Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2023

 CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA VIỆT NAM - KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN


     Đến nay, Việt Nam đã 4 lần công bố Sách trắng quốc phòng, trong đó thể hiện rõ mục tiêu tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận một cách vô căn cứ. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá chính sách quốc phòng Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.

     Những năm qua, cùng với quan điểm, đường lối quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được thể hiện nhất quán trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Việt Nam đã công bố Sách trắng quốc phòng, trong đó nêu rõ chủ trương 4 không, thể hiện rõ sự công khai, minh bạch tính chất của nền quốc phòng Việt Nam là hòa bình và tự vệ; phương châm nhất quán là kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung; tăng cường sự hiểu biết và xây dựng lòng tin của các quốc gia khác với Việt Nam. Tuy nhiên, bất chấp sự thật, các thế lực thù địch đã không từ thủ đoạn nào để công kích, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Họ cho rằng, chính sách quốc phòng nói chung, chủ trương “bốn không” của Đảng, Nhà nước ta nói riêng đã lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với tình hình thực tiễn; “không liên minh quân sự”, “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là Việt Nam đã “từ bỏ bạo lực cách mạng trong bảo vệ đất nước”, là “tự trói tay, chân mình”, “tự cô lập mình”, đi ngược lại xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực Biển Đông, các thế lực thù địch cho rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Do đó, chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc.

     Cần khẳng định rõ, những luận điệu trên hoàn toàn vô căn cứ, xuyên tạc trắng trợn chính sách quốc phòng của Việt Nam. Bởi, quan điểm nhất quán xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta là bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định. Điều 4, Luật Quốc phòng năm 2018 xác định: Thực hiện đối ngoại quốc phòng phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chống chiến tranh dưới mọi hình thức; chủ động và tích cực hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, đối thoại quốc phòng, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 nêu rõ: Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.

     Trên thực tế, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng chính sách quốc phòng đã đề ra, tích cực thực hiện cam kết trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả các nước lớn trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cử hơn 510 lượt cán bộ, nhân viên với 03 lượt bệnh viện dã chiến và đội công binh số 1 đến thực hiện nhiệm vụ tại Phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi và Trụ sở Liên hợp quốc, được Liên hợp quốc cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao, tạo uy tín, vị thế, đưa Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với 192/193 phiếu tán thành. Đây là minh chứng thể hiện rõ mong muốn, thiện chí của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trong thực thi chính sách quốc phòng mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận./.

   



 CÁN BỘ SỢ TRÁCH NHIỆM - “CĂN BỆNH”

CẦN CHỮA TRỊ NGAY (kỳ 1)

Tác giả: Trần Nam Cường

Cán bộ sợ trách nhiệm - vấn đề nóng hiện nay

Trải qua các thời kỳ cách mạng, đội ngũ cán bộ của Đảng ta cơ bản luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, dám xả thân vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, hầu hết đội ngũ cán bộ giữ vai trò tiên phong trong chiến đấu, luôn giành phần khó khăn, gian khổ nhất về mình, sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ trước đổi mới, không ít cán bộ dám đổi mới sáng tạo, đột phá vì lợi ích chung, dám “xé rào” để phát triển kinh tế, xã hội cho địa phương. Trong thời kỳ đổi mới, tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tiếp tục được phát huy, tạo nên những đột phá mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần đưa Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.

Nói về trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá: “Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao” . Đây là cơ sở vững chắc để cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến nhanh, tiến mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa, làm cho cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cán bộ “chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân” ; có hàng vạn tập thể, cá nhân bị xử lý trách nhiệm trong những năm qua .

Và thời gian gần đây, câu chuyện “cán bộ sợ trách nhiệm” lại nóng lên, được bàn thảo nhiều trên các diễn đàn, được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước phê bình, nhắc nhở, chấn chỉnh nhiều lần trong các cuộc họp, các văn bản chỉ đạo.  

Ngày 19/4/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 280/CĐ-TTg để chấn chỉnh, tăng cường trách nhiệm trong xử lý công việc của các bộ, cơ quan, địa phương. Công điện nêu rõ: “Trong thời gian gần đây, thực tế ở một số bộ, cơ quan, địa phương và một bộ phận cán bộ, công chức đã xảy ra tình trạng né tránh, đùn đẩy công việc, có tâm lý e dè, sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám tham mưu, đề xuất xử lý công việc, không quyết định công việc thuộc thẩm quyền; có trường hợp đẩy việc lên cơ quan cấp trên hoặc sang các bộ, cơ quan khác” . 

Ngày 17/5/2023, phát biểu bế mạc Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhắc đến tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Đánh giá hạn chế, khuyết điểm trong nửa đầu nhiệm kỳ, Đồng chí thẳng thắn phê bình: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, thậm chí sợ trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn là vấn đề rất đáng lo ngại, diễn biến phức tạp, không thể chủ quan, lơ là” . Nhận định những khó khăn, thách thức lớn từ nay đến hết nhiệm kỳ, Tổng Bí thư chỉ rõ: “Việc tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách, thực thi công vụ vẫn là khâu yếu; kỷ luật, kỷ cương ở nhiều nơi chưa nghiêm, thậm chí còn có hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; cái gì có lợi thì kéo về cho cơ quan, đơn vị và cá nhân mình; cái gì khó khăn thì đùn đẩy ra xã hội, cho cơ quan khác, người khác” .

Ngày 22/5/2023, phát biểu khai mạc Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV, đề cập đến việc cần đề ra các giải pháp khắc phục hạn chế trong phát triển về kinh tế - xã hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh: “nhất là có giải pháp hữu hiệu để chấn chỉnh, khắc phục ngay tình trạng kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm, tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức trong thực thi công vụ” .

Ngày 28/6/2023, tại buổi tiếp xúc cử tri thành phố Đà Nẵng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cho biết, Đảng, Nhà nước chủ trương: “Cổ vũ, bảo vệ, khuyến khích sự năng động, dám nghĩ, dám làm của tập thể lãnh đạo, người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp trong công việc chung; đồng thời cũng xử lý nghiêm những cán bộ có tư tưởng bàn lùi, né tránh, sợ trách nhiệm, muốn an toàn theo kiểu không làm gì hết” .

Đây là thực trạng rất đáng lo ngại, tác động tiêu cực đến sự vận hành của hệ thống cơ quan, tổ chức và trong thực thi công vụ. Nó làm cho công việc bị chậm chễ, ách tắc; nhiều cơ hội đầu tư bị bỏ lỡ; nhiều công trình bị triển khai chậm tiến độ; nhiều nguồn vốn đầu tư công không được giải ngân đúng kế hoạch; nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội không được giải quyết kịp thời… Đặc biệt, người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương sợ trách nhiệm sẽ làm cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền thiếu niềm tin, thiếu nhiệt huyết, làm việc cầm chừng, không muốn cống hiến; bởi họ có tham mưu, đề xuất, hiến kế những ý tưởng, cách làm mới, sáng tạo, đột phá cũng không được người lãnh đạo, quản lý của mình ghi nhận, ra quyết định triển khai trên thực tế. Rộng hơn, cán bộ sợ trách nhiệm sẽ làm giảm sút năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; làm cản trở sự phát triển của đất nước; làm sa sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; kéo theo là nguyên cớ để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. 

Trong bài viết “Bệnh sợ trách nhiệm” đăng trên Tạp chí Cộng sản số 11/1973, với bút danh “Người xây dựng”, đồng chí Nguyễn Phú Trọng viết: “Thái độ sợ trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên đang là một trở ngại cho công tác của Đảng và Nhà nước, làm cho công việc bị trì trệ, dậm chân tại chỗ, làm cho những nhân tố mới không phát huy được, những khuyết điểm và nhược điểm không được khắc phục kịp thời, và làm cho trình độ, năng lực công tác của cán bộ chậm được nâng cao” . Bài viết cách đây 50 năm, nhưng đến nay tính thời sự của nó vẫn còn rất nóng bỏng, đòi hỏi mỗi cán bộ cần đọc, cần học, soi rọi và sửa chữa, nhất là những cán bộ mà trong mình vẫn mang “mầm bệnh” sợ trách nhiệm.

Sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu trách nhiệm là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là: “né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả” . Và, một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống là: “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân” . Đó chính là sự suy thoái kép.

Vì vậy, sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, ở những cấp độ khác nhau, đều rất nguy hại, tác động tiêu cực đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cán bộ sợ trách nhiệm - những nguyên nhân chủ yếu

Có nhiều nguyên nhân làm cho một bộ phận cán bộ sợ trách nhiệm, cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan chủ yếu đến từ những tác động của mặt trái cơ chế thị trường, khi mà ở đó, của cải, vật chất, tiền bạc được đề cao, là lợi ích tối thượng của các chủ thể kinh tế; lối sống thực dụng, vị kỉ, thờ ơ, vô cảm có điều kiện tồn tại và lây lan. Cán bộ sống và làm việc trong môi trường đó, nếu thiếu bản lĩnh, thiếu tu dưỡng, rèn luyện thì khó tránh khỏi những tác động tiêu cực về mặt tâm lý, tư tưởng, lối sống và kéo theo là sự tính toán lợi ích cá nhân trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ. 

Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan vẫn là chính. Hãy xem xét nó trên hai góc độ: cá nhân và tổ chức.

Đối với cá nhân, sợ trách nhiệm chủ yếu là do cán bộ thiếu bản lĩnh, hoặc thiếu tu dưỡng phẩm chất đạo đức, hoặc thiếu năng lực, hoặc sa vào chủ nghĩa cá nhân.

Vì thiếu bản lĩnh mà cán bộ thiếu dũng khí đấu tranh, không dám nói ra chính kiến của mình, nhất là trong sinh hoạt lãnh đạo, tự phê bình và phê bình, vì sợ nói ra lỡ có “động chạm” sẽ bị đồng nghiệp, đồng chí của mình không ưa, không ủng hộ; thế nên chọn cách “dĩ hòa vi qúy”, “gió chiều nào theo chiều ấy”. Vì thiếu bản lĩnh mà cán bộ không dám làm, vì sợ làm sai sẽ ảnh hưởng đến chức vụ công tác của mình; thế nên chọn cách làm theo một cách máy móc những gì cấp trên chỉ đạo, không cần đột phá, đổi mới, sáng tạo. Và đương nhiên, vì thiếu bản lĩnh mà cán bộ không dám chịu trách nhiệm, không dám đương đầu với khó khăn, thử thách.  

Vì thiếu tu dưỡng phẩm chất đạo đức mà cán bộ dễ nảy sinh thái độ thờ ơ, vô cảm trước những vấn đề khó khăn, bức xúc của tập thể, của xã hội, của nhân dân. Từ đó, dẫn đến tình trạng phó thác, ỷ lại cho tổ chức, cho cấp trên, thiếu đôn đốc, kiểm tra, không sâu sát cơ sở, xa rời quần chúng. Vì thiếu tu dưỡng phẩm chất đạo đức mà cán bộ thiếu đi liêm sỉ, không có lòng tự trọng khi đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không thấy hổ thẹn khi bản thân trách nhiệm thấp, không hoàn thành hoặc hoàn thành nhiệm vụ ở mức thấp.

Khi cán bộ hội tụ đầy đủ bản lĩnh, phẩm chất đạo đức nhưng lại thiếu năng lực, hay nói cách khác năng lực không đáp ứng với yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao, thì cũng dễ dẫn đến sợ trách nhiệm. Bởi thiếu năng lực nên trước mỗi công việc, nhất là việc khó, việc mới, cán bộ không biết quyết định thế nào cho đúng, triển khai thế nào cho hiệu quả; làm gì cũng sợ sai, sợ bị phê bình, chất vấn; thế nên đùn đẩy trách nhiệm cho người khác, nơi khác trở thành giải pháp an toàn. Có thể nói, cán bộ thiếu năng lực so với yêu cầu đòi hỏi của cương vị công tác sẽ dẫn đến thiếu quyết đoán, mặc dù có đầy đủ bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm. Vừa qua, nhiều cán bộ đã bị kết án do “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” mà khung hình phạt tù lên đến 12 năm theo Điều 360 Bộ luật hình sự. Có bị cáo khai trước tòa do không đủ năng lực quản lý nên để xảy ra hậu quả nghiêm trọng mà bản thân không lường trước được. Tình hình ấy, xét ở chừng mực nào đó, nó làm cho không ít cán bộ thiếu năng lực công tác trở nên sợ trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm. 

Nguyên nhân chủ yếu làm cho cán bộ sợ trách nhiệm chính là chủ nghĩa cá nhân. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đánh giá, một bộ phận cán bộ, đảng viên “sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân” . Những cán bộ mang trong mình chủ nghĩa cá nhân thường có biểu hiện: trước mỗi quyết định, mỗi việc làm, họ luôn tính toán được gì, mất gì cho bản thân; việc dễ, thuận lợi thì xung phong đi đầu, gặp khó khăn thì né tránh; khi thành công thì tranh phần, lúc thất bại thì đổ lỗi; được lợi cho bản thân thì hăng hái làm, không có lợi cho bản thân thì thoái thác, đùn đẩy. Họ thường so bì thiệt hơn: làm đúng được lợi cho tập thể, làm sai cá nhân mình chịu trách nhiệm chính. “Làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm không sai” tưởng chừng chỉ là cách nói trào phúng, nhưng lại trở thành phương châm sống và làm việc của không ít cán bộ, nhất là những cán bộ chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân, chỉ chăm chăm giữ cho chắc “cái ghế” của mình. 

Đối với tổ chức, cán bộ sợ trách nhiệm là do tổ chức làm chưa tốt công tác cán bộ; do tổ chức chưa có cơ chế, chính sách hữu hiệu để phát huy cán bộ, bảo vệ cán bộ tốt và kiểm tra, giám sát, phê bình, xử lý cán bộ sai phạm. 

“Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”  là quan điểm đúng đắn, nhất quán của Đảng ta. Làm tốt công tác cán bộ sẽ làm cho đội ngũ cán bộ của Đảng ngày càng vững mạnh, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Tuy nhiên, trên thực tế, công tác cán bộ ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu của Đảng và mong muốn của nhân dân. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn còn không ít trường hợp chưa phản ánh đúng thực chất. Việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử có nơi chưa bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, cá biệt có nơi bố trí người nhà, người thân chưa đủ uy tín” .

Những hạn chế, tiêu cực trong công tác cán bộ làm cho việc bố trí cán bộ không tương xứng với cương vị công tác cả về phẩm chất và năng lực, trách nhiệm và uy tín, “tâm” và “tầm”. Công việc đảm nhiệm vượt quá khả năng thực tế của cán bộ sẽ làm cho cán bộ sợ chính công việc được giao đảm nhiệm. Trường hợp cán bộ do “chạy chức”, “chạy quyền” mà có được chức vụ công tác, thì một mặt công tác cán bộ đã phát sinh tiêu cực, một mặt cán bộ ấy đã vướng vào chủ nghĩa cá nhân. Suy cho cùng, sợ trách nhiệm cũng theo đó mà sinh ra.

Tổ chức không có cơ chế, chính sách hoặc cơ chế, chính sách chưa đủ mạnh để phát huy cán bộ, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm và kiểm tra, giám sát, phê bình, xử lý cán bộ thiếu trách nhiệm cũng là một trong những nguyên nhân làm cho cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Làm việc trong một tổ chức, cán bộ luôn mong muốn kết quả, thành tích làm việc của mình được tổ chức ghi nhận, đánh giá đúng. Khi cán bộ luôn nỗ lực công tác, năng động, sáng tạo, hành động vì lợi ích chung, nhưng không được cấp trên, tổ chức ghi nhận, bảo vệ những cống hiến của họ, thì tất yếu sẽ làm cho sự nỗ lực ấy bị bào mòn. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc” . Đây vừa là hạn chế trong công tác cán bộ, vừa là một trong những nguyên nhân làm cho cán bộ giảm sút ý chí và tinh thần trách nhiệm. 

Mặt khác, tổ chức chưa có các cơ chế, chính sách đủ mạnh trong kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực; chưa phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm trong giải quyết công việc; chưa có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm; việc thực hiện miễn nhiệm, từ chức chưa được thực hiện quyết liệt. Việc đấu tranh tự phê bình và phê bình đối với biểu hiện sợ trách nhiệm trong cán bộ chưa được thực hiện thường xuyên trong các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Từ đó, làm cho những cán bộ sợ trách nhiệm, thiếu trách nhiệm vẫn tiếp tục yên vị trên “ghế” của mình; làm cho tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm vẫn tiếp tục có cơ hội tồn tại.




 🌼🌷🌞VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY🌼🌷🌞

     Với tính cách là một môn khoa học, phép biện chứng duy vật là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng. Phép biện chứng duy vật đã kế thừa những giá trị tư¬ tư¬ởng của lịch sử hơn 2000 năm của phép biện chứng, đã dựa chắc vào những thành tựu khoa học nên có tính khoa học sâu sắc. Nó khắc phục được tính tự phát của phép biện chứng cổ đại, đẩy lùi được phép siêu hình, vạch trần quan điểm duy tâm trong phép biện chứng của triết học cổ điển Đức. Đồng thời, chống lại các quan điểm chủ quan, duy ý chí trong nhận thức và thực tiễn.

     Trong phép biện chứng duy vật, các nguyên lý, quy luật và  các cặp phạm trù được sắp xếp một cách lôgic hệ thống. Điều quan trọng, phép biện chứng duy vật mang tính hệ thống hóa cao nhưng đó là hệ thống mở, phép biện chứng duy vật đòi hỏi cần phải được thường xuyên bổ sung, phát triển phù hợp với từng điều kiện lịch sử nhất định. V.I.Lênin cũng đã khẳng định “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống” . Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và bổ sung phát triển phép biện chứng duy vật sát với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

     Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Chúng rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã sụp đổ hoàn toàn cùng với sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa; đó là thứ lý luận lỗi thời, đang ngăn trở con đường đi lên của dân tộc Việt Nam. Với kiểu lý lẽ đó, chúng đòi Đảng ta phải từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách là nền tảng tư tưởng, có như vậy con đường phát triển của cách mạng Việt Nam mới đi đúng theo quỹ đạo của thế giới. Thế nhưng, chúng đã lầm. Càng phủ nhận thì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng được tôn vinh, tỏa sáng, khẳng định giá trị.

     Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay cần tiếp tục nghiên cứu và vận dụng phép biện chứng duy vật, nhất là các nguyên tắc phương pháp luận của nó, đó là nguyên tắc toàn diện; nguyên tắc phát triển; nguyên tắc lịch 

sử - cụ thể. Những nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật là cơ sở khoa học để Đảng ta rút ra một số vấn đề có tính nguyên tắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cụ thể:

     Một là, trong bất cứ điều kiện và tình huống nào, phải luôn giữ vững lập trường, quan điểm mác-xít, có thái độ kiên quyết, triệt để đối với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Sự kiên định về lập trường tư tưởng cũng chính là ngọn lửa thử vàng, là nguyên tắc tối cao của cán bộ, đảng viên hiện nay trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Nếu không có bản lĩnh ấy, chúng ta rất dễ bị lung lay bởi sự xuyên tạc, công kích của các thế lực thù địch.

     Hai là, phải luôn kết hợp giữa việc khẳng định những giá trị đúng đắn, trường tồn với việc bổ sung, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin.

     Chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, phép biện chứng duy vật nói riêng là hệ thống “mở”. Các nhà kinh điển luôn kêu gọi những người mác-xít khi vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác cần tránh tư tưởng dập khuôn, máy móc, giáo điều, bởi điều đó tất yếu dẫn đến những sai lầm. Kế thừa tinh thần đó của Ph. Ăng-ghen, để bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng ta, cần kết hợp cùng một lúc cả hai quá trình. Một mặt, tiếp tục khẳng định, lan tỏa những giá trị cốt lõi, trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin; mặt khác, không ngừng bổ sung, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với thực tiễn hiện nay. Đây là hai mặt của một nhiệm vụ, vừa là sự bảo vệ, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa bao hàm trong đó sự bổ sung, phát triển theo quan điểm biện chứng. Đảng ta coi sự kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin là bài học kinh nghiệm đầu tiên, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vấn đề này tại Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ, một mặt phải kiên định, vững vàng với nền tảng tư tưởng của Đảng; mặt khác phải không ngừng bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh mới: “Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam” .

     Ba là, phải có nội dung và phương thức đấu tranh phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.

     Đây chính là sự cụ thể hóa nguyên tắc lịch sử - cụ thể của phép biện chứng duy vật. Ngay từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác luôn vấp phải sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, với nhiều âm mưu, thủ đoạn khác nhau. Do đó, trong mỗi thời điểm, giai đoạn lịch sử, Ph. Ăng-ghen có những nội dung, cách thức đấu tranh khác nhau để bảo vệ chủ nghĩa Mác. Khi thì ông đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận bằng những tác phẩm luận chiến, bút chiến; lúc lại đấu tranh bằng hoạt động thực tiễn khi lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản thông qua tổ chức Quốc tế Cộng sản. Từ đó gợi mở cho chúng ta một bài học kinh nghiệm quý giá, đó là cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay cũng cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. 

     Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống (viết bài đăng tải trên các sách, báo, tạp chí), chúng ta cần bổ sung những hình thức đấu tranh khác như, đấu tranh trên không gian mạng bằng những bài viết lý luận chuyên sâu hoặc xây dựng những tin, bài, video, clip, hình ảnh… để đăng tải trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Cùng với đó, phải đoàn kết, tập hợp lực lượng ở trong Đảng và ngoài Đảng, trong giới nghiên cứu lý luận nói riêng và giới nghiên cứu khoa học xã hội nói chung, đồng thời, phối hợp với cả những nhà mác-xít chân chính ở nước ngoài, bởi đây là cuộc đấu tranh có ý nghĩa sống còn đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng cộng sản chân chính nói chung, của Đảng ta nói riêng./.

    



TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGĂN NGỪA LẠM QUYỀN TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ!

         Đảng ta đã ra nhiều quy định nhằm “nhốt quyền lực vào lồng cơ chế”, song việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ nói riêng vẫn chưa được thực thi đúng quy định, khách quan và công tâm. Hậu quả là trong bộ máy xuất hiện những “cán bộ nhúng”, “cán bộ lướt”, “cán bộ gọi dạ bảo vâng”, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm, vi phạm kỷ luật, pháp luật... Đây chính là một trong những nguyên nhân sâu xa có thể gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các mức độ khác nhau.

Thực tế lâu nay, công tác cán bộ vốn thuộc thẩm quyền của các cấp ủy Đảng, nhưng đã bị người có chức quyền lợi dụng, nhằm mang lại quyền lợi cho cá nhân. Hiện tượng bổ nhiệm thần tốc cán bộ là vợ, con, anh em, đồng môn vào những vị trí quyền lực… khiến nhiều cán bộ, công chức dù giỏi, dù tài, dù kiên trì phấn đấu nhưng vẫn không được đảm nhận cương vị xứng đáng. Hiện tượng này có ở không ít cơ quan, đơn vị, địa phương. Đơn cử như trường hợp Trần Vũ Quỳnh Anh thần tốc được bổ nhiệm lãnh đạo một phòng ở Sở Xây dựng Thanh Hóa, được quy hoạch Phó Giám đốc Sở, khi chưa đủ điều kiện.

Trước đó, Dương Chí Dũng “ngồi ghế” Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines dù trình độ quản lý yếu kém; Trịnh Xuân Thanh đã phạm nhiều khuyết điểm khi còn là Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam, song sau đó vẫn tiếp tục thăng tiến.

Sau các vụ đại án, nhìn vào quan lộ của các bị cáo một thời “thét ra lửa” và nổi tiếng làm ăn thua lỗ với hàng lô khuyết điểm như Dương Chí Dũng, Trịnh Xuân Thanh thì dư luận đặt câu hỏi, tại sao những đối tượng ấy lại được bổ nhiệm, luân chuyển, cất nhắc vào vị trí cán bộ lãnh đạo cấp cao và còn được khen thưởng những danh hiệu cao quý...? Phải chăng, trong công tác cán bộ có sự “chạy” rất kín kẽ và trở thành tệ nạn. Phải chăng đây có lẽ là nguồn cơn hình thành, nuôi dưỡng một loại cán bộ cơ hội, chỉ lo “đầu tư” xây dựng các “quan hệ” để “chạy” khi cần?

Qua những sự việc nổi cộm có thể thấy, một số cán bộ lãnh đạo lạm quyền, dùng vị trí công tác vẽ ra những con người với các phẩm chất ưu tú, nhằm “bịt mắt” tổ chức.

Nói một cách khác, họ đã tìm mọi cách “hậu thuẫn” cho những kẻ “mua quan, bán tước” một cách tinh vi. Hậu quả là, dù công cuộc chống tham nhũng được đẩy mạnh thực hiện từ nhiều năm trước, nhưng đến nay vẫn có nhiều cán bộ bị kỷ luật. Ví dụ, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2023, đã có 182 tổ chức Đảng, 7.056 đảng viên bị kỷ luật. Ban Tổ chức Trung ương đã đề xuất không xem xét 251 lượt cán bộ diện Trung ương quản lý chưa bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện; phát hiện 50 trường hợp có quan hệ gia đình cùng đảm nhiệm chức danh có liên quan.

Để ngăn chặn lạm quyền, đồng thời chấn chỉnh, kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức chạy quyền, ngày 11-7-2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 114-QĐ/TƯ về việc kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của Quy định số 114-QĐ/TƯ là việc chỉ ra các biểu hiện hành vi chạy chức, chạy quyền, đó là: Lồng ghép ý đồ cá nhân khi thực hiện các khâu trong công tác cán bộ vì động cơ, mục đích vụ lợi hoặc có lợi cho nhân sự trong quá trình thực hiện công tác cán bộ…; khi nhận đơn, thư phản ánh, tố cáo hoặc biết nhân sự có hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ nhưng thỏa hiệp, lúng túng, bao che không xử lý theo thẩm quyền… Quy định số 114-QĐ/TƯ cũng cấm thực hiện một số hành vi: Chạy tuổi, thâm niên công tác, danh hiệu thi đua, khen thưởng, bằng cấp, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, chỉ định, điều động, luân chuyển, biệt phái, thăng quân hàm… nhằm mục đích đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có được chức vụ, quyền lợi.

Tăng cường phòng ngừa, kiểm soát việc lợi dụng, lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ, Quy định số 114-QĐ/TƯ cũng nhấn mạnh đến việc không được bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời đảm nhiệm các chức danh có liên quan, bao gồm: Thành viên trong cùng ban thường vụ cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong cùng địa phương, cơ quan, đơn vị; người đứng đầu các cơ quan ở 13 ngành: Nội vụ, thanh tra, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, công thương, kế hoạch đầu tư, tài nguyên môi trường, quân đội, công an, tòa án và Viện Kiểm sát ở Trung ương hoặc cùng cấp ở một địa phương...

Để Quy định số 114-QĐ/TƯ đi vào thực tiễn, có kết quả tích cực, vấn đề tiên quyết là người đứng đầu cấp ủy cần gương mẫu, trung thực, công tâm trong công tác cán bộ. Cần tự giác báo cáo với cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo mà mình là thành viên khi xem xét nhân sự là người có quan hệ gia đình với mình. Tuyệt đối tránh đánh giá cán bộ phiến diện, một chiều và cảm tính, vun vén cho người thân, người quen mà bỏ qua những cán bộ có năng lực.
Khi đề bạt bổ nhiệm cán bộ, người chủ trì cần phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực đến cấp có thẩm quyền những nội dung có liên quan đến nhân sự; thể hiện rõ chính kiến và chịu trách nhiệm trong đề xuất, nhận xét, đánh giá, xác nhận hồ sơ, lý lịch, các giấy tờ có liên quan của nhân sự thuộc thẩm quyền được phân công theo dõi, quản lý.

Cấp ủy các cấp cần kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, thực hiện công tác cán bộ ở các cấp chặt chẽ, nhất là đối với các cơ quan tham mưu, cơ quan cấp dưới và cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền quản lý. Chấn chỉnh, xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi vi phạm; nắm bắt tình hình, dư luận cán bộ, đảng viên và nhân dân, kịp thời xem xét, giải quyết, góp phần nâng cao hiệu quả công tác cán bộ./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGUYÊN TỔNG BÍ THƯ LÊ KHẢ PHIÊU: ĐẢNG KHÔNG ĐỂ “NGƯỜI TRUNG MẮC NẠN, KẺ GIAN VUI MỪNG”!

     Quần chúng không sợ hi sinh, chỉ sợ hi sinh không được tổ chức biết. Đảng dứt khoát không làm 'người trung mắc nạn, kẻ gian vui mừng' - nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nói.

Năm 1991, tòa soạn báo Quân đội Nhân dân giao cho tôi tháp tùng anh Lê Khả Phiêu - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đi thăm, kiểm tra một số đơn vị quân đội đóng quân phía Nam.

Anh Phiêu dặn tôi chỉ đưa một tin lên báo vào ngày kết thúc chuyến đi công tác. Biết tôi là lính chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên Huế từ năm 1968 và cả thời chống Mỹ, đánh quân Pôn Pốt, đánh quân Trung Quốc xâm lược, có nhiều thành tích trong chiến đấu, đã từng là cán bộ chỉ huy đơn vị, cán bộ cơ quan 18 năm rồi mới đi làm báo, anh Phiêu rất thích.

Ngày đi đơn vị, tối anh Phiêu bảo tôi ở lại chơi trò chuyện rồi hãy về. Kể chuyện chiến đấu ở Trị Thiên, anh Phiêu vẫn nhớ trận Cô Pung mà tôi là xạ thủ số 1 súng cao xạ 12,7 ly, trong 30 phút đã bắn rơi tại chỗ 14 máy bay trực thăng và bắn bị thương 11 chiếc rơi ở đồng bằng.

Trận ấy vang dội cả Quân khu, cả chiến trường, báo đài đăng bài, nói nhiều. Trận thắng Cô Pung ấy được báo cáo điển hình tại đại hội thi đua quyết thắng của Quân khu Trị Thiên Huế tháng 12/1970.

Đại đội 3 và tiểu đoàn 54 chúng tôi được tuyên dương Anh hùng. Anh Phiêu bảo: “Hồi đó hơi cầu toàn, bây giờ phát hiện làm lại có khi cậu được tuyên dương Anh hùng đấy”.

Năm 1998, anh Nguyễn Mạnh Đẩu - Cục trưởng Cục Chính sách vào TP.HCM gặp và bảo tôi: “Cụ Phiêu phê vào hồ sơ của Truật rằng: Cùng chiến đấu với đồng chí Truật còn nhiều người là nhân chứng đang công tác hoặc đã nghỉ hưu. Anh Đẩu cho xác minh và làm Anh hùng cho đồng chí Truật. Nhưng mình trình báo thì anh Phạm Thanh Ngân - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị nói “vẫn phải làm từ cơ sở lên”. Khó thế”!

ĐẢNG, NHÀ NƯỚC KHÔNG QUÊN CÔNG LAO CỦA AI 

Tháng 2/2013, khi đi kỉ niệm 45 năm tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 tại TP Huế, tôi nói với anh Phiêu: “Em vẫn chưa được Anh hùng anh ạ”. Anh Phiêu cười và nói: “Để về mình nhắc Bộ Quốc Phòng, thành tích của cậu dày mà”.

Sau đó anh Nguyễn Mạnh Đẩu vào đề nghị với lãnh đạo Quân khu 4 nên ngày 10/8/2015, nhân kỉ niệm 70 năm thành lập nước, tôi được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do lập thành tích đặc biệt xuất sắc trong chống Mỹ cứu nước.

Cũng trong chuyến công tác năm 1991 ấy, tôi hỏi: “Anh Phiêu có nhớ cụ Lê Minh Hội nữa không?” Anh Phiêu bảo: “Hồi Trị Thiên mình là Trưởng phòng Tổ chức thì anh Hội làm Tuyên huấn. Vợ anh Hội là cô Huệ do mình giới thiệu. Ở Campuchia anh Hội làm phó cho mình”.

Tôi nói: “Hồi làm Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 324 cụ Hội nổi tiếng nói thời sự, giảng chính trị rất hay nhưng bây giờ về hưu lại làm thầy bói”. Anh Phiêu cười rồi hỏi: “Có nhiều người tới xem không?”. Tôi nói: “Dạ, đông lắm”.

Hôm sau anh Phiêu bảo tôi mua tút thuốc lá 555 rồi cùng ghé thăm cụ Lê Minh Hội. Vào nhà ông Hội, anh Phiêu cười rồi nói: “Truật bảo bây giờ anh coi bói đắt khách lắm, coi cho tôi một quẻ được không?”.

Ông Hội nghiêm trang nói: “Biết nhau rồi, không nói quá khứ làm tin nữa mà nói thì tương lai nhé: Cậu tu cho tốt thì sẽ làm vua”.

Anh Phiêu hỏi: “Thế nào là tu cho tốt?”. Ông Hội nói: “Tu tốt là sống tử tế như lâu nay cậu vẫn sống với mọi người ấy. Nhưng làm vua thì nên bỏ bớt thói quen khi còn làm quan”.

Mọi người ngồi quanh bàn đều cười vui vẻ. Sau này khi anh Phiêu được phong hàm Thượng tướng, Thường trực Ban Bí thư rồi lên Tổng bí thư, cụ Hội gọi tôi sang bảo: “Truật thấy anh coi đúng không? Cậu cố gắng giúp ông Phiêu nhé. Chuyện phong Anh hùng cho cậu thì chắc chắn được. Đảng và Nhà nước không quên công lao của ai đâu”.

SAI THÌ SỬA, SỬA TRIỆT ĐỂ

Sau này, tôi nhiều lần làm việc, báo cáo tình hình mà tôi biết được cho Anh. Có lần anh Phiêu trầm ngâm bảo tôi: “Cậu thật thà quá!”. Thấy tôi chăm chú nhìn, anh Phiêu cười rồi nói: “Cổ nhân dạy: Thật thà là cha quỉ quái. Nhưng làm việc phải cẩn thận hơn. Phân tích, tổng hợp, đưa ra giải pháp tốt nhất. Làm nhà báo Cách mạng thì phải quan hệ thật rộng để có nhiều thông tin nhưng phải giữ lòng mình thật trong sáng, đạn bọc đường bây giờ nhiều lắm”.

Một lần tôi báo cáo anh Phiêu về tình trạng do luật sĩ quan mà cấp úy được nghỉ hưu, còn cấp tá thì phải phục viên. Việc này ảnh hưởng rất lớn đến tâm tư, tình cảm của sĩ quan tại ngũ và những người sắp thành sĩ quan quân đội. Anh Phiêu nghe rất chăm chú rồi nói: “Cậu viết bài nói tình hình này lên báo Quân đội Nhân dân đi. Anh sẽ xử lý”. Tôi về viết ngay bài “Được về hưu và phải phục viên” đăng Diễn đàn Chủ nhật của báo. Bài báo gây xôn xao dư luận.

Gặp lại tôi, anh Phiêu khen và nói: “Quân ủy Trung ương đã có chỉ thị không cho sĩ quan cấp tá phục viên. Những trường hợp đã cho phục viên thì ai đủ 20 năm tại ngũ được cho chuyển chế độ thành nghỉ hưu. Sai thì sửa, sửa triệt để. Không để anh em bị thiệt thòi. Quần chúng không sợ hi sinh, chỉ sợ hi sinh không được tổ chức biết. Đảng dứt khoát không làm “người trung mắc nạn, kẻ gian vui mừng”.

Khi mới lên Tổng bí thư, vào TP.HCM chuẩn bị tang lễ cho Cố vấn, nguyên Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, anh Phiêu gọi tôi vào, cho tôi xem điếu văn ngày mai anh sẽ đọc và bảo: “Anh Lê Xuân Tùng, nguyên trợ lý anh Nguyễn Văn Linh viết đấy. Truật xem góp ý đi”. Tôi ngập ngừng. Anh bảo: “Đọc và góp ý thoải mái. Dân chủ mà”.

RẤT TÂM ĐẮC VẤN ĐỀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, CHỐNG THAM NHŨNG

Trước lúc Trung ương 8 ra Nghị quyết 6 lần 2, anh Phiêu rất tâm đắc vấn đề chỉnh đốn Đảng, chống tiêu cực, chống tham nhũng. Bây giờ đọc lại và thấy Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng triển khai chương trình, chiến dịch chống tham nhũng, xây dựng Đảng, tôi nghĩ nếu từ Đại hội 9, 10, 11 mà làm theo Nghị quyết 6 lần 2 của Đại hội 8 thì Đảng ta mạnh lắm, và thất thoát, lãng phí sẽ giảm biết bao nhiêu…

Là người may mắn có nhiều dịp làm việc, báo cáo cho anh Phiêu, được anh dạy dỗ, hướng dẫn, tiếp đón chân tình, ấm áp như người anh em, kỉ niệm đẹp có nhiều, không lời nào nói hết được.

Nay anh Phiêu về với tổ tiên, về với thế giới người hiền, mất mát này không có gì bù đắp nổi.

Nhắc lại kỉ niệm với anh Phiêu là nén nhang thành kính của đứa em, đồng chí, đồng đội.

Thân quý tiễn Anh - nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu muôn vàn kính yêu./.
Bài và ảnh:Đặng Thọ Truật - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Yêu nước ST.

CHIẾN TRANH QUA RỒI NHƯNG NỖI ĐAU VẪN MÃI CHƯA NGUÔI…

     Thông tin về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden được hàng loạt tờ báo, hãng tin lớn đăng tải với những bình luận tích cực. Thế nhưng đâu đó trên thế giới số người Việt lưu vong và những người bất đồng chính kiến lại cho rằng đó là nỗi nhục của họ. Họ cho rằng:
- Mỹ thất bại tại chiến trường Việt Nam là nỗi đau lớn nhất và là thứ nhất.
- Mỹ bình thường hóa quan hệ với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nỗi đau thứ hai.
- Mỹ và Nước Cộng sản Việt Nam nâng cấp mối quan hệ là nỗi đau thứ ba.
Nỗi đau cứ nối tiếp nỗi đau, thất vọng cứ nối tiếp thất vọng. Nhưng nỗi đau đó và thất vọng đó không có trong suy nghĩ của đại đa số người Việt Nam và người Hoa Kỳ yêu chuộng hòa bình.
Nỗi đau đó cứ nâng cấp và tiếp tục nâng cấp, giày vò tâm can những kẻ tự nhục, dân chủ cuội và đám lưu vong từng một thời là tay sai, lính đánh thuê cho thực dân Pháp, đế quốc Mỹ…
Thế mới biết câu nói của cố thủ tướng Anh thật chính xác: "Không có bạn bè vĩnh cửu, không có kẻ thù vĩnh hằng, chỉ có lợi ích là trường sinh bất lão“.
Chỉ mong rằng trước khi nhắm mắt xuôi tay, những kẻ chống phá Việt Nam ngộ được đôi điều gì đó để trước lúc lâm chung không phải để người thân vất vả mất công vuốt mắt!!!


Môi trường ST.

Kiên quyết, kiên trì bảo vệ hồn cốt của dân tộc Việt Nam

Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, nói lên bản sắc của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn... Bởi vậy, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị có nhiều âm mưu, thủ đoạn để tấn công vào lĩnh vực văn hóa. Do đó, đấu tranh bảo vệ nền văn hóa dân tộc là nhiệm vụ quan trọng trong tình hình hiện nay.

 Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, soi đường dẫn lối cho sự phát triển, tiến bộ của xã hội, của mỗi quốc gia, dân tộc trong hành trình xây dựng và phát triển.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước, suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng vai trò của văn hóa và hết sức quan tâm đến công tác xây dựng văn hóa trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, Đảng ta đã đề cập đến vấn đề phải phát triển văn hóa của dân tộc. Năm 1943, khi nước nhà còn chưa giành được độc lập, Đảng ta đã đề ra "Đề cương về văn hóa Việt Nam”, trong đó chỉ rõ: "Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa)"; đồng thời nêu 3 nguyên tắc vận động xây dựng nền văn hóa Việt Nam là dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa.

Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc thế kỷ 20, văn hóa giữ nước được phát huy cao độ, lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm, đoàn kết dân tộc được nâng lên một tầm cao mới, thực sự trở thành động lực tinh thần để huy động tất cả mọi nguồn lực, góp phần quan trọng làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, thống nhất Tổ quốc, thu giang sơn về một mối, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Từ năm 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã tiến hành đổi mới đồng bộ và toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nhận thức về văn hóa ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn trên các lĩnh vực, các loại hình; các sản phẩm văn hóa ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu mới, nhiều mặt của xã hội. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa của dân tộc được kế thừa, bảo tồn và phát triển. Văn hóa trong chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả, tích cực. Công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa có bước khởi sắc. Hoạt động giao lưu, hợp tác và hội nhập quốc tế có bước phát triển mới. Xây dựng con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội.

 Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng cần nhìn thẳng vào những hạn chế, tồn tại, bất cập, yếu kém trên lĩnh vực văn hóa, đó là: Văn hóa chưa được các cấp, các ngành nhận thức một cách sâu sắc và chưa được quan tâm một cách đầy đủ, tương xứng với kinh tế và chính trị; chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước. Vai trò của văn hóa trong xây dựng con người chưa được xác định đúng tầm, còn có chiều hướng nặng về chức năng giải trí. Phát triển các lĩnh vực văn hóa chưa đồng bộ, còn phiến diện, nặng về hình thức, chưa đi vào chiều sâu, thực chất. Việc tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại còn hạn chế; chưa coi trọng đúng mức cũng như chưa có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc; nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách lố lăng, phản cảm, không có chọn lọc.

Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không từ một thủ đoạn nào để tấn công vào lĩnh vực văn hóa. Ngoài việc công kích Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ra sức xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, phủ nhận giá trị các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược của dân tộc Việt Nam, đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa, làm lẫn lộn vai trò của những chiến sĩ cách mạng chân chính với những kẻ cướp nước và bè lũ bán nước. Chúng tuyên truyền cho các giá trị văn hóa phương Tây; hạ thấp giá trị các sáng tác văn học-nghệ thuật ca ngợi cuộc sống lao động, chiến đấu của quân dân ta; tán dương các tác phẩm có khuynh hướng bôi nhọ lịch sử, phủ nhận chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang...

Những biểu hiện đó có nguy cơ làm thay đổi các thang giá trị về đạo đức, lối sống trong xã hội; khơi dậy bản năng chạy theo lợi ích vật chất, cá nhân mà quên đi đạo lý, nghĩa vụ và trách nhiệm của người công dân trong một quốc gia văn minh, tiến bộ; thậm chí làm cho con người sa ngã, quay lưng lại với lịch sử truyền thống và những giá trị mang đậm cốt cách con người Việt, dân tộc Việt.

 Để đấu tranh bảo vệ hồn cốt của dân tộc, trước hết, mỗi cấp ủy, chính quyền, cơ quan, ban, ngành chức năng cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa, quán triệt đầy đủ các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về văn hóa, thực hiện đúng quan điểm Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển kinh tế, xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

Phát huy vai trò chủ thể sáng tạo, chủ thể thụ hưởng văn hóa là Nhân dân; đề cao, phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, của những người làm công tác văn hóa; tôn trọng và bảo vệ sự biểu đạt đa dạng của văn hóa, của người dân, các dân tộc, các vùng, miền. Xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, làm cho văn hóa thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, tiêu cực; chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "quét sạch chủ nghĩa cá nhân", nguồn gốc của mọi sự tham nhũng, tiêu cực, hư hỏng ngay trong các ngành văn hóa, các cơ quan làm công tác văn hóa. Thực hiện tốt quan điểm của Đảng là chủ động nâng cao "sức đề kháng" của các tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại.

Trong tình hình hiện nay, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bác bỏ những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc hiểm độc của các thế lực thù địch, phản động đối với nền văn hóa của dân tộc, bảo vệ vững chắc “bức tường thành văn hóa” của cộng đồng 54 dân tộc anh em. Trong xã hội, cần quan tâm chú trọng lấy cái đẹp dẹp cái xấu, phát huy giá trị văn hóa giữ nước, tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý tốt đẹp của cha ông ta. Đó chính là giải pháp hữu hiệu để góp phần bảo vệ hồn cốt của dân tộc Việt Nam.

Đấu tranh, phản bác luận điệu sai trái về việc lấy phiếu tín nhiệm trong công tác cán bộ của Đảng

Đầu năm 2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 96-QĐ/TƯ về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị (Quy định 96) thay thế cho Quy định 262-QĐ/TW về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. 

 Quy định này không chỉ có ý nghĩa tham khảo, góp phần vào đánh giá cán bộ mà kết quả có giá trị trực tiếp vào công tác đánh giá, bố trí, điều động và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Đồng thời, đây cũng là cơ sở trực tiếp cho quá trình chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ tới. Thế nhưng, các lực lượng “khoác áo dân chủ ” tìm cách chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối, coi đây là một tiêu điểm để xuyên tạc đường lối, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam.

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ

Ngay sau khi Quy định 96 được ban hành, trang RFA có một loạt bài chống phá quan điểm lấy phiếu tín nhiệm của Đảng như: “Phức tạp hóa vấn đề lấy phiếu tín nhiệm, vì sao?”; “Quốc hội đánh giá tín nhiệm, có thể tham khảo ý kiến của người dân như lời của Thủ tướng?”; “Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm: Nên hay không?”; “Đảng thừa nhận không đoàn kết?; “Lấy phiếu tín nhiệm: chiêu trò mị dân?”. Trên kênh Youtobe, Trang Tâm Thức Việt cũng đăng tải video ngày 9/2/2023 với chùm bài: ‘Lấy phiếu tín nhiệm: Thêm một chiêu trò mị dân”. Đài Châu Á – Tự do cũng đăng tải môt loạt các bài trên nền tảng mạng qua mạng Facebook, trang web… Hầu hết các bài viết và các video của các thế lực phản động, thù địch dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng, để phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân. Dưới các danh xưng “ nhà dân chủ”; “nhà báo tự do” như Nguyễn Ngọc Già, Nguyễn Vũ Bình…

Các luận điệu xuyên tạc, chống phá Quy định 96 của các thế lực thù địch, biểu hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, chống phá mục tiêu của Quy định 96.

Trong bài viết “Lấy phiếu tín nhiệm: chiêu trò mị dân”, đăng vào ngày 09/02/2023 của Đài Châu Á Tự do, cho rằng mục tiêu của việc lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là để “chiêu trò mị dân”, chỉ là “việc của Đảng và những người đảng viên trong Đảng không liên quan tới nhân dân” để nhằm mục tiêu “loại trừ lẫn nhau”, “thanh toán các thế lực, phe cánh, nhóm phái đối lập trong Đảng”, để “xử lý các phần tử không theo hệ thống chung”; và từ đó cho thấy “Đảng không tin vào chính mình” và “Đảng toàn trị nhưng không đủ năng lực cầm quyền” hay “Đảng làm lu mờ và vi phạm nguyên tắc Nhà nước pháp quyền”. Trong một bài cùng nội dung, trang RFA còn “khuyên” rằng Đảng cần làm công tác cán bộ triệt để hơn và đó phải là “việc của toàn dân”. Thực chất luận điệu nêu trên không chỉ nhằm xuyên tạc mục tiêu của Quy định 96 của Đảng, mà qua đó, âm mưu sâu xa, nham hiểm của chúng là từ chỗ làm xói mòn, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thứ hai, thông qua việc xuyên tạc Quy định 96, các thế lực thù địch nhằm mục đích phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng.

Việc các thế lực thù địch ra sức phủ nhận lịch sử, công kích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “đánh” vào các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng nhằm chia rẽ nội bộ. Khi cho rằng việc lấp phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là việc “thanh trừng”, “xử lý các sinh mệnh chính trị thoái hóa không trung thành”, không đơn thuần là việc “xây dựng Đảng” mà là việc “loại trừ phần tử phe cánh, nội bộ trong Đảng”. Thông qua việc viện dẫn các ý kiến, quan điểm từ các danh xưng “nhà dân chủ”, “nhà báo tự do” việc bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng được cụ thể hóa bằng cách lấy diễn đàn dân chủ ở nước ngoài để lên tiếng tố cáo và phản bác các quan điểm, chủ trương và đường lối của Đảng, như: “càng chống tham nhũng thì tham những càng nhiều”; “ kết quả người có phiếu tín nhiệm cao thì tỷ lệ thuận với danh sách những người bị kỷ luật trong Đảng”; “ bỏ phiếu tín nhiệm mang màu áo dân chủ trong Đảng chủ vì Đảng làm chủ cuộc cách mạng này, công việc chỉ có đảng viên tham gia”... Từ việc làm phép thống kê mối liên hệ có chủ đích giữa kết quả lấy phiếu tín nhiệm với các cá nhân có tên trong các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ lãnh đạo các cấp thời gian qua, các “nhà dân chủ”, “nhà báo tự do” quy chụp sự suy thoái của một bộ phận cán bộ đảng viên, tệ quan liêu tham nhũng trong Đảng thànhbản chất, biến cái “hiện tượng” thành “phổ biến” và là “tất yếu” của một Đảng duy nhất cầm quyền. Từ đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì đất nước mới phát triển”... Đây không phải là một điều mới mẻ trong các luận điệu chống phá Đảng của các thế lực phản động. Tuy nhiên, trước mỗi quyết định của Đảng có tính xây dựng tổ chức Đảng, đặc biệt là công tác cán bộ thì chúng luôn lấy việc bài xích chủ trương, đường lối của Đảng và tìm mọi cách, tận dụng mọi thời cơ, mọi sự kiện trong công tác cán bộ để lồng vào đó thông điệp bôi bẩn, suy diễn, sặc mùi chống phá làm mất uy tín và niềm tin vào Đảng.

QUY ĐỊNH 96 THỂ HIỆN TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(1). Do đó, công tác cán bộ luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, từ khâu phát hiện, tuyển chọn, bố trí, phân công, phân cấp quản lý cán bộ; đánh giá cán bộ, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, điều động, luân chuyển, miễn nhiệm; khen thưởng, kỷ luật; kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Những vi phạm trong công tác cán bộ của cấp ủy, tổ chức đảng, chi bộ và cán bộ, đảng viên rất đa dạng, phức tạp, với phạm vi, tính chất, quy mô, mức độ khác nhau ở từng cấp, từng loại hình tổ chức đảng. Xuất phát từ vị trí "then chốt của then chốt", công tác cán bộ ngày càng được coi trọng hơn, đúng mức hơn với vị trí, vai trò, có nhiều cách làm, quy định mới, hiệu quả cao hơn, gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", bất kể người đó là ai; không có vùng cấm, không có ngoại lệ. 

Việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư là một trong những nội dung đổi mới rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng ta, bắt đầu được tiến hành từ nhiệm kỳ khóa XI đến nay. Mục đích của việc lấy phiếu tín nhiệm là để thực hiện tốt hơn các chủ trương, nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng có đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ; giúp các đồng chí được lấy phiếu tín nhiệm “tự soi”, “tự sửa”, tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống và không ngừng nâng cao trách nhiệm nêu gương, trình độ, năng lực công tác để hoàn thiện bản thân, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng. Việc lấy phiếu tín nhiệm đã đánh giá đúng phẩm chất, năng lực, kết quả cụ thể thực hiện chức trách được giao và uy tín của người được lấy phiếu tín nhiệm bảo đảm tính dân chủ, khách quan, công tâm, công khai, minh bạch theo đúng Quy định số 96-QĐ/TW và Kế hoạch số 16-KH/TW của Bộ Chính trị, đồng thời là sự cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình của Đảng.

Từ khoa học lý luận đến thực tiễn cách mạng đã trải qua chứng minh học trong thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta cho thấy công tác tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, tự phê bình và phê bình là vấn đề có ý nghĩa then chốt trong việc xây dựng Đảng vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền, lãnh đạo xây dựng đất nước thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong chiều dài lãnh đạo các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Đảng ta luôn khẳng định tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ dân chủ trong Đảng, là ý thức trách nhiệm của Đảng với Nhân dân. Thực tế đã chứng minh, ở đâu, giai đoạn nào, dù hoàn cảnh có khó khăn gian khổ đến mấy nhưng tự phê bình và phê bình được tiến hành thường xuyên, có hiệu quả thì ở đó, giai đoạn đó, tổ chức đảng phát huy được vai trò tiền phong gương mẫu và ngược lại ở nơi nào, thời điểm nào tự phê bình và phê bình không được tiến hành thường xuyên hoặc làm qua loa, hình thức là ở đó mất dân chủ, nội bộ mất đoàn kết, tổ chức đảng không còn phát huy được vai trò lãnh đạo của mình. Một trong những nguyên nhân dẫn đến các vụ việc tiêu cực, tham nhũng ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương đã được Đảng ta chỉ ra trong thời gian qua là do tự phê bình và phê bình trong nội bộ ít được quan tâm, tính chiến đấu trong sinh hoạt không được đề cao. Nhiều trường hợp “mũ ni che tai”, thờ ơ, thấy sai không đấu tranh, thấy đúng không bảo vệ, đùn đẩy, né tránh, ngại va chạm dẫn đến nội bộ mất đoàn kết, tổ chức đảng yếu kém không phát huy được vai trò lãnh đạo của mình.

Do đó, từ thành công của việc lấy phiếu tín nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư khóa XIII đã cho thấy, Đảng ta luôn tuân thủ đúng nguyên tắc tập trung, dân chủ, tự phê bình và phê bình trong công tác cán bộ. Đây là “hòn đá thử vàng” đối với mỗi đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng; đồng thời cho thấy quyết tâm của Đảng ta trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là trong công tác cán bộ. Phát huy dân chủ chính là mục tiêu, đồng thời là động lực của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, dân chủ không thể tách rời luật pháp. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không thể tách rời việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, còn phải gắn với dân trí, với trình độ học vấn.

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng điều này không có nghĩa là sẽ dẫn đến đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trên thực tế không chỉ phụ thuộc vào kinh tế, mà còn phụ thuộc vào một loạt các yếu tố khác như tương quan so sánh lực lượng giai cấp, vị thế, vai trò của đảng cầm quyền, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, truyền thống lịch sử… Chế độ một đảng hay đa đảng không phải là dấu hiệu của dân chủ hay không dân chủ. Trước những luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng từ các thế lực phản động, thù địch, chúng ta đấu tranh bác bỏ bằng những luận cứ thật sự khoa học để làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của chúng; đồng thời, để không phụ lòng của Nhân dân đã trao trọn, gửi gắm niềm tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch trước hết phải xuất phát từ luận điểm khách quan, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của chính đảng vô sản trong tiến trình cách mạng.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cho thấy, những quan điểm đòi phủ nhận vai trò duy nhất lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sai trái, phản động và hết sức nguy hiểm. Quy định 96 là sự kiện chứng minh và khẳng định tính đúng đắn trong việc đấu tranh bảo vệ vai trò duy nhất lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta là chính đáng, chính nghĩa và phù hợp với nguyện vọng, sự tin tưởng của Nhân dân. Quyết tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, tâm huyết, trách nhiệm cao, luôn hết lòng vì nước, vì dân… đã và sẽ luôn là mục tiêu, quyết tâm lãnh đạo của Đảng ta. Đó cũng chính là minh chứng thuyết phục nhất, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng, Nhà nước ta trong thời gian qua.