Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2023

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 Nhân chuyến thăm Tòa thánh Vatican của Chủ tịch nước, họ lại lợi dụng vấn đề tôn giáo để nói xấu Nhà nước ta


Từ ngày 23-28/7/2023, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm một số nước châu Âu, trong đó có thăm Tòa thánh Vatican theo lời mời của nguyên thủ các quốc gia này. Lợi dụng điều đó, các thế lực có thâm thù với chế độ ta lại có dịp đưa thông tin thất thiệt để cho rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, tôn giáo ở Việt Nam bị đàn áp nhằm chống phá quan hệ giữa Việt Nam với các nước, nhất là quan hệ với Tòa thánh Vatican. Trang Việt Nam Thời báo ngày 25/7/2023 với bài: “Việt Nam bị đề nghị đưa vào lại danh sách Quốc Gia Quan Tâm Đặc Biệt (CPC)” là một ví dụ.


1. Họ cho là “Điều trần về tình trạng đàn áp tôn giáo toàn cầu: Việt Nam được chú ý đặc biệt”. Theo họ, tại buổi điều trần dưới quyền chủ tọa của Dân Biểu Christopher Smith (ngày 18/7) vừa qua, ông Dân biểu này đã nói: “Ở Việt Nam, cuộc đàn áp của nhà nước cộng sản nhắm vào các tôn giáo, kể cả Giáo Hội Công Giáo, đã tệ đi trong những năm gần đây”(!)


Trước hết cần khẳng định, ý kiến trên hoàn toàn không có cơ sở, không gắn với thực tiễn sinh động của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Đó là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ (4/2023), Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với trên 26,5 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước, hơn 54 nghìn chức sắc, trên 135 nghìn chức việc và gần 30 nghìn cơ sở thờ tự. Các tôn giáo có đông tín đồ là Phật giáo (trên 14 triệu), Công giáo (khoảng 7 triệu), Phật giáo Hòa Hảo (khoảng 1,5 triệu), Tin lành (khoảng 1,21 triệu); Cao Đài khoảng (trên 1,1 triệu), v.v.


Bên cạnh đó, Việt Nam là quốc gia có hệ thống tín ngưỡng vô cùng phong phú với 50.703 cơ sở tín ngưỡng, trong đó khoảng 3.000 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO ghi danh là di sản thế giới.


Cùng với quá trình đổi mới đất nước, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có nhiều chuyển biến mới: sự trở lại của niềm tin tôn giáo, sự gia tăng số lượng chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo; nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra với quy mô lớn hơn trước thu hút đông đảo tín đồ và người dân tham gia. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của đông đảo quần chúng nhân dân và có những đóng góp tích cực đối với đời sống xã hội.


Việt Nam không có tự do tôn giáo, đàn áp tôn giáo thì không thể có được đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng phong phú và số lượng tín đồ các tôn giáo đông đảo như trên.


2. Dựa trên những thông tin sai sự thật, năm 2022, Bộ Ngoại Giao Mỹ đã đưa Việt Nam vào Danh Sách Theo Dõi Đặc Biệt (SWL), hiện nay, một số cá nhân có thâm thù với chế độ ta lại muốn đưa Việt Nam vào danh sách CPC. Việc làm đó của họ đã không nhìn thấy đời sống tín ngưỡng, tôn giáo sinh động ở nước ta hiện nay. Đó là:


Nhà nước bảo đảm sự đa dạng, hòa hợp và bình đẳng tôn giáo và không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Các tôn giáo ở Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi người hoàn toàn tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tín đồ các tôn giáo được tự do bày tỏ đức tin tại gia đình, cơ sở thờ tự hoặc điểm nhóm đăng ký với chính quyền.


Nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo Hiến chương, Điều lệ và quy định pháp luật. Nhà nước bảo đảm và tạo điều kiện để các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động tôn giáo của mọi tôn giáo được diễn ra bình thường. Đặc biệt những ngày lễ trọng của các tôn giáo được tổ chức với quy mô lớn, thu hút không chỉ tín đồ mà còn đông đảo người dân tham gia.


Việc công nhận tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được thực hiện theo quy định của pháp luật. Sau khi thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã công nhận 01 tổ chức tôn giáo (Giáo hội Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam), cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 03 tổ chức (Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam; Hội thánh Tin lành Liên hiệp Truyền giáo Việt Nam; Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê-su Ky-tô Việt Nam).


Việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung trên phạm vi cả nước được tạo điều kiện thuận lợi. Trước khi Luật tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực, có hơn 2.600 điểm nhóm, sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực, có thêm hơn 1.100 điểm nhóm được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung.


Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam chủ động trong việc củng cố tổ chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành theo Hiến chương, Điều lệ và quy định của pháp luật. Hàng năm, số lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành và những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp không ngừng tăng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tinh thần của nhân dân. Kể từ khi thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, cả nước có hơn 6.500 người được phong phẩm, suy cử làm chức sắc; 16.783 người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc.


Nhà nước bảo đảm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Cả nước hiện có 62 cơ sở đào tạo tôn giáo; một số cơ sở được phép đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ.


Các tổ chức tôn giáo được quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện hoạt động xuất bản kinh sách và xuất bản phẩm khác về tín ngưỡng, tôn giáo; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tín ngưỡng, tôn giáo, đồ dùng tôn giáo bảo đảm phục vụ yêu cầu hoạt động của các tôn giáo. Từ năm năm 2018 đến năm 2022, Nhà xuất bản Tôn giáo đã có quyết định xuất bản 2.527 ấn phẩm với 8.506.240 bản in, trong đó có nhiều xuất bản phẩm được dịch ra tiếng Anh, Pháp, tiếng dân tộc thiểu số. Ở Việt Nam có 15 tờ báo và tạp chí của các tổ chức tôn giáo đang hoạt động. Phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có Website riêng để phục vụ việc sinh hoạt đạo, truyền bá tôn giáo của mình.


Nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo tham gia các hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài. Hàng năm, có hàng trăm lượt chức sắc, nhà tu hành, tín đồ của các tôn giáo ở Việt Nam xuất cảnh tham dự các hoạt động tôn giáo, khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài và hàng trăm lượt cá nhân tôn giáo nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam hoạt động tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam còn tích cực tham gia các hội nghị, diễn đàn tôn giáo khu vực và quốc tế (Đối thoại liên tín ngưỡng Á – Âu (ASEM), đối thoại liên tín ngưỡng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương,…). Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. Hiện có 67 điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại các tỉnh, thành phố với hàng trăm người tham gia và có quốc tịch từ nhiều nước (Hàn Quốc, Philippin, Singapore, Malaixia, Nga, Mỹ, Pháp,…). Cùng với đó, Nhà nước còn bảo đảm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc thiểu số; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đối với người chấp hành án phạt tù, v.v.


Qua đó cho thấy đời sống tín ngưỡng, tôn giáo sinh động, phong phú ở Việt Nam. Chỉ những tổ chức đội lốt tôn giáo như Hội thánh Đức chúa trời mẹ mới bị các cấp chính quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Đó là việc làm cần thiết để bảo đảm an ninh, an toàn và trật tự xã hội, vì hạnh phúc của mỗi người dân, mỗi gia đình và cả cộng đồng. Thế nên, đừng có lợi dụng tôn giáo hòng hạ uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế./.

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 94 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM (28/7/1929 - 28/7/2023)!

     Cách đây 94 năm, ngày 28/7/1929, tổ chức Công đoàn Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng đối với quá trình đấu tranh, phát triển của phong trào công nhân Việt Nam; là hạt nhân vận động, tập hợp giai cấp công nhân đi dưới ngọn cờ cách mạng vinh quang của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự ra đời của Công đoàn cách mạnh Việt Nam có ý nghĩa to lớn, đánh dấu sự lớn mạnh của phong trào công nhân và sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam. Khẳng định luận điểm nổi tiếng của Lênin đó là “Giai cấp công nhân ở bất kỳ nơi nào trên thế giới cũng chỉ phát triển và chỉ có thể phát triển bằng con đường Công đoàn, bằng sự tác động qua lại giữa Công đoàn và Đảng của giai cấp công nhân, chứ không thể bằng con đường nào khác’’.

Trong 94 năm qua, tổ chức Công đoàn Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh; đã vận động, tập hợp đông đảo công nhân, viên chức, lao động dưới ngọn cờ cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để có những đóng góp to lớn trong thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; tổ chức và vận động công nhân, viên chức, lao động hưởng ứng thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

94 năm qua là chặng đường lịch sử vẻ vang của Công đoàn Việt Nam với những tên gọi khác nhau để phù hợp hoàn cảnh của mỗi giai đoạn cách mạng như: 
Công hội đỏ (thời kỳ 1929 – 1935).
Nghiệp đoàn ái hữu (1936 – 1939).
Hội công nhân phản đế (1939 – 1941).
Hội công nhân cứu quốc (1941- 1946).
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1946- 1961).
Tổng Công đoàn Việt Nam (1961- 1988).
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam từ năm 1988 đến nay. 

Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, Công đoàn Việt Nam đã luôn phát huy vai trò, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần to lớn vào thắng lợi cách mạng Việt Nam./.
Môi trườngST.

CÔNG TÁC CÁN BỘ CÓ Ý NGHĨA VÔ CÙNG QUAN TRỌNG TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG!

     Nói về tầm quan trọng của công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là gốc của mọi công việc.” Người cho rằng muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém, lựa chọn cán bộ là khâu đầu tiên nhưng quyết định đến thành quả cuối cùng.

Trong hơn 5,3 triệu đảng viên hiện nay, đại đa số đa số đều có quan điểm, lập trường tư tưởng vững vàng, có phẩm chất đạo đức, luôn giữ vai trò tiên phong trong thực hiện nhiệm vụ, làm tốt việc động viên quần chúng nhân dân vượt qua mọi thử thách, đưa cách mạng nước ta giành nhiều thành công to lớn trong giai đoạn mới.

Nếu cán bộ là "gốc rễ" của mọi công việc thì công tác cán bộ là "gốc rễ của gốc rễ." Công tác cán bộ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Lựa chọn cán bộ tương tự như việc chọn giống cây - giống tốt thì cây khỏe, giống xấu hoặc bị nhiễm bệnh thì cây sẽ còi cọc, thậm chí là chết yểu.

Chính vì vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác cán bộ, coi đây là khâu “then chốt của then chốt,” cùng với việc hết sức quan tâm làm tốt công tác cán bộ, còn chú trọng phòng ngừa, ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng, tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ.

Thực tế cho thấy, việc tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ gây ra những hậu quả rất nặng nề, làm suy giảm năng lực lãnh đạo, mất uy tín của Đảng, suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Những người bất tài, phẩm chất đạo đức kém, khi ngồi vào vị trí quan trọng rất dễ sa vào tội tham nhũng, tiêu cực, gục ngã trước sự lôi kéo của thế lực thù địch, gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tác động đến sự tồn vong của Đảng, chế độ. Hơn nữa, nạn chạy chức, chạy quyền tạo ra một thế hệ cán bộ không chăm trau dồi nghiệp vụ, đạo đức, mà chỉ lo xây dựng “mối quan hệ”, sẵn sàng dùng tiền để giải quyết mọi vấn đề.

Không khó để nhìn ra những cán bộ kém cỏi nhưng thăng tiến “thần tốc.” Dương Chí Dũng leo lên chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines dù trình độ quản lý yếu kém, kinh doanh thua lỗ kéo dài, gây ra những thiệt hại to lớn cho ngân sách nhà nước.

Trịnh Xuân Thanh khi còn là Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC), đã phạm nhiều khuyết điểm, làm thất thoát số vốn lớn của Nhà nước mà vẫn thăng tiến rất nhanh, lên đến chức Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang. Cả hai trường hợp này đều đã bị trả giá, bị xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Trần Vũ Quỳnh Anh cũng là một trường hợp được cất nhắc rất nhanh, được bổ nhiệm lãnh đạo một phòng ở Sở Xây dựng Thanh Hóa, được quy hoạch Phó Giám đốc Sở, khi chưa đủ điều kiện. Khi Thanh tra tỉnh Thanh Hóa vào cuộc, xác định quy trình bổ nhiệm Trần Vũ Quỳnh Anh có nhiều sai phạm, cả người bổ nhiệm và người được bổ nhiệm đều đã bị xử lý. Ông Ngô Văn Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh (nguyên Giám đốc Sở Xây dựng bị kỷ luật khiển trách; còn Trần Vũ Quỳnh Anh đã bị khai trừ khỏi Đảng, mất hết chức vụ.

Gốc có vững, cây mới xanh tươi, việc lựa chọn cán bộ đúng chuẩn thì công việc mới đạt hiệu quả. Nhằm chấn chỉnh việc chấp hành nghiêm nguyên tắc, quy định, quy trình, quy chế, quyết định về công tác cán bộ, ngày 11/7/2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 114-QĐ/TW về việc kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

Quy định số 114-QĐ/TW thay thế cho Quy định số 205-QĐ/TW và có nội dung bao trùm hơn. Trong khái niệm “tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ” có cả tội “chạy chức, chạy quyền.”

Ngay từ đầu, ở phần giải thích từ ngữ, quy định mới đã làm rõ thế nào là quyền lực trong công tác cán bộ và thế nào là kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ.

Quyền lực trong công tác cán bộ là thẩm quyền của tổ chức, cá nhân trong các khâu liên quan đến công tác cán bộ, gồm tuyển dụng, đánh giá, lấy phiếu tín nhiệm, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, bố trí, phân công, bổ nhiệm, chỉ định, điều động; phong, thăng, giáng, tước quân hàm; đình chỉ chức vụ, cho từ chức, miễn nhiệm, cách chức; khen thưởng, kỷ luật; kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo...

Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện nghiêm nguyên tắc, quy định, quy trình, quy chế, quyết định về công tác cán bộ và phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

Theo Quy định số 114-QĐ/TW, hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được quy định rất cụ thể, chi tiết. Đó là dùng uy tín, ảnh hưởng của bản thân và người có quan hệ gia đình gợi ý, tác động, gây áp lực để người khác quyết định, chỉ đạo, tham mưu, đề xuất, nhận xét, đánh giá, biểu quyết, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu giới thiệu nhân sự, bỏ phiếu bầu theo ý mình. Đó cũng việc để người có quan hệ gia đình, người có mối quan hệ thân quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của bản thân tác động, thao túng, can thiệp vào các khâu trong công tác cán bộ. Đó là việc lồng ghép ý đồ cá nhân khi thực hiện các khâu trong công tác cán bộ vì động cơ, mục đích vụ lợi hoặc có lợi cho nhân sự trong quá trình thực hiện công tác cán bộ. Đó là chỉ đạo, tham mưu các khâu trong công tác cán bộ đối với nhân sự không đủ điều kiện, tiêu chuẩn...

Hành vi chạy chức, chạy quyền được quy định như sau: Môi giới, đưa và nhận hối lộ nhằm giúp cho người khác có được vị trí, chức vụ, quyền lợi; tặng quà, tiền, bất động sản hoặc các lợi ích khác nhằm mục đích có được sự ủng hộ; chạy tuổi, chạy danh hiệu thi đua, bằng cấp... nhằm đạt đủ tiêu chuẩn, điều kiện để có được chức vụ, quyền lợi; lợi dụng các mối quan hệ thân quen để tác động, gây sức ép với người có thẩm quyền, trách nhiệm, nhằm mục đích có được vị trí, chức vụ, quyền lợi...

Các hành vi tiêu cực khác được nêu rõ trong quy định mới: Gặp gỡ nhân sự trái quy định, nhũng nhiễu đối với nhân sự và cơ quan trình nhân sự; thiếu trách nhiệm hoặc vì động cơ cá nhân làm thất lạc hồ sơ cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý; làm giả, làm sai lệch hồ sơ, tài liệu; báo cáo lý lịch đảng viên, lý lịch cán bộ không đầy đủ, không trung thực...

Quy định số 114-QĐ/TW nêu trách nhiệm rõ ràng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo; trách nhiệm của thành viên cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo; trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo; trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan tham mưu; trách nhiệm của cán bộ tham mưu; trách nhiệm của nhân sự.

Theo quy định 114-QĐ/TW, câu thần chú “làm đúng quy trình,” “trách nhiệm tập thể” đã không còn hiệu nghiệm, vì không khó để cơ quan có thẩm quyền truy ra sai phạm ở cấp nào, cá nhân nào.

Quy định mới phân biệt rõ việc xử lý trách nhiệm trong kiểm soát quyền lực và trong tham nhũng, tiêu cực về công tác cán bộ. Khi vi phạm về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ thì tập thể, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên sẽ bị xem xét, xử lý trách nhiệm theo quy định.

Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ đều phải xử lý nghiêm minh theo quy định, đồng thời áp dụng các biện pháp xử lý sau: Trường hợp bị khiển trách thì sau ít nhất 12 tháng kể từ ngày quyết định khiển trách có hiệu lực thi hành mới được xem xét quy hoạch cán bộ. Trường hợp bị cảnh cáo thì xem xét miễn nhiệm, sau ít nhất 30 tháng kể từ ngày quyết định miễn nhiệm có hiệu lực thi hành mới được xem xét quy hoạch cán bộ.

Trường hợp bị cách chức thì sau ít nhất 60 tháng kể từ ngày quyết định cách chức có hiệu lực thi hành mới được xem xét quy hoạch cán bộ. Trường hợp bị khai trừ khỏi Đảng thì đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét buộc thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động. Các trường hợp này đều không được bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, kiểm tra, thanh tra...

Kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ là việc khó, nhưng rất quan trọng, góp phần làm cho công tác cán bộ ngày càng thực chất hơn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới. Việc quán triệt, thực hiện nghiêm Quy định 114-QĐ/TW vào thực tế sẽ tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Đây là trách nhiệm không chỉ của từng cấp ủy Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, mà rất cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự tham gia giám sát của nhân dân./.
Yêu nước ST.

Nhận diện đúng và thực hiện quyết liệt, thường xuyên các giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”

 Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng

ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn

biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ

nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa

mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:

Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ

đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị

dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên

và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt

chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng

viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin,

quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công

tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất

là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô

hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ

nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do

Nhân dân, vì Nhân dân.

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan,

đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập

trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ,

đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị;

đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của

cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng

nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định

hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là


yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến

hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các

nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân

phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức

đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo

các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi

dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện

nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ

chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ

động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của

địch.

Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các

thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập

trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó,  phải nâng

cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là

tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo

vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng

sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là

mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”,

“bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp

chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả

nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi

chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng,

phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị,

mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu

của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và

công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ


công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ

Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.

Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh

phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn

biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí

lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học,

nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả

mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng,

đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên

sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang

được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu

hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ

chức, quan điểm chính trị đối lập.

Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh

đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công

tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục

lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán

bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội

đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với

công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư

tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát

huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần

tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên

quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu

hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc.

Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội

chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và

nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế,


chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa

thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình

công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo

dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới

cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên

tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào

việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội

trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế

hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu,

công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc

phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị

không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông

tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự

nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng

sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh

đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa

những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo

niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không

còn "đất" để xuyên tạc, chống phá…/.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội có đích đến hiện thực

 Hoàn toàn có cơ sở khoa học để khẳng định chắc chắn rằng: Con đường đi

lên CNXH trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng không hề viển vông, bất

định như CNTB và các thế lực thù địch xuyên tạc. Ngược lại, nó được minh chứng

thuyết phục, sinh động cả về lý luận và thực tiễn.

Trước hết, CNXH là sự vận động tất yếu của lịch sử. Bằng hai phát kiến vĩ

đại là học thuyết giá trị thặng dư và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác đã luận giải

thuyết phục sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Dựa trên các quy luật

vận động nội tại của xã hội, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ

lực lượng sản xuất và quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến


trúc thượng tầng, C.Mác đã đi đến khẳng định: “Sự phát triển của những hình thái

kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”.

Ở đây C.Mác và Ph.Ănghen đã phát triển CNXH từ không tưởng thành khoa

học khi luận chứng nó từ quy luật vận động của lịch sử như sự vận động tất yếu

của các quy luật kinh tế, quy luật xã hội đã hình thành ngay trong lòng CNTB. Như

vậy, biện chứng khách quan của lịch sử chính là sự vận động phát triển không

ngừng của các hình thái kinh tế-xã hội. Theo đó, hình thái kinh tế-xã hội XHCN tất

yếu sẽ thay thế hình thái kinh tế-xã hội TBCN. Con đường đi lên của nhân loại

không gì khác là chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn thấp là CNXH. Đó là tất yếu của

lịch sử chứ không phải là ảo vọng hay sự tự biện của những người cộng sản.

Thứ hai, mục tiêu của CNXH là không xa vời mà rất cụ thể. Đó là xóa bỏ

chế độ người bóc lột người, xóa bỏ sự phân chia giai cấp, xây dựng một xã hội

bình đẳng, tự do, hạnh phúc. Ở CNXH có sự khác biệt rất căn bản so với tất cả

phương thức sản xuất trước đó chính là nằm ở mục tiêu hay con đường đi

tới. Trong xã hội trước đây chỉ là sự thay thế phương thức sản xuất này bằng

phương thức sản xuất khác thông qua một cuộc cách mạng xã hội. Tuy nhiên, đó

chỉ là thay thế giai cấp thống trị này bằng giai cấp thống trị khác, quần chúng cần

lao vẫn là giai cấp bị trị, vẫn chịu sự bóc lột bằng cách này hoặc cách khác. CNXH

là một xã hội được xây dựng nhằm hướng tới mục tiêu giải phóng giai cấp, giải

phóng con người, xóa bỏ triệt để chế độ người bóc lột người.

V.I.Lênin đã chỉ ra xu thế tất yếu của thời đại là quá độ đi lên CNXH trên

toàn thế giới với mục tiêu rất cụ thể là xây dựng thành công CNXH. Tuy nhiên, ở

mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau thì lựa chọn con đường, cách thức, biện pháp khác

nhau. Mỗi quốc gia phải dựa vào đặc điểm tình hình cụ thể của mình để định hình

con đường đi lên CNXH phù hợp. Tùy theo tư duy, nhận thức, cách thức tổ chức

thực hiện ở từng Đảng Cộng sản, từng quốc gia khác nhau sẽ có độ dài-ngắn trên

con đường đi đến đích.


Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “CNXH là nhằm nâng cao đời sống vật

chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”. 

Thứ ba, CNXH là chế độ xã hội đã được hiện thực hóa trên thực tế, khác biệt

về chất so với các chế độ xã hội trước đó.

Từ học thuyết của Chủ nghĩa Mác về CNXH khoa học, thắng lợi của Cách

mạng Tháng Mười Nga đã biến CNXH trở thành hiện thực với đầy đủ hình hài của

một xã hội tương lai: Giải phóng giai cấp vô sản thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của

giai cấp tư sản; giải phóng giai cấp nông dân khỏi gông cùm của địa chủ phong

kiến... Những thành tựu trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam, ở Trung

Quốc cho thấy con đường đi lên CNXH hoàn toàn là hiện thực, hướng tới xây

dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn xã hội cũ, chứ không phải là điều không tưởng.

Thứ tư, CNXH đang được xây dựng toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn

hóa, xã hội ở Việt Nam. Đây là minh chứng sinh động, cụ thể về một mô hình

CNXH được xác định qua 8 đặc trưng cơ bản về mục tiêu; về trình độ lực lượng

sản xuất; quan hệ sản xuất; nền văn hóa; về con người, về nhà nước pháp quyền

XHCN... 8 đặc trưng này là sự khái quát hóa mô hình của CNXH, nó không chỉ

dừng lại trong chiến lược, trong nghị quyết mà được hiện thực hóa trong đời sống

chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Biểu hiện rất cụ thể của dân chủ XHCN là “Dân

biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đó là minh

chứng rõ ràng, thuyết phục về sự hiện thực hóa nội hàm của con đường đi lên

CNXH. Bởi xét cho cùng, giá trị của cách mạng XHCN đều kết tinh ở chỗ người

dân làm chủ cái gì, thụ hưởng được cái gì. Và cũng chính điều này khẳng định sự

khác biệt về bản chất của chế độ XHCN so với chế độ TBCN.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Xã hội chúng ta đang xây

dựng là một xã hội mà ở đó mọi sự phát triển thực sự là vì con người, chứ không

phải vì lợi nhuận mà chà đạp lên phẩm giá con người; đó cũng là một xã hội nhân

ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới những giá trị tiến bộ, nhân văn chứ


không vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và phe nhóm. Đảng và Nhà nước ta,

toàn dân ta nỗ lực xây dựng một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về

nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân chứ không phải chỉ cho một

thiểu số giàu có.

Rõ ràng những giá trị tốt đẹp chúng ta đang xây dựng không hề xa vời, viển

vông mà ngược lại đó là những giá trị đích thực của CNXH, chúng ta hoàn toàn có

thể xác lập, xây dựng và hiện thực hóa. Điều đó cũng khẳng định rằng con đường

đi lên CNXH không phải là bất định như nhiều kẻ xấu rêu rao mà là con đường

hiện thực, có đích đến cụ thể mà chúng ta có quyền lựa chọn, có quyền nỗ lực, kiên

định, kiên trì thực hiện và có quyền tin tưởng rằng CNXH sẽ được xây dựng thành

công trên đất nước Việt Nam. Tuy nhiên, CNXH không phải là cái gì đó sẵn có, nó

phải được định hình về mục tiêu, cách thức xây dựng, nó phải do chính bàn tay,

khối óc và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của những người cộng sản, những người

lao động để đấu tranh, xác lập, sáng tạo nên.

Vì sao chủ nghĩa tư bản cố sức phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội?

 Sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Đông Âu và Liên Xô khiến cách mạng thế

giới lâm vào thoái trào, các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thừa cơ xuyên tạc,

chống phá, phủ nhận CNXH. Ngay trong chính những người cộng sản cũng có

không ít người hoài nghi, bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn khoa học và

khả năng hiện thực của CNXH. Thậm chí nhiều người còn phụ họa theo các luận

điệu thù địch, ra sức công kích, bài bác CNXH, ca ngợi CNTB, cổ xúy cho CNTB,

lấy ví dụ từ các nước TBCN giàu có để quy kết cho những giá trị cuối cùng mà

nhân loại phải hướng tới.

Một trong những luận điệu hết sức thâm độc, nguy hiểm tác động mạnh mẽ

vào nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân

chính là luận điệu cho rằng: Con đường đi lên CNXH là bất định, không có

thật. Nhiều người nhìn vào điều kiện vật chất, trình độ phát triển của nước tư bản

phát triển để nhầm tưởng rằng: CNTB là chế độ xã hội ưu việt, là mục tiêu vươn

tới của nhân loại. Đồng thời ra sức chê bai, phủ nhận CNXH, từ đó cho rằng con

đường đi lên CNXH ở Việt Nam chỉ là bánh vẽ viển vông, thiếu thực tế.

Vì sao CNTB, các lực lượng thù địch lại quyết liệt chống phá CNXH, quả

quyết khẳng định con đường đi lên CNXH là bất định? Đó là vì con đường đi lên

CNXH và những mục tiêu cách mạng XHCN đang đe dọa sự tồn vong của CNTB.

Là vì con đường đi lên CNXH ngày càng sáng rõ, ngày càng khẳng định giá trị

hiện thực.

Thực tế, nhiều nước tư bản đã phát triển ở trình độ cao và đang tiếp tục phát

triển. Tuy nhiên, đó chỉ là cái nhìn phiến diện một chiều về kết quả của CNTB ở

thời điểm hiện tại. Hãy quay lại lịch sử ra đời của CNTB, ngay trong bước đi đầu


tiên ở giai đoạn tích lũy nguyên thủy tư bản, giai cấp tư sản đã in hằn vào lịch sử

nhân loại những dòng đầy máu và nước mắt. Giai cấp tư sản ở các nước tư bản

phương Tây đã ra sức tước đoạt của cải, bóc lột sức người, vơ vét tài nguyên của

các nước thuộc địa và người lao động ở chính quốc để phục vụ mục đích làm giàu

vô hạn độ. Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội tư bản ngày càng mở rộng, lớn

lên và không bao giờ có thể khỏa lấp. V.I.Lênin khẳng định bản chất về chính trị

của CNTB là thối nát và phản động; chủ nghĩa đế quốc là bạn đường của chiến

tranh; còn chủ nghĩa đế quốc là còn nguy cơ chiến tranh. Rõ ràng đến nay, luận

điểm đó không những còn nguyên giá trị mà còn khắc sâu hơn bản chất của CNTB

đương đại.

Chính học giả người Anh là Terry Eagleton, trong tác phẩm “Tại sao Mác

đúng” đã phải cay đắng thừa nhận: “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của

một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”.

Ngày nay, các nước tư bản vẫn tiếp tục gây chiến tranh, xung đột, áp đặt

cường quyền, áp đặt giá trị dân chủ tư bản cho cả thế giới, để gieo rắc nỗi đau, sự

bất bình đẳng, áp bức bóc lột với giai cấp vô sản, nhân dân lao động, với các quốc

gia khác và coi đó là giá trị đương nhiên.

Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận

 Ở Việt Nam, ngay từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Mặt trận Việt Minh

do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã giương cao ngọn cờ đòi quyền tự do ngôn

luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tín ngưỡng, đi lại, bác bỏ áp bức bất công của

chính quyền thực dân.

Khi giành được chính quyền, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân

chủ Cộng hòa năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các

quyền tự do khác của công dân. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp các


năm 1959, 1980, 1992 và gần đây là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng

định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân.

Cùng với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Báo chí cũng đặt ra

các nền móng cơ bản và thống nhất cho tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 10

Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Công dân có quyền: 1. Sáng tạo tác phẩm báo

chí; 2. Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp

cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí;

6. In, phát hành báo in”. Như vậy, dù Việt Nam không có báo chí tư nhân nhưng

luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền tham gia vào hoạt động báo chí.

Các thế lực chống phá thường vin vào việc Việt Nam không có mô hình báo

chí tư nhân mà cố tình lờ đi rằng, mọi công dân đều được quyền tham gia sáng tạo

và xuất bản báo chí, mọi tầng lớp, tổ chức trong xã hội đều có cơ quan báo chí đại

diện của mình.

Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ: Công dân có quyền phát biểu ý kiến

về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện chủ

trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê

bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ

quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ

chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Điều 13 ghi

rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt

Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả

về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông

tin và Truyền thông, tính đến tháng 5-2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong

đó: 138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp

khoảng 6 lần so với thập niên 2000.


Ngoài ra, không thể không kể đến mạng xã hội đã tham gia mạnh mẽ vào

môi trường truyền thông trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, công dân

không bị ngăn cấm tham gia mạng xã hội. Quyền phát ngôn, tham gia ý kiến, thảo

luận về mọi vấn đề xã hội đã được mở rộng rất nhiều trên các phương tiện truyền

thông mới này. Báo chí cùng với mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn lớn, nơi

mà mọi người dân đều có tiếng nói, mọi vấn đề quốc kế dân sinh được trao đổi,

thảo luận, đó là những biểu hiện rất rõ ràng của tự do báo chí, tự do ngôn luận.

Báo chí hiện đại trong những năm gần đây, cùng sự hỗ trợ của công nghệ

truyền thông số, đã tăng cường tính tương tác với công chúng. Trên các báo điện tử

đều mở phần bình luận cho người đọc. Các kênh phát thanh, truyền hình đều có

những chương trình phát sóng trực tiếp, có số điện thoại đường dây nóng để người

nghe, người xem gọi điện tương tác ngay khi chương trình đang diễn ra.

Với những thiết bị hiện đại, nhà đài có thể di chuyển đến phỏng vấn và phát

sóng trực tiếp ngay tại nhà của các công dân. Mặt khác, các cơ quan báo chí đều

thiết lập những chương trình thu thập chất liệu phản ánh từ các “nhà báo công

dân”. Đó là minh chứng rất rõ ràng về việc báo chí có thể xuất bản ngay mà không

qua kiểm duyệt.

Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do

ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy

định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy

tiến bộ xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận

tự do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, mà là tự do xây dựng vì những mục tiêu tốt

đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị-xã hội của

dân, do dân, vì dân.

Các thế lực thù địch dù có tấn công, chỉ trích, chống phá như thế nào cũng

không thể thay đổi bản chất tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Thực ra đó

chỉ là những tiếng nói tiêu cực, lạc lõng của những người cố tình đi ngược chiều


với sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhân dân ta và của nền báo chí cách

mạng đáng tự hào của chúng ta.

Cảnh giác mưu đồ cổ xúy “ngôn luận tự do, báo chí tự do”

 Trong các luận điệu chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo

chí, có thể thấy các lập luận đã cố tình tập trung vào vế đầu của “Tuyên ngôn thế

giới về nhân quyền” năm 1948, khẳng định tự do tư tưởng, tự do xuất bản là quyền


cơ bản của con người, mà bỏ đi vế sau là quyền tự do đó nằm trong khuôn khổ

pháp luật và thể chế mỗi quốc gia.

Thay vì xem xét các mối quan hệ giữa Hiến pháp, pháp luật và hoạt động

báo chí thực tiễn, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí chỉ tập trung vào các vụ việc

và cá nhân cụ thể để xuyên tạc về tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam.

Khái niệm mà họ sử dụng chính là "ngôn luận tự do", "báo chí tự do", gần với khái

niệm tự do tuyệt đối, không có giới hạn.

Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) nhiều năm gần đây xếp Việt

Nam ở vị trí gần cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí của 180 quốc gia, với những

lý do chủ yếu là “đàn áp các blogger”, “bắt giam các nhà báo”, nhưng trong những

vụ việc này, các đối tượng bị bắt giữ đều có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân

chủ để đưa tin sai sự thật, tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước, xuyên tạc

tình hình kinh tế-xã hội ở Việt Nam.

Trên một kênh truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí, khi bình luận về Việt

Nam gần đây, có một bài viết về bảng xếp hạng của RSF. Nhưng tổ chức RSF lại

không đưa ra được khái niệm hay cách hiểu nào về tự do báo chí. Nếu họ cho rằng

không thể bắt giữ các nhà báo và cho rằng không ai đáng bị bắt vì lý do tham gia

ngôn luận, thì có lẽ họ đã bỏ qua hoàn toàn việc hoạt động báo chí phải nằm trong

khuôn khổ pháp luật. Với cách lập luận như vậy, họ đang cổ xúy cho ngôn luận tự

do, báo chí tự do mà không chịu bất cứ trách nhiệm xã hội nào.

Trong vụ việc bắt giữ một nữ nhà báo gần đây, có thể thấy rõ trong thời gian

dài, nhà báo này đã công khai chỉ trích nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trên

trang cá nhân của mình, như Công ty Cổ phần Đại Nam, Quỹ Sống Foundation,

Mạng lưới Tự kỷ Việt Nam... với lời lẽ nặng nề nhưng không có căn cứ xác đáng.

Núp dưới chiêu bài “nêu nghi vấn”, “đặt dấu hỏi”, “phân tích giả định”, “đấu tranh

chống tiêu cực”, nhà báo này đã tùy tiện đưa ra những thông tin có nhiều dấu hiệu

quy chụp, phán xét không khách quan, sai sự thật, bất chấp luật pháp và đạo lý.


Ngôn luận tự do dựa theo những phán đoán, suy diễn chủ quan, ác ý đã dẫn

một người từng là nhà báo kiêm luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì lợi

dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ

chức khác. Một số nhà báo, luật sư, người dùng mạng xã hội khác bị bắt cũng có

chung vi phạm pháp luật như vậy.

Khi phê phán, chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận và tự do báo chí,

các thế lực thù địch cũng không chỉ ra được điều luật nào, quy định nào ngăn cản

tự do của nhà báo, mà có xu hướng áp đặt hình mẫu phương Tây cho Việt Nam.

Đó là một cách tiếp cận không có cơ sở khoa học. Nội hàm của tự do ở mỗi quốc

gia, mỗi thời điểm có thể giống nhau về phổ quát, còn lại sẽ mang đặc điểm của

mỗi thể chế chính trị-xã hội. Thực chất, không có nơi nào có tự do tuyệt đối, đây

chỉ là một khái niệm mang tính tương đối và có sự phát triển trong các nền tảng xã

hội khác nhau.

Như vậy, ngôn luận tự do, báo chí tự do theo cách mà các thế lực thù địch

tuyên truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các

khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả

gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do báo

chí chân chính có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân loại.

Trọn nghĩa với quê hương

 

Trở về cuộc sống đời thường sau những năm tháng cùng đồng đội vào sinh ra tử ở các chiến trường để giành nền độc lập cho dân tộc, những người có công với cách mạng của huyện Tứ Kỳ (Hải Dương) tiếp tục góp sức xây dựng quê hương ngày càng phát triển.

“Bệnh" trục lợi

 

Dư luận tỉnh Kon Tum và cả nước chưa lắng xuống khi Công ty Cổ phần Rượu sâm Ngọc Linh Kon Tum, thành viên của Công ty Cổ phần Tập đoàn Y dược sâm Ngọc Linh Việt Nam có trụ sở tại quận Đống Đa, TP Hà Nội dù chưa trồng được một cây sâm nào vẫn công bố sở hữu vườn sâm Ngọc Linh lên đến 600ha.

Bộ đội về làng, đường sáng bản quang

 

Từ ngày 16-7, 75 cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Tăng thiết giáp 206 (Quân khu 4) đã hành quân về xã Phượng Nghi, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa làm công tác dân vận. Về với nhân dân bằng tình cảm trách nhiệm, thông qua những hành động, việc làm cụ thể, những người lính Lữ đoàn Tăng thiết giáp 206 đã tô thắm thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương.

Cán bộ năng nổ, nhiều thành tích

 

Bốn năm liên tục (2019-2022) đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở, được Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; nhiều năm là đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đoạt nhiều giải cao tại các hội thi. Đó là những thành tích nổi bật của Thiếu tá Phan Hoài Ẩn, Trợ lý Ban Tuyên huấn, Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh Quảng Ngãi.

Giải nén cho nội đô

 

Quy hoạch xây dựng hệ thống trụ sở làm việc của các cơ quan, bộ, ngành vừa được Bộ Xây dựng công bố. Trong đó, hai khu vực là Tây Hồ Tây và Mễ Trì của Hà Nội được xác định quy hoạch làm trụ sở của 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ, 8 cơ quan thuộc Chính phủ, 6 cơ quan Trung ương.

Nét đẹp văn hóa của dân tộc

 

Bắt nguồn từ truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tri ân người có công với đất nước từ lâu đã trở thành nét đẹp văn hóa của dân tộc, góp phần làm nên sức mạnh nội sinh giúp dân tộc ta vượt qua bao khó khăn, thử thách trong tiến trình phát triển. Ngày nay, nét đẹp văn hóa ấy vẫn liên tục được bồi đắp, phát huy và tỏa sáng. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần có cuộc phỏng vấn Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu, nguyên Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật, nguyên Cục trưởng Cục Chính sách, xung quanh câu chuyện này.

Thứ Năm, 27 tháng 7, 2023

Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí

 Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức

và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của

người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân

quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với

cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn

chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng

đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng

về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ

khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công

dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát

ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do

ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.

Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi,

mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã

hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản

ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...

Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì

sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ

quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với


các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không

chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận,

tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày

tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc,

cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải

chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một

xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của

đông đảo nhân dân.

Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng

đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã

trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn

chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do

báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã

hội.

Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống

lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do

ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông

Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào

mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để

khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ

không được bảo vệ”.

Nghĩ thấu đáo trước khi phát ngôn

 Vừa đến cửa, ông Cường đã kéo ông Nam ngồi xuống, giọng bức xúc:- Tại

sao Quân đội chưa đề nghị tăng tuổi nghỉ hưu cho sĩ quan, quân nhân chuyên

nghiệp? Chẳng nhẽ bây giờ chúng ta sợ cán bộ, nhân viên không đủ sức khỏe để

phục vụ? Tôi đọc mấy bình luận trên mạng xã hội mà tức anh ách!

Ông Nam từ tốn hỏi:

- Thế họ bình luận sao mà ông tức?

- Thì chỉ vì chuyện đề nghị tăng tuổi hưu hay không mà họ bảo bộ đội thời

nay sợ gian khổ, kém rèn luyện, không đủ sức phục vụ lâu dài.

- Tôi theo dõi thông tin thấy Quốc hội chưa thảo luận vấn đề này. Vậy mà

các “chuyên gia bàn phím” trên mạng xã hội đã “bàn” xong hết rồi. Việc tăng hay

giảm tuổi nghỉ hưu Bộ Quốc phòng phải nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng trước khi

báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định. Vậy mà ông lại tự “chốt” là

không đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu? Chính ông cũng chưa nắm vững vấn đề và đang

bị kích động đấy ông Cường ạ!

Ông Cường vẫn khăng khăng:

- Tôi thấy trên mạng người ta nói thế thì tôi nói thôi.

- Ông có biết là nếu tăng tuổi nghỉ hưu đối với sĩ quan, quân nhân chuyên

nghiệp thì cũng chỉ phù hợp với một bộ phận thôi. Ông từng trong quân ngũ, cũng

biết không phải vị trí nào tuổi cao cũng làm tốt. Nếu ở đơn vị cơ sở, suốt ngày bám

nắm bộ đội, trực tiếp huấn luyện, tham gia diễn tập, sẵn sàng chiến đấu thì tuổi cao

cán bộ có đủ sức theo bám bộ đội không? Hơn nữa, những năm gần đây, khi đang

tinh giản biên chế thì giữ tuổi nghỉ hưu như hiện nay, tôi nghĩ cũng là một phương

án để giải quyết bài toán số lượng. Ông đọc thông tin trên mạng xã hội thì phải

chọn lọc. Các thế lực phản động bây giờ toàn dựa vào mấy “chuyện nóng” để


xuyên tạc, tung tin thất thiệt, chống phá, gây hoang mang trong dư luận. Mình

không phân biệt được lại đi tuyên truyền cho chúng là “tự diễn biến” đấy. Ông cần

suy nghĩ thấu đáo và nắm chắc thông tin chính thống trước khi nói nhé.

Ông Cường cười xuê xoa:

- Ờ thì, tôi chỉ nghĩ sao nói vậy. May cũng mới nói với ông, chứ nói ra ngoài

thì có khi lại mang tiếng “phản động”. Cảm ơn ông, tôi sẽ rút kinh nghiệm!

 

Cảnh giác với hoạt động Hội thánh Đức Chúa trời mẹ


Thời gian gần đây, Hội thánh Đức Chúa trời mẹ (HTĐCTM) tiếp tục hoạt động trở lại. Về bản chất hoạt động của HTĐCTM vừa mang tính chất mê tín dị đoan, vừa tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự, làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc và cũng là điều kiện để các cá nhân, tổ chức thù địch lợi dụng xuyên tạc về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Đối chiếu quy định hiện hành về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cho thấy, tổ chức HTĐCTM không có giáo lý, giáo luật, cơ cấu tổ chức riêng, có mục đích hoạt động chính là vụ lợi, trái pháp luật nên không đủ điều kiện để được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo.

Hoạt động của HTĐCTM tại một số địa phương thời gian vừa qua như Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Quảng Nam và một số tỉnh miền núi phía Bắc trước đây cho thấy tổ chức này đã vi phạm nghiêm trọng các điều cấm quy định tại Ðiều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 với các nội dung như: ép buộc, mua chuộc người khác; xâm phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi…

Những gì HTĐCTM tuyên truyền là hoàn toàn trái ngược với thuần phong mỹ tục cũng như những giá trị chuẩn mực về đạo đức, văn hóa của người Việt; không được pháp luật Việt Nam cho phép; hoạt động với các biến thể dị thường núp dưới nhiều danh nghĩa (nhất là danh nghĩa từ thiện, mở các lớp hướng thiện); những kẻ cầm đầu hầu hết là những người không bình thường, có quá khứ bất hảo (cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút…); mục đích chính là vụ lợi.

Hoạt động của HTĐCTM hiện có nhiều vi phạm như: sinh hoạt tôn giáo tập trung khi chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận và cho phép; truyền đạo không đúng đối tượng (tập trung vào học sinh, sinh viên); tài liệu tuyên truyền là những văn hóa phẩm không rõ nguồn gốc; ảnh hưởng đến truyền thống, phong tục tập quán, đạo đức gia đình, xã hội (như xúi giục, kích động nguời theo ứng xử không hiếu thảo với cha mẹ, đập phá bàn thờ tổ tiên, tuyên truyền người thân trong gia đình là ma quỷ)...

Thậm chí, hoạt động của HTĐCTM trong thời gian vừa qua tại một số địa phương đã gây chia rẽ, kích động gây mâu thuẫn giữa những người theo và không theo tín ngưỡng, tôn giáo và có dấu hiệu trục lợi cá nhân, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân ở một số địa bàn, đặc biệt là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn.

Vậy nên, việc nhận thức rõ bản chất để kịp thời cảnh giác, ngăn chặn, xử lý hoạt động phi pháp, nguy hiểm của những đối tượng tự xưng là người của HTĐCTM là điều cần thiết, đem lại sự bình yên cho xã hội.


LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 28 THÁNG 7 NĂM 1954!

     “Hòa bình cũng như kháng chiến, chúng ta quyết không nên vì thắng mà kiêu. Toàn thể nhân dân, quân đội và cán bộ ta cần phải ghi nhớ mà thực hành”!
     Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Hội nghị Giơnevơ thắng lợi lớn”, viết ngày 28 tháng 7 năm 1954 được Báo Nhân dân đăng trên số 209, từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 7 năm 1954. Đây là lúc nhân dân ta vui mừng, phấn khởi với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Điều đó là hoàn toàn xứng đáng, nhưng cảm giác đó cũng dễ dẫn đến tâm lý tự kiêu, say xưa chiến thắng mà thỏa mãn dừng lại. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã phân tích và làm sâu sắc hơn thắng lợi của nhân dân ta trong Hội nghị Giơnevơ nói riêng, trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung. Người không quên nhắc nhở nhân dân và quân đội ta cần nhận rõ, thắng lợi đó rất quan trọng nhưng chỉ là bước đầu trên con đường đi tới độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc thực sự. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải tiếp tục đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng thống nhất, hành động nhất trí, ra sức đấu tranh để: Củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, xây dựng dân chủ thật sự. Chúng ta đã giành thắng lợi trong kháng chiến, nhất định sẽ thành công trong hòa bình.
     Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lịch sử và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, là phương châm hành động để cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân quán triệt và thực hiện có hiệu quả trong lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, xây dựng tinh thần đoàn kết toàn quân một ý chí, tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước và hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa. Dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thấu triệt lời thề: Không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản, rèn luyện ý chí chiến đấu kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, giữ vững và phát huy tốt truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân./.
Môi trường ST.

ĐỒNG HÀNH CÙNG PHỤ NỮ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

 70 đại diện của các Hội phụ nữ các tỉnh phía nam đã tham gia một khóa tập huấn về hỗ trợ phụ nữ nâng cao chất lượng cuộc sống do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Unilever Việt Nam tổ chức tại Bà Rịa - Vũng Tàu.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cho biết, chương trình tập huấn mang tên “Đồng hành cùng phụ nữ xây dựng gia đình có kiến thức, có sức khỏe và thúc đẩy trao quyền cho phụ nữ”, nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cán bộ Hội cấp tỉnh trong tuyên truyền xây dựng gia đình có kiến thức, có sức khỏe và thúc đẩy trao quyền cho phụ nữ.
Mục tiêu của chương trình nhằm hỗ trợ phụ nữ nghèo ở 63 tỉnh, thành phố cải thiện chất lượng cuộc sống.
Chương trình bao gồm các hoạt động hợp tác như: Truyền thông, giáo dục, hỗ trợ nâng cao nhận thức cho phụ nữ trong chăm sóc sức khỏe và bảo vệ môi trường, xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và bình đẳng; Nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, khởi nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện sinh kế; Tổ chức và thực hiện các hoạt động nâng cao năng lực cho cán bộ Hội phụ nữ; Chương trình quỹ khởi đầu mới.
Đến nay, chương trình đã giúp hàng triệu phụ nữ được giáo dục, trao quyền, tiếp cận tốt hơn tới việc làm, giáo dục, thành lập cơ sở kinh doanh... làm thay đổi nhiều số phận và có sức lan tỏa trong cộng đồng./.
ST

BÓC MẼ CHIÊU THỨC BÔI ĐEN HÌNH ẢNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ NHẰM MƯU ĐỒ "PHI ĐẢNG HÓA" QUÂN ĐỘI

 Thời gian gần đây, lợi dụng một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, các thế lực thù địch, phản động ra sức rêu rao, vu cáo "Quân đội ta đã thoái hóa, biến chất...". Từ đó, chúng ra sức tuyên truyền rằng, “không cần phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vì vô nghĩa”.

Đây là một trong những chiêu thức nguy hiểm được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” trong Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội.
Đủ chiêu trò xuyên tạc, bôi nhọ danh hiệu cao quý của Quân đội ta
Trong tâm thức Bộ đội Cụ Hồ và người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, vị lãnh tụ rất đỗi gần gũi, thân thương. Bác không chỉ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mà còn là lãnh tụ tinh thần, niềm tin yêu, biểu tượng cao quý, thiêng liêng, nguồn cội của sự quy tụ, tập hợp, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc; dẫn dắt quân và dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Nhờ có Bác, nhân dân ta có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc; đất nước ta có cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay.
Bộ đội ta rất vinh dự, tự hào được mang tên Bác kính yêu. Quân đội ta được thừa hưởng những tài sản đồ sộ và vô giá, được Bác trao truyền, để lại, luôn mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng, được cô đọng, kết tinh trong danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ trọn đời vì nước, vì dân. Vì lẽ đó, phẩm chất và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ mang giá trị biểu trưng độc đáo, đặc sắc, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của Quân đội và nhân dân ta.
Với tầm ảnh hưởng sâu rộng và sự lan tỏa ngày càng to lớn của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế, điều đó đã làm cho các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lo sợ, bất an. Họ hiểu rằng, chừng nào ở nước ta còn có Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì chừng ấy, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội không thể thực hiện được.
Vì vậy, để bảo tồn “sự sống” của mình, các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta đã cấu kết với nhau, tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ, xóa bỏ vai trò, sức mạnh và tầm ảnh hưởng to lớn của Quân đội ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một trong những chiêu thức xảo quyệt nhất mà các thế lực thù địch ráo riết thực hiện là xuyên tạc, bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Mục đích của chiêu trò này nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội ta.
Đây là chiêu thức họ đã và đang rắp tâm thực hiện nhằm hủy hoại thanh danh, uy tín, vị thế của Bộ đội Cụ Hồ; làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, tước bỏ công cụ bạo lực sắc bén, chỗ dựa vững chắc nhất, tin cậy, trung thành nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Chiêu thức nguy hiểm này được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” thông qua mưu đồ “phi đảng hóa” Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội đã xuất hiện cuối những năm 90 của thế kỷ 20 ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Về bản chất, “phi đảng hóa” hay “phi chính trị hóa” Quân đội chỉ là tên gọi khác nhau nhưng cùng mục đích là tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội ta từ xa lạ đến xa lìa nhân dân, trở nên cô lập, bị vô hiệu hóa bởi mắc mưu “diễn biến hòa bình”.
Điều đó cho thấy, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai hiện tượng có chung bản chất, thể hiện sự công khai chống phá trắng trợn với tính chất nguy hại vô cùng to lớn của việc thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, hướng lái Quân đội ta chỉ “tuân theo pháp luật”, chỉ phục vụ Tổ quốc, không phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội ta cũng giống như quân đội Liên Xô rơi vào tình trạng “lầm đường lạc lối”, mất sức chiến đấu, trở thành đội quân vô dụng, cho dù có đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại nhưng không thể bảo vệ được Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, không thể bảo vệ thành quả cách mạng của Liên Xô.
Để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, đối lập phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngày nay với phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Chúng rêu rao rằng, sau khi Cụ Hồ đi vào “thế giới vĩnh hằng”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã chiếm thế thượng phong”, trở nên “độc quyền, toàn trị”, thì theo đó, hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cũng dần bị “biến dạng, méo mó, không còn thiêng liêng như trước đây”. Thậm chí có kẻ xuyên tạc rằng, ngày nay, Bộ đội Cụ Hồ “chỉ còn lại là cái bóng không hồn”, “một cái tên gọi hồi tưởng của quá khứ” vì Quân đội nhân dân Việt Nam “bị nền kinh thế thị trường nuốt chửng, lợi ích vật chất chi phối và chủ nghĩa cá nhân đã bao phủ bóng đen lên Bộ đội Cụ Hồ”.
Những kẻ xấu đã “vơ đũa cả nắm”, lấy hiện tượng quy về bản chất, lấy ví dụ cụ thể để đơm đặt, thêu dệt thành sự việc phổ biến, cố tình thổi phồng, khoét sâu khuyết điểm của một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, để vu cáo, nói xấu Quân đội ta...
Giải quyết song hành hai nhiệm vụ “xây” và “chống” để giữ vững hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ
Với những chiêu thức nêu trên, các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta muốn thực hiện mục tiêu kép đó là: Làm suy yếu bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta; dọn đường cho âm mưu bạo loạn lật đổ, “cách mạng màu”, thực hiện “diễn biến hòa bình”; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Điều ảo tưởng của họ chỉ có thể diễn ra và đạt được mục đích khi họ thực hiện thành công thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội, xuyên tạc, bôi đen phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.
Hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức sâu sắc sự cần thiết phải đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội ta. Bài học kinh nghiệm về xây dựng quân đội trên thế giới kể từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu từ những năm 90 của thế kỷ 20 luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta hãy đề cao cảnh giác, không cho phép các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ dưới mọi hình thức; không được phép để xảy ra hiện tượng “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội trước mọi tình huống.
Việc đấu tranh, làm thất bại âm mưu "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch nhất thiết phải gắn chặt với việc bền bỉ giữ vững, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Điều đó đặt ra vô cùng cấp bách, cần thiết đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam; đặc biệt quan tâm hơn nữa nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.
Đây là nhiệm vụ “xây” trong mối quan hệ mật thiết với “chống”, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự khẳng định “còn Đảng còn mình”, “còn Bộ đội Cụ Hồ là còn chân lý, niềm tin và lẽ phải”, bởi nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia, dân tộc và uy tín, vị thế, danh dự Bộ đội Cụ Hồ.
Đây cũng là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ bức thiết hàng đầu của công tác tham mưu, đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, góp phần đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” được hiện thực hóa trong cuộc sống.
Có thể nói rằng, “xây” đi đôi với “chống” vừa là áp lực, đồng thời là động lực để Quân đội ta hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Kết quả thực hiện nhiệm vụ này được quy định bởi chất lượng, hiệu quả phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội trong tình hình mới. Sự non kém của mặt này sẽ làm suy giảm mặt kia và ngược lại.
Cho nên, giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai nhiệm vụ song hành, chung một mục tiêu, làm cho Quân đội ta luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cái gốc vững chắc nhất, vũ khí sắc bén nhất, tạo nên sức mạnh nội sinh vô cùng mạnh mẽ để Quân đội ta bách chiến, bách thắng trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trong tình hình mới./.
ST