Thứ Ba, 18 tháng 7, 2023

Việt Nam không “tự mình cô lập mình” trong thực hiện chính sách quốc phòng

 

Đến nay, Việt Nam đã 4 lần công bố Sách trắng quốc phòng, trong đó công khai chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ, nhằm mục tiêu tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận một cách vô căn cứ.

Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng, bảo vệ chính sách quốc phòng đúng đắn của Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.

Việt Nam là đất nước luôn phải đối mặt với nguy cơ bị xâm lược từ bên ngoài và đã phải trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, khát khao được sống trong hòa bình, độc lập; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình là mong muốn, thiện chí và quan điểm nhất quán trong chính sách quốc phòng của Việt Nam.

Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực phản động, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, nhóm người tự xưng là “người yêu nước”, “tâm huyết” với vận mệnh quốc gia-dân tộc đã gửi “thư ngỏ”, “kiến nghị”, viết bài tán phát với những giọng điệu xuyên tạc, bóp méo đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng của Việt Nam. Chúng cho rằng, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các quốc gia luôn có mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau, trong khi đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và chính sách quốc phòng “4 không” (không liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế) là “bảo thủ, lỗi thời”, “tự mình cô lập mình”, “tự trói tay, chân mình”, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Ngang nhiên, trắng trợn hơn, chúng còn vu khống, quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh là khơi mào cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, là để chống lại một nước thứ ba. Đặc biệt, các thế lực thù địch cho rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Do đó, chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc thì Việt Nam mới giữ vững được chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc.

Có thể thấy mục đích sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch là nhằm dẫn dắt, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, dần đi sâu vào quỹ đạo lệ thuộc bên ngoài, đánh mất độc lập, tự chủ trong các hoạt động quân sự, quốc phòng, đối ngoại. Đồng thời, kích động, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong xã hội vào khả năng bảo vệ đất nước của quốc phòng Việt Nam, tính đúng đắn của đường lối quân sự, quốc phòng, đối ngoại của Đảng; từ đó gây chia rẽ, mâu thuẫn nội bộ, làm giảm sút lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực quân sự, quốc phòng, đối ngoại; cấp độ cao hơn là từ chối thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, hoặc tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Soi rọi vào lý luận và thực tiễn đều cho thấy, những luận điệu trên của các thế lực thù địch là hoàn toàn vô căn cứ, xuyên tạc trắng trợn chính sách quốc phòng của nước ta:

Về lý luận: Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh là luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, “dựa vào sức mình là chính”, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”; kết hợp chặt chẽ sức mạnh nội lực của đất nước với sức mạnh quốc tế để củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của sức mạnh nội lực, của mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Người nói: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”; “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Đồng thời, Người căn dặn, phải luôn “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế” để “cương nhu kết hợp”; phải đặc biệt coi trọng xử lý khéo léo quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng và các nước lớn, vì lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc. 

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định nhất quán quan điểm: “Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”. Đồng thời: Kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, thêm bạn, bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Tăng cường hợp tác, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc.

Chiến lược quốc phòng Việt Nam năm 2018 xác định: Xây dựng, củng cố quan hệ, lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các đối tác chiến lược, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra; tham gia tích cực, trách nhiệm, hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (LHQ) và những vấn đề liên quan của cộng đồng quốc tế, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 chỉ rõ, cùng với chủ trương “4 không”, Việt Nam: “Tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”.

Đồng thời, Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược; sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển. Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại...". Đồng thời: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng những biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc”. 

Về thực tiễn: Trong những năm qua, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng đã đề ra, trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 192 quốc gia (bao gồm 190/193 nước thành viên LHQ); đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an LHQ và tất cả các nước lớn trên nhiều lĩnh vực.

Đặc biệt, gần 10 năm qua, Việt Nam đã triển khai hơn 530 cán bộ, nhân viên tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ tại các phái bộ và trụ sở LHQ ở New York (Hoa Kỳ). Việc tham gia ngày càng tích cực, hiệu quả vào hoạt động gìn giữ hòa bình thế giới của Việt Nam đã được LHQ ghi nhận và đánh giá cao, để lại những ấn tượng tốt đẹp với chính quyền, người dân nước sở tại và bạn bè quốc tế. Hình ảnh chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới được lan tỏa rộng rãi, ghi dấu ấn tích cực và đậm nét trong lòng nhân dân, kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, được bạn bè quốc tế trân trọng, quý mến.

Mặt khác, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt, quyết liệt hiện nay, nếu dựa vào nước lớn này làm đồng minh, liên minh thì sẽ trở thành đối tượng chiến lược, đối đầu với nước lớn khác. Vì vậy, Việt Nam kiên định chính sách “4 không”, thêm bạn, bớt thù; tăng đối tác, giảm đối tượng, xử lý hài hòa quan hệ với các nước; thiết lập, củng cố quan hệ với tất cả các nước, nhất là các đối tác chiến lược, hội nhập quốc tế sâu rộng, gia tăng sự đan xen lợi ích chung với nhiều nước, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế; ngăn ngừa nguy cơ và đối phó thắng lợi với mọi hình thức chiến tranh xâm lược là lựa chọn đúng đắn, phù hợp nhất. Trong bất luận hoàn cảnh nào, Việt Nam cũng không chọn bên mà chọn lẽ phải, chính nghĩa.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn, rõ ràng là những minh chứng đầy đủ, khách quan, thuyết phục nhất, thể hiện rõ mong muốn, thiện chí: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Đồng thời cũng vạch trần âm mưu đen tối của các thế lực thù địch đối với chính sách quốc phòng Việt Nam.

Theo đó, để đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm rõ tính đúng đắn của chính sách quốc phòng Việt Nam ở cả trong nước và quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và đối ngoại; huy động tối đa các nguồn lực để tăng cường sức mạnh quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, phát huy vai trò “tiên phong” trong kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Thượng tá, TS BÙI ĐÌNH TIỆP, Phó chủ nhiệm Khoa Lịch sử nghệ thuật Quân sự, Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng

Đẩy lùi âm mưu xuyên tạc, chia rẽ tình hữu nghị

 

Tình đoàn kết, hữu nghị là giá trị tốt đẹp, bền vững được hun đúc từ lịch sử hàng nghìn năm của hai nước Việt Nam - Cam-pu-chia, từ mối quan hệ đặc biệt đã có từ lâu trong lịch sử và được thử thách trong ngọn lửa cách mạng chống kẻ thù chung. Vậy nhưng thời gian gần đây đã xuất hiện những âm mưu, thủ đoạn kích động, phá hoại mối quan hệ tốt đẹp, trong sáng ấy.

Những âm mưu nguy hiểm

Một dẫn chứng điển hình của âm mưu phá hoại trên phải kể đến trường hợp ông Xam Rên-xi, lãnh đạo cái gọi là đảng Cứu nguy Dân tộc Cam-pu-chia (CNRP), hiện lưu vong ở Pháp cùng hai trợ lý. Ngày 27-12-2016 vừa qua, họ vừa bị tòa án Phnôm Pênh tuyên 5 năm tù do dùng mạng xã hội đăng tải nội dung xuyên tạc quan hệ hai nước. Họ từng đưa ra thông tin xuyên tạc hết sức nguy hiểm rằng hai nước đã "nhất trí xóa bỏ biên giới chung" khi diễn giải hiệp ước mà hai nước ký vào năm 1979.Trước đó, ngày 23-12-2016, Tòa phúc thẩm Cam-pu-chia đã tuyên giữ nguyên bản án sơ thẩm phạt nghị sĩ Um Sam An thuộc đảng CNRP 2,5 năm tù giam vì kích động gây rối an ninh xã hội nghiêm trọng và kích động gây chia rẽ, theo Điều 495 và 496 Bộ luật Hình sự Cam-pu-chia. Đầu năm 2016, ông này đã có nhiều bài viết và bình luận xuyên tạc, vu cáo Chính phủ sử dụng bản đồ giả về biên giới với Việt Nam. Quốc hội Cam-pu-chia đã kiểm tra, đối chiếu bản đồ lưu tại Liên hợp quốc cho thấy, thông tin trên hoàn toàn là bịa đặt.

Một bài viết trên Báo The Phnom Penh Post cho biết, tư tưởng bài Việt, kích động, lôi kéo các cử tri trẻ tuổi, thiếu kiến thức và thông tin về quan hệ hai nước, kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi, chống phá quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia do một số thế lực chính trị đối lập kích động có thể gây bất ổn xã hội tại đất nước Chùa tháp. Nhất là trong thời điểm diễn ra các cuộc bầu cử ở Cam-pu-chia, việc sử dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi làm “mồi nhử” lôi kéo phiếu bầu có thể mang lại những hiệu quả nhất thời, nhưng về lâu dài có thể sẽ là mồi lửa châm ngòi xung đột, gây chia rẽ dân tộc, chia rẽ quan hệ hữu nghị. Trong những âm mưu phá hoại đó, dư luận nhân dân hai nước hẳn chưa quên sự kiện diễn ra cách đây ít lâu, có lực lượng đối lập ở Cam-pu-chia đã đến các địa bàn giáp biên để tuyên truyền, lôi kéo người dân ủng hộ bầu cử hội đồng xã, phường vào năm 2017 và bầu cử Quốc hội Cam-pu-chia năm 2018. Các tổ chức phản động lưu vong cũng tăng cường về các vùng giáp biên giới Việt Nam lôi kéo nhân dân hai nước thực hiện mưu đồ của chúng. Ngược về thời gian trước không lâu, tại Cam-pu-chia từng diễn ra một số cuộc biểu tình tự phát, xuyên tạc và ngang ngược đòi “cắt quan hệ với Việt Nam”. Chúng đã bị dư luận ở chính Cam-pu-chia và quốc tế lên án. Trước và sau chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Cam-pu-chia Hun Xen mới đây, những luận điệu xuyên tạc đó lại “rộ lên”.

Họ cũng không ngần ngại xuyên tạc, phỉ báng cả xương máu của những người Việt Nam đã hy sinh vì tình cảm quốc tế trong sáng, giúp Cam-pu-chia thoát khỏi thảm họa diệt chủng.

Những luận điệu đó không mới, nhưng chúng không dừng ở phá hoại quan hệ hai nước mà còn ẩn chứa nhiều âm mưu phá hoại đen tối khác. Năm 2013, tại cuộc bầu cử Quốc hội lần thứ 5, đảng Nhân dân Cam-pu-chia (CPP) giành được chiến thắng với 68 ghế, ông Xam Rên-xi đã có những phát ngôn lạc lõng, vô căn cứ, gây tổn hại quan hệ hữu nghị hai nước khi trả lời phỏng vấn đài BBC, vu cáo: “Hà Nội từng lấn chiếm đất đai Cam-pu-chia và… chiếm các đảo của Trung Quốc (!)”.

Đi ngược thực tế lịch sử và đạo lý

Bộ Nội vụ Cam-pu-chia đã từng lên tiếng tuyên bố những hành vi đó là không chấp nhận được và đi ngược đạo lý. Trong một phát ngôn chính thức với các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước, người phát ngôn Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia đã nêu rõ, đất nước Việt Nam anh em không phải là nhân tố đe dọa an ninh của Cam-pu-chia: “Chính phủ và nhân dân Cam-pu-chia luôn chủ trương bảo vệ và phát triển mối quan hệ với Việt Nam, thành quả to lớn của quá trình lâu dài cùng sát cánh chiến đấu bên nhau qua nhiều giai đoạn lịch sử, kiên quyết không để bất kỳ thế lực nào phá hoại mối quan hệ đoàn kết đặc biệt này”.

Nhìn lại những trang sử rực lửa và cũng thấm đẫm máu, nước mắt của nhân dân hai nước, chúng ta có thể thấy rõ không phải ngẫu nhiên mà Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia đưa ra quan điểm trên. Theo PGS, TS Vũ Quang Hiển, giảng viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn-Đại học Quốc gia Hà Nội, với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia đã kề vai, sát cánh, cùng chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân xâm lược, để lại những kinh nghiệm quý cho hôm nay và mai sau. Trong "Lời kêu gọi Liên hợp quốc" (tháng 12-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền". Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đế quốc Mỹ nhiều lần kêu gọi Lào và Cam-pu-chia gia nhập cái gọi là "Khối phòng thủ Đông Nam Á" và "Khối phòng ngự sông Cửu Long" nhằm cô lập và xâm lược Việt Nam, chia rẽ khối đoàn kết ba dân tộc.

Sau nhiều thăng trầm, dấu mốc tốt đẹp quan hệ hai nước phải kể đến sự kiện ngày 8-6-1967, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Cam-pu-chia theo đường biên giới hiện tại. Đáp lại, ngày 15-6-1967, Chính phủ Cam-pu-chia công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam. Quân và dân ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia đã đoàn kết chặt chẽ và anh dũng chiến đấu, giành được nhiều thắng lợi to lớn. Trong năm 1970, liên quân Việt Nam - Cam-pu-chia đẩy mạnh các hoạt động quân sự, làm tan rã hàng vạn quân của chính quyền Lonon, mở rộng vùng căn cứ cách mạng của Cam-pu-chia từ phía bắc tỉnh Rát-ta-na-ki-ri đến phía nam tỉnh Kam-pốt, đập tan cuộc tiến công của 10 vạn quân địch sang Cam-pu-chia (tháng 4-1970), rồi tiếp tục làm thất bại các cuộc hành quân Chenla 1 (tháng 6-1970), Toàn thắng, Chenla 2 (1971)... Sau Hiệp định Pa-ri (27-1-1973), Việt Nam đã tiếp tục giúp đỡ Cam-pu-chia đấu tranh vũ trang. Quân-dân Cam-pu-chia phối hợp với chiến trường miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng công kích, hoàn thành sự nghiệp chống Mỹ, giải phóng thủ đô Phnôm Pênh (17-4-1975).

Đẩy lùi âm mưu xuyên tạc, chia rẽ

Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng: “Phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, đoàn kết và tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi nước, hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là quy luật sống còn và phát triển của cả ba dân tộc anh em”. “Trước sau như một, Việt Nam trung thành với nghĩa vụ quốc tế của mình đối với cách mạng Lào và cách mạng Cam-pu-chia”.

Mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước tiếp tục được phát huy, phát triển trong giai đoạn hiện nay. Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam cuối tháng 12-2016 vừa qua, tại buổi gặp mặt, nói chuyện với hơn 200 đại biểu tướng lĩnh, sĩ quan, cựu chiến binh Quân tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế tại Cam-pu-chia qua các thời kỳ, Thủ tướng Hun Xen đã nhấn mạnh chuyến thăm của ông lần này đến Việt Nam mang theo thông điệp cảm ơn của nhân dân Cam-pu-chia đối với Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam đã giúp đỡ đánh đổ và ngăn chặn không cho chế độ Pôn Pốt quay trở lại, tạo tiền đề cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước Cam-pu-chia phồn vinh như ngày nay. Ông khẳng định luôn trân trọng những kỷ niệm tốt đẹp với quân và dân Việt Nam. Dù tình hình thế giới có diễn biến phức tạp thế nào cũng không thể tác động đến quan hệ láng giềng anh em tốt đẹp giữa hai nước. Hai nước cần giáo dục thế hệ trẻ gìn giữ mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp vốn có, tài sản vô giá đã được vun đắp trong suốt quá trình đoàn kết đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và xây dựng phát triển đất nước ngày nay.

Ở Cam-pu-chia hiện nay lưu giữ công trình Tượng đài Hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia được xây dựng cuối những năm 1970 để kỷ niệm liên minh Việt Nam - Cam-pu-chia, sau khi Quân tình nguyện Việt Nam tiến vào lật đổ chế độ diệt chủng. Tượng đài tạc hình ảnh hai người lính Việt Nam - Cam-pu-chia sát cánh bảo vệ một thiếu phụ và em bé Cam-pu-chia. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến dâng hoa tại tượng đài trong chuyến thăm chính thức Cam-pu-chia vào năm 2011. Năm 2015, Hội đồng Dân tộc Mặt trận Đoàn kết phát triển Cam-pu-chia và Bộ Quốc phòng Việt Nam đã thống nhất thực hiện công tác khảo sát, kiểm tra, lập dự án sửa chữa, tu bổ, tôn tạo các tượng đài hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, trong đó có tượng đài trên.

Trân trọng, gìn giữ, phát triển tình hữu nghị là nguyện vọng chung của đông đảo nhân dân hai nước. Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế là những âm mưu chống phá, chia rẽ tình đoàn kết giữa hai dân tộc là hết sức nguy hiểm; từng để lại những khó khăn, hậu quả trong lịch sử cũng như có nhiều diễn biến phức tạp trong một số vụ việc kích động, phá hoại, ẩn chứa những mưu đồ đen tối từng bị Nhà nước Cam-pu-chia lên án và xử lý thời gian qua. Để đẩy lùi những âm mưu ấy, cùng với việc tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, hữu nghị quý báu, phải luôn giữ được nhất quán trong đường lối đối ngoại, hợp tác, cảnh giác, tỉnh táo trước mọi thủ đoạn chia rẽ, tăng cường hơn nữa sự hiểu biết, tin cậy giữa chính quyền và nhân dân hai nước. Đặc biệt, phải làm tốt hơn nữa việc tuyên truyền, giáo dục, giúp thế hệ trẻ hiểu sâu sắc thực tiễn lịch sử và thực chất quan hệ hai nước để không ngừng chung tay vun đắp tình hữu nghị, không để những "lỗ hổng" hiểu biết cho kẻ xấu kích động, xuyên tạc.

NGUYÊN MINH

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 19 THÁNG 7 NĂM 1965!

     “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa bộ đội với nhau, giữa nhân dân với bộ đội”!
     Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Đoàn Tam Đảo, Bộ đội Phòng không – Không quân khi Người đến thăm đơn vị ngày 19 tháng 7 năm 1965 (nay là Lữ đoàn Pháo Phòng không 234/ Quân đoàn 3). Đây là thời gian đế quốc Mỹ xâm lược đang tăng cường leo thang chiến tranh ra miền Bắc bằng không quân. Người đã chỉ rõ vai trò to lớn của đoàn kết và khẳng định rằng, đoàn kết chính là yếu tố quyết định để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta làm cách mạng thắng lợi, kháng chiến thành công. Vì vậy, bộ đội Phòng không - Không quân nói riêng, toàn quân nói chung muốn đánh thắng giặc Mỹ xâm lược thì phải đoàn kết hơn nữa; phải chăm lo xây dựng mối quan hệ đoàn kết thống nhất trong nội bộ và đoàn kết chặt chẽ giữa quân đội với nhân dân. Điều này phản ánh quan điểm của Người về nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, sức mạnh của đất nước thông qua xây dựng mối quan hệ đoàn kết thống nhất trong quân đội và giữa quân đội với nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
     Lời dạy của Bác được cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Đoàn Tam Đảo, Bộ đội Phòng không  Không quân nói riêng, toàn quân nói chung ghi nhớ và thực hiện nghiêm túc, trở thành nguồn sức mạnh to lớn, bảo đảm cho bội đội Phòng không - Không quân, quân và dân ta phát huy sức mạnh tổng hợp đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ xâm lược, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy tinh thần đại đoàn kết, tiếp nối quan điểm, đường lối về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc qua các kỳ đại hội, Đại hội lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
     Khắc ghi lời Bác dạy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt trên tình thương yêu giai cấp; hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận; thực hiện toàn quân một ý chí. Đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, đi dân nhớ, ở dân thương… đã trở thành lời thề danh dự của người quân nhân nhân cách mạng, đồng thời cũng là nguồn cội tạo nên sức mạnh để Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, luôn là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước, Nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”./.
Môi trường ST.

Cán bộ, đảng viên của Đảng phải được xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách

Đạo đức cách mạng là một trong những giá trị cốt lõi của người cán bộ, đảng viên; là yếu tố quan trọng tạo nên giá trị, vị thế, uy tín của người cán bộ, đảng viên trong xử lý các mối quan hệ xã hội và trong công việc. Bên cạnh yếu tố trí tuệ, tài năng, chuẩn mực đạo đức giúp cán bộ, đảng viên làm việc có mục đích, luôn kiên định và giữ vững mục tiêu, lý tưởng, thấy rõ bổn phận và trách nhiệm, điều chỉnh hành vi ứng xử, trong bất cứ hoàn cảnh nào; khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ hãi, chán nản, lùi bước. Trong thực hiện công việc, đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên được thể hiện thông qua những phẩm chất, thái độ, tư duy, phương pháp, cách ứng xử với mục tiêu cao nhất là hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần hiện thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thực tiễn. Thông qua công việc, người cán bộ được thực hành các tiêu chuẩn đạo đức, được thể hiện nhân cách, được bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của cá nhân, qua đó, góp phần lưu giữ, làm giàu truyền thống đạo đức của tập thể và của dân tộc. Đối với người đảng viên, đạo đức cách mạng là yếu tố quan trọng tạo nên bản chất của Đảng như Bác Hồ đã từng khẳng định “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”; sự giàu có về đạo đức cách mạng sẽ làm cho Đảng có đủ bản lĩnh, dũng khí, tư cách, tài năng lãnh đạo toàn dân tộc vượt qua khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Những tiêu chí cụ thể của chuẩn mực đạo đức đối với công việc được thể hiện ở nhiều khía cạnh, nhiều giá trị đã được khẳng định và đang được cán bộ, đảng viên thực hiện, đó là: Tinh thần yêu Tổ quốc, tự hào về truyền thống dân tộc; nắm vững và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; am hiểu công việc, tâm huyết với nghề nghiệp, thực hiện đúng chức trách, thẩm quyền, nhiệm vụ được giao; luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên hết và trước hết; có ý thức giữ gìn danh dự, phẩm giá, uy tín của cán bộ, đảng viên; có tinh thần đoàn kết, phối hợp, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ được giao; thường xuyên tự soi, tự sửa, rút kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ để hoàn thiện bản thân, phát triển những giá trị mới của đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới. Thông qua công việc, những tiêu chuẩn, giá trị đạo đức nêu trên của người cán bộ, đảng viên được bộc lộ, được rèn luyện và được chuẩn hóa, phát triển lên tầm cao mới phù hợp với chức trách, nhiệm vụ đảm nhận. Tuy nhiên, bên cạnh phần lớn cán bộ, đảng viên luôn tuân thủ và thực hành tốt đạo đức cách mạng đối với công việc, vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về nhiều mặt, trong đó có suy thoái về đạo đức công vụ với nhiều biểu hiện cơ bản như: Phai nhạt lý tưởng, lười học tập lý luận chính trị; chỉ lo vun vén lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân; không chấp hành kỷ luật, kỷ cương; quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu khi giải quyết công việc liên quan đến tổ chức và nhân dân. Thực tế những năm qua, đã có hàng nghìn cán bộ, đảng viên vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống đã bị kỷ luật, trong đó, có cả những đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo thiếu gương mẫu, đạo đức, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cá nhân chủ nghĩa, không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao và phải chịu các hình thức kỷ luật đảng như cảnh cáo, cách chức, khai trừ ra khỏi Đảng; bị pháp luật trừng trị, khởi tố, bắt giam. Điều đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên đối với công việc để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các sai phạm của cán bộ, đảng viên ngay từ khi mới phát sinh. Chuẩn mực đạo đức cách mạng hiện nay của cán bộ, đảng viên đối với công việc phải được xây dựng trên cơ sở kế thừa văn hóa truyền thống của dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu tinh hoa văn hóa đạo đức của thời đại mở cửa, hội nhập quốc tế. Mục tiêu của hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng là để cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi, ứng xử trong công việc hằng ngày, hoàn thiện bản thân, xây dựng giá trị chung của cán bộ, đảng viên trong thời kỳ mới. Chuẩn mực đạo đức phải bám sát và phục vụ nhiệm vụ chính trị đang đảm nhiệm, phù hợp với môi trường, điều kiện làm việc mới như không gian mạng, môi trường số. Do vậy, việc tiếp tục xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên là yêu cầu vừa cấp thiết vừa có ý nghĩa chiến lược trong việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách, phẩm chất văn hóa của con người Việt Nam trong thời đại mới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng đã đặt ra yêu cầu các cơ quan chức năng “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”.

ĐIỂM CỐT LÕI TRONG TƯ DUY CỦA TỔNG BÍ THƯ VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG VIỆT NAM

 Lần đầu tiên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật ra mắt cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương về lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Cuốn sách đã góp phần thể hiện rất rõ nét tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của người đứng đầu Đảng ta về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Nhân dịp ra mắt cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Phóng viên Báo Quân đội nhân dân (QĐND) có cuộc trao đổi với Thiếu tướng, PGS, TS Vũ Cương Quyết, Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng để cùng phân tích rõ hơn về ấn phẩm này.
Phóng viên (PV): Thưa Thiếu tướng, PGS, TS Vũ Cương Quyết, xin đồng chí cho biết tính nhất quán, tính xuyên suốt trong tư tưởng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về lĩnh vực quân sự, quốc phòng trong tình hình mới hiện nay được thể hiện qua cuốn sách: “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) thời kỳ mới”?
Thiếu tướng PGS, TS Vũ Cương Quyết: Cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” là hệ thống hóa những chỉ đạo, định hướng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương về đường lối quân sự, quốc phòng Việt Nam hiện nay.
Nội dung cuốn sách đi theo từng nhóm vấn đề cho thấy sự nhất quán, tính xuyên suốt trong tư tưởng của Tổng Bí thư, đó là tiếp tục khẳng định nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; chú trọng nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân; xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa nhiệm vụ quốc phòng, quân sự với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”.
Xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, trước hết phải nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; phải nâng cao chất lượng công tác chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, đồng thời, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân; xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc; tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng của đất nước.
Từng quân, binh chủng, từng lực lượng phải gắn với chức năng, nhiệm vụ cụ thể để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Các học viện, nhà trường Quân đội cần đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục đào tạo, bồi dưỡng, giảng dạy và nghiên cứu khoa học; kết hợp chặt chẽ tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận; tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận. Thanh niên Quân đội phải xây dựng “Khát vọng đẹp - Trách nhiệm cao; Học tập tốt - Hành động giỏi; Đoàn kết tốt - Kỷ luật nghiêm”, thực sự tiêu biểu cho bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất của thanh niên Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh…
PV: Điểm cốt lõi, bước đột phá trong tư duy của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương trong xây dựng chiến lược quốc phòng Việt Nam là gì, thưa Thiếu tướng?
Thiếu tướng PGS, TS Vũ Cương Quyết: Thông qua 41 trang sách được trình bày trong phần ba của cuốn sách đã cho người đọc thấy một cách khách quan về Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương, một người có tư duy biện chứng, tầm nhìn chiến lược trong xây dựng đường lối quân sự; chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Những chỉ đạo, định hướng ngay từ ngày đầu tiên và trong suốt quá trình xây dựng chiến lược quốc phòng Việt Nam, chiến lược quân sự Việt Nam được thể hiện tập trung nhất ở 13 câu hỏi của Tổng Bí thư nêu ra và chỉ đạo cụ thể, cặn kẽ và sâu sát, cho thấy “sự uyên bác, vốn hiểu biết sâu rộng” cũng như “tư duy chiến lược” của người đứng đầu Đảng ta, là hết sức to lớn; hiện nay còn nguyên giá trị.
Điểm cốt lõi, bước đột phá trong tư duy của Tổng Bí thư trong xây dựng chiến lược quốc phòng Việt Nam chính là tư tưởng “Bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hòa bình”; bảo vệ hòa bình chính là một giá trị thiêng liêng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện căn cốt nhất để đất nước phát triển. Đây là tư tưởng lý luận quân sự, quốc phòng sáng tạo, độc đáo, đó là: “Lấy bảo vệ môi trường hòa bình là mục tiêu xuyên suốt trong xây dựng sức mạnh tổng hợp quốc phòng, quân sự”.
PV: Xin Thiếu tướng cho biết, việc biên soạn và tập hợp các bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương qua cuốn sách lần này sẽ đem lại những giá trị lý luận và thực tiễn như thế nào, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới?
Thiếu tướng PGS, TS Vũ Cương Quyết: Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó lường, chiến tranh, xung đột gia tăng, cạnh tranh chiến lược ngày càng quyết liệt, những vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đang đặt ra những thách thức mới đối với mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã làm sáng tỏ, bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về đường lối quân sự và chiến lược quốc phòng, đặc biệt là vai trò lãnh đạo và năng lực hoạch định đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng ta. Cuốn sách có giá trị định hướng tư tưởng rất lớn; có sự lan tỏa rất sâu rộng trong xây dựng QĐND vững mạnh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong xã hội thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với nhiệm vụ tăng cường sức mạnh quốc phòng, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới./.
ST

NHỮNG HỒI ỨC VỀ TRUNG TƯỚNG LÊ QUANG ĐẠO

 “Điều hạnh phúc nhất là dù trong bom đạn, chúng tôi vẫn dành thời gian nhớ về nhau, viết thư cho nhau, ghi lại những nỗi niềm chưa thể kể trong từng trang nhật ký… Đó là điều giản dị nhưng vô cùng ý nghĩa, là sợi dây vô hình kết nối khiến cho tiền tuyến là anh, hậu phương là tôi như luôn được gần bên nhau” - Nhà văn Nguyệt Tú, phu nhân của Trung tướng Lê Quang Đạo, nguyên Chủ tịch Quốc hội bộc bạch.

Những năm kháng chiến chống Mỹ, đồng chí Lê Quang Đạo được cấp trên tin tưởng cử làm Chính ủy nhiều chiến dịch nóng bỏng như: Đường 9-Khe Sanh 1968, Đường 9-Nam Lào 1971, Chiến dịch Quảng Trị 1972…Tuy ở cách xa gia đình hàng nghìn cây số, nhưng chỉ cần có thời gian rảnh rỗi dù rất ít ỏi, ông sẽ viết thư về nhà. Ngược lại hằng tuần, ông cũng sẽ đều đặn nhận được thư của vợ. Khoảng cách địa lý và bom đạn chiến tranh đã không thể chia cắt tình yêu đẹp và cuộc sống hạnh phúc, đong đầy yêu thương của họ.
Đồng chí Lê Quang Đạo (tên thật là Nguyễn Đức Nguyện) và bà Nguyễn Thị Nguyệt Tú (con gái lớn của danh họa Nguyễn Phan Chánh) gặp nhau lần đầu tiên vào một ngày thu năm 1946 tại Hà Nội. Khi đó, ông đang là Bí thư Thành ủy Hà Nội, còn bà là cán bộ phụ nữ tỉnh Hà Tĩnh ra Hà Nội, đến báo cáo công tác với đồng chí Bí thư Thành ủy Hà Nội. Từ mối quan hệ công việc, thường xuyên gặp mặt trong nhiều sự kiện, hai người dần nhận ra tình cảm dành cho nhau.
“Tháng 9-1948, nhân bữa cơm tiễn đoàn cán bộ Trung ương do anh Lê Đức Thọ dẫn đầu vào Nam công tác, đám cưới của chúng tôi cũng diễn ra. Hội chị em đi tìm những bông hoa rừng được hái về làm hoa cưới. Chú rể vẫn mặc bộ quần áo nâu thường ngày. Cô dâu quấn đuôi sam, mặc chiếc áo nâu, quần lụa đen mượn được của bạn do hành lý bị thất lạc sau đợt tấn công lên chiến khu Việt Bắc của thực dân Pháp cuối năm 1947. Trong đám cưới, anh Đạo hát bài “Cây trúc xinh” đúng chất quan họ Bắc Ninh quê anh rất hay!’-bà Nguyệt Tú nhớ lại.
Chuyện của ông bà, ngoài tình yêu, nghĩa vợ chồng, còn có cả tình đồng chí. Thời gian ông ra trận, là những tháng ngày bà thấp thỏm, âu lo nhưng luôn tinh tế giấu đi điều thầm kín ấy mà hết lòng động viên chồng yên tâm làm nhiệm vụ.
Theo lời kể của nữ nhà văn, tháng 12-1967, đồng chí Lê Quang Đạo nhận nhiệm vụ chuẩn bị đi chiến dịch Đường 9-Khe Sanh. Dù lúc đó ông không nói cụ thể là đi đâu nhưng khi chuẩn bị hành trang cho chồng, thấy có võng dù, chăn chiên, dép cao su… bà đã biết ông sẽ đi B. Bà lẳng lặng đi mua thêm một số đồ dùng thiết yếu, trong đó có đôi bốt màu xanh do Đức sản xuất nhét vào balo mà lúc vào tới chiến trường ông mới biết. Lá thư đầu tiên gửi về tới nhà, ông nhỏ nhẹ góp ý: “Việc chuẩn bị ở nhà như thế là tốt, nhưng có thứ không hợp với anh như đôi bốt màu xanh, cái áo mưa thì đỏ quá. Để khỏi bị chú ý quá nhiều, anh liền đi dép và khoác áo mưa nilông như mọi người. Vậy mà chiến sĩ ta tinh lắm, vẫn đoán được anh là một cán bộ chỉ huy”.
Ở tuổi ngoài 90, sự sắc sảo và trí nhớ mẫn tiệp của nữ nhà văn vẫn khiến người đối diện không khỏi khâm phục. Và điều đặc biệt là trong mỗi câu chuyện kể, luôn thấy bóng dáng của Trung tướng Lê Quang Đạo cùng tình cảm thủy chung son sắc bà dành cho chồng, cho dù ông đã rời xa cõi tạm hơn 20 năm. Bà kể: “Thời kỳ kháng chiến, gia đình tôi xa nhau biền biệt. Trong thư gửi về nhà, những chuyện gian khổ ác liệt anh ít kể nhưng sau này tôi cũng được biết, vào chiến trường, anh không ít lần bị trúng bom nhưng may mắn không sao. Nhớ lá thư anh viết ngày 23-1-1968, tôi đọc mà không hề biết mấy hôm trước anh Đạo và các đồng chí vừa thoát chết. Hồi đó, Mặt trận Đường 9-Khe Sanh kéo dài, ta quyết tâm vây hãm Tà Cơn. Mỹ hoàn toàn không biết đây là một chiến dịch nghi binh. Về phía ta, ngoài Tư lệnh và Chính ủy chiến dịch, không ai biết nhiệm vụ chiến lược thực chất của Mặt trận Đường 9-Khe Sanh là thu hút và giam chân càng nhiều lực lượng tinh nhuệ của Mỹ càng tốt, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam. Sau này, anh Đạo nói với tôi: “Khe Sanh, đó là một đòn nghi binh chiến lược”.
Đầu năm 1972, Mỹ leo thang ném bom trở lại Hà Nội, Hải Phòng. Đến giữa năm đó, ta vừa giải phóng Quảng Trị thì kẻ thù lại đưa quân ồ ạt phản công tái chiếm. Đồng chí Lê Quang Đạo lại được phân công làm Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận. Khoảng thời gian này được ông kể lại khá chi tiết trong cuốn nhật ký mà dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (1921-2021), nhà văn Nguyệt Tú và các con đã dày công biên soạn, tổ chức xuất bản. Nhật ký viết:
Ngày 25-7 (1972): Hôm nay địch liên tiếp mở các đợt tấn công vào thành Quảng Trị. Tin Thùy báo cáo lúc 20 giờ địch đã chiếm làng Tri Bưu, ta không còn sức phản kích lấy lại... Địch đã ở sát đông bắc, đông và nam thành. Rất lo. Hội ý Bộ tư lệnh đề ra các biện pháp cấp bách để đối phó với tình hình.
Ngày 11-8: Được tin tình hình gay go, địch chiếm đầu cầu Quảng Trị, chiếm chùa Bà Năm, tiến đến góc đông nam thành 50m. Chiếm một số điểm ở tây thôn Thạch Hãn...
Ngày 27-8: Hết hôm nay là vừa tròn 2 tháng đánh địch phản công ra Quảng Trị. Ta đã đánh cho địch thiệt hại nặng cả 2 sư đoàn thủy quân lục chiến và dù, giữ được thị xã Quảng Trị, La Vang... Nhưng nhìn chung chưa thực hiện được kế hoạch, chưa có chuyển biến gì đáng kể. Sức bộ đội ta vẫn bị giảm đi. Hà Nội thì đang giục và nay mùa khô ở đây sắp hết, mưa đến nơi rồi.
11 đến 14-9: Mấy ngày nay tình hình lại gay go. Bộ đội bảo vệ thành chiến đấu cực kỳ anh dũng, pháo binh ta chi viện rất đắc lực. Hy vọng giữ vững được thị xã Quảng Trị rất mong manh. Vì tấn công không được, chỉ phòng ngự, chống giữ một cách bị động thì rất khó…
Từ những trang nhật ký của Chính ủy Lê Quang Đạo, thì giờ phút căng thẳng, diễn biến liên tục ở chiến trường Quảng Trị kéo dài cho đến chiều 15-9-1972. Lúc này, địch đã vào trong Thành cổ ở góc đông nam và uy hiếp sát cả 3 mặt thành, chỉ còn phía tây thành, nhưng địch cũng đang cố tiến lên để bao vây, bịt đường rút của ta. Rất may, bộ đội ta đã được lệnh rút ra cơ bản, chỉ còn một số ổ chiến đấu chưa biết tin vẫn ở lại. 81 ngày bom đạn ác liệt, Chính ủy Lê Quang Đạo và đồng đội đã chiến đấu hết sức anh dũng, làm tròn nhiệm vụ, xứng đáng với chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Sau này, ông kể cho vợ: “Thực ra thị xã Quảng Trị bấy giờ đã chẳng còn gì, tan nát hết. Trước khi bộ đội ta rút đi, ta cũng chỉ còn giữ Thành cổ, khu vực phía tây và một phần khu vực phía nam thành, tất cả chỉ hơn 0,5km2. Do yêu cầu chính trị phải giữ như vậy một thời gian. Tiếp tục giữ thì thương vong của ta hằng ngày khá cao nhưng cũng không cần thiết phải giữ nữa. Quân Giải phóng đã làm tốt nhiệm vụ trên giao. Và Chính ủy Lê Quang Đạo luôn tự hào về những chiến sĩ của mình. Họ đã kiên trì chịu đựng bom đạn tập trung ở mức độ "khủng khiếp" với tư tưởng, tình cảm không hề dao động, giành và giữ đến cùng từng bức tường thành cho đến phút nhận lệnh rút đi!”.
Cuối tháng 10-1972, đồng chí Lê Quang Đạo lên đường về Hà Nội nhận nhiệm vụ mới. Từ đây, thời gian xa nhà đi chiến đấu không còn thường xuyên nhưng việc quân vẫn níu chân ông. Vợ xa chồng, con xa cha vẫn là “chuyện cơm bữa”. Phải đến khi kết thúc chiến tranh, ông bà mới có điều kiện ở gần nhau hơn, cùng nuôi dạy con cái trưởng thành. Khi nhà văn Nguyệt Tú làm Giám đốc Nhà xuất bản Phụ nữ, lo vợ thiếu kinh nghiệm trong công tác quản lý nên trong những bữa ăn, ông tranh thủ trao đổi kinh nghiệm công tác cán bộ với vợ. Ông phân tích, dặn dò nhiều đến nỗi chính bà còn phải nhắc “không nói chuyện chính trị trong bữa ăn”. Khi bà được nghỉ công tác theo chế độ, ông vẫn làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, để vợ vơi bớt cảm giác hụt hẫng, ông động viên bà viết báo, làm sách. Bà cười kể, nhiều khi tác phẩm của mình xuất bản, ông Đạo còn vui hơn cả tác giả. “Tôi và anh Đạo cùng lớn lên trong môi trường học sinh, cùng đi hoạt động cách mạng, cùng thích thơ văn. Ngoài tình yêu chân thành, thì sự kiên nhẫn, bao dung và thấu hiểu lẫn nhau đã giúp chúng tôi có những ngày hạnh phúc như thế!”-Nhà văn Nguyệt Tú cho biết./.
ST

Cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực hiện việc nghiêm khắc với chính mình

“Cán bộ là tướng của đoàn thể”, “là gốc của mọi công việc”; “là nhịp cầu nối liền giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân”, “là sợi dây chuyền của bộ máy”, “là tiền vốn của đoàn thể”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên một cách toàn diện về bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và phong cách công tác. Chăm lo giáo dục, rèn luyện cán bộ đảng viên về ý thức tự giác tu dưỡng rèn luyện bản thân, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi người phải thực hiện nghiêm khắc với chính mình. Thực hiện nghiêm khắc với chính mình đòi hỏi người cán bộ, đảng viên “luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình”. Đó là quá trình tự quan sát, theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá, kiểm điểm về lời nói và hoạt động của người đảng viên trong mối quan hệ với công việc, với người khác và với chính mình. Đó cũng chính là năng lực tự kiểm tra, giám sát trong thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương, trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị và trong việc thực hiện “bổn phận” của người đảng viên. Phải thể hiện ý thức giác ngộ cao của người cán bộ, đảng viên khi đứng trong hàng ngũ của Đảng. Hồ Chí Minh cho rằng, bản thân người đảng viên khi vào Đảng là đã tự nguyện chấp nhận hy sinh lợi ích, thậm chí hy sinh cả tính mạng vì lợi ích của Đảng, của dân tộc và của nhân dân. “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư”. Nghiêm khắc với chính mình là tiền đề cho những nỗ lực của cá nhân nhằm xây dựng một tổ chức đảng chân chính, giống như xây dựng nền gốc vững bền cho ngôi nhà của mỗi người. Nghiêm khắc với chính mình là yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên bởi “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng”, nghiêm khắc với chính mình sẽ góp phần giúp cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi. Đặc biệt, khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, đảng viên thường nắm giữ những vị trí quan trọng trong các cơ quan Đảng và Nhà nước, yêu cầu này càng có ý nghĩa quan trọng hơn nữa bởi đứng trước những khó khăn, thử thách cũng như những cám dỗ về tiền tài, danh lợi, cán bộ, đảng viên dễ bị suy thoái, biến chất, có thể nhanh chóng rơi vào chủ nghĩa cá nhân – kẻ thù nguy hiểm của mỗi cá nhân và tổ chức đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm khắc với chính mình, mỗi cán bộ, đảng viên phải không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn tự kiểm để phát triển điều tốt, khắc phục điều dở của bản thân; đối với người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng; đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, đặt việc công lên trên, lên trước việc tư… Đây là yêu cầu thường xuyên, liên tục để mỗi cán bộ, đảng viên ngày càng hoàn thiện mình hơn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của mỗi thời kỳ. Thấm nhuần quan điểm của Hồ Chí Minh, trong những năm vừa qua, Đảng ta đã luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng lần đầu tiên khẳng định “xây dựng, chỉnh đốn Đảng về cán bộ” với tư cách là một trong năm nội dung của công tác xây dựng Đảng, bên cạnh các mặt: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có những chuyển biến tích cực. Nếu khẳng định “cán bộ là nhân tố quyết định thành bại của cách mạng” thì những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử về kinh tế – xã hội sau hơn 30 năm đổi mới trong điều kiện Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thách thức thì không thể phủ nhận được “sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên”.

CUỘC HÀNH TRÌNH "TRẢ LẠI TÊN CHO ANH"

 Trong 4 năm, trên hành trình cả vạn cây số tìm kiếm, xác minh danh tính liệt sĩ để “trả lại tên cho anh”, Đại tá Vũ Doãn Tùng cùng đồng đội trong Ban liên lạc cựu chiến binh (BLL CCB) Trung đoàn 1, Quân khu 9 ở Hà Nội đã xác minh được danh tính 45 đồng chí để địa phương và gia đình ghi đúng tên trên bia mộ các liệt sĩ.

Hằng năm, các CCB Trung đoàn 1, Quân khu 9 ở Hà Nội gặp nhau và làm giỗ cho những đồng chí đã chiến đấu dũng cảm, hy sinh oanh liệt trong trận đánh Chi khu quân sự Ba Càng (huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 12-4-1975. Trong số các đồng chí hy sinh được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ ở địa phương, trên bia mộ ghi “liệt sĩ chưa biết tên”. Điều đó khiến các CCB Trung đoàn 1 trăn trở, trong đó có Đại tá Vũ Doãn Tùng, Trưởng BLL CCB Trung đoàn 1, Quân khu 9 khu vực Hà Nội. Họ đã quyết tâm đi tìm, thực hiện nhiều cuộc hành trình “trả lại tên cho anh”.
Vũ Doãn Tùng nhập ngũ năm 1973 khi vừa tốt nghiệp phổ thông. Sau thời gian huấn luyện tân binh, anh cùng đồng đội hành quân vào miền Tây Nam Bộ, biên chế trong Tiểu đoàn 307, Trung đoàn 1 (nay thuộc Sư đoàn 330, Quân khu 9), chiến đấu ở Mặt trận Vĩnh Long-Trà Vinh.
Ông Tùng cho biết: “Chúng tôi chọn Vĩnh Long là địa bàn có trận đánh Chi khu quân sự Ba Càng ngày 12-4-1975. Trận chiến đấu diễn ra rất ác liệt do địch bị dồn đến đường cùng nên liều chết, khiến các chiến sĩ của Trung đoàn 1 bị thương vong khá nhiều, gồm hơn 60 liệt sĩ, trong đó có 14 liệt sĩ quê ở Hà Nội, mà nhiều người cùng nhập ngũ với tôi. Gần sát ngày chiến thắng nên sự hy sinh của các đồng chí càng trở thành nỗi tiếc thương vô hạn đối với gia đình và đồng đội. Sau khi xin được giấy phép của chính quyền, cơ quan chức năng tỉnh Vĩnh Long, tôi phân công các anh trong BLL thành nhóm nhỏ, tiến hành đồng thời nhiều công việc như: Lập hồ sơ, đi tìm phần mộ nơi an táng liệt sĩ, phối hợp xin lấy mẫu hài cốt liệt sĩ (HCLS), tìm thân nhân liệt sĩ để lấy mẫu đối chứng”...
Gần 50 năm trôi qua, sự chắp nối thông tin để tìm về một con người thời chiến cần đến hàng trăm mảnh ghép. Đây là công việc cực kỳ khó khăn vì sự biến động dân cư trong thời gian dài và địa phương đang trong tiến trình đô thị hóa, phát triển kinh tế... Chẳng hạn câu chuyện đi tìm liệt sĩ Bùi Huy H. Hồ sơ ghi quê ở Diễn Châu (Nghệ An) nhưng đi tìm cả tháng trời không có liệt sĩ nào tên là Bùi Huy H, mãi sau mới tìm thấy thông tin về anh ở quận Hoàn Kiếm (Hà Nội). Trở lại Diễn Châu, hỏi thăm nhiều người, đối chiếu và thẩm định lại các nguồn tin mới biết đó là địa chỉ của liệt sĩ Trần Văn K.
Theo ông Tùng, đợt đầu tiên lấy mẫu HCLS để giám định ADN vào tháng 6-2019 tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Vĩnh Long, khu vực được các nhân chứng xác định khả năng có phần mộ của các liệt sĩ Trung đoàn 1 hy sinh trong trận Ba Càng. Các CCB cùng cán bộ ngành lao động, thương binh và xã hội (LĐTBXH) địa phương và Viện Pháp y Quân đội tổ chức lấy mẫu HCLS trong 19 ngôi mộ. Công việc khá phức tạp vì HCLS không nguyên vẹn, lại cất bốc từ khu mộ tập thể sang từng mộ cá nhân, có hài cốt đã bắt đầu mục nát. Kết quả giám định của Viện Pháp y Quân đội cho thấy, tất cả 19 mẫu đều không có quan hệ huyết thống theo dòng mẹ với mẫu thân nhân. Một nỗi buồn dẫu không nói nên lời nhưng in rõ trên từng nét mặt các CCB trong BLL.
Trước tình hình đó, Đại tá Vũ Doãn Tùng xốc lại tinh thần đồng đội, không nản lòng sau “trận đầu ra quân”. Rút kinh nghiệm lần trước, ông Tùng cùng các CCB lần tìm nhân chứng là những người cao tuổi còn sống ở xã Song Phú và xã Mỹ Lộc, những quản trang già đã nghỉ hưu để nắm thông tin về những lần di chuyển HCLS và phát hiện ra rằng, có thể một số liệt sĩ còn nằm lại ở nghĩa trang của huyện Tam Bình. “Chúng tôi làm thủ tục xin phép lấy mẫu ở 23 mộ tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Vĩnh Long và 8 mộ ở Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Tam Bình. Chúng tôi lại tiếp tục hành trình trên những nẻo đường đến 31 địa chỉ quê hương các anh để tìm kiếm người thân, xin lấy mẫu đối chứng”, ông Tùng nói.
Lần này, Viện Pháp y Quân đội thông báo kết quả tìm thấy 6 HCLS có mẫu ADN trùng khớp với thân nhân, trong đó có 2 liệt sĩ quê ở Nghệ An, 3 liệt sĩ quê ở Hà Nội và 1 liệt sĩ quê ở Thanh Hóa. Từ kết quả đó, các đồng chí trong BLL CCB Trung đoàn 1 cử người liên hệ với Cục Người có công (Bộ LĐTBXH) thông báo với địa phương và thân nhân liệt sĩ để tổ chức ghi đúng tên lên bia mộ liệt sĩ ở các nghĩa trang liệt sĩ; hoặc cử người hướng dẫn thân nhân làm hồ sơ, thủ tục đưa HCLS trở về quê hương...
Ngày 9 và 10-12-2020, BLL CCB Trung đoàn 1 phối hợp với Sở LĐTBXH tỉnh Vĩnh Long và các cơ quan, đơn vị thuộc Quân khu 9 tổ chức lễ gắn bia trên mộ các liệt sĩ bảo đảm trang trọng, thiêng liêng. Khi dòng tên các liệt sĩ in rõ trên nền tấm bia, ông Tùng và đồng đội như thấy các anh trở về đứng nghiêm trang trước mặt đồng đội...
Kết quả này đã khích lệ các CCB trong BLL tiếp tục cuộc hành trình. Ông Tùng cho biết: “Lần thứ ba, BLL phối hợp với Sở LĐTBXH tỉnh Vĩnh Long tiếp tục lấy mẫu ở 75 ngôi mộ tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Vĩnh Long và Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Tam Bình. Đại dịch Covid-19 đã làm chậm hành trình trong năm 2021 nên đến đầu năm 2022, BLL mới nhận được kết quả giám định với 23 liệt sĩ đã xác định được danh tính.
Ngày 6-4-2022, các cơ quan chức năng tỉnh Vĩnh Long và Quân khu 9 đã tổ chức lễ gắn bia đúng tên các liệt sĩ ở Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Vĩnh Long. Sau buổi lễ này, chúng tôi lấy mẫu ở 59 mộ tại Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long và Nghĩa trang Liệt sĩ thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Số mẫu lấy được càng nhiều thì hành trình chúng tôi đi tìm thân nhân liệt sĩ cũng dài thêm và khó khăn càng nhiều hơn.
Không phụ công chúng tôi, kết quả giám định lần này đã xác định đúng danh tính 16 liệt sĩ. Sáng 21-4-2023, Sở LĐTBXH tỉnh Trà Vinh đã tổ chức lễ công bố kết quả xác định danh tính 4 liệt sĩ Trung đoàn 1 hy sinh tháng 1-1975 trong trận đánh Chi khu Long Khánh (Duyên Hải, Trà Vinh). Sau 48 năm ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trên mộ các anh, tấm bia “liệt sĩ chưa biết tên” đã được thay bằng tấm bia có đầy đủ thông tin. Hai liệt sĩ được gia đình đón về quê hương”...
Trong các năm 2019-2023, BLL CCB Trung đoàn 1, Quân khu 9 khu vực Hà Nội kết hợp với các địa phương, đơn vị làm thủ tục và trực tiếp tham gia lấy mẫu ở 183 ngôi mộ để giám định, xác định đúng danh tính của 45 liệt sĩ ở cả hai miền Nam-Bắc.
Tại Hà Nội, ngày 17-4-2022, một lễ truy điệu trang trọng, cảm động diễn ra ở Nhà tang lễ Bệnh viện Quân y 354 và lễ an táng 5 HCLS được đưa về từ Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Vĩnh Long, tại Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố Hà Nội.
Năm 2023, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định tặng Bằng khen BLL CCB Trung đoàn 1, Quân khu 9 khu vực Hà Nội về thành tích xuất sắc trong công tác phối hợp giữa Ban chỉ đạo quốc gia 515 với Hội CCB Việt Nam trong công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính HCLS giai đoạn 2017-2022. Trước đó, UBND thành phố Hà Nội đã biểu dương Đại tá Vũ Doãn Tùng và trao tặng danh hiệu “Người tốt, việc tốt” cấp thành phố./.
ST


HOAN HÔ ANH GIẢI PHÓNG QUÂN!

 Hoan hô anh Giải phóng quân

Kính chào Anh, con người đẹp nhất
Lịch sử hôn Anh, chàng trai chân đất
Sống hiên ngang: Bất khuất trên đời!
Đây là những câu thơ rất hay, ý nghĩa trong bài "Bài ca Xuân 68" của nhà thơ Tố Hữu.
Tác giả đã miêu tả những hình ảnh và phẩm chất đẹp nhất của anh bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, họ là những người con anh hùng, là thế hệ vàng của Dân tộc Việt Nam được gọi bằng một cái tên giản dị, trìu mến: "ANH GIẢI PHÓNG QUÂN"./.
ST


Tôi gửi hồn vào lá cờ Tổ quốc giữa Trường Sa

 

Họa sĩ Nguyễn Thu Thủy - người thực hiện lá cờ gốm ở Trường Sa - rất xúc động khi chứng kiến tình cảm nồng nhiệt, lớn lao của nhiều người Việt mấy ngày qua với đất nước, với chủ quyền biển đảo.
Đặc biệt, khi lá cờ Tổ quốc thiêng liêng bằng gốm sứ trên mái nhà hội trường đảo Trường Sa Lớn "đột nhiên biến mất" trên ứng dụng của Google. Đó là tác phẩm gửi gắm tấm lòng của một người con Việt với Tổ quốc, với Trường Sa, cũng là tấm lòng chung của mọi người Việt.
Tình yêu nước luôn gắn kết người Việt. Khi chủ quyền Tổ quốc bị xâm phạm thì tất cả người Việt sẽ cùng nhau hành động để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng ấy.
Từ Hà Nội, họa sĩ Thu Thủy - người đã thực hiện nhiều dự án tôn vinh chủ quyền biển đảo, chủ quyền đất nước - xúc động nhớ về những dự án tâm huyết của mình.
Chủ quyền Tổ quốc nhìn từ trên không
Năm 2011, một năm sau khi hoàn thành "Con đường gốm sứ" nổi tiếng ở Hà Nội, họa sĩ Thu Thủy có dịp đến với quần đảo Trường Sa.
Lần đầu ra với khúc ruột xa xôi mà gần gụi của nước Việt, đứng trước biển cả bao la và tình người ấm áp, chị thấy niềm tự hào dân tộc dâng tràn. Chính lúc ấy, hình ảnh lá cờ Tổ quốc lớn như hiện ra trước mắt chị.
Ý tưởng làm lá cờ Tổ quốc bằng những mảnh gốm mosaic tại Trường Sa bắt đầu từ đó. Phải là gốm, bởi chỉ có sự bền bỉ của chất liệu này mới chịu được nắng gió Biển Đông để bền vững cùng thời gian.
Hơn nữa, chị Thủy còn muốn đó phải là một lá cờ đủ lớn để mọi người có thể dễ dàng nhìn thấy khi máy bay bay ngang nơi này hoặc nhìn được qua ảnh vệ tinh trên các ứng dụng của Google, Apple..., để chủ quyền Việt Nam tại Trường Sa được khẳng định thêm từ một chiều không gian khác: trên không.
Ý tưởng đẹp lập tức nhận được sự ủng hộ của Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân. Những ngày khảo sát tìm địa điểm khá thuận lợi khi chị Thủy chọn được nóc nhà hội trường tại trung tâm của đảo có kích thước 15x20,8m, đúng theo tỉ lệ tiêu chuẩn của quốc kỳ Việt Nam là chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài.
100 kiện gốm đã đi gần 2.000km từ Bắc vào Nam bằng tàu hỏa, bằng ô tô rồi tiếp tục theo năm chuyến tàu biển của hải quân vượt biển để cập đảo Trường Sa Lớn.
Có những khi gió lớn, tàu không thể cập được vào cầu cảng Trường Sa. Các chiến sĩ ở đảo phải vận chuyển bằng xuồng.
Bao nhiêu ân tình từ đất liền thương yêu đã được gói cùng từng viên gốm nung bởi đất sông Hồng ra với khúc ruột Trường Sa.
Hai tháng miệt mài, mọi người cùng làm việc ngày đêm tại Trường Sa, trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Khi gắn xong viên gốm cuối cùng của lá cờ Tổ quốc, tất cả những người có mặt đều rưng rưng.
Lá cờ rực sắc thắm rộng 310m2 hoàn thành vào tháng 6-2012 nổi bật giữa hòn đảo thiêng liêng, giữa biển trời xanh thẳm, nặng 3,5 tấn có kích thước 12,40x25m ghép từ 310.000 viên gốm mosaic được trao kỷ lục "Lá cờ Tổ quốc bằng gốm lớn nhất Việt Nam".
Nhưng có một điều còn lớn hơn thế ở lá cờ này trong lòng mỗi người Việt: đó là chủ quyền biển đảo thiêng liêng.
Lời nhắn gửi Google của người 5 lần ra Trường Sa
Sau lá cờ đặc biệt, họa sĩ Thu Thủy tiếp tục làm tấm bản đồ Việt Nam bằng gốm sứ để đặt tại Trường Sa Lớn. Lần này, các nghệ nhân Bát Tràng đã dùng kỹ thuật in trên gốm nặng lửa để in từng địa danh, từng tên đảo, bán đảo, bãi cạn, bãi ngầm suốt dọc chiều dài của vùng biển Việt Nam.
88 mảnh gốm với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa cùng các hòn đảo khác dọc chiều dài lãnh thổ Việt Nam được hoàn thành, chính xác từng chi tiết nhỏ, để ghép thành bản đồ Việt Nam tại nhà khách Thủ Đô của đảo.
Ngoài ra, họa sĩ Thu Thủy và các cộng sự còn thể hiện bốn bức tranh gốm đặt hai bên tường cạnh cột mốc chủ quyền trung tâm Trường Sa.
Các bức tranh ca ngợi hình ảnh người chiến sĩ hải quân cùng ước vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam, những hình ảnh thân thuộc, nét đẹp của thiên nhiên đất nước đã hiện diện nơi đảo xa nhờ công sức, ý tưởng của chị Thủy.
Năm 2014, họa sĩ Thu Thủy tiếp tục thực hiện bức tranh gốm Trường Sa - sức mạnh Việt Nam đặt tại cầu cảng đảo Trường Sa Lớn. Năm 2016, chị thiết kế công trình Công viên Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở đảo Sơn Ca.
Từ những dự án tâm huyết với Trường Sa, những kỷ niệm cảm động của năm lần ra với quần đảo này, Trường Sa đã trở thành một phần rất thiêng liêng trong họa sĩ Thu Thủy.
Hỏi về việc mấy ngày nay Google Maps và Google Earth không hiển thị rõ hình ảnh cờ Việt Nam tại Trường Sa, họa sĩ Thu Thủy cho biết:
"Tôi tin rằng trước những phản ánh của báo chí Việt Nam và đại diện Google Việt Nam, bộ phận kỹ thuật của Google Maps quốc tế sẽ sớm cập nhật hình ảnh rõ nét hơn lá cờ đỏ sao vàng trên Google Maps và Google Earth.
Chúng ta cùng theo dõi sự cập nhật mới nhất của họ và chúng ta sẽ cùng tự hào khi nhìn thấy lại lá cờ đỏ sao vàng thắm tươi ở đảo Trường Sa Lớn trên các ứng dụng của Google".
Từ sông Hồng ra "khúc ruột" Trường Sa
Trước sự việc quốc kỳ Việt Nam ở Trường Sa "biến mất" trên Google, sáng 12-7, Tuổi Trẻ đã trao đổi với nghệ nhân ưu tú - nhà ghép gốm Nguyễn Quý Sơn (giám đốc Công ty cổ phần gốm sứ Quang Minh) về chất liệu gốm sứ đặc biệt được sử dụng cho công trình "Lá cờ Tổ quốc bằng gốm lớn nhất Việt Nam".
Ông Sơn cho biết chất liệu gốm phủ men nặng lửa được sử dụng để ghép cờ Tổ quốc trên đảo Trường Sa dù môi trường có khắc nghiệt thế nào thì vẫn đảm bảo lâu bền, vững vàng theo thời gian.
"Gốm được nung ở nhiệt độ rất cao đến 1.230 độ C. Khi nung ở nhiệt độ cao sẽ có độ kết khối vững chắc, sương - men gắn liền với nhau như một thể đặc phù hợp với nhiều môi trường. Cho nên dù môi trường có khắc nghiệt đến thế nào cũng đảm bảo đến hàng ngàn năm không thể phai, bạc màu, đảm bảo bền vững với thời gian. Đó là điểm đặc biệt nhất của gốm Bát Tràng" - ông Sơn nói.
Nghệ nhân nhớ lại từ thời điểm kết hợp với họa sĩ Thu Thủy trong dự án "Con đường gốm sứ" tạo tiếng vang lớn, gốm Bát Tràng đã có mặt trên khắp mọi miền Tổ quốc, ứng dụng vào nhiều công trình tiêu biểu, công trình công cộng, cảnh quan của đất nước.
Nhưng vinh dự hơn cả là khi gốm Bát Tràng của vùng đất sông Hồng đã được mang ra "khúc ruột" Trường Sa thân yêu.
"Tôi cảm thấy vinh dự, tự hào vì lá cờ được làm bằng sản phẩm gốm Bát Tràng. Tôi mong thế hệ con cháu sau này đều có thể được chiêm ngưỡng hình ảnh đẹp đẽ, thiêng liêng trên đảo Trường Sa, khơi dậy lòng yêu nước, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của đất nước" - ông chia sẻ.

Nguồn tin của Tuổi Trẻ từ Quân chủng Hải quân cho biết sau khi có thông tin quốc kỳ Việt Nam "biến mất" trên Google, đơn vị khẳng định quốc kỳ Việt Nam vẫn hiện diện trên đảo Trường Sa./.
ST