện dẫn rất vu vơ hoặc xuất phát từ “nghe nói”, đồn thổi! Đặc biệt, cần cảnh giác với thông tin được đưa ra từ những người vốn có thành kiến, có âm mưu, hành động chống phá Đảng, Nhà nước.

PBXH cần phải thực hiện một cách công khai, nghiêm túc đối với các dự án luật, văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng.

Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn PBXH với ý thức trách nhiệm và tinh thần xây dựng, các ý kiến đóng góp có tính khoa học, thực tiễn, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, giải pháp để ngày càng đóng góp nhiều hơn, tốt hơn cho sự phát triển chung của đất nước. Ngược lại, mang danh PBXH để hành động chống phá, đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân là không thể chấp nhận. Những người lợi dụng danh nghĩa PBXH để xâm phạm lợi ích của Đảng, Nhà nước, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì tuỳ tính chất, mức độ sẽ bị xử lý trước pháp luật.

Minh chứng sống động phản bác luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người

 Ngày 11/10/2022, tại phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 77 ở New York (Mỹ), với đa số phiếu đồng ý, Việt Nam đã trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025.

Đây là lần thứ 2 Việt Nam giữ vai trò này sau nhiệm kỳ 2014-2016 và điều này tiếp tục minh chứng cho sự tin tưởng, ghi nhận, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế trong việc thúc đẩy, bảo vệ quyền con người của Việt Nam cũng như sự tham gia tích cực của Việt Nam trong các hoạt động Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc. Đây cũng là minh chứng rõ nét phản bác các luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người mà các thế lực thù địch, phản động, các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí luôn tìm cách xuyên tạc, chống phá.

Từ khi thông tin Việt Nam là quốc gia duy nhất của ASEAN ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, các thế lực thù địch, phản động, số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo về việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam và phủ nhận những đóng góp của Việt Nam đối với việc bảo đảm quyền con người đối với cộng đồng quốc tế. Họ còn đưa ra các “thư ngỏ”, “kiến nghị” gửi đến các thành viên của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc đề nghị không bầu chọn Việt Nam vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc.

Họ đưa ra những luận điệu vu cáo “Việt Nam vi phạm nhân quyền nghiêm trọng”, “Việt Nam không đủ tiêu chuẩn vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc”, “Việt Nam xem giá trị dân chủ, nhân quyền như kẻ thù”; cổ xúy quan điểm “đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”, “Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ thật sự”, “muốn thực sự có dân chủ cho người dân và phát triển xã hội phải thực hiện đa nguyên, đa đảng”... Một số tổ chức ở ngoài nước sử dụng chiêu bài bôi lem vấn đề nhân quyền ở Việt Nam bằng cách bình chọn, trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, lợi dụng tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước để tạo dựng ngọn cờ chống phá và hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thực tế, luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động, những cá nhân, tổ chức chống phá đưa ra đều phản ánh sai lệch, xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, những đóng góp của Việt Nam đối với việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trong thời gian qua. Kết quả lần thứ 2 được bầu chọn vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc với số phiếu cao đã bác bỏ những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch phủ nhận, vu cáo về thực tiễn tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là cơ chế quan trọng nhất về quyền con người trong hệ thống Liên Hợp quốc, là một trong ba trụ cột chính của Liên Hợp quốc (hòa bình - an ninh; phát triển và quyền con người). Theo quy định của Hội đồng Nhân quyền, Hội đồng gồm 47 thành viên, phân bổ theo nguyên tắc cân bằng về khu vực địa lý; các thành viên có nhiệm kỳ 3 năm và không được tham gia ứng viên hai nhiệm kỳ liên tiếp. Do đó, với việc lần thứ 2 được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là sự khẳng định và góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Để làm rõ những minh chứng sống động phản bác các luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm quyền con người, chúng ta thấy rõ thành tựu nhân quyền trên các phương diện sau:

Thực chất vấn đề nhân quyền mà các thế lực thù địch, phản động đang không ngừng rêu rao, chống phá, đó chính là phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Từ đó, đi đến phủ nhận nền tảng tư tưởng và vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Minh chứng sống động mà bạn bè quốc tế ghi nhận chính là thành quả mà chúng ta đã đạt được sau hơn 35 năm đổi mới đất nước. Diện mạo đất nước trên tất cả các lĩnh vực đã phát triển vượt bậc, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Việt Nam có môi trường chính trị - xã hội ổn định, cuộc sống hòa bình, an ninh, an toàn. Quyền con người được Hiến pháp, pháp luật thừa nhận, điều này đã phản ánh rõ tính chất ưu việt của chế độ XHCN mà nhân dân ta đã lựa chọn.

Hiến pháp năm 2013 bao gồm 11 chương, 120 điều, trong đó riêng Chương II có 36 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đồng thời, các nội dung liên quan đến quyền con người không chỉ được quy định trong Chương II mà còn được đưa vào các chương khác của Hiến pháp, tạo cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người được thụ hưởng, thực hiện và bảo vệ quyền con người của mình. Các điều của Hiến pháp xác định rõ “mọi người có quyền”, “công dân có quyền”… để khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Đồng thời, để bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, hệ thống pháp luật về quyền của con người cũng đã được bổ sung, hoàn thiện như việc ban hành các đạo luật  như Luật Báo chí; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Luật Tiếp cận thông tin; Luật An ninh mạng…

Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền con người, trong quan hệ hợp tác quốc tế về bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền và là thành viên có trách nhiệm của Liên Hợp quốc, Việt Nam cũng đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người và được luật hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Đó là tham gia 4 Công ước Geneva của Luật Nhân đạo quốc tế năm 1957; Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa, ký ngày 24/9/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, ký ngày 18/12/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, ký ngày 19/3/1982; Công ước về quyền trẻ em, ký ngày 20/2/1990; Công ước về quyền của người khuyết tật, ký ngày 22/10/2007. Đồng thời, Việt Nam tham gia trong việc thành lập Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền, ký ngày 23/10/2009, Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em ASEAN (ACWC), ngày 7/4/2010...

Ngày 12/7/1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng Khóa VII đã ban hành Chỉ thị 12-CT/TW về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta đã khẳng định “Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Đó là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới chống lại mọi áp bức, bóc lột” và “giải phóng con người (trong đó có việc đảm bảo các quyền con người) gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; chỉ có dưới tiền đề độc lập dân tộc và CNXH thì quyền con người mới có điều kiện được đảm bảo rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất”. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện Đại hội Đảng luôn nhấn mạnh phải quan tâm hơn nữa đến việc chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết.

Liên Hợp quốc cũng đã xác nhận: Việt Nam đứng thứ hai trong khối châu Á - Thái Bình Dương và thứ 9 trên 135 nước về tỷ lệ phụ nữ làm việc trong Chính phủ. Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em. Đến nay, Việt Nam đã ký kết, gia nhập hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người. Mới đây, Việt Nam đã bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia theo Cơ chế Kiểm định phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc ngày 04/7/2019 tại Geneva (Thụy Sỹ) khẳng định nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người là những minh chứng sinh động bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 90 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ của đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tình hình chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới… Những thành tựu đó là kết tinh của trí tuệ, sức lực và bản lĩnh con  người Việt Nam.

Với tư cách là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016), Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng, là thành viên tích cực, được Liên Hợp quốc và các nước ghi nhận, đánh giá cao. Tại khóa họp lần thứ 73 ở trụ sở Liên Hợp quốc ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần tuyệt đối (192/193 phiếu). Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc trong tháng 1 và tháng 4 năm 2021 với nhiều dấu ấn, đóng góp, nhất là vấn đề bảo đảm quyền con người trong đại dịch COVID-19 được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và thể hiện uy tín, vị thế quốc tế ngày càng tăng của Việt Nam.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19, bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải đương đầu. Đó là những con số sống động, khách quan, được khẳng định từ thực tiễn và chính người dân Việt Nam hiểu hơn ai hết giá trị bảo đảm quyền con người trong gian lao, thử thách của đại dịch.

Tin tưởng rằng, với kinh nghiệm từ nhiệm kỳ đầu (2014-2016), trong nhiệm kỳ 2023-2025 sắp tới, với vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc, với thông điệp “Tôn trọng và hiểu biết; đối thoại và hợp tác; tất cả các quyền con người - cho tất cả mọi người”, Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được về bảo đảm quyền con người, có nhiều đóng góp tích cực để bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên thế giới, đặc biệt là các vấn đề về ứng phó với biến đổi khí hậu, di cư, bảo vệ, thúc đẩy quyền của các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người thiểu số, người di cư…