Thứ Ba, 11 tháng 7, 2023

Trị “bệnh” hô khẩu hiệu

Ở nhiều nơi, nhiều thời điểm luôn có một số cán bộ “giỏi” hô khẩu hiệu. Họ nói hay, đúng chủ trương, nghị quyết của Đảng nhưng nhiều việc làm lại đi ngược với lời nói, thậm chí còn gây hậu quả xấu. Đây cũng là một trong những biểu hiện mang mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải đấu tranh.

Thực chất khẩu hiệu chỉ là một phần nhỏ trong công tác tuyên truyền của Đảng và là biểu hiện của sự trung thành, tích cực. Thế nên, hô khẩu hiệu, treo khẩu hiệu, nói theo khẩu hiệu đã bị lạm dụng, trở thành “đặc sản”. Nhiều địa phương đưa ra khẩu hiệu kỳ cục, như: “Tích cực chữa cháy”, “Nhiệt liệt chào mừng Ngày Thương binh - Liệt sĩ”, “Cấm không được hút thuốc lá”… Nhưng điều đáng buồn hơn cả là dù đề ra khẩu hiệu rất hay, rất đẹp, rất mạnh mẽ nhưng hành động không mang lại kết quả.

Xin đưa ra ví dụ, khi nói về bảo vệ rừng, trồng rừng, cây xanh thì có rất nhiều và rất hay nhưng diện tích rừng thì nhiều nơi ngày càng thu hẹp. Mới đây nhất nhiều tờ báo đã đưa tin, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Nông vừa ban hành kết luận thanh tra về công tác quản lý đất đai, bảo vệ rừng tại lâm phần do Viện Khoa học lâm nghiệp Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (trụ sở tại xã Đắk Som, huyện Đắk Glong) quản lý. Theo kết luận thanh tra, tháng 12-2003, UBND tỉnh Đắk Lắk (cũ) giao 3.280ha đất, rừng (vị trí thuộc địa giới hành chính xã Đắk P’lao, huyện Đắk Nông, tỉnh Đắk Lắk; nay là xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông) cho Viện Khoa học lâm nghiệp Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Thế nhưng khi được giao, đơn vị này đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, bảo vệ rừng, để mất rừng và đất rừng với tổng diện tích hơn 2.000ha. Trong đó, giai đoạn từ năm 2003 đến tháng 1-2015 để mất hơn 1.800ha; từ tháng 2-2015 đến tháng 12-2020 để mất hơn 230ha rừng và đất rừng.

Hay như nhiều địa phương hô hào “làm sạch biển”, đẩy mạnh phong trào bảo vệ sinh thái biển, nhưng lại phê duyệt rất nhiều các dự án khu du lịch, khu đô thị thông qua việc san lấp, xây dựng các công trình xâm lấn mặt nước biển một cách vô tội vạ. Nhiều tỉnh miền Trung có bãi biển đẹp đã cho thuê dài hạn khiến người dân sở tại phải đi vòng nhiều kilômét mới được ra tắm biển ở nơi vốn dĩ họ đã gắn bó bao đời. 

Không chỉ có vậy, “bệnh” hô khẩu hiệu dẫn đến một loạt các vấn đề, nhìn thấy rõ nhất là “bệnh” hình thức trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đầu tiên là “bệnh” sao chép nghị quyết. Nghị quyết cấp trên có gì thì cấp dưới có cái đó, nhưng thực hiện thì “đầu voi đuôi chuột”. Một kết quả công tác nhưng lại được chứng minh cho nhiều nghị quyết khác nhau. Thứ hai, “bệnh” hô khẩu hiệu ngấm vào trong tổ chức thi đua, khen thưởng, gây ra hiện tượng “đánh trống bỏ dùi”, “phát mà không động” tốn kém, chưa có cách gì loại bỏ. “Bệnh” hô khẩu hiệu đã dẫn đến hiện tượng nhiều cán bộ nói tốt, nói hay, nói khỏe, nói dối, làm dở thì được quy hoạch, cất nhắc, còn không ít cán bộ sống thật, làm thật, hiệu quả thật thì khó có thể được quy hoạch, cất nhắc và phát triển. Ở một góc độ nào đó, “bệnh” hô khẩu hiệu đã sinh ra hiện tượng lý luận, giáo điều và dối trá trong bộ máy.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã chỉ ra một số vấn đề yếu kém trong công tác lãnh đạo, gián tiếp chỉ ra căn “bệnh” hô khẩu hiệu: “Việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên”. Trong nhiều lần đi cơ sở và ở các hội nghị lớn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đều nhắc nhở cán bộ tránh “bệnh” hô khẩu hiệu: “Đừng có hô khẩu hiệu. Nói thế thì phải làm thế, nếu chỉ làm vì mình, vì gia đình mình thì hỏng rồi”.

Để trị “bệnh” hô khẩu hiệu, chúng ta cần những cán bộ làm giỏi hơn nói. Họ phải là những người trung thành, tiên phong trong tổ chức, lãnh đạo và quản lý; sáng tạo trong xây dựng các dự án, đề án phục vụ xã hội, nhân dân.

Muốn làm vậy thì cán bộ cấp trên phải gương mẫu, xông pha, từ bỏ thói mị dân bằng những mỹ từ; cần phải xây dựng phương pháp làm việc dân chủ, công khai; minh bạch các thông tin liên quan đến tài chính, đất đai, đầu tư công... trong thực hiện để nhân dân giám sát. Ngoài ra, phải đấu tranh mạnh hơn nữa với những cán bộ có biểu hiện quan liêu, gia trưởng và độc đoán, chuyên quyền; kịp thời phát hiện, bồi dưỡng và mạnh dạn sử dụng, cất nhắc những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thường xuyên chăm lo cơ sở, hướng về nhân dân.

Song hành với đó là cần cải tiến quá trình kiểm tra thực hiện nghị quyết, chỉ ra những yếu kém trong tổ chức thực hiện, không để xảy ra hiện tượng lấy khẩu hiệu, thành tích ảo hoặc vay mượn thành tích để che lấp những hạn chế. Trong kiểm tra phải quyết liệt, chỉ rõ sai phạm và cách khắc phục, ngăn ngừa tiêu cực từ trong trứng nước.Đồng thời, cần phải cải cách công tác tuyên truyền, chấn chỉnh lại công tác thi đua, khen thưởng đúng người, đúng việc, tránh “nói hay cày dở”, “phát mà không động”. Ở mỗi chi bộ, nhất là các chi bộ cơ quan, cần phát huy dân chủ, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình.

Nói phải đi đôi với làm, nói và làm phải thống nhất, thông suốt, hiệu quả chính là điều mà nhân dân, xã hội thời nào cũng cần, cũng trọng và đặt niềm tin. Đừng để niềm tin của nhân dân đứt gãy bởi “đặc sản” là “bệnh” hô khẩu hiệu!

Khắc phục bằng được hạn chế trong đánh giá cán bộ

     1. Trong công tác cán bộ, khâu đánh giá cán bộ là tiền đề, có ý nghĩa quyết định đối với các khâu khác của quy trình cán bộ, nhất là lựa chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ... Do đó, có đánh giá cán bộ chính xác mới có thể nâng cao được chất lượng cán bộ. Có cán bộ chất lượng mới nâng cao được năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đem lại lòng tin trong người dân.

Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, ở không ít cơ quan, đơn vị, địa phương, đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” chỉ ra rằng, vẫn còn tình trạng nể nang, cục bộ trong đánh giá cán bộ… Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII) về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” cũng khẳng định, đánh giá cán bộ chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn nể nang, dễ dãi, định kiến…

    Bước vào nhiệm kỳ Đại hội XIII, nhờ sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo từ Trung ương xuống địa phương, công tác đánh giá cán bộ đã có chuyển biến tích cực. Nhiều cấp ủy cấp tỉnh đã tổ chức “chấm điểm” cán bộ, đánh giá cán bộ hằng tháng, thậm chí hằng tuần; đánh giá cán bộ đa chiều... Tuy nhiên, ở một số nơi, đánh giá cán bộ còn thiếu thực chất, không ít trường hợp được bổ nhiệm “thần tốc” sau đó lại phải thu hồi quyết định. Cán bộ được điều động, luân chuyển chưa “ấm chỗ” đã phải điều động, luân chuyển đi nơi khác…

   Nghị quyết số 28-NQ/TƯ ngày 17-11-2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới” đã xác định một trong những nhiệm vụ giải pháp quan trọng hàng đầu để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là phải khắc phục hạn chế, yếu kém, hình thức trong đánh giá cán bộ.

    2. Để khắc phục, Trung ương chỉ ra rằng, đánh giá cán bộ phải toàn diện, chặt chẽ, thực chất, khách quan, nhiều chiều. Cùng với phẩm chất, bản lĩnh chính trị, ý thức, trách nhiệm, uy tín trong tập thể, trong nhân dân, phải đặc biệt chú trọng kỹ năng công tác, chất lượng, hiệu quả công việc được giao, bằng sản phẩm, kết quả cụ thể; gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương.

    Đây là những định hướng quan trọng, cần thiết. Thực tế ở một số cấp ủy địa phương, trong đó có Hà Nội, công tác đánh giá cán bộ đã cụ thể hóa cơ bản những định hướng nêu trên, thậm chí có những mặt còn đi trước làm gương.    

    Hà Nội là một trong những cấp ủy cấp tỉnh đầu tiên ban hành Quy định về đánh giá cán bộ hằng tháng trong cả hệ thống chính trị. Đây là bước đi có tính đột phá giúp việc đánh giá cán bộ thường xuyên và sát với thực tế công việc hơn. Dù vậy, xác định Quyết định số 3814-QĐ/TU ngày 16-5-2018 của Ban Thường vụ Thành ủy về việc ban hành “Quy định khung tiêu chí đánh giá hằng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong hệ thống chính trị thành phố Hà Nội” còn hạn chế; ngày 28-10-2021, Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Quyết định số 1841-QĐ/TU có nội dung tương tự để thay thế. Ngày 16-8-2022, Ban Thường vụ Thành ủy tiếp tục ban hành các Quyết định số 3251-QĐ/TU và Quyết định số 3252-QĐ/TU nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1841-QĐ/TU và Quy chế về việc quản lý, khai thác và sử dụng phần mềm đánh giá cán bộ hằng tháng.

    Với những đổi mới, hoàn thiện quy định đánh giá cán bộ nêu trên, Hà Nội đã đưa công tác đánh giá cán bộ ngày càng đi vào chiều sâu, bảo đảm thực chất, tạo động lực nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

    Cụ thể, về nguyên tắc, Hà Nội quy định rõ, việc đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức hằng tháng phải bảo đảm dân chủ, chính xác, khách quan, công khai, minh bạch; công bằng, công tâm và không mang tính hình thức, nể nang, trù dập, thiên vị; bảo đảm đúng thẩm quyền đánh giá. Cấp nào, người nào trực tiếp lãnh đạo, giao việc, thì đồng thời thực hiện nhận xét, đánh giá, xếp loại. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định việc xếp loại, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Việc đánh giá, xếp loại phải căn cứ vào chức trách, nhiệm vụ được giao và kết quả thực hiện nhiệm vụ về tiến độ và chất lượng, sản phẩm cụ thể...

    Đánh giá cán bộ có thể xây dựng thang điểm 100 gắn với từng tiêu chí, nội dung, nhiệm vụ, kế hoạch công tác cụ thể. Đánh giá cá nhân phải gắn với tập thể, có quy định rõ các trường hợp cụ thể như: Cơ quan, đơn vị và tổ chức, bộ phận trực thuộc cơ quan, đơn vị được đánh giá “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” thì tỷ lệ các cá nhân được đánh giá, xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” 20-25% trên tổng số cán bộ, công chức, viên chức được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”. Tỷ lệ này giảm dần tương ứng với mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể được đánh giá...

    Đánh giá cán bộ không chỉ gắn với chức trách, nhiệm vụ, vị trí việc làm, với thực hiện nhiệm vụ thường xuyên, thường kỳ, mà còn phải gắn với nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, cấp bách; lấy thước đo là những sản phẩm, công trình cụ thể. Có như vậy mới tạo được sức ép thôi thúc tinh thần trách nhiệm của cán bộ. Hà Nội đã từng lấy hiệu quả phòng, chống dịch Covid-19 để đánh giá cán bộ; đặc biệt vừa qua tiếp tục chỉ đạo lấy kết quả giải ngân vốn đầu tư công làm căn cứ đánh giá...

    Trong tất cả các khâu, phải rất coi trọng vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Bởi cách làm đã có, nhưng mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là người thực hiện, mà người thực hiện quan trọng nhất lại là những người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Nhận diện và cảnh giác về sự xuất hiện trở lại của Hội thánh Đức Chúa trời mẹ

 

Về bản chất hoạt động của HTĐCTM vừa mang tính chất mê tín dị đoan, vừa tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự, làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc và cũng là điều kiện để các cá nhân, tổ chức thù địch lợi dụng xuyên tạc về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Nguồn gốc và quá trình du nhập của HTĐCTM vào Việt Nam

HTĐCTM là một “phong trào tôn giáo” mới bắt nguồn tại Hàn Quốc do Ahn Sahng-hong, sinh năm 1918 sáng lập. Năm 1947, Ahn Sahng-hong theo Cơ Đốc Phục Lâm nhưng sau đó bị giáo hội này khai trừ vì đưa ra quan điểm “lấy thập tự giá làm biểu tượng trong Hội thánh là phạm tội thờ thần tượng". Đến năm 1964, ông lập ra nhóm "Hội thánh của Đức Chúa Trời Nhân chứng Jesus” tại TP Busan, Hàn Quốc và trở thành Giáo chủ.

Ông tự cho rằng mình là "Chúa tái lâm", "Thánh Linh đấng yên ủi", "Đức Chúa Trời đến thế gian qua việc mặc lấy xác thịt", nhấn mạnh rằng phải gia nhập vào nhóm của mình thì mới được "ghi tên vào sổ của sự sống". Năm 1985, sau khi Ahn Sahng-hong qua đời, bà Janggil - Ja (Zahng Gil Jah hoặc Chang Gil Jah) tách ra thành lập “Hội thánh của Đức Chúa Trời Nhân chứng Ahn Sahng-hong”.

Năm 1997, Hội thánh của Đức Chúa Trời Nhân chứng Ahn Sahng-Hong đổi tên gọi chính thức là “Hội Thánh của Đức Chúa Trời Hiệp hội Truyền giáo Tin lành Thế giới” (World mission society Church of God - WMSCOG) hay còn gọi là “Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ” (bởi vì tổ chức này tin có Đức Chúa trời mẹ).

Tổ chức này coi ông Ahn Sahng-hong là “Đức Chúa trời cha” và bà Janggil-Ja là “Đức Chúa trời mẹ”, không tổ chức lễ Giáng sinh, không thờ cây thánh giá, trong sinh hoạt nữ trùm khăn ren trắng… Vì vậy, các tổ chức chính thống ở Hàn Quốc tẩy chay và coi là tà giáo, gọi là HTĐCTM để phân biệt với các tổ chức Hội thánh Đức Chúa Trời khác thuộc đạo Tin Lành. Trụ sở chính của HTĐCTM đặt tại quận Bundang, TP Seongnam, tỉnh Kyunggi, Hàn Quốc.

HTĐCTM du nhập vào Việt Nam thông qua hoạt động nhập cảnh của người Hàn Quốc; tiếp đến là hoạt động hiến máu nhân đạo của “Quỹ chúng tôi yêu bạn”. HTĐCTM xuất hiện ở phía Nam vào năm 2001, hình thành điểm nhóm đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh vào khoảng năm 2005-2006 do Nguyễn Văn Hòa (truyền đạo sư) phụ trách từ Đà Nẵng trở vào. Năm 2013 xuất hiện ở phía Bắc và rộ lên năm 2016 do ông Nguyễn Đình Tám (chấp sự) phụ trách từ Thừa Thiên-Huế trở ra.

Theo quy định của tổ chức này, mỗi tín đồ được tổng hội ở Hàn Quốc trực tiếp cấp “mã số sự sống” và quản lý chặt chẽ về nhân thân, lai lịch, quan hệ xã hội… thông qua “Thẻ Thánh đồ” (tín đồ) và “Thẻ Thánh đồ điện tử” (đối với người có chức vụ cao hơn tín đồ), được lưu trữ trên website của giáo hội. Hiện nay, HTĐCTM có mặt ở nhiều tỉnh, thành phố với hàng nghìn người tin theo.

Bản chất của Hội thánh Đức Chúa trời mẹ

HTĐCTM là một hiện tượng tôn giáo gắn với vấn đề tín ngưỡng, giáo lý trong đạo Tin Lành nhưng có nhiều điểm khác so với các hệ phái Tin Lành được Nhà nước công nhận, mang tính tà giáo. Cụ thể là:

- Về giáo lý, giáo luật

Tổ chức không có hệ thống giáo lý, giáo luật riêng mà đa phần cắt xén, pha tạp giữa giáo lý, giáo luật, lễ nghi của đạo Công giáo và hệ phái Tin Lành Cơ đốc Phục lâm. Cụ thể là giáo lý được xây dựng trên cơ sở trích dẫn các câu Kinh thánh riêng lẻ để phục vụ cho quan điểm cá nhân người sáng lập (đây là phương pháp mà hầu hết các tà giáo mang danh Cơ đốc khác đều dùng, vi phạm nguyên tắc giải nghĩa Kinh thánh Cơ đốc là phải theo văn mạch và có đối chiếu với những sách khác trong Kinh thánh). Đồng thời có một số điểm khác biệt, thậm chí sai trái, không đúng với Kinh thánh Tin Lành. Cho rằng con người được sinh ra, được nuôi dưỡng trưởng thành không phải do bố, mẹ mà do Đức Chúa Trời ủy thác.

Phải thờ phượng “Đức Chúa Trời Cha”; không lập bàn thờ, cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ; coi linh hồn người thân là ma quỷ; không thắp hương đền, chùa, di tích lịch sử, nghĩa trang liệt sĩ; không ăn đồ cúng, đó là đồ thừa của ma quỷ. Việc tổ chức này tin rằng “tất cả mọi người là những thiên thần đã đến trái đất sau khi phạm tội ở trên trời” và xem cơ thể là nhà tù thời gian của linh hồn là một quan điểm hoàn toàn sai trật với Thánh kinh.

Về ngày tận thế, trong Kinh thánh chính thống không định trước ngày giờ tận thế nhưng Ahn Sahng-hong đã định vào năm 1988. Cho rằng mình đã giáng lâm xuất trần cứu vớt nhân loại, phê phán về lễ Giáng sinh khi cho rằng ngày 25/12 lễ Giáng sinh là ngày sinh thần mặt trời của người nông dân La Mã xưa, vì vậy các hội thánh khác giữ lễ Giáng sinh ngày nay là hành động thờ lạy hình tượng.

Ngoài ra, quan điểm của hội thánh này còn nhiều điểm trái ngược với các tổ chức Tin Lành như: không có thập tự giá; nghi lễ sinh hoạt phải bịt khăn (các tín đồ nữ khi sinh hoạt phải trùm khăn kín đầu); khi cầu nguyện thì nhân danh Đấng Christ Ahn Sahng-hong. HTĐCTM cho rằng các hội thánh không giữ ngày Sabat, không giữ Lễ Vượt qua là tà giáo; hội thánh giữ lễ Giáng sinh vào ngày 25/12 không dựa trên Kinh thánh; hội thánh thờ lạy thập tự đều là tà giáo; họ cho rằng phải giữ luật pháp của Cựu ước thì sẽ là chính thống thì hội thánh mới có sự cứu rỗi… Đây là những quan điểm hoàn toàn sai lệch.

- Về cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức HTĐCTM tại Việt Nam gồm hai cấp, cấp hội thánh và cấp điểm nhóm. Nhìn chung, tại Việt Nam, tổ chức HTĐCTM không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; không phân cấp quản lý, không có lãnh đạo chung mà tổ chức theo từng nhóm Sion (địa điểm sinh hoạt của tín đồ); hiện có trên 200 điểm nhóm, trong đó hầu hết các điểm nhóm đều không được cấp phép hoạt động.

- Về hình thức sinh hoạt của tổ chức HTĐCTM

Những ai tin theo tổ chức HTĐCTM phải làm rất nhiều lễ. Để trở thành “con cái” của Đức Chúa Trời cần phải làm lễ vượt qua với luận điệu: “Nếu trở thành con của Đức Chúa Trời sẽ được thiên sứ bảo vệ; mọi biến cố trên trái đất như động đất, sập nhà, hỏa hoạn, tai nạn giao thông… sẽ không bị xâm hại dù chỉ một sợi tóc”.

Số người tin theo sẽ phải làm đủ các loại lễ: Lễ chuộc tội (ba lần trong một ngày để Đức Chúa Trời tha tội và ban phước lành; ai dâng càng nhiều tiền thì sẽ được ban càng nhiều phước); lễ cảm tạ (ngày ba lần gồm tiền lễ cảm tạ cha mẹ trời, Sion và cảm tạ mẹ trời, Tổng hội ở Hàn Quốc); lễ phụng sự (ba lần trong ngày với phong bì trắng đựng tiền nhằm phụng sự Đức chúa Jesu đã hy sinh bản thân mình, đóng đinh trên cây thập tự giá).

Ngoài ra, thứ ba và thứ bảy hằng tuần phải đến Sion làm lễ Sabat “gác hết mọi việc xã hội (họp hành), gác hết mọi việc nhà, kể cả bố mẹ chết đang nằm đó”; Đức Chúa Trời đã ban luật tuần làm việc 6 ngày, ngày thứ 7 phải nghỉ ngơi đến Sion nhận phước của Đức Chúa Trời, ai không đến Sion là phạm luật, mất phước, ngày tận thế không được về nước thiên đàng. Tất cả mọi người tin theo phải thật vui vẻ dâng nhiều lễ để Đức Chúa Trời tha nhiều tội, ban nhiều phước và ngược lại. Cách thức hành lễ thường vay mượn các tôn giáo chính thống, tín ngưỡng dân gian như: vái lạy, cầu xin, sám hối, ban ơn, bố thí.

- Về hoạt động tuyên truyền, lôi kéo người tham gia tổ chức

Cách thức truyền giáo của HTĐCTM gần giống với mô hình bán hàng đa cấp, do Tổng hội ở Hàn Quốc điều hành. Từ năm 2016 đến nay, số đối tượng cầm đầu của HTĐCTM đã đẩy mạnh việc phát triển tổ chức, phân công người đi các địa phương tuyên truyền, lôi kéo người tham gia dưới nhiều hình thức, vỏ bọc khác nhau như dưới danh nghĩa công ty tư vấn, giới thiệu việc làm, trung tâm bảo tồn cây thuốc Việt Nam, văn phòng kinh doanh, giới thiệu các sản phẩm; mở cửa hàng kinh doanh, buôn bán; thông qua hoạt động từ thiện xã hội.

Đáng chú ý, tổ chức này đã lôi kéo chủ yếu thanh niên, sinh viên các trường đại học, cao đẳng. Các đối tượng cầm đầu tổ chức lợi dụng sự thiếu hiểu biết về tôn giáo của các tín đồ, dùng các luận điệu như ngày tận thế, chia sẻ tình yêu thương, làm giàu, tác động số tín đồ này đi theo tổ chức. Các tín đồ theo tổ chức phải nộp tiền dâng hiến, được cho uống nước thánh, bánh thánh (không rõ nguồn gốc), được chỉ bảo không nghe theo lời khuyên của gia đình, xã hội, không thờ, ăn các đồ cúng tổ tiên, sẵn sàng từ bỏ gia đình, bỏ học để tham dự các buổi nhóm họp truyền đạo trái phép vào các ngày thứ ba và thứ bảy hằng tuần. Nhiều đối tượng trong tổ chức đã lợi dụng danh nghĩa mở các văn phòng đại diện, thành lập công ty, buôn bán hàng đa cấp, trung tâm trá hình với mục đích tuyên truyền đạo trái phép và phát triển tổ chức, gây nhiều phức tạp về trật tự, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoạt động tôn giáo. Sau khi lôi kéo được hội viên tham gia, các đối tượng sẽ tổ chức cho hội viên sinh hoạt trực tiếp tại các điểm nhóm (Sion) hoặc qua hệ thống Zoom.

- Về phương thức hoạt động của HTĐCTM: Tổ chức này hoạt động tương tự như mô hình đa cấp, được chia thành nhiều nhóm nhỏ, các điểm nhóm sinh hoạt riêng rẽ. Các đối tượng ban đầu chỉ là lân la làm quen, khéo léo tiếp cận tìm hiểu gia cảnh của từng người rồi động viên chia sẻ, hướng dẫn những điều cần thiết trong cuộc sống, sau đó sẽ tìm cách thao túng tâm lý, ép người tham gia bằng sự sợ hãi bởi những lời rao giảng lệch chuẩn, gieo vào tín đồ niềm tin ngày tận thế, về sự phán xét của Đức Chúa Trời nếu không nghe, tin theo; về những rủi ro, những điều siêu nhiên, sứ mệnh cao cả của hội viên để cứu rỗi linh hồn, về cuộc sống an nhàn, hạnh phúc khi theo HTĐCTM…

Cảnh giác với hoạt động Hội thánh Đức Chúa trời mẹ

Đối chiếu quy định hiện hành về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cho thấy, tổ chức HTĐCTM không có giáo lý, giáo luật, cơ cấu tổ chức riêng, có mục đích hoạt động chính là vụ lợi, trái pháp luật nên không đủ điều kiện để được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo.

Hoạt động của HTĐCTM tại một số địa phương thời gian vừa qua như Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Quảng Nam và một số tỉnh miền núi phía Bắc trước đây cho thấy tổ chức này đã vi phạm nghiêm trọng các điều cấm quy định tại Ðiều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 với các nội dung như: ép buộc, mua chuộc người khác; xâm phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi…

Những gì HTĐCTM tuyên truyền là hoàn toàn trái ngược với thuần phong mỹ tục cũng như những giá trị chuẩn mực về đạo đức, văn hóa của người Việt; không được pháp luật Việt Nam cho phép; hoạt động với các biến thể dị thường núp dưới nhiều danh nghĩa (nhất là danh nghĩa từ thiện, mở các lớp hướng thiện); những kẻ cầm đầu hầu hết là những người không bình thường, có quá khứ bất hảo (cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút…); mục đích chính là vụ lợi.

Hoạt động của HTĐCTM hiện có nhiều vi phạm như: sinh hoạt tôn giáo tập trung khi chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận và cho phép; truyền đạo không đúng đối tượng (tập trung vào học sinh, sinh viên); tài liệu tuyên truyền là những văn hóa phẩm không rõ nguồn gốc; ảnh hưởng đến truyền thống, phong tục tập quán, đạo đức gia đình, xã hội (như xúi giục, kích động nguời theo ứng xử không hiếu thảo với cha mẹ, đập phá bàn thờ tổ tiên, tuyên truyền người thân trong gia đình là ma quỷ)...

Thậm chí, hoạt động của HTĐCTM trong thời gian vừa qua tại một số địa phương đã gây chia rẽ, kích động gây mâu thuẫn giữa những người theo và không theo tín ngưỡng, tôn giáo và có dấu hiệu trục lợi cá nhân, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân ở một số địa bàn, đặc biệt là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn.

Vậy nên, việc nhận thức rõ bản chất để kịp thời cảnh giác, ngăn chặn, xử lý hoạt động phi pháp, nguy hiểm của những đối tượng tự xưng là người của HTĐCTM là điều cần thiết, đem lại sự bình yên cho xã hội.

Ngăn bưng bít, độc quyền thông tin

Để che giấu những việc làm khuất tất, trục lợi, không ít cán bộ, đảng viên có chức quyền trong hệ thống chính trị đã bưng bít, độc quyền thông tin. Đây là hiện tượng không mới nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính dân chủ, minh bạch và sự giám sát, phản biện xã hội.

Thông tin (gồm thông tin từ thực tế xã hội, từ nội bộ, từ sự chỉ đạo của cấp trên...) là công cụ quan trọng để cán bộ, đảng viên thực thi công vụ trên từng cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Thông tin chính xác giúp cán bộ, đảng viên đưa ra quyết định đúng, mang lại lợi ích cho xã hội, giúp nhân dân giám sát quá trình thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên chặt chẽ, hiệu quả. Bưng bít thông tin, đưa ra thông tin sai, thiếu có nguy cơ dẫn đến thực thi nhiệm vụ sai lệch, hiệu quả công việc yếu kém. Vì vậy, ở bất kỳ xã hội nào, bất kỳ tổ chức nào cũng cần thông tin chính xác.

Ở đây, vấn đề đặt ra là, muốn có thông tin chính xác thì cần có những người thu thập trung thực, tận tụy, làm việc có tâm và quan trọng hơn nữa là cần những người cung cấp thông tin cho xã hội đầy đủ, kịp thời, chính xác. Hiện nay, trong xã hội, hiện tượng độc quyền, bưng bít thông tin, báo cáo sai, thiếu nhằm trục lợi diễn ra không ít.

Gần đây nhất, sau khi mở rộng điều tra các vụ án “Môi giới hối lộ”, “Đưa hối lộ”, “Nhận hối lộ” và “Giả mạo trong công tác” xảy ra tại Cục Đăng kiểm Việt Nam (Bộ Giao thông - Vận tải) và các trung tâm đăng kiểm nhiều tỉnh, thành phố, lực lượng chức năng đã ra quyết định khởi tố 3 bị can công tác ở Phòng Kiểm định xe cơ giới (Cục Đăng kiểm Việt Nam), gồm: Trần Anh Quân, Quyền Trưởng phòng; Đặng Trần Khanh, Phó Trưởng phòng; Phạm Đức Ngọc, chuyên viên. Tiếp đó, Cục trưởng Cục Đăng kiểm Việt Nam Đặng Việt Hà cũng đã bị khởi tố về tội “Nhận hối lộ”. Đáng chú ý khi kiểm tra nơi làm việc của các bị can này, camera theo dõi, giám sát hoạt động đăng kiểm ở Phòng Kiểm định xe cơ giới không được sử dụng. Điều này chứng tỏ việc nắm bắt thông tin từ cơ sở đã không được thực hiện trong thời gian dài.

Sự việc thứ hai diễn ra tại tỉnh Bình Thuận là điển hình của hiện tượng độc quyền thông tin. Theo đó, có 12 bị can là cựu lãnh đạo, cán bộ UBND tỉnh Bình Thuận đã bị đề nghị truy tố tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí”. Theo kết luận điều tra, các bị can này đã lấy thông tin giá đất thời điểm năm 2013 (1,2 triệu đồng/m2) để chuyển nhượng 3 lô đất cho công ty tư nhân không qua đấu giá vào năm 2017. Sau khi trưng cầu định giá tài sản, ngày 28-6-2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp Bộ đã có kết luận giá trị quyền sử dụng 3 lô đất đó ở thời điểm ngày 7-3-2017 là 156,4 tỷ đồng. Như vậy, các bị can đã làm thất thoát của Nhà nước 45,4 tỷ đồng bằng thủ đoạn độc quyền thông tin.


Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã chỉ rõ nguyên nhân tồn tại yếu kém: “Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả”. Phân tích yếu kém này, các chuyên gia cho rằng, có nhiều nguyên nhân, trong đó có việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân  không nắm được thông tin để thực thi chức trách và quyền hạn giám sát theo quy định của pháp luật.

Để ngăn chặn hiện tượng độc quyền, bưng bít thông tin nhằm lạm quyền, chuyên quyền và hướng tới mục tiêu cao hơn là ngăn chặn kịp thời “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, ở tầm vĩ mô, cần quan tâm xây dựng, vận hành cơ chế cung cấp thông tin minh bạch, khách quan. Xét đến cùng, nếu chủ thể là các thành viên cơ quan công quyền không cung cấp thông tin công khai, minh bạch, chính xác, đầy đủ và cụ thể thì các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân không thể thực hiện được quyền dân chủ, để giám sát hiệu quả hành động thực thi công vụ của cán bộ và các cơ quan công quyền. Đây chính là nguyên nhân để những sai phạm, vi phạm pháp luật, làm giàu bất chính từ cơ chế, chính sách của cán bộ có chức quyền được giấu kín. Đó cũng là căn nguyên thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra ngấm ngầm, nhanh hơn.

Các cơ quan, đơn vị, địa phương cũng cần thanh lọc những cán bộ, đảng viên có những biểu hiện che giấu, chiếm đoạt thông tin để mưu cầu động cơ, mục đích cá nhân hoặc cho một nhóm người. Cần phải đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và kiểm toán để “chỉ mặt”, “đặt tên” những sai phạm của cá nhân và tập thể, công bố rộng rãi, qua đó để nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội giám sát hiệu quả.

Minh bạch thông tin, chống độc quyền thông tin là một giải pháp để hướng tới thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mà Đảng ta đã xác định; là một trong những biểu hiện cao của dân chủ xã hội chủ nghĩa để hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Tuy nhiên, minh bạch thông tin phải dựa trên cơ sở cân nhắc phù hợp và đúng pháp luật. Những thông tin liên quan đến bí mật quốc gia phải được bảo mật theo quy định. Cũng cần phải đấu tranh loại bỏ tư duy vin vào “bí mật quốc gia” để độc quyền thông tin như một số cán bộ, đảng viên, cơ quan, đơn vị, địa phương đang áp dụng. Đó cũng là cách để đưa đất nước tiến lên, gián tiếp đấu tranh có hiệu quả với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Trách nhiệm nêu gương và lá phiếu tín nhiệm

1. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, nghị quyết, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tiêu biểu như Quy định số 55-QĐ/TƯ ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”, Quy định số 08-QĐi/TƯ ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”…

Có thể khẳng định, những quy định trên ngày càng được hoàn thiện và góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Nhiều cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức, cơ quan, đơn vị đã trở thành tấm gương mẫu mực không chỉ về đạo đức, lối sống mà còn trong công tác, có trách nhiệm với công việc, hết lòng phụng sự Tổ quốc, Đảng, nhân dân và được nhân dân quý trọng.

Ấy vậy nhưng ở đâu đó, không ít người đứng đầu, trong đó có cán bộ cấp chiến lược còn có biểu hiện thiếu gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống cũng như trong công việc, “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, “nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác”, làm ảnh hưởng đến uy tín của người đứng đầu đối với cấp dưới và nhân dân. Một bộ phận đảng viên khác thì chưa tuân thủ các nguyên tắc của Đảng; còn cá nhân chủ nghĩa, hay bè phái, cục bộ, gây mất đoàn kết nội bộ. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu không gương mẫu trong nhận trách nhiệm và ý thức “tự chịu trách nhiệm”, chưa có “văn hóa từ chức” khi để xảy ra những sai phạm lớn. Còn có tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, đổ lỗi cho cấp dưới, cơ chế, hoàn cảnh. Trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu còn chưa được xác định rõ… Trong nhiều cơ quan, đơn vị, việc thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên nói chung, người đứng đầu nói riêng chưa trở thành nền nếp, hiệu quả chưa cao.

Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đến giữa tháng 11-2022, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 67 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Trong đó có 7 Ủy viên Trung ương Đảng, 6 nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (Gồm: 5 bộ trưởng, nguyên bộ trưởng; 7 bí thư, nguyên bí thư tỉnh ủy; 2 chủ tịch, nguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam; 18 thứ trưởng, nguyên thứ trưởng và tương đương; 13 chủ tịch, nguyên chủ tịch UBND tỉnh; 4 nguyên phó bí thư thường trực tỉnh ủy; 20 sĩ quan cấp tướng)… Đây chính là những “gương mờ”, dẫn đến đòi hỏi việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là với những người giữ trọng trách quản lý cần phải làm tốt hơn.

Những hạn chế trong thực hiện trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu đã và đang bị các thế lực thù địch triệt để lợi dụng hòng bôi nhọ, xuyên tạc, hạ thấp uy tín, chia rẽ, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng và chế độ ta.

2. Với yêu cầu đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên thì cán bộ lãnh đạo, quản lý càng ở cấp cao càng phải gương mẫu, giữ mình. Để làm được việc đó, đặc biệt ý nghĩa khi Bộ Chính trị ban hành Quy định số 96-QĐ/TƯ ngày 2-2-2023 “Về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị”, qua đó góp phần đánh giá uy tín và kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của cán bộ; giúp cán bộ “tự soi”, “tự sửa”, tiếp tục phấn đấu, rèn luyện trong công tác; là cơ sở quan trọng để cấp ủy, tổ chức Đảng đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ; nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý, giám sát cán bộ…

Quy định số 96-QĐ/TƯ nêu ra 2 tiêu chí lấy phiếu tín nhiệm đối với những chức danh cần lấy phiếu tín nhiệm đó là: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật; kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao (tính từ đầu nhiệm kỳ đến thời điểm lấy phiếu)… Trong đó có tiêu chí thành phần rất đáng chú ý là “sự gương mẫu của bản thân và vợ, chồng, con trong việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước”.

Để khắc phục tình trạng thiếu gương mẫu, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan, tổ chức cần xem việc nêu gương và thực hiện trách nhiệm nêu gương là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục. Bên cạnh đó, phải thực hiện đồng thời việc phát huy tính tự giác nêu gương với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, tiêu cực, thiếu gương mẫu. Đồng thời, tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy theo hướng xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân, nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền đối với cơ quan, tổ chức, tránh tình trạng đổ lỗi, trốn tránh trách nhiệm.

Song song với việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những vi phạm đối với người đứng đầu, thì việc lan tỏa rộng rãi những “tấm gương sáng”, hình ảnh đẹp trong lối sống, phong cách làm việc và những cống hiến cho quê hương, đất nước, cho sự nghiệp cách mạng của không ít người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, lãnh đạo Đảng và Nhà nước tới toàn thể nhân dân trên truyền thông, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu” là một việc làm quan trọng…

Đưa nội dung thực hiện trách nhiệm nêu gương là tiêu chí lấy phiếu tín nhiệm cũng chính là một trong những biện pháp góp phần phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực “từ sớm, từ xa”, tạo nền móng xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Ngăn ‘’xin - cho’’ trong công tác cán bộ

Công tác cán bộ là một trong những vấn đề then chốt nhất trong những vấn đề then chốt của Đảng. Thời gian qua, việc sử dụng cán bộ có lúc, có nơi nặng về hình thức, thiếu thực chất và thậm chí là có hiện tượng “xin - cho” đã gây ra rất nhiều hệ lụy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng.

Cán bộ làm công tác lãnh đạo, quản lý ở nước ta được phát triển theo nguyên tắc hình nón. Thông thường, để có được những cán bộ hội tụ đủ đức, đủ tài, làm lãnh đạo, quản lý thì các cấp ủy, chi bộ tiến hành xây dựng quy hoạch, xác định nguồn kế cận. Đến thời điểm phù hợp, cấp ủy sẽ lựa chọn bố trí, luân chuyển cán bộ làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý theo quy trình Đảng đã hướng dẫn. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, bên cạnh cấp ủy cơ quan, đơn vị, địa phương làm tốt, minh bạch, công tâm thì còn có những nơi lựa chọn, luân chuyển cán bộ theo cảm tính hoặc dựa vào các mối quan hệ, người thân, người quen và người nhà.

Biểu hiện “xin - cho” dễ thấy là nhiều cán bộ còn ít tuổi, chưa có kinh nghiệm, chưa rõ năng lực và hiệu quả công tác đã được xếp vào nguồn đưa đi bồi dưỡng các bằng cấp, chứng chỉ... để sẵn sàng thế chân vào các vị trí “nói có người nghe, đe có người sợ”. Biểu hiện rõ nét dễ nhận thấy nhất là nếu là con, là cháu của lãnh đạo to đương chức thì sẽ được cất nhắc rất nhanh. Kết quả là không ít địa phương, đơn vị có những “cán bộ nhúng”, “cán bộ lướt”, “cán bộ thăng tiến thần tốc”, “chín ép”...

Gần đây có trường hợp một cán bộ lãnh đạo ở một tỉnh miền Trung bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra những sai phạm liên quan vụ “chuyến bay giải cứu”. Vị này sinh năm 1979, năm 2004 mới chỉ là chuyên viên, nhưng từ năm 2018 đã giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh, cho thấy đã có những thăng tiến “thần tốc” mà hiếm người bình thường nào có được. Nếu trừ thời gian đi học tiến sĩ luật và các chứng chỉ khác thì thời gian công tác, cống hiến của vị này chưa được là bao… 

Để có một chức danh, được thăng tiến thần tốc, nhiều cán bộ có các cách làm khác nhau. Họ không chỉ thể hiện sự “cung cúc tận tụy” mà còn tận tâm cung phụng chiều chuộng, vuốt ve, dùng tiền tài vật chất mua chuộc những “chiếc ô”, để mong được “đưa đường chỉ lối”, được nâng đỡ. Khi đã “tâm đầu ý hợp”, những người có quyền trong công tác cán bộ sẽ tương kế tựu kế để đưa ra những giải pháp thuận lợi, nâng đỡ. Dễ nhìn thấy nhất là cho họ các điều kiện nào đó rồi tung hô, khen ngợi, định hướng tập thể đồng lòng với nhận định chủ quan hoặc dìm những người có xu hướng vươn lên bằng cách khoét sâu vào các điểm yếu. Cao kiến hơn đó là dùng giải pháp “tập sự” để tạo ra những “con đường quang”, không có cạnh tranh. Khi đã được ở vào các vị trí công tác quyền uy, thay vì cống hiến, thay vì đưa ra quyết định lợi cho cộng đồng thì những cán bộ “chín ép” được thăng tiến thần tốc tìm cơ hội trục lợi, cốt để vơ vét.

Hậu quả đáng lo ngại do hiện tượng này gây ra là hình thành lên sự cạnh tranh không lành mạnh trong chính cơ quan, tổ chức. Nhiều cán bộ cũng a dua “quan hệ” để được nâng đỡ dưới cái mác tài năng, là cán bộ nguồn… Một số cán bộ, công chức thì chọn giải pháp đấu tranh, phát biểu thổ lộ tâm tư, tình cảm thì bị trù dập dưới các chiêu trò tinh vi. Nhiều cán bộ nhìn thấy sự tình, thấu tỏ nguồn cơn đã giảm niềm tin, nhiệt huyết phấn đấu và an phận thủ thường.

Thực chất những biểu hiện trên đều xuất phát từ nguyên nhân thao túng, lộng quyền, lạm quyền trong công tác cán bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ ra.

Để ngăn vấn nạn “xin - cho” trong công tác cán bộ thì mấu chốt của vấn đề là phải công tâm, khách quan trong đánh giá cán bộ. Chỉ có đánh giá đúng cán bộ mới sử dụng cán bộ hiệu quả, chính xác. Cần lấy hiệu quả công việc là thước đo để đánh giá cán bộ và thử thách cán bộ ở những việc mới, việc khó. Bởi, ở trong môi trường ngặt nghèo, nhiều áp lực mới thì cán bộ mới tỏ rõ ý chí, lập trường, bản lĩnh và năng lực. Cần dựa vào quần chúng, dựa vào tập thể, lắng nghe dư luận để có đánh giá cán bộ chính xác. Kiên quyết đấu tranh với hiện tượng cấp trên gợi ý, định hướng trong lựa chọn cán bộ nhằm có tỷ lệ phiếu bầu cao để rồi sau đó đi giải thích, sửa sai khi cán bộ được cất nhắc sa vào tham nhũng, tiêu cực.

Ngoài ra, các cấp ủy cần có quy chế lãnh đạo công tác cán bộ rõ ràng, minh bạch, khách quan, ngăn chặn hiện tượng lạm quyền, lộng quyền, thao túng cán bộ, mang lại cơ hội cho tất cả công chức, cán bộ các cấp cơ hội phấn đấu ngang bằng. Mặt khác, đảng ủy cấp trên cần đẩy mạnh việc giám sát, kiểm tra về công tác cán bộ, chỉ ra được những hạn chế, bất cập, nhất là ngăn chặn các hiện tượng ưu ái, cất nhắc cán bộ không trong sáng.

Để chấm dứt tình trạng “xin - cho” trong công tác cán bộ ở không ít đơn vị, địa phương bị chi phối bởi nhận xét cảm tính của người có quyền, cơ quan chức năng cần nghiên cứu các giải pháp đơn giản, hiệu quả để bịt lỗ hổng này. Nếu còn để cảm tính chi phối công tác then chốt này thì rõ ràng là “xin - cho” trong công tác cán bộ sẽ còn gây ra hệ lụy.

Cần đào thải cán bộ sợ sai, chờ thời

Song hành với kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, gần đây trong bộ máy công quyền xuất hiện tình trạng cán bộ trì trệ, né trách nhiệm, không dám làm, sợ làm sai, sợ vi phạm pháp luật. Việc này ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội, khiến uy tín của cơ quan công quyền bị giảm sút.

Nói đến cán bộ, đảng viên là nói đến tính tiên phong, gương mẫu, có trách nhiệm với dân, với nước và mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Điều đó thể hiện rõ nét trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, chiến lược, sách lược và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị, địa phương.

Thời kỳ đổi mới, nhiều cán bộ, đảng viên thấu triệt tinh thần “đảng viên đi trước làng nước theo sau”, nêu cao quyết tâm, vững niềm tin, không ngừng sáng tạo và đem hết trách nhiệm cống hiến. Cán bộ nhiều cơ quan nghiên cứu đã giữ mối liên hệ chặt chẽ với địa phương, với nhân dân, cho ra đời những công trình, sáng kiến khoa học, không ngừng làm giàu cho xã hội.

Tuy nhiên, cũng có không ít cán bộ, đảng viên lợi dụng vị trí công tác, kết bè kéo cánh, tạo ra những mối liên kết ma quỷ cốt để rửa tiền rồi chiếm đoạt, làm giàu bất chính. Các vụ án bị đưa ra xét xử gần đây đã cho thấy: quyền, tiền có sức hút ghê gớm, xô đổ nhân cách cán bộ và tư cách đảng viên. Khi cơ quan chức năng lật lại hồ sơ các dự án, những “cái kim trong bọc” bị lòi ra. Cũng từ đây, trong không ít cán bộ xuất hiện tư tưởng ngại làm, sợ sai. Có cán bộ đã công khai phát biểu đại ý rằng, thà không làm và bị kiểm điểm trách nhiệm còn hơn làm để rồi bị chịu kỷ luật.

Tình trạng giải ngân vốn đầu tư công chậm chạp là một ví dụ điển hình. Năm 2022, Chính phủ đốc thúc quyết liệt, quy định thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công dưới 30% bị xét không hoàn thành tốt nhiệm vụ hoặc giải ngân từ 30% đến 50% thì thủ trưởng đơn vị cũng không được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ... nhưng kết quả vẫn không như kỳ vọng. Nguyên nhân chủ yếu là do cán bộ sợ sai vì quá trình giải ngân dễ vướng vào vi phạm pháp luật. Cũng có thông tin cho rằng, do thanh tra, kiểm tra chặt chẽ nên không việc gì phải “lao tâm khổ tứ”. Biểu hiện rõ nhất trong vấn đề né trách nhiệm, chính là hiện tượng cán bộ xin chuyển công tác với những nguyên nhân khác nhau.

Một vấn đề khác cần bàn là tinh giản biên chế. Tiến độ này vẫn chậm và chưa đạt mục tiêu. Theo Bộ Nội vụ, kết quả tinh giản biên chế của các bộ, ngành, địa phương là 79.024 người. Đa phần trong số này là những người đến tuổi về hưu, thôi việc, nghỉ việc mà không phải là những cán bộ, công chức bị xếp loại yếu kém về chuyên môn để loại ra.

Trước vấn đề này, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, quy định để chỉ đạo chấn chỉnh. Kết luận số 21-KL/TƯ, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đặt ra mục tiêu kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ thực chất và hiệu quả. Một mặt, Kết luận số 21-KL/TƯ chỉ rõ, phải tăng cường bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám sáng tạo. Kết luận yêu cầu tổ chức Đảng phải kịp thời miễn nhiệm, cho từ chức, thay thế cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp, mắc sai phạm mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm.

Để thực hiện những nội dung trên, chấm dứt tình trạng cán bộ né trách nhiệm, sợ sai, chờ thời thì vấn đề quan trọng mang tầm chiến lược là phải xây dựng được môi trường công tác hiện đại, minh bạch, không tiêu cực ở lĩnh vực công. Ở tầm vĩ mô, cần kiểm soát chặt chẽ tài sản, thu nhập của cán bộ thông qua biện pháp hạn chế dùng tiền mặt để làm rõ những nguồn tiền, tài sản bất minh thông qua giải trình. Nhà nước cần cải cách chế độ tiền lương cán bộ theo vị trí việc làm, chức danh, qua đó khuyến khích cán bộ sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Các cơ quan, đơn vị, địa phương cần chấm dứt tình trạng lơi lỏng về quản lý và kiểm soát, đánh giá cán bộ; mở rộng dân chủ, tăng cường vai trò giải trình của người đứng đầu với công luận.

Xét cho cùng, để có chất lượng công việc tốt thì phải có cán bộ tốt, tâm huyết, trách nhiệm với công việc. Những giải pháp của Đảng như đã nêu có vai trò định hướng, thúc đẩy hoặc ngăn ngừa cán bộ sai phạm chứ không thể thay thế được sự tự giác, tự thân cống hiến của cán bộ. Hiện nay, vấn đề cần nhất ở mỗi cán bộ là phải có đủ tâm huyết, dũng khí thì mới làm được việc khó, hoàn thành vai trò gương mẫu. Đây là nền tảng để mỗi cán bộ tự giác rời bỏ chủ nghĩa cá nhân và tư tưởng chạy theo lợi ích; liên tục rèn luyện để có đủ bản lĩnh vượt qua cám dỗ từ “đạn bọc đường”, “bôi trơn”, “lót tay” và “hoa hồng”.  

Năm 2023, Quốc hội đã thông qua kế hoạch đầu tư công năm với tổng số vốn trên 700 nghìn tỷ đồng. Đây là tổng mức đầu tư rất lớn, tăng khoảng 140 nghìn tỷ đồng (tăng khoảng 25%) so với kế hoạch năm 2022 và tăng khoảng 260 nghìn tỷ đồng so với kế hoạch năm 2021. Nhưng với sự cam kết của Chính phủ: “Ai sai thì xử lý, ai làm tốt phải bảo vệ, ủng hộ; xử lý người làm sai để bảo vệ người làm đúng” và “Chính phủ, các bộ, ngành cùng làm, cùng chung tay tháo gỡ những vướng mắc” cho thấy Chính phủ đã rất nỗ lực cho nhiệm vụ này. Đây chính là điểm tựa để các bộ, ban, ngành, địa phương tăng thêm động lực, quyết tâm thực hiện trong năm nay và các năm sau, để giải ngân vốn đầu tư công không còn là “nỗi trăn trở” mỗi khi nhắc đến.

Mưu đồ phía sau chiêu bài an sinh xã hội

Một trong những trọng tâm chống phá của các thế lực thù địch đối với Đảng và Nhà nước ta, đó là lấy “những góc khuất” trong thực hiện chủ trương an sinh xã hội làm chiêu bài kích động, gieo tư tưởng xấu độc, chia rẽ niềm tin. Hiểu thấu âm mưu, thủ đoạn của chúng, có nhận thức đúng đắn về hiệu quả thực hiện chủ trương này đang là vấn đề được dư luận quan tâm.

Điều 34, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”. Thấu triệt mục đích, ý nghĩa của an sinh xã hội, ngày 10-6-2012, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TƯ một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 (Nghị quyết 15).

Mới đây, sau cuộc họp của Bộ Chính trị cho ý kiến về Đề án tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 15, các trang web tiếng Việt ở nước ngoài đã “chĩa mũi dùi”, phủ nhận thành quả bảo đảm an sinh xã hội ở Việt Nam. Trên VOA, người có tên Trân Văn viết bài “Chỉ mới có tượng đài, cổng chào,... là hiện đại, bao trùm, bền vững”. Bài viết phủ nhận kết quả 10 năm trong lĩnh vực này của Việt Nam và đưa ra một vài kết quả xây dựng công trình văn hóa công cộng ở nước ngoài để đối sánh. Người viết cho rằng, an sinh xã hội chỉ là một con bài ru ngủ nhân dân để các quan chức của Đảng rảnh tay, dễ dàng vơ vét.

Cũng tại thời điểm này, khi mà cơ quan điều tra của Bộ Công an công bố kết quả điều tra liên quan đến các “chuyến bay giải cứu” dịch Covid-19 và đề nghị truy tố 54 bị can có hành vi “lợi dụng chức vụ quyền hạn thực thi công vụ”, “hối lộ”, “đưa hối lộ”, “môi giới hối lộ” và “lừa đảo”… thì trang web baotiengdan.com đăng nhiều bài phân tích, bình luận với luận điệu xấu. Dù lập luận rời rạc, thiếu chứng cứ khoa học, trang web này vẫn đi đến khẳng định, cứ “thi hành công vụ” là viên chức thuộc đủ mọi cấp của tất cả các ngành thản nhiên “chặt đầu, lột da” đối tượng được họ... “phục vụ”.

Đặc biệt, khi lực lượng chức năng xử lý các trường hợp lấn chiếm vỉa hè làm nơi kinh doanh, buôn bán…, chúng đồng thanh vu cáo Việt Nam chặn đường sinh sống của dân. Hay như sau khi có hiện tượng thiếu sinh phẩm y tế và việc một số cán bộ ngành Y tế bị bắt, chúng nhanh chóng loan báo Việt Nam thất bại trong chăm sóc y tế nhân dân.

Nếu theo dõi sát hoạt động của các thế lực thù địch thì thấy, chúng thường áp dụng phương pháp phân tích thông tin, sự việc đơn lẻ rồi quy chụp, đưa ra đánh giá, kết luận, khẳng định Việt Nam đang bị “lỗi hệ thống”. Trong việc đề cập vấn đề bảo đảm an sinh xã hội ở Việt Nam, chúng cũng dùng thủ đoạn này. Đây được xem là “món ăn” ưa thích của những kẻ bất đồng chính kiến. Trước thủ đoạn này, chúng ta phải làm gì?

Trước hết, để thấu triệt quan điểm của Đảng trong bảo đảm an sinh xã hội thì chúng ta cần hiểu rõ khái niệm. Theo các chuyên gia, an sinh xã hội là hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước và các lực lượng xã hội thực hiện, nhằm bảo đảm cho mọi công dân có được mức tối thiểu về thu nhập, có cơ hội tiếp cận ở mức tối thiểu về các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin… đặc biệt là các đối tượng như trẻ em, người già, người bệnh, người yếu thế và người thất nghiệp.

Thực hiện Nghị quyết 15, Chính phủ đã triển khai nhiều nội dung, chương trình. Trong tổng số 26 chỉ tiêu có 5 chỉ tiêu vượt và hoàn thành trước thời hạn, gồm: Nhà ở cho người có công; trợ giúp xã hội; trợ giúp xã hội cho người cao tuổi; tỷ lệ đi học đúng tuổi; bảo hiểm y tế; tiêm chủng mở rộng. Có 16 chỉ tiêu đạt mục tiêu vào năm 2020, gồm: Mức sống gia đình người có công; mức trợ cấp người có công; thất nghiệp chung; thất nghiệp thành thị; giảm nghèo chung; giảm nghèo tại các huyện, xã có tỷ lệ nghèo cao; thu nhập bình quân đầu người hộ nghèo; trợ giúp xã hội đột xuất; trẻ em đi học trung học cơ sở đúng tuổi; người biết chữ từ 15 tuổi; lao động qua đào tạo; tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi; phòng chống lao; phủ sóng phát thanh truyền hình; đài truyền thanh xã ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.  

Đặc biệt, Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2020 có sự cải thiện trong bảng xếp hạng của Liên hợp quốc, từ vị trí 128/187 năm 2011 lên vị trí 117 năm 2020. Báo VietnamPlus đã dẫn lời đánh giá của bà Gulmira Asanbaeva, Quyền đại diện Tổ chức Lao động quốc tế tại Việt Nam khẳng định, việc ban hành và triển khai Nghị quyết 15 đã đánh dấu một bước đột phá lớn, tạo tiền đề cho Việt Nam tiếp cận gần hơn với các tiêu chuẩn quốc tế và các thông lệ tốt nhất về an sinh xã hội.

Những dẫn chứng trên khẳng định, việc các thế lực thù địch, những kẻ bất đồng chính kiến và thiếu thiện chí với Việt Nam, cố tình biến chính sách an sinh xã hội thành công cụ nhằm đạt mưu đồ chống phá là rõ ràng.  

Nhận thức được âm mưu của chúng, mỗi cán bộ, đảng viên và từng công dân trong xã hội cần nêu cao nhận thức, trân quý giá trị hòa bình, độc lập, tự do; tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tự xây dựng cho mình sức đề kháng vững vàng, không mắc mưu kẻ xấu và các thế lực phản động. Các cấp ủy, chính quyền và hệ thống truyền thông cần đẩy mạnh tuyên truyền, cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin bằng nhiều hình thức khác nhau, để mọi công dân được biết và thêm tin tưởng.

V.I.Lênin từng khẳng định: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”. Giá trị tự bảo vệ ấy phải được dựa trên chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền dân chủ, nhằm bảo đảm quyền sống, mức sống, quyền làm chủ của công dân. Điều này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của Đảng ta đang xây dựng. Cần phải xây dựng niềm tin chính trị vững chắc vào mục tiêu của Đảng, vào các chương trình của Nhà nước để có thái độ đúng đắn, không mắc mưu các thế lực thù địch.

Tỉnh táo trước thủ đoạn phá hoại kinh tế

1. Những năm qua, bất chấp khó khăn do dịch Covid-19, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng dương. Ngay trong thời điểm dịch bệnh căng thẳng nhất, nước ta vẫn là một trong những nền kinh tế tăng trưởng tốt nhất châu Á. Trong bối cảnh như vậy, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, các trang tin xấu độc đều tức tối, chĩa mũi dùi nhằm bôi xấu, “dìm” hàng hóa, thương hiệu Việt, hòng phá hoại nền kinh tế nước ta.

Chúng đặc biệt quan tâm đến các mặt hàng, thương hiệu xuất khẩu, những doanh nghiệp lớn, có uy tín, nổi tiếng trong và ngoài nước. Gần đây, một số doanh nghiệp, sau khi đã thành công ở thị trường trong nước, tiếp tục có những dịch vụ, sản phẩm “đem chuông đi đánh xứ người”, tạo được tiếng vang lớn. Khi ấy, hoạt động chống phá của các thế lực phản động, thù địch lại gia tăng. Chúng lùng sục tìm kiếm sơ hở để lấy cớ bôi đen, rồi cắt ghép, tung hỏa mù, chơi trò “thật thật, giả giả” nhằm “dìm” hình ảnh hàng hóa, thương hiệu Việt, biến các sản phẩm của doanh nghiệp như thể giả dối, “treo đầu dê bán thịt chó”. Chúng còn sử dụng “review” (đánh giá, phân tích) của các chuyên gia nước ngoài, bỏ đoạn khen, dùng đoạn chê để bôi xấu hàng Việt.

Tiếc thay, nhiều cư dân mạng lại "nhẹ dạ" tin vào các thông tin này. Có những người còn chụp màn hình, dẫn đường link chia sẻ trên mạng xã hội của mình, đưa vào các hội nhóm... Trong khi đó, doanh nghiệp hay các cơ quan chức năng dù biết đây là thông tin sai sự thật, nhưng cũng không có “ba đầu sáu tay” để giải thích, chứng minh. Ngay cả có làm được điều ấy thì thiệt hại cũng đã xảy ra.

Đáng tiếc, nhiều người không hiểu được rằng, sự “nhẹ dạ cả tin” và hành động quá nhanh khi bấm “like” (thích), “share” (chia sẻ) của mình vô hình trung đã gây thiệt hại nặng nề cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp thiệt hại thì nền kinh tế nước nhà cũng thiệt hại và người dân cũng vậy.

Cho nên, trên môi trường mạng, mỗi người cần phải rất tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin, trong đó có thông tin về hàng hóa Việt Nam, để tránh mắc bẫy của các thế lực thù địch, phản động.

2. Để phân biệt được thông tin thật - giả, cần trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết như so sánh, phân tích thông tin; sử dụng các trang tin đáng tin cậy, các nguồn tin chính thống để kiểm chứng.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sau gần 37 năm đổi mới, đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là công sức, nỗ lực phấn đấu và đóng góp của toàn Đảng, toàn dân, trong đó có cộng đồng các doanh nghiệp, doanh nhân có tâm, có tài, có lòng yêu nước và khát khao định vị thương hiệu quốc gia trên thị trường thế giới.

Bằng chính khát vọng đó, các doanh nghiệp không chỉ chăm lo củng cố sản xuất trong nước, hợp tác với nhà đầu tư quốc tế sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam, mà còn tăng cường xuất khẩu, mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài. Đến nay, cả nước đã có 1.625 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư gần 21,9 tỷ USD, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng; nông, lâm nghiệp, thủy sản; thông tin truyền thông... Những thương hiệu như cà phê Trung Nguyên, Vinamilk, TH True Milk... và nhiều mặt hàng nông sản, giày dép, may mặc, đồ gỗ của Việt Nam đã chinh phục được thị trường thế giới. Chưa kể, nhiều doanh nghiệp Việt Nam khôn khéo đi vào những thị trường ngách đưa được những sản phẩm độc đáo, như lắp kết cấu thép cho sân vận động World Cup ở Qatar 2022... Gần đây, Tập đoàn Vingroup còn đầu tư Dự án nhà máy sản xuất ô tô điện ở Hoa Kỳ với số vốn dự kiến 4 tỷ USD. Hàng ngàn chiếc ô tô điện mang thương hiệu Vinfast sản xuất tại Việt Nam đã được xuất sang thị trường Hoa Kỳ. Những chiếc xe đầu tiên cũng đã được bàn giao cho khách hàng.

Năm 2001, xuất nhập khẩu của Việt Nam chỉ khiêm tốn ở mức hơn 30 tỷ USD. Đến năm 2022, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã chính thức đạt mốc kỷ lục 700 tỷ USD. Từ vị trí thứ 50 trên thế giới về xuất khẩu hàng hóa năm 2006, đến năm 2021, xuất khẩu của Việt Nam đã vươn lên xếp hạng thứ 23 thế giới. Trong khu vực ASEAN, từ vị trí tốp cuối, đến nay, xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã vươn lên đứng thứ hai (sau Singapore).

Trang bị những thông tin này để mỗi người chúng ta thêm tin yêu, thêm tự hào vào nền kinh tế đất nước, cũng như các doanh nghiệp, doanh nhân và hàng hóa Việt Nam. Chỉ có nhận thức đúng mới có hành động đúng. Từ niềm tự hào, chúng ta có trách nhiệm quan tâm, bảo vệ; mà cách bảo vệ tốt nhất chính là không mắc bẫy thông tin xuyên tạc của kẻ xấu.

Đồng thời, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương và mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên cần tham gia tích cực hơn nữa cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Các cấp ủy Đảng cần chú trọng triển khai tổ chức thực hiệu tốt hơn nữa Chỉ thị số 03-CT/TƯ ngày 19-5-2021 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

Bài học kinh nghiệm sâu sắc mà nhiều dân tộc trên thế giới đã cho chúng ta thấy, lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc chính là chìa khóa cho sự phát triển hùng cường. Do đó, trong thời đại hội nhập, toàn cầu hóa ngày nay, phần quan trọng của chiếc chìa khóa ấy là mỗi người dân yêu nước không những phải tỉnh táo, không mắc bẫy, mà còn phải sẵn sàng bảo vệ lợi ích của nền kinh tế, của doanh nghiệp, của hàng hóa Việt; phản bác những thủ đoạn, những màn kịch mà kẻ xấu dựng lên.

Đất nước muốn hùng cường cần có doanh nghiệp mạnh, hàng hóa mạnh. Doanh nghiệp muốn mạnh thì ngoài nỗ lực tự thân không thể thiếu sự ủng hộ của người dân.