Thứ Ba, 11 tháng 7, 2023

HỌC BÁC VỀ TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN “ THƯƠNG YÊU CÁN BỘ”


Thương yêu cán bộ, trước hết phải dạy cán bộ (đào tạo cán bộ). Điều không kém phần quan trọng là dùng cán bộ. Hồ Chí Minh đã lý giải rất biện chứng việc dùng cán bộ. Muốn dùng cán bộ, trước hết người lãnh đạo phải biết tu dưỡng mình, phải hiểu biết cán bộ. Hiểu biết cán bộ là việc khó...
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ vai trò quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ đối với nhiệm vụ của cách mạng. Trên cương vị là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Người luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu “Vấn đề cán bộ”, trong đó, tư tưởng “thương yêu cán bộ” được Người đặc biệt coi trọng. Tư tưởng nhân văn này của Người đến nay vẫn nóng hổi tính thời sự, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn cho Đảng, Nhà nước ta trong giáo dục, đào tạo, cất nhắc, trọng dụng, giữ gìn,… cán bộ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, phê bình là một biện pháp tu dưỡng, rèn luyện và đấu tranh thường xuyên, có hiệu quả của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, “Trong công tác, trong tranh đấu, trong huấn luyện, các đảng viên, các cán bộ, cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí mình”[1]. Người yêu cầu: “các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người, mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa”[2]. Về mục đích của phê bình, Người viết: “cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”; trong phê bình, “phê bình mình cũng như phê bình người, phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm… Phê bình việc làm chứ không phê bình người”. Về cách phê bình, Người chỉ ra phải “luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”, “phê bình không phải để công kích, để nói xấu, để chửi bới”. “Đồng thời chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc”.
Như vậy, quan điểm của Bác, phê bình và tự phê bình gắn liền với sửa chữa là nhằm làm cho cán bộ phấn đấu có nhiều ưu điểm và phát huy ưu điểm; đồng thời làm cho cán bộ tránh được khuyết điểm, nếu có khuyết điểm thì kịp thời sửa chữa; mục đích đều là vì sự tiến bộ của cán bộ. Với cách phê bình để sửa chữa theo Bác thì cán bộ có ưu điểm được động viên, cổ vũ; cán bộ có khuyết điểm cũng không sợ sệt, dám tự phê bình để quyết tâm sửa chữa.
Bác khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”, vì họ là những người đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và tổ chức, chỉ dẫn họ thi hành. Đồng thời, họ lại nắm và báo cáo tình hình dân chúng cho Đảng và Chính phủ biết rõ để đề ra đường lối, chính sách cho đúng. Vì vậy, vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp. Theo Hồ Chí Minh, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”[3]. Người nêu lên và phân tích một cách cụ thể những khuyết điểm của công tác huấn luyện cán bộ lúc đó và chỉ ra phương hướng và nội dung huấn luyện cán bộ về lý luận, chính trị, văn hóa, nghiệp vụ, kinh nghiệm, đạo đức, tác phong, …
Hồ Chí Minh luôn đặt yêu cầu cả đức và tài đối với cán bộ, trong đó, đức là gốc. Người đã chọn lọc những nội dung tốt đẹp của đạo đức truyền thống dân tộc kết hợp với đạo đức mới để xây dựng đạo đức cách mạng nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; “Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng”[4]. Theo Người, cán bộ mà không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được Nhân dân. Người cán bộ không có đạo đức cách mạng sẽ mắc phải chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân sẽ sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm, đó là bệnh tham lam, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ và những bệnh khác…
Thương yêu cán bộ, trước hết phải dạy cán bộ (đào tạo cán bộ). Điều không kém phần quan trọng là dùng cán bộ. Hồ Chí Minh đã lý giải rất biện chứng việc dùng cán bộ. Muốn dùng cán bộ, trước hết người lãnh đạo phải biết tu dưỡng mình, phải hiểu biết cán bộ. Hiểu biết cán bộ là việc khó. Mà cái khó bắt đầu từ những người làm công tác cán bộ, người đứng đầu thường mắc những bệnh như thích nhiều tiền, ưa người ta nịnh mình, do lòng yêu ghét của mình mà đối với người; đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Từ đó dẫn đến khi dùng cán bộ, ham dùng người “lót tay”; ham dùng kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực; ham dùng những người tính tình hợp với mình, tránh những người tính tình không hợp với mình. Như thế, hỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo.
Theo Bác, xem xét cán bộ, không chỉ xem ngoài mặt mà phải xem tính chất của họ. Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ. Về cất nhắc cán bộ, Người chỉ rõ: “cất nhắc cán bộ là một công tác cần kíp”, nhưng “Phải cất nhắc cán bộ một cách cho đúng”, “Phải khéo dùng cán bộ - không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người”, “Phải tùy tài mà dùng người”, “Phải dùng người đúng chỗ, đúng việc”, “Biết rõ ràng cán bộ, mới có thể cất nhắc cán bộ một cách đúng mực”.
Điều quan trọng hơn hết của người cán bộ là cách nhìn nhận và thái độ đối xử của lãnh đạo, của tổ chức trước các ưu điểm, khuyết điểm của họ. Hồ Chí Minh căn dặn những người làm công tác cán bộ và những người lãnh đạo về cách nhìn nhận đối với cán bộ: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu”. Chính vì vậy, Bác căn dặn, Đảng phải hết lòng thương yêu cán bộ, phải thường xuyên chăm lo bồi dưỡng cán bộ. Song, theo Bác: “Thương yêu không phải là vỗ về, nuông chiều, thả mặc”[5]. Bởi, nếu “nuông chiều”, thì cán bộ dễ chủ quan, tự kiêu, tự phụ, dễ hư hỏng về phẩm chất đạo đức. Còn nếu “thả mặc” thì cán bộ dễ tự do vô kỷ luật, tùy tiện, vi phạm nguyên tắc, chế độ; thậm chí dễ “làm liều” gây tổn hại khôn lường cho sự nghiệp cách mạng. Chính vì thế, thương yêu cán bộ là phải quản lý chặt chẽ, duy trì kỷ luật nghiêm minh đối với họ, nhất là đối với cán bộ cao cấp. Thương yêu là giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm; là giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn sinh hoạt, khi đau ốm được chăm nom, gia đình khỏi khốn quẫn; là luôn luôn chú ý đến công tác của họ.
Với cán bộ tốt có thành tích, Người nhắc nhở phải kịp thời khen ngợi động viên. Lúc khen ngợi, phải cho họ hiểu rằng năng lực của mỗi người đều có giới hạn, tuy có thành công cũng chớ kiêu ngạo. Kiêu ngạo là bước đầu của thất bại.
Với cán bộ mắc sai lầm, khuyết điểm, Người dạy phải quan niệm “người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm. Chúng ta không sợ có sai lầm, khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa, và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp đỡ cán bộ sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Không phải cứ ai phạm sai lầm, khuyết điểm dù không phải là lớn mà “đã cảnh cáo”, đã “tạm khai trừ”. Theo Người, sửa chữa sai lầm một phần là trách nhiệm của người phạm sai lầm, một phần cũng là trách nhiệm của người lãnh đạo. Vì vậy, người lãnh đạo phải giúp đỡ người phạm sai lầm một cách chí tình, giúp họ thấy được nguyên nhân và tác hại của nó, để có biện pháp sửa chữa tích cực, có hiệu quả.
Bác dạy: “Sửa chữa sai lầm, cố nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hoá, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt”. “Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”. Điều cần thiết là phải phân tích đánh giá mức độ sai lầm nặng hay nhẹ mà dùng hình thức xử phạt cho đúng, xử phạt nhưng không ghét bỏ, vẫn thương yêu, mở ra con đường sửa chữa để tiến bộ.
Những điều dạy bảo của Người là đầy lòng nhân ái, thấu lý, đạt tình, cao cả và nhân văn. Cán bộ lãnh đạo, cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ được giáo dục quan điểm, tư tưởng, nghiệp vụ công tác, phương pháp làm việc, đặc biệt là tư tưởng nhân văn trong công tác cán bộ. Cán bộ tốt hay cán bộ có sai lầm, khuyết điểm đều nhận được sự rất mực thương yêu của Người.
Tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh về “thương yêu cán bộ” là một trong những di sản quý báu Người để lại cho Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta. Đến nay, tư tưởng đó của Người vẫn có ý nghĩa thời sự sâu sắc. Không hiểu điều này, là phụ lòng thương yêu của Người.
Ngày nay, nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đứng trước nhiều thời cơ, vận hội và những thách thức, nguy cơ lớn. Đảng ta chỉ rõ: “Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt” tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ”[6]. Việc học tập và làm theo tư tưởng nhân văn của Bác về “thương yêu cán bộ” đòi hỏi chúng ta phải học tập quán triệt sâu sắc và vận dụng phù hợp trong công tác cán bộ từ Trung ương đến các cấp, các ngành, các địa phương.
Thời gian qua, Đảng ta đã rất chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức bằng đường lối, chủ trương, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách về cán bộ, công chức; quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, để cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, thực hành tiết kiệm trong các cơ quan nhà nước và trong đội ngũ cán bộ, công chức.
Tuy nhiên, công tác cán bộ của Đảng nhiều mặt còn hạn chế: “Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới của đất nước… tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp… Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm, thiếu cơ chế, chính sách cụ thể…”[7]. Bên cạnh đó là: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá””[8]. Và trên thực tế, có thể thấy rằng, về công tác cán bộ, vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong tự phê bình và phê bình. Trên một số vấn đề, qua kiểm điểm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp từ Trung ương đến cơ sở vẫn chưa làm rõ thực chất, mức độ nghiêm trọng của tình hình, một số địa phương, đơn vị còn buông lỏng khâu kiểm tra, giám sát việc thực hiện và khắc phục, sửa chữa khuyết điểm.
Bệnh nặng trong công tác cán bộ như vậy dẫn đến nhiều năm qua cán bộ đứng đầu ở nhiều tỉnh, thành, bộ không những không trở thành tấm gương sáng, đầu tàu mà còn “chẳng chính ngôi”, “bất chính”, “chân lấm bê bê” như cách nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Cán bộ lãnh đạo cốt cán, “rường cột” mà như vậy, trách sao được ở dưới “hỗn hào”, “tắc loạn”?
Trước tình hình phức tạp trên, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (tháng 10 năm 2021) đã tiếp tục ra Nghị quyết về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Nghị quyết đã nêu cụ thể hơn mức độ những hiện tượng tiêu cực trong đội ngũ cán bộ: “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" còn diễn biến phức tạp”[9].
Xem lại những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, đối chiếu với tình hình đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay, có thể nhận thấy rất rõ rằng những sai lầm và khuyết điểm là bệnh của cán bộ, những khuyết điểm là chứng bệnh của người lãnh đạo, người làm công tác cán bộ được Người chỉ ra cách đây gần 80 năm, đến nay vẫn còn nguyên và còn nặng hơn, nguy hiểm hơn gấp bội lần. Hiện trạng suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tập trung ở số cán bộ có chức vụ trong bộ máy nhà nước gây bức xúc trong đa số đảng viên và quần chúng Nhân dân, làm giảm sút uy tín và vai trò lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự sống còn của Đảng và chế độ.
Nghiêm khắc kiểm điểm trách nhiệm của hiện trạng trên, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, một phần là trách nhiệm của cán bộ, một phần khác là trách nhiệm của lãnh đạo, của người làm công tác cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu cấp uỷ các cấp.
Học tập và làm theo tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “thương yêu cán bộ” trong tình hình phức tạp hiện nay, điều cốt yếu như lời dạy của Người, là phải thật sự nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân, một căn bệnh gốc sinh ra bao nhiêu thứ bệnh nguy hiểm khác, không chỉ với mình mà với cả đồng chí, đồng đội của mình. Chỉ có chống chủ nghĩa cá nhân thành công mới bồi bổ được đạo đức cách mạng cho cán bộ, mới xây dựng Đảng vững mạnh, mới đưa đất nước tiến lên phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.
Hochiminh.vn
Có thể là hình ảnh về 11 người, mọi người đang học và văn bản

CHÍNH PHỦ NHẤT TRÍ VỀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT NHÀ GIÁO.

 

Chính phủ nhất trí thông qua đề xuất của Bộ GD&ĐT về sự cần thiết ban hành Luật Nhà giáo và 5 chính sách trong đề nghị xây dựng luật này.
Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 95/NQ-CP Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 6/2023 (Nghị quyết số 95/NQ-CP).
Theo nội dung Nghị quyết trên, Chính phủ đánh giá cao Bộ GD&ĐT trong việc chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan liên quan hoàn thiện hồ sơ Đề nghị xây dựng luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Nội dung chính sách trong đề nghị xây dựng luật đã cơ bản thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về nhà giáo, nhất là quan điểm nhà giáo “giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục”. Qua đó nhằm tạo khuôn khổ pháp lý để nâng cao chất lượng nhà giáo, tạo điều kiện để nhà giáo tâm huyết với nghề.
Nghị quyết số 95/NQ-CP nêu rõ, Chính phủ nhất trí thông qua đề xuất của Bộ GD&ĐT về sự cần thiết ban hành luật và 5 chính sách trong đề nghị xây dựng Luật Nhà giáo gồm: Định danh nhà giáo; Tiêu chuẩn và chức danh nhà giáo; Tuyển dụng, sử dụng và chế độ làm việc của nhà giáo; Đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ và tôn vinh nhà giáo; Quản lý nhà nước về nhà giáo.
Bộ GD&ĐT nghiên cứu thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về lĩnh vực nhà giáo; tổng kết, rà soát kỹ lưỡng pháp luật hiện hành để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất.
Trong quá trình soạn thảo Luật, cần khắc phục các bất cập trong quản lý Nhà nước về nhà giáo hiện nay để thiết kế các chính sách theo hướng phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương, có tiêu chuẩn, tiêu chí phù hợp với vai trò, vị trí việc làm của nhà giáo và có chính sách ưu đãi, khen thưởng, tôn vinh phù hợp;
Chính phủ yêu cầu, Bộ GD&ĐT nghiên cứu thêm kinh nghiệm quốc tế, tổ chức hội thảo lấy ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, truyền thông chính sách để tăng tính thuyết phục khi thông qua chính sách, bảo đảm tính khả thi trong quá trình triển khai thực hiện khi luật được ban hành.
Chính phủ nhìn nhận, Luật Nhà giáo là xây dựng luật mới, khó, đối tượng rộng, tác động lớn, có nhiều chính sách quan trọng, liên quan đến nhiều luật, cần có chính sách ưu tiên về nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Do thời gian dự kiến để trình Chính phủ, Quốc hội thông qua không nhiều nên Bộ GD&ĐT chủ động bố trí nguồn lực về tài chính, chuyên gia để soạn thảo luật, bảo đảm đúng tiến độ, nâng cao chất lượng của dự án Luật khi trình Chính phủ.
Chính phủ giao Bộ GD&ĐT chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến của các thành viên Chính phủ, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng Luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị bổ sung dự án luật vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2024 để trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2024), thông qua tại Kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2024) Quốc hội khóa XV./.
Giáo dục & Đào tạo
Có thể là hình ảnh về 6 người và văn bản cho biết '5A A5'

CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VÀ TÍCH CỰC THAM GIA BẢO VỆ LỊCH SỬ ĐẢNG


Đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng không những là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả cách mạng mà còn là bảo vệ uy tín của Đảng đối với nhân dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, chế độ.
Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về lịch sử Đảng, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin; kêu gọi từ bỏ lý tưởng cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng còn xuyên tạc Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi đổi tên Đảng, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; phủ nhận thắng lợi, thành tựu cách mạng Việt Nam; thổi phồng sai lầm, khuyết điểm của Đảng; bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta;...
Chính vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thanh niên, sinh viên cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về lịch sử Đảng để “tự miễn dịch” trong lập trường, quan điểm chính trị và tích cực tham gia đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các tổ chức cơ sở Đảng, MTTQ, các đoàn thể, hội sinh viên cần tăng cường tổ chức hội thảo, tọa đàm; xây dựng chuyên đề lồng ghép vào sinh hoạt thường kỳ, câu lạc bộ, đội, nhóm; tổ chức các cuộc thi, diễn thuyết, kể chuyện về tấm gương cán bộ, đảng viên chiến đấu, hy sinh anh dũng, bị tù đày; tổ chức viết bài đấu tranh (chính danh và ẩn danh);... Đặc biệt, coi trọng đấu tranh trực diện trên không gian mạng với hình thức phong phú, đa dạng, hấp dẫn, hiệu quả; tranh thủ những người có ảnh hưởng lớn đối với cư dân mạng để thông qua họ đưa tin về cái tốt, lên án cái xấu.
Tri thức lịch sử, trong đó có lịch sử Đảng cung cấp cho chúng ta hiểu biết quá khứ để phục vụ cuộc sống hiện tại và đoán định tương lai. Bởi vậy, các nhà sử học Hy Lạp cổ đại từng kết luận: “Lịch sử là cô giáo cuộc sống, là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”. C.Mác và Ph.Ănghen cho rằng: “Sử học là khoa học duy nhất vì mọi khoa học đều phải dựa vào sự kiện từ lịch sử”. Lênin cũng khẳng định: “Sử học là một bộ phận của khoa học xã hội kết hợp với giai cấp vô sản trở thành vũ khí mạnh mẽ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng làm nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử khi ở Liên Xô và Người đã căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta”.
Nhà văn Nga Trécnưsepki từng viết: “Có thể không biết, không cảm thấy say mê học tập môn Toán, tiếng Hy Lạp hoặc Latinh, môn Hóa học, có thể không biết hàng ngàn môn khoa học khác nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì chỉ có thể là một con người không phát triển đầy đủ về trí tuệ”.
"Ǎn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta... Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khǎn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta". Lời dạy đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng nhắc nhở chúng ta phải nâng cao trách nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, nhân dân; kiên quyết bảo vệ “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng; vững tin vào thắng lợi con đường cách mạng do Đảng lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
St
Không có mô tả ảnh.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 12/7


“Người ta luôn luôn cần không khí để sống. Người cách mạng và đoàn thể cách mạng cần phê bình và tự phê bình thiết tha như người ta cần không khí.”
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Phê bình”, đăng trên Báo Nhân dân, số 16, ngày 12 tháng 7 năm 1951. Bối cảnh lúc này, Đảng ta củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời mở rộng đoàn kết quốc tế để đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công. Hồ Chí Minh khẳng định phê bình và tự phê bình là một vấn đề có tính nguyên tắc, là quy luật tồn tại và phát triển là công cụ sắc bén để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức đoàn thể cách mạng.
Lời dạy của Bác đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức đảng và đảng viên trong thực hiện tự phê bình và phê bình, giúp cho mỗi đảng viên và tổ chức đảng kịp thời nhận rõ những ưu điểm để phát huy; những hạn chế, khuyết điểm để khắc phục, bảo đảm cho Đảng ta thực sự là một đảng cách mạng chân chính, luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật để có chủ trương, đường lối đúng đắn lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, chấp hành nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng Đảng, Quân ủy Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân đã ban hành đồng bộ các chỉ thị, nghị quyết về công tác xây dựng Đảng, luôn đề cao tự phê bình và phê bình, coi đó là quy luật phát triển, là vũ khí sắc bén để giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị; vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'
Tất cả cảm xúc:
14

PHÒNG, CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN “XÂM LĂNG VĂN HÓA” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

         


         “Xâm lăng văn hóa” thực chất là một hình thức, thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; hòng làm băng hoại, lệch chuẩn hệ giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa và chuẩn mực con người Việt Nam, dẫn tới làm thay đổi bản chất chế độ, làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng. Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ở thời kỳ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” ngày càng trở nên tinh vi, xảo quyệt và rất nguy hại, đòi hỏi chúng ta phải luôn nêu cao cảnh giác và tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống.

           1. Hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới  

          Nói đến văn hoá là nói đến con người. Vì sự sinh tồn mà con người luôn cải tạo tự nhiên để đáp ứng nhu cầu đời sống của mình; đồng nghĩa với điều đó, con người đã sáng tạo ra “tự nhiên mới” mà theo Giáo sư sinh - nhân chủng học người Pháp Georges Olivier gọi là “sinh thái nhân văn”, tức sinh thái tự nhiên được con người “văn hoá hoá”. Nói một cách ngắn gọn nhất, văn hoá là do con người sáng tạo ra, giá trị văn hoá thực chất là tổng hoà các giá trị con người. Giá trị văn hoá phổ quát nhất mà con người luôn hướng tới đó là hệ giá trị Chân, Thiện, Mỹ, vì bản chất của văn hoá là sáng tạo và nhân văn.

Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hoá và con người Việt Nam. Ở từng giai đoạn cách mạng, tư duy nhận thức của Đảng về vấn đề xây dựng, phát triển văn hoá, con người ngày càng có sự phát triển, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc, thống nhất và phát triển đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa. “Đề cương về văn hóa Việt Nam” năm 1943 được coi như bản cương lĩnh về văn hóa đầu tiên của Đảng, trong đó xác định: Vǎn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật; nền tảng kinh tế và chế độ kinh tế của xã hội, quyết định toàn bộ vǎn hóa của xã hội. “Cách mạng vǎn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo” và phải nắm vững “Ba nguyên tắc: Dân tộc hóa, Đại chúng hóa và Khoa học hóa”. Đây là những quan điểm, tư tưởng cốt lõi có giá trị định hướng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá của nước ta.

Từ “Đề cương văn hóa Việt Nam” năm 1943 đến Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về văn hóa, tư duy nhận thức của Đảng có sự phát triển, hoàn thiện hơn. Văn hóa được quan niệm toàn diện hơn, bao gồm các lĩnh vực: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; môi trường văn hóa; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn học nghệ thuật; thông tin đại chúng; thể chế và thiết chế văn hóa... Đến Hội nghị Trung ương 9 khoá XI, Đảng ta đã đề cập rõ yêu cầu xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới. Theo đó, cần phải “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước”.

Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục có sự bổ sung, phát triển tư duy lý luận về văn hóa; đặc biệt là vấn đề xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam thời kỳ mới. Trong đó, Đảng ta xác định một nhiệm vụ, giải pháp hết sức quan trọng, đó là: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.”

Có thể nói, đây là lần đầu tiên Đảng ta nêu lên thuật ngữ “hệ giá trị quốc gia” trong văn kiện của Đảng. Chúng tôi cho rằng, nội hàm của nhiệm vụ, giải pháp này chính là cần phải tập trung hoàn thiện và triển khai xây dựng một hệ thống chuẩn mực giá trị văn hoá của quốc gia dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới. Đây là yêu cầu khách quan và hết sức cần thiết, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, phát triển và xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Hệ giá trị văn hoá của quốc gia, dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới sẽ là sự hoà quyện hữu cơ giữa những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước với sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá của nhân loại, thể hiện rõ bản sắc, ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam hướng đến mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” trên con đường xã hội chủ nghĩa.

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (tháng 11/2021), với tinh thần kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc; xây dựng, phát triển văn hóa sau 35 đổi mới, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đã xác định những yếu tố cốt lõi, nền tảng của hệ giá trị văn hóa quốc gia, dân tộc Việt Nam, với những đặc trưng: “khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; xác định tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”. Hệ giá trị này sẽ là cơ sở định hướng sự phát triển bền vững đất nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời định hướng, phát triển, hoàn thiện nhân cách mỗi con người Việt Nam trong thời đại hiện nay. Cùng với đó, Hội nghị cũng đã xác định những định hướng và mục tiêu cụ thể trong xây dựng hệ chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Con người Việt Nam thời kỳ mới cần phải “có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với những chuẩn mực giá trị cơ bản, đó là: yêu nước, đoàn kết, dũng cảm, tài trí, cần cù, nhân ái, nghĩa tình, hòa hiếu, khoan dung…”.  

2. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay

“Xâm lăng văn hóa” là một hình thức, thủ đoạn chống phá trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, nhằm công kích, xuyên tạc, bôi nhọ hệ chân giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa, văn hóa Đảng Cộng sản; kích động, lôi kéo và tiêm nhiễm các phản giá trị, làm lệch chuẩn các thang giá trị trong đời sống văn hóa chính trị, đạo đức, lối sống của quần chúng nhân dân. Từ đó, tạo ra sự mâu thuẫn về nhận thức tư tưởng, lòng tin của nhân dân đối với quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam; phủ nhận đường lối văn hóa - văn nghệ của Đảng, tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng.

Âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay hết sức tinh vi và nguy hiểm; chúng triệt để lợi dụng xu thế toàn cầu hóa trong thời kỳ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để tuyên truyền, tiêm nhiễm văn hóa, lối sống phương Tây; phủ nhận, bôi nhọ tính Đảng Cộng sản, tính giai cấp của đường lối văn hóa - văn nghệ cách mạng Việt Nam; ra sức truyền bá các sản phẩm văn hóa ngoại lai, phản nhân văn, phi văn hóa nhằm kích thích tâm lý, lối sống thực dụng, sa đọa, thấp hèn; làm băng hoại, lệch chuẩn các thang giá trị văn hóa đạo đức nhân ái, nhân văn trong một bộ phận nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ… Có thể khái quát một số phương thức, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay, nổi lên là:

Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để truyền bá, kích động tư tưởng chống đối, lối sống thực dụng, văn hóa phẩm đồi trụy; khuếch trương các quyền tự do, dân chủ trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ núp dưới chiêu bài tự do ngôn luận, tự do sáng tác, quyền thông tin; móc nối với những phần tử bất mãn, chống đối trong nước, lợi dụng những sơ hở, yếu kém của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, tung ra các tác phẩm báo chí, văn học nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, nói xấu, vu cáo chế độ ta, hòng bôi đen nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thông qua việc truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, lối sống lai căng vào xã hội, vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, dần dần từng bước tạo sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, để đi đến chuyển hóa Đảng, chuyển hóa chế độ.

Ở nước ngoài, các thế lực thù địch ra sức lôi kéo, thành lập các hội, nhóm văn hóa, văn nghệ phản động để tiến hành tuyên truyền, bôi nhọ quan điểm, đường lối của Đảng; chúng dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; phủ nhận những giá trị văn hóa dựng nước và giữ nước Việt Nam, nhất là hệ giá trị văn hóa giữ nước trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc; chúng đánh đồng giá trị nhân văn, chính nghĩa với phi nghĩa, phản động, làm lẫn lộn giá trị nhân cách yêu nước, chính nghĩa của những chiến sĩ cách mạng với những kẻ phản bội, cướp nước, bán nước…

Lợi dụng các tổ chức “xã hội dân sự” trong nước, các thế lực thù địch ra sức móc nối, cài cắm, phát triển lực lượng, từ đó hình thành các tổ chức phản động ở Việt Nam để truyền bá văn hóa phản động. Đặc biệt, chúng dùng mọi thủ đoạn để kích động, lôi kéo, lung lạc đội ngũ nhà văn, nghệ sĩ trong nước tham gia vào các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam; hướng lái các văn nghệ sĩ đi theo các trào lưu tư tưởng văn hóa phương Tây, đào sâu “tự do, dân chủ” trong sáng tác, thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập” để đối trọng với Hội Nhà văn Việt Nam, v.v. Thậm chí, họ còn dùng những tác phẩm văn học, nghệ thuật để tạo cớ gây áp lực đòi “nhân quyền”, kích động bạo lực và lối sống thực dụng, dung tục, hòng làm phai mờ những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam.

Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch còn dùng thủ đoạn cử người trực tiếp tiếp cận các tầng lớp nhân dân, nhất là giới trí thức, sinh viên, số cực đoan tôn giáo và cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất để tuyên truyền, lôi kéo tham gia các hoạt động chống đối trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Với mưu đồ phủ nhận tính giai cấp, tính Đảng của văn hóa - văn nghệ, chúng tuyên truyền đề cao chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cơ hội trong văn hóa - văn nghệ; hạ bệ những tác phẩm đỉnh cao chứa đựng sâu sắc tính nhân văn, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta,… tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa - văn nghệ.

3.  Một số giải pháp phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay

Xã hội muốn phát triển thì phản giá trị không thể chiếm chỗ của chân giá trị. Để cho “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất là các địa phương, cơ quan, đơn vị ở cơ sở phải tích cực, chủ động, kiên quyết đấu tranh phòng, chống, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch. Theo đó, cần phải có sự nghiên cứu tổng hợp, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp đấu tranh, ngăn ngừa; trong phạm vi nghiên cứu của bài viết, xin nêu mấy vấn đề cơ bản:

Một là, tăng cường giáo dục, bồi đắp hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”. Đây vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp hết sức quan trọng để ngăn ngừa sự tác động, xâm hại của những âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa”; tạo ra sự “miễn dịch” trong các tầng lớp nhân dân trước mưu đồ chống phá của kẻ địch. Quán triệt quan điểm của Đảng, cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục. Tập trung tuyên truyền khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân ái, nhân văn trong truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về “hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam” thời kỳ mới, đó chính là sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại; tích cực gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực, tệ nạn xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế hội nhập hiện nay.

Cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và các cơ quan chức năng ở cơ sở cần nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục, gắn sát với đặc điểm của từng đối tượng; trong đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin, truyền thông; tuyên truyền, giáo dục trong các nhà trường, ở từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Phát huy tốt vai trò xung kích, sáng tạo của các tổ chức quần chúng trong hoạt động tuyền truyền giáo dục đoàn viên, hội viên. Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục với tổ chức các hình thức hoạt động văn hóa, văn nghệ để định hướng nhận thức tư tưởng một cách sinh động, hiệu quả trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Hai là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền; phát huy tốt vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt ở địa phương, cơ sở

Đây là giải pháp hết sức quan trọng để giành thắng lợi trong mặt trận phòng, chống “xâm lăng văn hóa” mà các thế lực thù địch tiến hành đối với nước ta hiện nay. Trước hết, cấp ủy, chính quyền ở các địa phương, cơ quan, đơn vị cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ mới; tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực xây dựng, phát triển văn hóa, con người. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát; chăm lo đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ; có cơ chế khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo trong hoạt động văn học, nghệ thuật, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam; hạn chế các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường, mắc mưu lôi kéo, cám dỗ của các thế lực thù địch. Chính quyền, cơ quan chức năng ở các địa phương, cơ sở cần phải tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin, nhất là trên internet, mạng xã hội. Kiên quyết ngăn ngừa, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục…

Phát huy tốt vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp ở cơ sở có tác dụng lan tỏa rất lớn trong giáo dục, định hướng giá trị văn hóa cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[8]; trong những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên: Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016, về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Quán triệt quan điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên, mà trước hết là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở địa phương, cơ sở phải là những tấm gương sáng về trí tuệ, đạo đức, lối sống, phong cách và tinh thần trách nhiệm đối với tập thể, tạo sự lan toả các giá trị văn hoá nhân cách đến các tầng lớp nhân dân.

Ba là, đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở các địa phương, cơ sở

Môi trường văn hóa ở các địa phương, cơ quan, đơn vị cơ sở có vai trò hết sức quan trọng, là môi trường xã hội trực tiếp hình thành, nuôi dưỡng, phát triển, hoàn thiện nhân cách của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Ca dao, tục ngữ có câu: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”; chăm lo xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở các địa phương, cơ sở là giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch một cách hiệu quả.

Xây dựng môi trường văn hóa ở địa phương, cơ quan, đơn vị cơ sở hiện nay cần phải xây dựng đồng bộ, toàn diện các yếu tố tạo nên môi trường văn hóa, bao gồm hệ thống các giá trị văn hóa, các quan hệ văn hóa, hoạt động văn hóa và thiết chế, cảnh quan văn hóa. Phải chăm lo xây dựng văn hóa từ trong các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể đến văn hóa nhân cách của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tập trung xây dựng đời sống văn hóa của các tầng lớp nhân dân, “cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của nhân dân …; bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hóa. Khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, các khu công nghiệp …”như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Chăm lo xây dựng các quan hệ văn hóa lành mạnh, văn minh, tiến bộ trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp và trong mỗi gia đình …; khắc phục sự xuống cấp về đạo đức trong các quan hệ văn hóa, nhất là trong giới trẻ hiện nay. Xây dựng cảnh quan văn hóa hài hòa, thân thiện, văn minh; tổ chức các hoạt động văn hóa đa dạng, phong phú, tạo ra ở mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị một không gian văn hóa lành mạnh, tiến bộ, làm lấn át, đẩy lùi sự nảy sinh những biểu hiện phản văn hóa và âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch.

Bốn là, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; giữa gìn giữ, bồi đắp hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người thời kỳ mới với kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa, lọc bỏ những biểu hiện phản giá trị văn hóa trong mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị

Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” vừa là yêu cầu khách quan, vừa là giải pháp hữu hiệu trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay. Trước những tác động tiêu cực từ mặt trái nền kinh tế thị trường, xu thế toàn cầu hòa, hội nhập quốc tế và mưu đồ chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch, đã và đang làm nảy sinh ngày càng gia tăng những biểu hiện phi văn hóa, phản giá trị, suy thoái, tệ nạn, tiêu cực ở các địa phương, cơ quan, đơn vị ... Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” nhằm lấy “xây” để “chống”, lấy “cái đẹp” để “dẹp cái xấu” và lấy “chống” để “xây”, kiên quyết “nhổ cỏ dại” để “hái mùa vàng”.

Trong tình hình mới, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở các địa phương, cơ quan, đơn vị cần phải coi trọng giáo dục, gìn giữ, bồi đắp và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện bản sắc, thương hiệu của mình; đồng thời, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo lập những giá trị văn hóa mới, mang tính tiên tiến, văn minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa, lọc bỏ những biểu hiện phản giá trị văn hóa; nhất là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, tự diễn biến”, tự chuyển hóa” trong nội bộ; phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, tệ nạn mê tín, dị đoan; đẩy lùi bệnh quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng; các hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, binh chủng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, nhất là vai trò của cơ quan chức năng, các “Ban chỉ đạo 35”, lực lượng nòng cốt đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Phải làm cho các tổ chức, các lực lượng nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng, đây là việc làm thường xuyên, lâu dài chứ không phải là công việc “một sớm, một chiều”, giản đơn, “thuận buồm, xuôi gió”. Nó phải được tiến hành một cách bền bỉ, kiên trì, dũng cảm trên mọi lĩnh vực, mọi mặt hoạt động, trong mọi tổ chức, mọi lực lượng và trong mỗi con người. Trong đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa khơi dậy và phát huy vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên với tăng cường quản lý, điều hành, thanh tra, kiểm tra xử lý các biểu hiện vi phạm./.



Sự ''im lặng'' nguy hại

 

Dân gian có câu “Im lặng là vàng”, với hàm ý khuyên nhủ ai đó nên có thái độ khiêm nhường, nhã nhặn đúng lúc đúng chỗ; biết im lặng cần thiết khi lời nói của mình có thể làm tổn thương, gây hại cho người khác hoặc làm rắc rối thêm vấn đề... Tuy nhiên trong cuộc sống, sự “im lặng” không phải lúc nào cũng là “vàng” mà có thể trở thành nguy hại cho sự phát triển, như khi cán bộ, đảng viên thấy đúng không ủng hộ, thấy sai không dám đấu tranh.

Thời gian qua, tâm lý “đấu tranh, tránh đâu” và thái độ “im lặng” có thể hiểu là hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm của nhiều cán bộ, đảng viên, xảy ra ở không ít cơ quan, tổ chức, đơn vị, được khoác tấm áo “đoàn kết, thống nhất cao” bên ngoài, còn thực tế bên trong thì hậm hực, tức tối, kéo bè, kết cánh để chống đối nhau đã xảy ra. Cũng có hiện tượng “im lặng” khác là không ít cán bộ, đảng viên không dám làm gì vì sợ sai nên chùng chình, không thực thi nhiệm vụ trước những khó khăn, bức xúc từ cuộc sống. Cả hai sự “im lặng” như trên đều gây hại cho tổ chức, địa phương và mở rộng ra là cản trở sự phát triển của đất nước.

Cách đây hơn 36 năm, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã phê phán rất gay gắt điều mà ông gọi là “sự im lặng đáng sợ” để tấn công vào “thành trì” quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. “Sự im lặng đáng sợ” là sự im lặng của người có chức, có quyền câu kết, tránh né, bao che cho nhau để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... “Sự im lặng đáng sợ” còn là sự im lặng của người dân, của những người tích cực trước những tiêu cực, sai trái hiển hiện trước mắt mà không có phản ứng gì. Do vậy, công khai chỉ ra “Những việc cần làm ngay” và phê bình trên báo chí chính là một giải pháp quan trọng, hiệu quả được Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh coi trọng.

Biểu hiện rõ nét khi sự “im lặng” diễn ra ở không ít cơ quan, đơn vị, địa phương gần đây là việc trì trệ trong triển khai thực hiện Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28-3-2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động bị ảnh hưởng do dịch Covid-19. Lý do chủ yếu là “sợ sai” nên ở cơ sở đã nghĩ ra nhiều “giấy phép con” để cốt cho “an toàn”. Hay như tình trạng giải ngân đầu tư công cũng vậy, khiến hàng chục nghìn tỷ đồng nằm im trong khi rất nhiều công trình, dự án… thiếu vốn.

Thực tế cho thấy, các tổ chức bị kỷ luật với hình thức Cảnh cáo gần đây như: Ban Thường vụ Đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025; Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương nhiệm kỳ 2020-2025… cũng có nguyên nhân từ hiện tượng "ai biết người nấy" nên khi có sai mà không phát hiện, phát hiện mà không đấu tranh kịp thời; hoặc cũng có thể đồng lõa, dung túng cho nhau, cùng nhau “ngậm miệng” vì lợi ích cá nhân, cục bộ. Hậu quả là cùng lãnh án kỷ luật cả tập thể.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái. Trong đó có một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là: “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”. Đối với cán bộ, đảng viên, nếu thể hiện sự im lặng như trên thì lâu ngày sẽ vô hình trung trở thành kẻ đồng lõa với cái xấu, dung túng cho cái sai và tiếp tay cho cái ác lộng hành. Khi cán bộ, đảng viên không bày tỏ thái độ, hành động gì trước một sự việc đáng lẽ phải có chính kiến kịp thời, vì lợi ích chung thì đó là biểu hiện của sự vô trách nhiệm.

Do đó, giải pháp để ngăn ngừa bệnh “im lặng” là cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; đồng thời, phải gắn vai trò, trách nhiệm đối với những hậu quả do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống gây ra. Có như vậy, việc ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống mới đạt được hiệu quả và có tác dụng động viên, khích lệ, khuyến khích cán bộ, đảng viên khác học tập, làm theo. Nhận diện đúng những biểu hiện suy thoái tạo cơ sở cho mỗi cán bộ, đảng viên suy ngẫm và hành động; tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình, kiểm điểm đánh giá cá nhân, góp ý cho người khác và xử lý đối với cán bộ, đảng viên vi phạm.

Kiên quyết vạch trần, đấu tranh phòng, chống tình trạng số đông “im lặng”là một trong những việc làm cấp thiết để góp phần xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch. Cụ thể là cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp như: Giáo dục, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, trách nhiệm công vụ cho cán bộ, đảng viên; phát huy dân chủ trong đảng và trong xã hội; coi trọng văn hóa phản biện lành mạnh; thực thi chặt chẽ các quy định về kiểm soát quyền lực, nhất là kiểm soát quyền lực cá nhân người đứng đầu; tăng cường giám sát, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm dân chủ, độc đoán, chuyên quyền...

Đặc biệt là cần có sự nhìn nhận, xem xét với phương pháp biện chứng trước những sai sót trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ, không nên phủ định sạch trơn với những thang “điểm trừ” khi đánh giá cán bộ, đảng viên. Vì thế, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần làm tốt hơn nữa công tác đánh giá cán bộ cho thật sát với điều kiện tình hình mới. Trong đó, phải xem sự sáng tạo, đột phá của cán bộ, đảng viên là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong hệ thống tiêu chí đánh giá, cương quyết không “dĩ hòa vi quý”, cào bằng.

Phê phán, đấu tranh với tình trạng “im lặng”, suy nghĩ “đấu tranh, tránh đâu” là việc làm cần thiết nhằm góp phần rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần chiến đấu, phẩm chất trung thực, dũng cảm của cán bộ, đảng viên trong điều kiện hiện nay.

Không bán rẻ chữ ''liêm''

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích ngắn gọn: “Liêm là trong sạch, không tham lam”, là liêm khiết, là luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân. Người nhấn mạnh: “Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, chữ “liêm” trong thực thi công vụ rất quan trọng. Đối với lực lượng thực thi và bảo vệ pháp luật (công an, thanh tra, kiểm toán, kiểm sát, tòa án), chữ “liêm” còn quan trọng hơn nhiều lần. Trong điều kiện Đảng ta đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, vai trò của chữ “liêm” với lực lượng này càng quan trọng hơn nữa.

Quan trọng là bởi tính chất công việc của họ phải tìm ra chứng cứ, tìm ra sai phạm, để đưa ra ánh sáng những kẻ lợi dụng chức vụ, quyền hạn, cố tình làm sai hoặc câu kết làm sai, chiếm đoạt tiền, tài sản của dân, của nước một cách tinh vi. Quan trọng là bởi chữ “liêm” giúp họ làm việc công minh chính trực, không “gắp lửa bỏ tay người”, xử lý đúng người, đúng tội, tránh oan sai. Bởi với họ, chữ “liêm” giống như “kim chỉ nam”, giúp giữ vững bản lĩnh, khí tiết, trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, không bị mua chuộc, lôi kéo; không bị đồng tiền, vật chất đánh đổ danh dự, uy tín...

Về lý luận ai cũng hiểu như thế. Nhưng thực tế, trong lực lượng thực thi và bảo vệ pháp luật vẫn còn xuất hiện không ít những kẻ cơ hội, lợi dụng công vụ để đạt lợi ích cá nhân. Họ đã bỏ chữ “liêm” để đổi lấy vật chất bằng nhiều thủ đoạn, cách làm khác nhau. Người thì lợi dụng chức vụ, mối quan hệ để thông đồng làm việc phi pháp, thu lợi bất chính; kẻ thì dùng vị trí công tác, công việc và chứng cứ để đe dọa, tống tiền đối tượng tham nhũng, tiêu cực. Cũng không ít người lại tiếp tay, bảo kê cho đối tượng làm sai ngay từ đầu để trục lợi...

Có rất nhiều câu chuyện bán rẻ chữ “liêm” xảy ra trong lực lượng bảo vệ và thực thi pháp luật đã bị dư luận lên án. Bởi đây là hành vi xúc phạm niềm tin của nhân dân trắng trợn nhất. Để ngăn chặn hiện tượng này, vấn đề tiên quyết là phải bám sát chỉ đạo trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cụ thể là: “Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra và các cơ quan tư pháp để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ sai phạm theo quy định của pháp luật”.

Để làm tốt chỉ đạo này, cần xây dựng, bồi dưỡng, giáo dục chữ “liêm”, củng cố đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị. Ngoài ra, quá trình sử dụng lực lượng trong thực thi công vụ phải ngăn chặn, chống các biểu hiện thông đồng, móc ngoặc.

Cũng là nhằm tránh cho lực lượng bảo vệ, thực thi pháp luật không bị sa ngã trước đồng tiền thì cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan phải gương mẫu về tinh thần tận tụy, tận tâm và liêm khiết. Luôn gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện các quy định của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Phải chịu trách nhiệm về cấp dưới bằng cách tự nguyện từ chức nếu để xảy ra tiêu cực trong thực thi công vụ.

Cần xây dựng cơ chế kiểm soát, dùng công nghệ thông tin để hạn chế tiếp xúc với đối tượng; giám sát hành vi, hành động của lực lượng thực thi, bảo vệ pháp luật nghiêm ngặt; ngăn chặn biểu hiện lợi dụng công vụ, chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, “vòi vĩnh”, “chung chi”. Cùng với đó là triển khai rộng rãi hệ thống ghi âm, ghi hình, camera trực tuyến tại các địa điểm có tiếp xúc trực tiếp với người dân, doanh nghiệp và có bộ phận thường trực theo dõi, giám sát thường xuyên; công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng số điện thoại đường dây nóng để tiếp nhận các ý kiến phản ánh của người dân, doanh nghiệp về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức.

Người đứng đầu các cơ quan bảo vệ, thực thi pháp luật cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan, đơn vị và cán bộ thuộc quyền. Kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cá nhân thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật, định kỳ luân chuyển vị trí công tác đối với những vị trí nhạy cảm, phức tạp theo đúng quy định. Lựa chọn, bố trí người có đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, liêm khiết đảm nhiệm các vị trí nhạy cảm, nhất là đối với các trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra viên.

Nếu không ngăn ngừa được hành vi bán rẻ chữ “liêm” trong lực lượng bảo vệ, thực thi pháp luật thì tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là cám dỗ từ “đạn bọc đường” sẽ rất khó kiểm soát và công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta sẽ bị ảnh hưởng, không đạt hiệu quả như mong mỏi của nhân dân.