Thứ Hai, 6 tháng 3, 2023

 GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ TRONG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 


Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ, đó là một trong những mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người mà suốt đời Người đã phấn đấu, hy sinh cho mục tiêu lý tưởng đó. Đây cũng là sự nghiệp giải phóng chân chính, toàn diện và triệt để nhất trong tư tưởng của Người.


Trong lịch sử xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phụ nữ luôn đóng vai trò quan trọng và có những đóng góp to lớn, góp phần xây dựng truyền thống vẻ vang, vinh quang của dân tộc. Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Thái hậu Dương Vân Nga, Nguyên phi Ỷ Lan, Đô đốc Bùi Thị Xuân... mãi mãi tô đậm truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Sau khi giành độc lập vào năm 1945, cùng với kỷ nguyên mới của dân tộc, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về giải phóng phụ nữ, bình đẳng giới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Địa vị của người phụ nữ Việt Nam ngày càng được khẳng định và đề cao bởi những đóng góp to lớn của họ trong thành tựu chung của cả nước.


CỘI NGUỒN TƯ TƯỞNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ 


Chủ tịch Hồ Chí Minh được coi là nhà tư tưởng đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nâng cao vị trí và vai trò của phụ nữ tương đương với nam giới. Người cũng là một trong những nhà tư tưởng và lãnh đạo tiêu biểu trên thế giới quan tâm đến công cuộc giải phóng phụ nữ. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ có nguồn gốc sâu xa, trong những năm tháng tuổi trẻ ở quê hương Nghệ Tĩnh nghèo khó, Người đã trực tiếp chứng kiến cuộc sống gia đình và xã hội.


Dưới chế độ nửa phong kiến nửa thực dân, phụ nữ Việt Nam bị áp bức, bóc lột đến cùng độ, bị khinh rẻ đến mức mất cả tư cách làm người. Thân phận và địa vị của họ bị ràng buộc bởi những quan niệm đạo đức phong kiến và những luật pháp phi lý của triều đình. Phụ nữ Việt Nam luôn phải chịu đựng tình trạng “một cổ hai tròng”, bị coi thường về vị trí xã hội và bị bọn thực dân bóc lột sức lao động, kinh tế, bị đàn áp về nhân phẩm và quyền lợi con người. Dưới chế độ phong kiến và thực dân, phụ nữ bị áp bức tàn tệ. Ngoài xã hội thì phụ nữ bị xem khinh như nô lệ. Ở gia đình thì họ bị kìm hãm trong xiềng xích “tam tòng tứ đức”, “chồng phải dạy vợ” (Khổng Tử), hoặc “đàn bà và trẻ con là khó dạy bảo: nếu cho họ gần thì họ khinh nhờn, nếu bỏ mặc họ thì họ thù oán” (Mạnh Tử).


Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ và điều này thể hiện trong hầu hết các tác phẩm, báo chí, bài phát biểu của Người. Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã viết một chương trong tác phẩm “Bản án chế độ thực Pháp” được xuất bản tại Paris, với chủ đề “Nỗi khổ nhục của người đàn bà bản xứ”, để giới thiệu về thân phận của phụ nữ Việt Nam đến toàn thế giới. Trong chương này, Người viết rằng phụ nữ ở Việt Nam “Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược. Ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay ở thôn quê, đâu đâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của bọn cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhà đoan, nhà ga”.


Tư tưởng giải phóng phụ nữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có nguồn gốc sâu xa từ quá trình cứu nước, trong đó Người đã chứng kiến sự bất công, bóc lột và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ. Do đó, Người có cái nhìn toàn cảnh về hiện trạng cùng cực, so sánh nỗi khổ nhục của phụ nữ Việt Nam với phụ nữ các nước thuộc địa: “Mấy việc kể trên cũng đủ làm cho các chị em ở chính quốc nhìn thấy phụ nữ Việt Nam sống quằn quại trong cảnh lầm than và bị áp bức như thế nào rồi”.


Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, sự áp bức và nô dịch đối với phụ nữ và trẻ em trong các nước thuộc địa không chỉ là do các quan niệm lỗi thời và tư tưởng phong kiến, mà chủ yếu là do chế độ áp bức dân tộc và bóc lột giai cấp của chủ nghĩa thực dân. Ở Việt Nam, chính sách tàn bạo của thực dân Pháp đã đẩy phụ nữ Việt Nam vào con đường đói khổ và tủi nhục, do đó quyền lợi của phụ nữ phải được liên kết với quyền lợi của dân tộc, giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Từ đó, Người đã đề ra cách thức, con đường để giải phóng phụ nữ.


CON ĐƯỜNG ĐỂ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ 


Trước tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên quan điểm khoa học có tính thực tiễn với tư duy khách quan đã đánh giá vai trò quan trọng của người phụ nữ: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”.


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là dân của một nước thuộc địa, phụ nữ muốn thoát khỏi áp bức bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa đế quốc thì phải tự mình đứng lên làm cách mạng. Để cứu nước và giải phóng dân tộc trong đó có giải phóng phụ nữ, theo Người không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Vì khi giải phóng dân tộc mới có thể thực hiện quyền tự do bình đẳng cho mọi người, đem lại hạnh phúc cho nhân dân. “Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại, nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sống trong cảnh nô lệ đó thôi. Điều đó chứng tỏ rằng vì quyền lợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng ta làm cách mạng”.


Từ quan điểm nhất quán đó Người thường xuyên giao nhiệm vụ cho Đảng Cộng sản: “Đảng và Nhà nước phải coi vấn đề giải phóng phụ nữ là nhiệm vụ, bổn phận của sự nghiệp cách mạng”. Trong thư “Gửi phụ nữ toàn quốc” nhân kỷ niệm 30 năm ngày Quốc tế phụ nữ (8.3.1960) Người viết: “Đảng và Chính phủ ta luôn chú ý nâng cao địa vị của phụ nữ”.


Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc giải phóng phụ nữ liên quan chặt chẽ đến công cuộc cải cách xã hội, vì chỉ có sự tiến bộ trong chính trị, kinh tế, văn hóa, và luật pháp... mới tạo nền tảng cơ bản để thực hiện sự giải phóng phụ nữ. Theo tư tưởng của Người, giải phóng phụ nữ không chỉ bao gồm việc thoát khỏi ách nô lệ và chế độ phong kiến, mà còn bao hàm việc xoá bỏ tư tưởng “trọng nam khinh nữ” và tạo mọi điều kiện để phụ nữ có thể phát huy khả năng của mình, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Tại Hội nghị thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm rằng, “luật lấy vợ, lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phân nửa xã hội, giải phóng người phụ nữ, đồng thời tiêu diệt tư tưởng phong kiến và tư tưởng tư sản trong đàn ông”.


Để giải phóng phụ nữ, phải bắt đầu hành động từ trong gia đình, đồng nghĩa với việc tạo ra quyền bình đẳng giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, đây là cuộc đấu tranh lâu dài, cam go của lịch sử nhân loại. Người phân tích: “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ: Hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em rửa bát, quét nhà, nấu cơm thế là bình đẳng, bình quyền. Lầm to! Đó là một cuộc cách mạng to và khó. Vì trọng nam khinh nữ là một thói quen mấy nghìn năm để lại, nó ăn sâu trong đầu óc mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội. Vì vậy, vũ lực của cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật, phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân. To và khó nhưng nhất định thành công”.


Trong thời kỳ xây dựng đất nước, theo quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải phóng phụ nữ còn là quá trình giải phóng sức lao động để tạo điều kiện cho mọi phụ nữ phát huy hết khả năng sáng tạo của mình. Người nói: “Phải đặc biệt chú ý đến sức lao động của phụ nữ. Phụ nữ là đội quân lao động rất đông. Phải giữ gìn sức khỏe cho phụ nữ để chị em tham gia sản xuất được tốt”.


Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có sự cảm thông và thương xót về số phận của phụ nữ mà Người còn tìm ra căn nguyên của sự bất bình đẳng, từ đó đề xuất các biện pháp giải phóng phụ nữ và khẳng định bằng các văn bản, quy phạm pháp luật. Điều 9 trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 khẳng định quyền bình đẳng nam nữ. Mặc dù, trải qua nhiều lần sửa đổi Hiến pháp, tư tưởng về bình đẳng giới luôn được bổ sung và hoàn thiện. Tất cả các Hiến pháp từ năm 1946, 1959, 1980, 1992 đều xác nhận rằng, phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong mọi mặt của chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Ngoài ra, còn có nhiều văn bản khác như Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 37 CT/TW, Chỉ thị 44/CT cũng đều đề cập đến vấn đề này.


Giáo sư Sử học người Mỹ - G.Steven từng nhận xét rằng: “Hai thế kỷ qua đã sản sinh ra những lãnh tụ chính trị nổi tiếng trên thế giới nhiều hơn tất cả các giai đoạn khác trong lịch sử. Trong số những lãnh tụ là nam giới đó, chỉ có Hồ Chí Minh đã luôn nói về quyền bình đẳng của phụ nữ được hưởng các quyền lợi khác nhau như nam giới. Chỉ có Hồ Chí Minh là thấy được rằng, phụ nữ đã phải chịu đựng gánh nặng như nam giới và còn hơn thế nữa. Tất cả các lãnh tụ nói trên đều quan tâm sâu sắc đến công lý xã hội, cho toàn thể xã hội, nhưng chỉ có Hồ Chí Minh đã thẳng thắn nói về chủ đề phụ nữ”.

Ngọc Thạch 30A ST

ĐỒNG CHÍ TRƯƠNG THỊ MAI LÀM THƯỜNG TRỰC BAN BÍ THƯ!

Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai đã được Bộ Chính trị phân công làm Thường trực Ban Bí thư.
     Ngày 6-3, Bộ Chính trị đã họp để xem xét về công tác cán bộ. Theo đó, Bộ Chính trị quyết định đồng chí Võ Văn Thưởng - ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, thường trực Ban Bí thư khóa XIII - thôi giữ chức Thường trực Ban Bí thư.
     Đồng thời, Bộ Chính trị phân công đồng chí Trương Thị Mai - ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Trung ương Đảng, trưởng Ban Tổ chức Trung ương - giữ chức Thường trực Ban Bí thư khóa XIII, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.
     Cũng trong chiều 6-3, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trao quyết định của Bộ Chính trị phân công giữ chức vụ Thường trực Ban Bí thư khóa XIII đối với Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai.
     Phát biểu nhận nhiệm vụ, Thường trực Ban Bí thư Trương Thị Mai trân trọng cảm ơn Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, cảm ơn Bộ Chính trị đã tin tưởng phân công đảm nhiệm trọng trách mới của Đảng. Đồng chí nêu rõ đây là sự ghi nhận, động viên và cũng là yêu cầu đặt ra đối với cá nhân bà để tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
     Đồng chí Trương Thị Mai bày tỏ luôn nhận thức sâu sắc lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là "Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".
     Nhận thức rõ vinh dự và trách nhiệm được giao, đồng chí Trương Thị Mai khẳng định sẽ không ngừng học tập, phấn đấu, rèn luyện, nêu cao trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, khiêm tốn, cầu thị. Đồng thời kế thừa và phát huy kinh nghiệm của các cán bộ đi trước, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của Đảng và nhân dân.
     Đồng chí Trương Thị Mai là nữ trưởng Ban Tổ chức Trung ương đầu tiên và sau khi được phân công, đồng thời cũng là nữ Thường trực Ban Bí thư đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam./.


Yêu nước ST.

TỪ NGUYỄN ÁI QUỐC TỎA RA MỘT NỀN VĂN HOÁ TƯƠNG LAI!

         Chưa bao giờ vấn đề văn hóa lại được bàn nhiều, sâu và rộng như hiện nay. Đó cũng là điều dễ hiểu bởi văn hóa lâm nguy còn đáng sợ hơn Tổ quốc lâm nguy; văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất như Đại văn hào Mácxim Goócky đã nói. Điều có ý nghĩa chân lý đó bị chúng ta bỏ quên quá lâu. Hãy trở về với Hồ Chí Minh, con người đã tỏa ra một nền văn hóa tương lai.

Nền tảng để xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam
     “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa tương lai”. Nhận xét đó là của nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam năm 1923, lần đầu tiên được tiếp chuyện chiến sĩ quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc. Một trăm năm trôi qua, quan điểm của Ôxíp Manđenxtam vẫn vẹn nguyên giá trị, ngày càng được kiểm chứng rộng rãi, đúng đắn ở Việt Nam và trên toàn cầu.
     Từ giữa thế kỷ XIX thực dân Pháp đặt ách đô hộ trên toàn cõi Việt Nam. Chúng thống trị về chính trị đồng thời đè nén, nô dịch về văn hóa. Đất nước độc lập trở thành thuộc địa, mất độc lập tự do. Nhân dân không có một chút quyền tự do, dân chủ nào. Nền văn hóa dân tộc vẫn tồn tại nhưng len lỏi trong sự bủa vây, áp bức của kẻ thù, không thể phát triển.
     Cách mạng Tháng Tám thành công, đó không chỉ là một cuộc cách mạng về chính trị mà còn là một cuộc cách mạng về văn hóa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân, một kỷ nguyên mới được mở ra cho dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên độc lập, tự do. Nhân dân từ thân phận nô lệ bước lên địa vị người chủ, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân.
     Hồ Chí Minh đã kiến tạo một hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Theo Người văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại; có cái gì tốt của văn hóa xưa và nay, Đông và Tây thì ta phải học lấy để tạo ra một nền văn hóa thuần túy Việt Nam hợp với tinh thần dân chủ. Đó là một nền văn hóa của Hồng Bàng, Văn Lang, Âu Lạc, của con Lạc cháu Hồng, con Rồng cháu Tiên. Người nhấn mạnh: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam/ Kể năm hơn bốn ngàn năm/ Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa/ Hồng Bàng là tổ nước ta/ Nước ta lúc đó gọi là Văn Lang”.
     Hệ giá trị văn hóa Việt Nam đặt “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”. Giá trị hạt nhân, cốt lõi của văn hóa Việt Nam là yêu nước. Với lòng yêu nước, quyết không chịu nô lệ, nên dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn chúng ta cũng quyết giành cho kỳ được độc lập tự do. Chính nhờ lòng yêu nước mà khi nền tự do độc lập của dân tộc bị uy hiếp, cả dân tộc vùng lên, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Chính nhờ dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước mà khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, cuộn dâng, quét phăng đi lũ cướp nước và lũ bán nước. Giá trị dân tộc của văn hóa Việt Nam được xác định “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.
     Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh tỏ rõ yêu nước là giá trị hàng đầu trong bảng thang giá trị văn hóa Việt Nam; là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử Việt Nam. Nó không chỉ là động lực trong đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cũng là động lực trong xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc.
     Hồ Chí Minh đã tạo dựng, xây đắp, vun bồi nền văn hóa dân chủ - dân chủ trong Đảng, dân chủ trong nhân dân và trong xã hội. Đây là một trong những nét khác biệt nhất của nền văn hóa tương lai trong suy tư, trăn trở và hành động của Hồ Chí Minh. Theo Người, dân chủ được hiểu dân là chủ và dân làm chủ. Đó hoàn toàn không phải và xa lạ với dân chủ hình thức, dân chủ trang trí. Văn hóa dân chủ theo Hồ Chí Minh là làm sao cho người dân có năng lực làm chủ, biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ, dám nói, dám làm, có quyền làm, có quyền nói; dân chủ là phải dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng. Người chỉ rõ, chỉ có một nền Cộng hòa Dân chủ thì mới dám khẳng định và thực hiện bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra. Người chỉ rõ, đối với dân ta đừng làm điều gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy, bởi làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành, làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại. Hồ Chí Minh chỉ rõ nước ta là nước dân chủ. Mà Chính phủ Cộng hòa Dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ.
     Chỉ có Đảng chân chính cách mạng, một Đảng mà đảng viên của Đảng không phải vào Đảng để làm quan phát tài mà phải hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân thì mới sẵn sàng làm trâu ngựa, tôi tớ của nhân dân theo tinh thần của Lỗ Tấn: “Trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”. Hồ Chí Minh chỉ rõ, chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương, đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Nền văn hóa tương lai mang tầm vóc thời đại
     Nền văn hóa tương lai tỏa ra từ Hồ Chí Minh mang chở những giá trị văn hóa vừa có ý nghĩa đối với dân tộc vừa mang tầm vóc thời đại. Đó là những giá trị nhân văn, hợp tác, trách nhiệm.
     Hồ Chí Minh là con người mang chở một chủ nghĩa nhân văn sâu nặng, trong sáng, cao cả. Những năm hai mươi Người nghĩ nhiều đến những người cùng khổ, và đến tận cuối đời, Người dặn lại đầu tiên là công việc đối với con người. Ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp, người Mỹ đã tử vong, Hồ Chí Minh thổ lộ trước lòng bác ái rằng máu nào cũng đều là máu, người nào cũng đều là người. Người yêu Tổ quốc và đồng bào mình, cũng yêu Tổ quốc và nhân dân các nước. Đó là một trong những cội nguồn khiến Người muốn đoàn kết, hợp tác với mọi nước dân chủ, không gây thù oán với một ai. Với Người không chỉ đoàn kết trong nước mà còn phải nhận thức và hành động theo tinh thần chúng ta đấu tranh giành độc lập cho dân tộc mình đồng thời cũng mong các dân tộc khác giành được độc lập, bởi “quan sơn muôn dặm một nhà/ Vàng, đen, trắng, đỏ, bốn phương vô sản, bốn biển đều là anh em”.
     Hồ Chí Minh là con người luôn đề cao và gắn chặt trách nhiệm với dân tộc và nhân loại. Với dân tộc, Người nhấn mạnh bổn phận chỉ có mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Người chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
     Với nhân loại, Người luôn mong muốn một thế giới hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác, tiến bộ và phát triển. Đây là hạt nhân, lõi cốt của văn hóa tương lai, là xu thế lớn của nhân loại. Thế giới nói đến Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là nói tới một người giải phóng dân tộc và đấu tranh cho tự do. Với nhân dân Việt Nam và các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh là con người của hòa bình, hòa giải, công bằng, bình đẳng, luôn đấu tranh cho sự phát triển của đất nước, khu vực và thế giới. Được ghi nhận, tôn vinh là một nhân vật quan trọng và kiệt xuất, Hồ Chí Minh hội tụ nhiều tư tưởng, thể hiện khát vọng của các dân tộc trên thế giới trong việc khẳng định bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự tăng cường, hiểu biết lẫn nhau. Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề văn hóa một cách có ý thức. Người tìm thấy điểm tương đồng, mẫu số chung của Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên là mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Hồ Chí Minh để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, bởi Người góp phần to lớn trong việc chia sẻ sự đa dạng văn hóa, vừa tôn trọng vừa thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau, xóa bỏ những hiểu lầm, định kiến, rào cản giữa các nền văn hóa khác nhau. Với Người, trao đổi và đối thoại giữa các nền văn hóa là công cụ hữu hiệu nhất để kiến tạo hòa bình, hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc. Nhân loại nói về Hồ Chí Minh với tư cách là một người thầy về cuộc sống tiếp thu trong kỷ nguyên toàn cầu hóa của một thế giới hội nhập.
     Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa tương lai chính là hệ giá trị văn hóa Việt Nam mà chúng ta đang nghiên cứu, xác định, triển khai xây dựng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Nó vừa thuần túy Việt Nam vừa hợp với tinh thần của thời đại./.
Môi trường (Yn) ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VÌ SAO CHỦ TỊCH NƯỚC VÕ VĂN THƯỞNG TUYÊN THỆ: "TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH VỚI TỔ QUỐC, NHÂN DÂN VÀ HIẾN PHÁP"!

     Vì sao trong lời tuyên thệ nhậm chức, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chỉ xin thề “Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp".
     Theo quy định tại Điều 86 và 87 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, thì Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội và là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước CHXHCN Việt Nam về đối nội và đổi ngoại.
     Ngày 02/03/2023, ông Võ văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và là Đại biểu Quốc hội khóa XV thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước. 
     Trong lời tuyên thệ nhậm chức, ông Võ Văn Thưởng xin thề “Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp”. Do vậy, có không ít người thắc mắc tại sao ông không xin thề trung thành với Đảng? Vậy bản chất chính trị - pháp lý của vấn đề này là gì? Với tư cách là người từng là Đại biểu Quốc hội khóa XIV và có hai lần trực tiếp bầu và chứng kiến Chủ tịch nước (là ông Trần Đại Quang và ông Nguyễn Phú Trọng) tuyên thệ nhậm chức xin lý giải vấn đề này như sau:
1. Tại Điều 4 Hiến pháp quy định: ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Các tổ chức của Đảng và đảng viên ĐCSVN hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Theo đó, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và giới thiệu cán bộ đủ tiêu chuẩn để ứng cử hoặc bầu vào cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội. Do vậy, việc Ban chấp hành Trung ương ĐCSVN giới thiệu đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và là Đại biểu Quốc hội khóa XV để Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam và Quốc hội bầu ông Võ Văn Thưởng làm Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 4 và Điều 87 của Hiến pháp.
2. Quá trình bầu ông Võ Văn Thưởng làm Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam là quá trình bầu một Đại biểu Quốc hội đủ tiêu chuẩn làm Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam chứ không phải là bầu một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam làm Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam. 
     Trong phiếu bầu, bầu, biên bản bầu cử và nghị quyết của Quốc hội đều dùng đại từ nhân xưng là Ông Võ văn Thưởng. Khi được bầu làm Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, thì ông Võ Văn Thưởng là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước CHXHCN Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Theo quy định tại Điều 70 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, thì “Sau khi được bầu, Chủ tịch nước phải tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, Nhân dân và Hiến pháp”. Do vậy, trong lời tuyên thệ nhậm chức, ông Võ Văn Thưởng xin thề “Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp” là hoàn toàn chính xác. Quá trình giới thiệu một Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và là Đại biểu Quốc hội khóa XV để Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam cho thấy Đảng (Ban chấp hành Trung ương Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Việc ông Võ Văn Thưởng (Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực ban Bí thư) xin thề “Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp” trong Lễ tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam cũng khảng định với tư cách là một Đảng viên, đồng chí Võ Văn Thưởng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
3. Về hình thức quan hệ chính trị - pháp lý, thì trong mối quan hệ với Ban chấp hành Trung ương Đảng khi được giới thiệu để Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, thì ông Võ Văn Thưởng là một đồng chí Đảng viên của Đảng và Ban chấp hành Trung ương Đảng. Còn khi Quốc hội tiếp nhận sự giới thiệu của Ban chấp hành Trung ương Đảng, bầu làm Chủ tịch nước và trong quan hệ với Nhân dân thông qua Quốc hội (vì Quốc hội theo Điều 69 Hiến pháp là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam), thì ông Võ Văn Thưởng là một Đại biểu Quốc hội được giới thiệu và được bầu làm Chủ tịch nước. Cho nên, trong tất cả các hoạt động công bố kết quả bầu cử, ông Vương Đình Huệ (Chủ tịch Quốc hội) đều kính thưa “… các vị đại biểu Quốc hội” và dùng từ “ông” chứ không dùng từ “đồng chí” Võ Văn Thưởng./.
Yêu nước ST.

THAM GIA CÁC TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG SẼ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI VỚI CÁC TỘI HÌNH SỰ ĐẶC BIỆT NGHIÊM TRỌNG!

         Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện cải cách các chính sách lao động, việc làm trong nước. Đặc biệt Nhà nước luôn quan tâm đến nhu cầu của người dân, người lao động trong việc xuất khẩu lao động tại các nước, tạo cơ hội, nguồn thu nhập cao, ổn định cho người dân và thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội.
     Tuy nhiên, lợi dụng một số chính sách của Nhà nước đối với công dân xuất cảnh ra nước ngoài để du lịch, học tập, lao động nhiều tổ chức phản động lưu vong người Việt, tổ chức khủng bố Việt Tân, Chính phủ quốc gia VN lâm thời….đã móc nối, lôi kéo, kết nạp người vào tổ chức, tiến hành nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại nước ngoài. Chúng tổ chức nhiều cuộc biểu tình, huấn luyện, đăng, tán phát nhiều tin bài có nội dung xuyên tạc, vu cáo tình hình trong nước, làm xói mòn khối đại đoàn kết dân tộc và chính sách đối nội, đối ngoại và Người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng, Nhà nước ta.
     Hơn thế, chúng còn kích động, lôi kéo người thân, học sinh, sinh viên tham gia vào các hoạt động chống phá có bài bản, thậm chí cử người về nước để tiến hành các hoạt động chống phá, khủng bố chính quyền tại một số tỉnh phía Nam.
     Trước đó, năm 2019, theo sự chỉ đạo của Đỗ Hoàng Điềm (Chủ tịch đảng “Việt Tân), Châu Văn Khảm, quốc tịch Úc, nhập cảnh vào Campuchia, sử dụng giấy chứng minh nhân dân mang tên Chung Chính Phi để xâm nhập bất hợp pháp vào Việt Nam qua biên giới đường bộ Campuchia. Đối tượng đã lôi kéo, kết nạp Nguyễn Văn Viễn (tài xế xe ôm công nghệ) vào tổ chức khủng bố Việt Tân. Sáng 12.1.2019, Khảm gặp Viễn tại một quán cà phê ở Q.1 (TP.HCM). Tại đây, Khảm truyền bá cho Viễn về phương thức hoạt động của Việt Tân; Đồng thời, Khảm đưa cho Viễn 400 USD để tiến hành các hoạt động khủng bố. Ngoài ra, các đối tượng còn lôi kéo Trần Văn Quyền, quê quán xã Hương Long, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh tham gia tổ chức. Các cơ quan chức năng đã bắt, xử lý các đối tượng về tội “khủng bố chống chính quyền nhân dân”. Ngày 11.11, TAND TP.HCM xử sơ thẩm các bị cáo là thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân. HĐXX tuyên phạt bị cáo Châu Văn Khảm (70 tuổi, Việt kiều Úc) 12 năm tù, Nguyễn Văn Viễn (48 tuổi, quê Quảng Nam, ngụ Q.12, TP.HCM) 11 năm tù, Trần Văn Quyền (20 tuổi, quê Hà Tĩnh, ngụ tại TX.Dĩ An, Bình Dương) 10 năm tù, cùng về tội “khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” theo Điều 113 Bộ luật Hình sự 2015.
     Hiện nay, tổ chức khủng bố Việt Tân tiếp tục tổ chức nhiều khóa huấn luyện, yểm trợ tiền vào trong nước cho số chống đối để tiếp tục kích động chống phá.
     Đối với người Việt tại nước ngoài cần chấp hành nghiêm chỉnh các quy định pháp luật nước sở tại và quy định pháp luật về Xuất nhập cảnh, Bộ luật Hình sự, không tham gia, tài trợ, hoạt động với các tổ chức khủng bố. Các trường hợp cố tình trốn ở lại nước ngoài, tham gia các tổ chức phản động sẽ bị nghiêm trị theo quy định pháp luật.
     Theo điều 121, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 quy định về tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân như sau:
1. Người nào trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm.
2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, đối với tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân thì mức phạt tù cao nhất lên đến 20 năm.
     Mọi cán bộ, đảng viên, người dân cần nâng cao cảnh giác trước các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, nhất là hoạt động lôi kéo tham gia các tổ chức khủng bố tại nước ngoài./.
Yêu nước ST.

Truyền thông chính sách phát huy sức mạnh của nền tảng số

 


Truyền thông chính sách chuyên nghiệp cần bảo đảm các khâu, các công cụ trong truyền thông được ISO hóa, chuẩn hóa để tạo ra các kết quả có thể lường trước được. Trong bối cảnh Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, truyền thông chính sách trước nhất cần dựa trên nền tảng hệ thống dữ liệu quản lý nhà nước doanh nghiệp và xã hội, cung cấp đầy đủ các yêu cầu về thông tin, bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin như Luật Tiếp cận thông tin đã quy định. Ở khía cạnh này, có thể hướng tới truyền thông chính sách như một công nghệ.

Tuy nhiên, sự hạn chế về công cụ, phương tiện tiếp cận thông tin của người dân (không có máy tính, máy tính không kết nối internet), sự thụ động của người dân trong sử dụng internet, sự thờ ơ của dân chúng đối với các vấn đề của quản lý nhà nước nói chung mà chỉ quan tâm khi động đến quyền lợi trực tiếp của bản thân hay gia đình, vừa là kết quả của truyền thông chính sách, vừa là một rào cản đối với quá trình này. Chính vì vậy, số hóa hoạt động của chính phủ cũng cần sự nâng cao dân trí, cải thiện hạ tầng công nghệ thông tin công cộng và cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến quá trình hành chính nói chung và quá trình chính sách nói riêng là điều kiện khả thi của truyền thông chính sách trong bối cảnh số.

Mặt khác, trong bối cảnh số, hệ thống dữ liệu được tích hợp và phản ứng một cách thông minh trước các nhu cầu của người dùng thì tính cá nhân, cảm xúc của các bên liên quan có thể được “làm mờ” hoặc biến đổi so với thực tế. Điều này tốt cho một công nghệ truyền thông chuyên nghiệp, giúp cung cấp các công cụ để các chủ thể chính sách làm chủ thông tin, tiến trình và được cảnh báo trước về các nguy cơ.

Trong một nền văn hóa phương Đông như Việt Nam, tâm lý ưa chuộng các hình ảnh được hiển thị hóa một cách dễ thấy, dễ chạm vào được (chứ không phải ảo như trên môi trường mạng) hay các hành xử cá nhân của các lãnh đạo, cán bộ, công chức vẫn là một mối quan tâm và tác động đến tâm lý tuân thủ chính sách, tuân thủ pháp luật của người dân. Vì vậy, tiếp tục gần dân, sát dân, tiếp tục phát huy sức mạnh của các công cụ và phương thức truyền thông truyền thống như các cuộc tiếp xúc trực tiếp đến khu dân cư, dùng báo in, treo các băng-rôn, khẩu hiệu nơi công cộng… vẫn là các phương thức quan trọng để truyền thông cho mọi chính sách.

Truyền thông chính sách cần phát huy vai trò của các bên liên quan

 


        Để tham gia một cách chủ động vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và phát huy được các ưu điểm, lợi thế của cuộc cách mạng này, một trong những quan điểm chỉ đạo được xác định trong Chiến lược của Bộ Chính trị về xây dựng cơ chế hợp tác giữa Nhà nước và các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp trong xây dựng và thực thi các chính sách.

Không nên quan niệm và khoanh vùng chức năng này chuyên biệt cho một vài cơ quan (như các sở) hay đơn vị (như văn phòng, hoặc đơn vị làm nhiệm vụ quan hệ công chúng) hay giới truyền thông. Truyền thông chính sách cần được thiết kế, tổ chức bởi những cơ quan chuyên môn như trên, nhưng phải được thực thi bởi mọi bên liên quan của quá trình chính sách, bao gồm cả các bên trực tiếp lẫn những bên quan tâm nói chung. Thậm chí, cần quan niệm rằng đối tượng tác động của một chính sách chính là các nhà truyền thông thiết thực và thuyết phục nhất cho chính sách đó.

Trong bối cảnh các nguy cơ tin giả, tin độc hại, bóp méo, xuyên tạc, có thể hack các trang chủ, trang mạng của các cơ quan công quyền, gây quan ngại trên toàn cầu như hiện nay thì song song với việc cải thiện các hoạt động khác của công tác tư tưởng, truyền thông chính sách cần đi kèm với các biện pháp bảo vệ an ninh mạng là một điều kiện để hạn chế các hệ lụy của chúng và duy trì niềm tin vào các chủ thể chính sách hay vào hệ thống công quyền nói chung.

Truyền thông chính sách cần kịp thời và cẩn trọng

 


Truyền thông cần được bắt đầu từ khi nhận diện vấn đề chính sách chứ không phải chỉ đến khi chính sách đã được ban hành. Cần phát huy tối đa các báo, tạp chí điện tử để truyền thông điệp chính sách. Đây là các nguồn tin có tính mở, tính cập nhật, khả năng tiếp cận cao. Nhờ đó, các thông điệp dễ được trích dẫn thông tin hơn là các báo in hay các văn bản quản lý nhà nước dạng in. Sự cẩn trọng cần được bảo đảm từ khâu lựa chọn các giải pháp chính sách để các lựa chọn đó không dẫn đến các hệ lụy xã hội, hành chính, kinh tế… về lâu dài; không tạo ra sự ức chế, bức xúc trong các bên liên quan.

Truyền thông chính sách một cách khách quan cũng cần tính tới yếu tố cẩn trọng, nhất là khi đưa tin lên mạng xã hội. Thực tiễn cho thấy, không ít người Việt Nam lên mạng xã hội nhưng không có mục tiêu cụ thể, chỉ để “dạo quanh”, “xem có gì không” hoặc chỉ để “giết thời gian” trong lúc đang chờ đợi việc khác, hoặc thành một thói quen nhưng không có trông đợi cụ thể. Chính vì vậy, khi tiếp nhận thông tin, họ không cố gắng sàng lọc hay nỗ lực kiểm chứng thông tin từ các nguồn khác.

        Bên cạnh đó, vốn mạng xã hội được ngầm định là một nguồn thông tin tham khảo và cho phép mang tính cảm tính cá nhân khi bình luận (không như các loại hình truyền thông đại chúng khác) nên nếu các chủ thể truyền thông cung cấp thông tin không chính xác hoặc phiến diện thì sẽ bị đánh đồng với các nguồn tin khác trên mạng xã hội, nơi thật giả lẫn lộn, độ tin cậy không cao.

Truyền thông chính sách cần mang tính hai chiều

 


Truyền thông để quá trình chính sách hiệu quả hơn, bao gồm hoạch định được những chính sách tốt hơn, đưa chính sách vào thực tiễn hiệu quả hơn, đánh giá chính sách được khách quan hơn, đóng góp giá trị vào việc xây dựng và thực thi các chính sách tiếp theo để giải quyết các vấn đề mới, kết cục là thỏa mãn tốt hơn nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, truyền thông chính sách không chỉ vận động để cộng đồng, xã hội nghe theo, thuận theo ý mình trông đợi, mà đồng thời, cần chủ động tranh biện để thuyết phục là lựa chọn chính sách hay biện pháp chính sách đó là có tính hợp lý, vì mục tiêu lâu dài; mặt khác, cần chủ động lắng nghe các ý kiến chất vấn và bổ sung để kịp thời điều chỉnh chính sách. Hơn thế nữa, phản biện xã hội chính là mức độ nâng cao sự tham gia đề xuất ý kiến của Nhân dân trong hoạch định chính sách.

Chính vì vậy, thiết kế và tổ chức quá trình truyền thông chính sách cần mang tính cầu thị (hướng tới các giá trị tốt đẹp và cải thiện chất lượng chính sách vì phát triển xã hội) với mục tiêu để lắng nghe tốt hơn, đặc biệt là để tiếp nhận và phát huy tốt hơn các ý kiến phản biện xã hội, cởi mở, có tính tranh luận, sẵn sàng đối thoại (nghe và đối thoại, kể cả nghe những ý kiến trái chiều). Do đó, cần tiếp tục thực hiện tốt hơn các hoạt động đối thoại (online và offline), nghiên cứu và dự báo dư luận, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, công tác thông tin, báo cáo, khảo sát thực tế, tổ chức các sự kiện kinh tế, hành chính và văn hóa – xã hội. Đặc biệt, để thu hút được sự quan tâm, tham gia và niềm tin của cộng đồng, xã hội đối với quá trình chính sách và các chủ thể chính sách, cần quan tâm xử lý nghiêm túc và vi phạm trong công vụ, xử lý nghiêm minh, khách quan các vụ án hành chính, nhất là các vụ án liên quan đến tham nhũng, hối lộ.

Truyền thông chính sách cần có tính hệ thống

 


Truyền thông chính sách không chỉ là truyền thông về bản thân một chính sách, giải pháp chính sách hay một văn bản chính sách cụ thể. Cần truyền thông toàn bộ quá trình quản trị nhà nước – như một khuôn khổ có tính hệ thống, đầy đủ, giúp giải thích các động thái liên quan, bao gồm động thái chính sách.

Do đó, cần truyền thông cả về tổ chức, bộ máy, về đội ngũ, về hệ thống quy trình, thủ tục, về các triết lý, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi mà nền công vụ theo đuổi. Thiếu hiểu biết một cách đầy đủ và tích cực về những khía cạnh trên, các nỗ lực chính sách vẫn khó có thể có được sự hiểu biết và ủng hộ thỏa đáng.

Đặc biệt, ý tưởng và mục tiêu chính sách có thể được chuyển tải trong nhiều văn bản quản lý nhà nước khác nhau, trong đó đặc biệt quan trọng là các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội hoặc các chiến lược ngành. Các chiến lược này sẽ tạo ra các bước ngoặt trong phát triển quốc gia, địa phương hoặc ngành. Chính vì vậy, truyền thông cho một ý tưởng chính sách cần bảo đảm được kết nối hiệu quả với các chiến lược trên.

Truyền thông chính sách cần bảo đảm khách quan, khoa học

 


Thông tin về chính sách cần được cung cấp, trao đổi dựa trên nhiều nguồn đáng tin cậy, cần chính xác về vấn đề chính sách, rõ căn cứ của các lựa chọn chính sách, thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể chính sách, nguồn lực chính sách và các quan điểm, trông đợi của đối tượng chính sách cũng như cộng đồng; cần tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải; cần chính xác cả về nguồn viện dẫn, các luận cứ, luận chứng.

Bên cạnh đó, phản ứng chính sách luôn tạo ra sự ưu đãi đối với một nhóm xã hội nhất định nhằm một mục tiêu xã hội nhất định. Chính vì vậy, các phản ứng chính sách (nhất là các dự án đầu tư công) thường không mang đến lợi ích đồng đều, như nhau đối với mọi thành viên trong xã hội. Nói cách khác, có thể dẫn tới sự bất bình đẳng tương đối hay thiệt thòi (được tính toán) nhất định đối với nhóm xã hội khác. Đây là nguyên lý tất yếu để quá trình chính sách đạt được mục tiêu phát triển tổng thể và lâu dài. Tuy nhiên, nếu nhìn phiến diện, vấn đề này có thể bị xuyên tạc. Chính vì vậy, thông qua các kênh như báo chí, mạng xã hội…, vấn đề này cần được chuẩn bị tinh thần từ trước cho cộng đồng.

Các nghịch lý và thách thức chính đối với quá trình chính sách

 


Truyền thông chính sách là hệ thống các nỗ lực chủ động chủ trì và tương tác hai chiều của Nhà nước được thiết kế có chủ đích nhằm tiếp nhận và chia sẻ thông tin về chính sách cũng như quá trình chính sách (cách thức hoạch định, thực thi, đánh giá) đến đối tượng chính sách nhằm thúc đẩy hiểu biết, phản biện, đồng thuận, sự tin cậy qua lại giữa nhà nước nói chung và các chủ thể chính sách nói riêng vì lợi ích công cộng. Như vậy, đây là các nỗ lực chủ động và cầu thị để giúp các bên liên quan hiểu biết một cách đầy đủ và kịp thời, từ đó tham gia vào quá trình chính sách một cách chủ động, tự nguyện; đồng thiết kế, cải thiện chất lượng chính sách và thực thi chính sách một cách hiệu quả. Các nghịch lý và thách thức chính đối với quá trình chính sách

Chính sách là một tập hợp các biện pháp của Nhà nước nói chung và Chính phủ nói riêng lựa chọn, được thể chế hóa và bảo đảm thực thi để giải quyết các vấn đề xã hội hoặc phát triển xã hội theo kỳ vọng. Không kể các yếu kém chính sách xuất phát từ thông tin phiến diện, sai lệch, các giải pháp mang tính lý tưởng mà không có cơ sở thực tiễn hay các vun vén lợi ích cục bộ, ngắn hạn…, thực tiễn đã chứng minh một loạt nghịch lý và thách thức đối với quá trình chính sách, bao gồm:

Thứ nhất, mục tiêu của các chính sách luôn là phục vụ lợi ích công cộng nhưng các lợi ích toàn cục, lâu dài và bền vững áp dụng vào từng giải pháp chính sách cụ thể không phải bao giờ cũng dễ được mô tả trong mọi văn bản chính sách. Điều này dẫn tới các nguy cơ là một số chính sách xa rời các mục tiêu phát triển tổng thể và lâu dài; bên cạnh đó là nguy cơ hiểu lầm (nhất là từ phía đối tượng chính sách và xã hội) đối với các phản ứng chính sách.

Thứ hai, chủ thể ban hành và tổ chức thực thi chính sách là hệ thống các cơ quan nhà nước và hành chính nhà nước có thẩm quyền nhưng đối tượng chính sách lại là toàn dân, toàn diện. Điều này dẫn tới các nguy cơ về sự bất đồng trong động lực chính sách, trong nhận diện vấn đề chính sách hay tìm kiếm các giải pháp chính sách. Ví dụ, trong bối cảnh doanh nghiệp ưu tiên quan tâm về duy trì sản xuất và kinh doanh, lợi nhuận và duy trì sức cạnh tranh trong nội địa cũng như xuất khẩu nên không thích các biện pháp dãn cách hay cách ly xã hội; còn người dân thì quan tâm nhiều hơn tới sức khỏe và sự tiện dụng của các hình thức giao dịch không kèm theo các rủi ro lây bệnh; trong khi Nhà nước vừa đặt mục tiêu kép là dập dịch (ưu tiên sức khỏe, nỗ lực hạn chế sự lan rộng của dịch bệnh) đồng thời, nỗ lực phục hồi và duy trì sức khỏe nền kinh tế một cách toàn diện. Các mục tiêu ưu tiên này dẫn tới các trông đợi khác nhau và các động thái khác nhau, thậm chí mâu thuẫn trong đầu tư nguồn lực từ phía các bên.

Thứ ba, quyết định chính sách được đưa ra vào thời điểm hiện tại nhưng những tác động của nó lại xảy ra trong tương lai. Điều này dẫn đến những khó khăn trong lường trước các tác động chính sách, kể cả khi các hoạt động nghiên cứu tiền khả thi hay đánh giá tác động chính sách và việc thực hiện thí điểm chính sách đã được thực hiện một cách nghiêm túc, thực chất. Bên cạnh đó, nguy cơ bất đồng trong đánh giá quá trình sự tác động và mức độ hài lòng về phản ứng chính sách cũng xuất hiện do sự thay đổi của các biến số đầu vào (như tiền mất giá, thông tin thay đổi, nguồn lực vật chất thay đổi về lượng và chất do các tác động ngẫu nhiên của tự nhiên, thời tiết…) hay quá trình (thay đổi tầm nhìn lãnh đạo trong quá trình thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội).

Thứ tư, các giải pháp chính sách trước hết phải bảo đảm tính chính trị, tức là xuất phát từ thể chế chính trị hiện hành và theo đuổi các triết lý, phương châm và mục tiêu chính trị. Tuy nhiên, trước áp lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, cũng như sự sẵn sàng của nhiều nhà cung ứng dịch vụ công trong nước và quốc tế, tính kinh tế cũng được đặt ra đối với các lựa chọn chính sách. Trong nhiều trường hợp, không có được sự lựa chọn hài hòa hay dung hòa được cả hai yêu cầu này. Điều đó dẫn tới các chất vấn từ phía người dân mà giới cầm quyền không dễ thuyết phục.

Để chủ động đối mặt và giảm thiểu tác động của các thách thức trên, một trong những nỗ lực hiện đại được thừa nhận phổ biến là hiệu quả chính là truyền thông chính sách.

Truyền thông chính sách nhằm tự rà soát và đổi mới quá trình chính sách

 


Truyền thông chính sách cung cấp thông tin để các chủ thể chính sách rà soát các phương pháp, công cụ, cách tiếp cận và cách hành xử của mình đối với các vấn đề xã hội; nhờ đó, hỗ trợ quá trình cải cách thủ tục hành chính, đổi mới bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ. Đặc biệt, để giám sát thực hiện, phát hiện vấn đề, bất cập, lợi dụng thẩm quyền… Mặt khác, truyền thông chính sách đưa Nhà nước, Chính phủ hay chính quyền nói chung đến gần công chúng hơn, tạo dựng và duy trì sự tin cậy của xã hội đối với Nhà nước nói chung hay các chủ thể chính sách nói riêng.

Truyền thông chính sách định hướng dư luận

 


Một chủ trương, chính sách chỉ hiệu quả khi nó được xã hội chấp thuận và khả thi trên thực tiễn để tạo ra các kết quả như trông đợi. Theo cách truyền thống, chính sách được khởi xướng từ các cơ quan công quyền. Với truyền thông chính sách tốt, ngay từ khâu nhận diện vấn đề chính sách, đề xuất chính sách đều có thể bắt đầu từ cộng đồng. Nói cách khác, truyền thông chính sách cung cấp cơ hội để chuyển quá trình chính sách từ độc quyền sang thành một quá trình Nhà nước đồng hành cùng xã hội (đồng thiết kế chính sách). Trong bối cảnh của mạng xã hội, sự lên tiếng đồng tình, ủng hộ hay phản đối một cân nhắc hay quyết định chính sách nào đó tuy không phải là ý kiến quyết định nhưng cần được cân nhắc và thậm chí giải trình (ví dụ thông qua các hình thức truyền thông chính thức) để hạn chế sự lan rộng và leo thang của chống đối hay bất mãn xã hội.

Truyền thông chính sách phát huy quyền, vai trò và trí tuệ của xã hội

 


Truyền thông chính sách phát huy quyền, vai trò và trí tuệ của xã hội trong nhận diện các vấn đề chính sách và cân nhắc các giải pháp chính sách… Lắng nghe ý kiến là một nhiệm vụ bắt buộc trong xây dựng chính sách, pháp luật. Thu thập thông tin từ đối tượng chính sách để các chủ thể chính sách hiểu biết tốt hơn các nhu cầu, nguyện vọng, các xu hướng phản ứng của đối tượng chính sách, nhất là trường hợp có quyền lợi vật chất bị ảnh hưởng. Đây cũng là phương thức có tính hệ thống để bảo đảm quyền của công dân, tiếp tục phát huy dân chủ, cung cấp cơ hội cho quyền biết, quyền bàn và quyền giám sát của Nhân dân, các nhóm cộng đồng xã hội trong điều hành quốc gia, địa phương, hướng tới thay đổi thái độ, hành vi của công dân, cộng đồng, xã hội trong tuân thủ và xây dựng pháp luật, đóng góp vào bảo vệ chủ quyền và phát triển quốc gia, địa phương.

Truyền thông chính sách là gì?

 


Truyền thông chính sách là một cách tiếp cận mới đối với không chỉ quá trình vận động, tuyên truyền của Đảng và Nhà nước nói chung mà còn là đối với chính quá trình chính sách – một quá trình trong quan niệm truyền thống là thuộc về nội bộ hoặc thậm chí là “đặc quyền Nhà nước”.

Khác với tuyên truyền, vận động, truyền thông chính sách thừa nhận rằng, đối tượng chính sách và cộng đồng xã hội không dễ chấp nhận một chiều, không chấp nhận, cũng không nên bị áp đặt, ép buộc thực hiện ngay và đầy đủ các chính sách của chính quyền các cấp. Do đó, đây không đơn thuần chỉ là truyền thông điệp chính sách một cách một chiều từ các chủ thể để chính sách được các đối tượng chính sách và các bên liên quan tuân thủ một cách chặt chẽ.

Nội hàm truyền thông chính sách gồm hai mảng hành động là: (1) Giao tiếp: xây dựng và chia sẻ thông điệp dạng ngôn từ (dạng nói và dạng văn bản) và hình ảnh; (2) Hành động: tổ chức thực hiện, làm gương, làm mẫu để đưa các chính sách, các giải pháp chính sách thành hành động thực tiễn (ví dụ tổ chức xây dựng hệ thống vị trí việc làm kèm theo các bản mô tả công việc để thực hiện chính sách cải cách chế độ quản lý công vụ, từng bước kết hợp giữa chế độ chức nghiệp với chế độ vị trí việc làm).

Chủ thể truyền thông chính sách bao gồm: (1) Các chủ thể chính sách như cơ quan nhà nước, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (một số cơ quan nhà nước hình thành các đơn vị chuyên trách, như: Vụ Truyền thông và Thi đua khen thưởng của Bộ Y tế, Vụ Truyền thông của Ngân hàng Nhà nước); (2) Báo chí, các cơ quan thông tấn; (3) Mạng xã hội và các nhân vật nổi tiếng (ví dụ dùng hình ảnh và tiếng nói của người nổi tiếng để truyền thông về chính sách cắt giảm đồ dùng bằng nhựa,…).

Thời điểm truyền thông chính sách: truyền thông cần được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình chính sách từ nhận diện vấn đề, hoạch định chính sách (chẩn đoán được nguyên nhân bản chất sâu xa; thiết kế giải pháp, thử các giải pháp – thí điểm và đánh giá, phân biệt được hệ quả khi áp dụng chính sách và hệ lụy (tiêu cực) nếu không có phản ứng chính sách đó, điều chỉnh và hoàn thiện chính sách) đến tổ chức thực thi và đánh giá chính sách.

Có 3 cấp độ truyền thông chính sách, bao gồm: cung cấp thông tin website, hệ thống quản lý văn bản điện tử thống nhất, thông suốt; hợp tác với các cơ quan truyền thông, thông tấn báo chí để truyền tải thông điệp; có chiến lược truyền thông bài bản, toàn diện như phát huy nhiều kênh, nhiều hình thức như họp báo, cung cấp thông tin cho báo chí, công báo, từ “lời nói đến việc làm”….

Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2023

Phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về công tác tuyên truyền của Việt Nam hiện nay

 

Phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về công tác tuyên truyền của Việt Nam hiện nay

Công tác tuyên giáo nói chung, công tác tuyên truyền nói riêng là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng nhằm xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhận diện để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận công tác tuyên truyền của của Đảng, Nhà nước ta trong tình hình hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng.

Cán bộ Trạm Kiểm soát Biên phòng Cửa Lân, Bộ đội Biên phòng tỉnh Thái Bình tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân xã Nam Thịnh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. (Ảnh: thaibinh.gov.vn)

NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Trong những năm gần đây, các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài; các lực lượng cạnh tranh về tư tưởng, chính trị (những người nghiên cứu lý luận, hoạt động chính trị đảng phái tại một số nước phương Tây và cả những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam…); các cá nhân người Việt ở trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng, núp bóng dưới ngọn cờ “dân chủ, nhân quyền”… ngày càng tăng cường xuyên tạc, phủ nhận và tiến hành chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt, khi công tác tuyên truyền của chúng ta ngày càng khẳng định được vai trò nòng cốt trong quá trình bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì các thế lực này lại càng ráo riết chống phá bằng nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, trong đó việc sử dụng triệt để tiện ích của Internet qua các website, mạng xã hội, các kênh thông tin truyền thông… là hình thức phổ biến nhất.

Có thể nhận diện điều này qua các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng, hoạt động tuyên giáo - tuyên truyền của Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ là “kỹ năng lừa gạt”, “ru ngủ nhân dân”(!?)

Để “minh họa” cho luận điệu này, họ đã tạo dựng lên cái gọi là ý kiến của “một số nhà quan sát và phân tích thời sự, chính trị Việt Nam” để chia sẻ với báo chí chống cộng ở hải ngoại những “quan điểm” về công tác tuyên giáo - tuyên truyền của Đảng ta. Qua đó bóp méo, xuyên tạc về thành tựu sau hơn 35 năm đổi mới của ngành Tuyên giáo. Từ những nhận định hết sức hồ đồ của một số người bất đồng chính kiến như Nguyễn Quang A, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Nguyên Bình… rồi cho rằng, Tuyên giáo “đã thành công trong việc định khung (framing) tư duy cho nhiều người Việt Nam để tin vào đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng đó là nghệ thuật tuyên truyền chứ không hề khoa học gì cả”; “Vai trò của tuyên giáo... chỉ là “trò tuyên truyền” chứ không phải lý luận khoa học gì cả, càng không “đi trước-mở đường””…(!).

Nhân sự kiện ngày 1/8/2020, khi Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo, các thế lực chống đối, thù địch đã tìm mọi cách xuyên tạc. Điển hình như, trước ý kiến của TS. Vũ Ngọc Hoàng (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI, nguyên Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương) khẳng định rằng: “mục đích đầu tiên và quan trọng nhất của công tác tuyên giáo là nhằm tham gia khai hóa văn minh cho cộng đồng dân tộc và thực hiện nhiệm vụ chính trị”, thì trên một số trang mạng và báo điện tử ở hải ngoại đã dùng chiêu trò giật tite câu view bằng một số bài viết kiểu như “Lời lừa dối hoành tráng” rồi lu loa rằng “tuyên truyền của tuyên giáo lừa dối dân”, rằng “từ trước đến giờ cộng sản luôn có một lối ru ngủ nhân dân duy nhất, làm cho người dân dù bất mãn cỡ nào cũng không phản kháng hoặc phản kháng yếu ớt…” (!?).

Thứ hai, các thế lực thù địch cho rằng công tác tuyên truyền của Việt Nam hiện nay chỉ là một sự “tụt hậu” và bản chất là “làm người dân mụ mẫm”(!?)

Đài BBC News Tiếng Việt, Đài Châu Á Tự do thường xuyên đăng phát những nội dung xuyên tạc, phủ nhận vai trò của ngành Tuyên giáo đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta. Họ tập hợp "những ý kiến độc lập” để đưa tin sai lệch, bôi xấu về tình hình trong nước nhằm tung hê cho luận điệu: Tuyên giáo “làm người dân mụ mẫm(!?). "tẩy não người dân, thuyết phục người dân, lừa bịp để làm người dân mụ mẫm”.

Gần đây nhất, liên quan đến việc chúng ta đặt tên đường phố, công trình công cộng, trong đó có sự cân nhắc về một số nhân vật lịch sử còn có những ý kiến trái chiều, thì ngay lập tức, thế lực thù địch đã lấy đó làm cơ hội để thực hiện ý đồ xuyên tạc, chống phá. Một mặt, họ cố tình lờ đi nội dung quan trọng là “một số nhân vật lịch sử còn có những ý kiến trái chiều”, mặt khác, nhân danh “giới nghiên cứu” rồi ấu trĩ viện dẫn lịch sử “thời pháp thuộc” thời “Việt Nam Cộng hòa”… và tiến hành trích dẫn ý kiến của những kẻ hời hợt, bảo thủ, kém hiểu biết để rêu rao rằng: “văn bản này của Ban Tuyên giáo Trung ương đi ngược lại sự thật của lịch sử và gây hoang mang trong nhân dân”(!?).

Thứ ba, xuyên tạc về công tác nhân sự của ngành tuyên giáo.

Đây là một trong những chiêu bài mà các thế lực chống đối, thù địch thường xuyên sử dụng, nhất là đối với những nhân sự chủ chốt của ngành tuyên giáo. Chúng bôi nhọ thông tin, dẫn dắt sai lệch bản chất để đưa ra những nhận định xuyên tạc về việc sắp xếp cán bộ lãnh đạo của ngành.

Tất cả những luận điệu mà các thế lực phản động, thù địch đưa ra đều thể hiện cái nhìn định kiến, hằn học với mục đích sâu xa là xuyên tạc, phủ nhận, chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước ta, từ đó hòng thực hiện âm mưu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, tiến tới phá hoại, lật đổ chính quyền, lật đổ chế độ XHCN, xóa bỏ những thành quả cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã dày công xây dựng.

Nhận diện và đấu tranh với quan điểm sai trái về sở hữu đất đai

 

Nhận diện và đấu tranh với quan điểm sai trái

về sở hữu đất đai

Lợi dụng việc toàn dân đang đóng góp ý kiến cho dự án Luật Đất đai (sửa đổi), các thế lực xấu từ bên ngoài đã tăng cường chống phá.

CON ĐƯỜNG HUYỀN THOẠI

 Trên con đường Trường Sơn huyền thoại, có hàng chục tuyến đường ngang dọc đi đến các mặt trận, những chuyến xe trở hàng ra tiền tuyến chạy suốt ngày đêm, ở những cung đường từ đông sang tây Trường Sơn quanh năm có mưa, những chiếc xe tải phải chạy trên những cung đường sâu hơn 20cm, gầm xe luôn chạm đất do vậy nhíp luôn là bộ phận nhanh hỏng nhất của chiếc xe. Không có phụ tùng thay thế, những người thợ phải hàn lại chiếc những chiếc nhíp để dùng, dù tốn kém nhưng vẫn phải làm vì một chuyến xe là bằng cả một tháng làm của một trung đoàn.

Nhiều trạm sửa chữa xe đặt sâu trong rừng, xa hậu phương tức là xe nguồn tiếp tế, mỗi người chỉ được cấp 2 lạng gạo một ngày, đến nấu cháo cũng không đủ. Riêng lá sắn, cây sắn những người lính Trường Sơn có thể làm được 7 món một ngày, kèm theo đó là củ mài và tất cả những gì có thể ăn được trong rừng nhưng họ vẫn đói. Từ vấn đề ấy mà những người lính Trường Sơn lập ra những tổ để khắc phục cái đói như tổ tăng gia trồng rau, có tổ thì đi 3, 4 cây số đi vào bản để vay gạo, họ huy động chăn màn quần áo của bộ đội để đổi lấy gạo.
Nhu cầu tiếp tế của chiến trường lúc nào cũng căng thẳng, bộ đội lúc nào cũng cần từng viên đạn, từng cân gạo, từng viên thuốc. Trong khi đó nhiều lúc do thiếu xăng hàng chục chiếc xe phải nằm không, việc vận chuyển hàng bị ứ đọng, thế là ý tưởng những chiếc xe chạy bằng than củi ra đời. Rừng thỉ không thiếu củi, những chiếc xe lại lên đường với những phụ tùng chắp vá và hư hỏng, những chiếc xe cứ lăn bánh, rồi không bao lâu lại quay lại chạm sửa chữa, lại được mổ xẻ và thay thế bằng vài bộ phận tự chế, cứ như vậy chúng hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến.
Dù có khó khăn, vất vả thiếu thốn nhưng không có gì có thể ngăn nổi đoàn xe tiến về phía trước.
"Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước.
Chỉ cần trong xe có một trái tim".

Thực hiện đồng bộ "4 không" để phòng, chống tham nhũng hiệu quả

 


Thực hiện đồng bộ "4 không" để phòng, chống tham nhũng hiệu quả

 

Quyết liệt triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm "4 không" thì chắc chắn tham nhũng, tiêu cực sẽ được đẩy lùi, giảm nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"...