Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

 

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU BỈ ỔI CỦA TƯỞNG NĂNG TIẾN


Cứ vào mỗi dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị lại tìm mọi thủ đoạn chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và thành tựu Cách mạng mà chúng ta đã phải trải qua bao gian nan, thử thách mới giành được. Gần đây, trên trang “Doithoaionline. com”, Tưởng Năng Tiến – một tên phản động lưu vong ở hải ngoại đã tán phát bài: Bọn Mafia & Đám Cách Mạng Tháng Tám.

 

Luận điệu phản động, trắng trợn, bỉ ổi của Tưởng Năng Tiến bộc lộ ngay khi Y mở đầu bài viết: “Không ít kẻ gọi đám người đang nắm quyền bính ở Việt Nam hiện nay là “bọn Mafia” hay “băng đảng Mafia đỏ”. Y mượn tiểu thuyết Bố Già của Mario Puzo để phân tích tính cách các nhân vật trong tiểu thuyết rồi so sánh với Đảng và chế độ của ta. Y đã dùng đủ những từ ngữ dung tục, thô bỉ nhất để chửi bậy, bôi nhọ Đảng và chế độ. Với thái độ hận thù, hằn học, cố chấp, cùng cái nhìn “ếch ngồi đáy giếng”, Y trắng trợn vu cáo Đảng “hành xử như một đám côn đồ đối với tất cả mọi thành phần dân tộc” khi “đàn áp dã man người dân ở Tây nguyên năm 2001 và 2004, Mường Nhé, Điện Biên năm 2011; tấn công nông dân ở Đồng Tâm năm 2020; tấn công Tu Viện Bát Nhã năm 2009, Đan Viện Thiên An 2017…

 

Những vụ việc được Tưởng Năng Tiến “dẫn chứng” đã được báo, đài trong và ngoài nước, cũng như các cơ quan pháp luật thông tin, điều tra, xử lý và khẳng định đây là tội ác dã man, vô nhân tính của những kẻ khủng bố được “hà hơi tiếp sức” bởi các tổ chức phản động quốc tế thực hiện. Giờ đây tất cả bọn chúng đã bị bắt, phải cúi đầu nhận tội và phải trả giá cho tội ác dã man mà bọn chúng gây ra. Ấy vậy mà Tưởng Năng Tiến vẫn cố tình, trắng trợn vu cáo Đảng và Nhà nước ta đã “đàn áp dã man’’ “tấn công” người dân! Thực chất, âm mưu, thủ đoạn quá cũ này mà Tưởng Năng Tiến và đồng bọn đã “nhai đi, nhai lại” từ lâu, mục đích của chúng là xuyên tạc thành quả của Cách Mạng Tháng Tám; bôi nhọ, vu cáo Đảng, Nhà nước ta; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; tạo ra những góc nhìn phiến diện, sai lệch, sự mơ hồ, nghi hoặc trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân trong nước và thế giới; làm phai nhạt niềm tin của người dân với Đảng và chế độ, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiến tới đòi xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, hướng nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

 

Là người dân yêu nước Việt Nam đều biết, để làm nên thành công của Cách Mạng Tháng Tám “long trời, lở đất”, cả dân tộc Việt Nam đã nhất tề vùng lên, lật đổ bộ máy thống trị phát xít cùng triều đình phong kiến, thiết lập nên chính quyền cách mạng trên cả nước, mở đầu một chế độ mới, là chặng đường phát triển của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Cuộc cách mạng vĩ đại đó đã chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm trên đất nước ta, đồng thời chặt đứt những mắt xích quan trọng của chế độ thực dân, thúc đẩy, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc bị áp bức, nô lệ các nước thuộc địa trên toàn thế giới.

 

Trong suốt quá trình cách mạng, từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định vai trò là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thắng lợi của Cách Mạng Tháng Tám đã khơi nguồn để Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đời sống Nhân dân được được nâng lên, vị thế, uy tín của đất nước ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Đặc biệt, sau 37 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 32 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh… Từ một quốc gia kém phát triển, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ XHCN được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Những thành tựu trên là bằng chứng đanh thép bác bỏ luận điệu phản động, lời vu cáo, bịa đặt trắng trợn, bỉ ổi của Tưởng Năng Tiến và đồng bọn hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, cố tình phủ nhận những thành quả cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta đã đạt được./.

 CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 – KỶ NGUYÊN MỚI

CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Lẽ ra tôi không viết bài với tựa đề này, vì ý nghĩa và tầm vóc vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám đã có rất nhiều bài viết đã khẳng định, ngay cả những người ở phía bên kia cũng phải thừa nhận. Tuy nhiên, tình cờ tôi đọc được một bài báo trên mạng viết về nội dung cuộc phỏng vấn của một nhà báo Trần Quang Thành (mà cũng chẳng biết nhà báo này của báo nào, ông ấy là ai) với ông Nguyễn Gia Kiểng (một nhân vật tôi đã biết tường tận về thân thế và nghề nghiệp của ông ta) qua một số bài viết của ông ấy gần đây.

 

Trước hết, xin được nói với ông Kiểng thế này: bài phỏng vấn của ông với nhà báo Quang Thành được thực hiện ở nước ngoài và gửi về Việt Nam, nếu như bài phỏng vấn này diễn ra trên đất Việt Nam, ông và ông nhà báo đó còn ngồi ở Việt Nam chắc giờ cũng chẳng cần gì nói thêm với các ông nữa, vì các ông đã không dám bước ra khỏi cửa hoặc là đã không còn tồn tại.

 

Thứ hai, điều mà tôi muốn nói với 2 ông là bài phỏng vấn này chẳng có giá trị gì về mặt lý luận cũng như chẳng có tác dụng đối với mỗi con người Việt Nam hiên nay, bởi vì lời lẽ của các ông chỉ mang tính “hằn học”, “xáo rỗng”, “vu khống”, mà dân Việt Nam lại rất ghét cách nói năng, giao tiếp kiểu đấy. Đến con gái tôi năm nay mới học lớp 5, khi tình cờ đọc bài báo này tôi để trên bàn làm việc, nó còn hỏi tôi hai ông này là ông nào mà viết chẳng đúng với lịch sử gì cả? Tại sao các ông ấy viết thế mà cũng được đang báo? Thôi đấy là chuyện của con trẻ. Bài báo viết ra mà đến con trẻ cũng “không tiêu hóa” được thì xin thưa với các ông là bài báo đó chẳng có ý nghĩa đối với mỗi con người Việt Nam, chỉ tốn giấy mực và lao tâm khổ tứ thôi. Có lẽ tôi khuyên các ông hiện còn tí sức lực thì giữ gìn để mà sống, để mà hấp hối kẻo đến lúc chết lại không nhắm được mắt vì sức lực kiệt quệ rồi !!!

 

Nói về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính các ông cũng đã phải thừa nhận đó là một cuộc cách mạng. Từ lời phỏng vấn đến câu trả lời của ông Kiểng đều gọi đó là một cuộc cách mạng. Cách mạng có hàm ý là thay cũ, đổi mới tốt đẹp hơn. Nếu như không có cuộc Cách mạng đó thì thử hỏi Việt Nam có nền độc lập không, toàn thể nhân dân Việt Nam có cuộc sống tự do, ấm no hạnh phúc không hay vẫn phải chìm trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân vẫn phải chịu kiếp ngựa trâu, làm nô lệ.

 

Những lời các ông viết trong bài phỏng vấn đó chứng tỏ một điều là các ông chẳng hiểu gì về người cộng sản, lý tưởng cộng sản, không hiểu gì về những người cộng sản Việt Nam. Mục tiêu của cuộc Cách mạng Tháng Tám đã rõ như ban ngày trong lịch sử dân tộc Việt Nam, thế mà các ông cứ cố tình xuyên tạc, cố tình không hiểu. Một cuộc cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, được nổ ra và giành thắng lợi trọn vẹn ở một nước thuộc địa thực sự là một cuộc cách mạng vô sản kiểu mẫu. Cuộc cách mạng đó chỉ có mất đi xiềng xích, mất đi sự cơ cực lầm than, khốn cùng của nhân dân Việt Nam. Các ông là người Việt, chắc cũng đã nghiên cứu và biết được lịch sử của dân tộc Việt Nam và chắc cũng thấu hiểu sự nhục nhã của người dân mất nước, mất độc lập, chịu sự đô hộ của thực dân phong kiến.

 

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đến đầu thế kỷ XX, về cơ bản, thực dân Pháp đã áp đặt xong chế độ thống trị ở Việt Nam. Lúc này, các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam liên tục nổ ra. Nhưng do nhiều nguyên nhân và nhất là do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn nên các phong trào đó không giành được thắng lợi. Thất bại của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX chấm dứt thời kỳ đấu tranh chống xâm lược theo hệ tư tưởng phong kiến. Phong trào nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo còn kéo dài đến đầu thế kỷ XX cũng bị thất bại. Đầu thế kỷ XX có những tác động mới vào con đường đấu tranh và phát triển của dân tộc. Đó là con đường Duy Tân (1868), tư tưởng của cách mạng tư sản Pháp (1789) và những tư tưởng cải cách của cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911). Một số sĩ phu yêu nước đã tiếp thu tư tưởng này, mong muốn giành độc lập cho dân tộc và phát triển đất nước theo con đường cải cách. Khuynh hướng của Hội Duy Tân do Phan Bội Châu sáng lập và lãnh đạo là đi theo con đường của Nhật Bản để đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập. Chủ trương của Phan Chu Trinh là theo hướng cải cách dân chủ tư sản, muốn dựa vào Pháp để xoá bỏ chế độ phong kiến. Những người khác như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội nhằm cổ động tinh thần yêu nước chống Pháp, khuyến khích cải cách, đả kích chế độ phong kiến. Phong trào chống thực dân Pháp của Việt Nam Quốc dân Đảng cũng thể hiện tinh thần yêu nước, kết thúc bằng thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX thể hiện đậm nét tinh thần dân tộc, song đường lối chính trị không rõ ràng, do đó không tập hợp và thống nhất được lực lượng dân tộc chống đế quốc.

 

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng đã tập hợp được đông đảo mọi giai cấp, mọi tầng lớp đứng lên làm cách mạng. Sau 15 năm chuẩn bị, trước thời cơ cách mạng ngàn năm có một, Đảng đã lãnh đạo toàn dân đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công. Cách mạng Tháng Tám 1945 là bước nhảy vọt lịch sử vĩ đại, đánh dấu sự thay đổi cực kỳ to lớn trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam, đã mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam; nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Thắng lợi đó đã đập tan sự thống trị của thực dân Pháp trong 87 năm, lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành nước độc lập, một nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, hệ thống chính quyền cách mạng ở các cấp được thành lập và củng cố trên phạm vi cả nước, trực tiếp lãnh đạo nhân dân xây dựng cuộc sống mới và bảo vệ thành quả cách mạng.

 

Theo như các ông cho rằng, Cách mạng Tháng Tám là cuộc bạo động chính trị, với mục đích mang lại quyền lợi cho những người cộng sản Việt Nam. Và theo như các ông không cần tiến hành Cách mạng Tháng Tám 1945 thì Việt Nam cũng sẽ có độc lập? Một số nước châu Phi, Mỹ La tinh có cần cách mạng đâu? Sao các ông lại thiển cận về chính trị đến thế. Chính nhờ Cách mạng Tháng Tám đã phá tan một mắt xích quan trọng và thúc đẩy sự tan rã không thể cứu vãn của hệ thống thuộc địa, mở đầu quá trình sụp đổ của chế độ thực dân cũ tàn bạo, cỗ vũ nhân dân các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng, giành độc lập, tự do. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 đã góp phần cỗ vũ phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh; thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng lẫn chiều sâu, tấn công vào hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc thực dân. Từ 1945 đến 1960 ở châu Á và châu Phi, hàng loạt nước đã giành được độc lập thông qua nhiều con đường khác nhau. Riêng năm 1960 đã có 17 quốc gia châu Phi giành được độc lập, được gọi là năm châu Phi. Đến cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX đã có hơn 50 nước trên thế giới giành được độc lập dân tộc. Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ bị sụp đổ hoàn toàn.

 

Xét về động cơ, mục tiêu của cuộc cách mạng, lực lượng tham gia cách mạng, phương thức tiến hành cách mạng, có thể khẳng định với các ông một điều là Cách mạng Tháng Tám 1945 thực sự là một cuộc cách mạng vô sản kiểu mẫu, một cuộc cách mạng để phát triển, cách mạng vì sự tiến bộ của loài người.

 

Cuối cùng, tôi chỉ muốn nói với các ông một điều là: còn nhiều người Việt Nam ở nước ngoài đang hằn học trước sự phát triển của Việt Nam như hiện nay, và chúng tôi còn đọc được nhiều bài viết xuyên tạc mạnh hơn, chống phá mạnh hơn bài phỏng vấn của các ông, nhưng cũng chẳng có ý nghĩa gì đối với mỗi con người Việt Nam, khi mỗi con người Việt Nam có lòng tự hào dân tộc thì những bài viết như của các ông chẳng có nghĩa lý gì. Thực tế bao giờ cũng là thực tế, chân lý, lẽ phải bao giờ cũng chiến thắng, cái gì nó là thực tế, là chân lý thì các ông nên tôn trọng nó, đừng có bẻ cong chân lý, bẻ cong thực tế có ngày chính thực tế, chính lẽ phải quay lại phản các ông đấy. Các ông còn chút sức khỏe nên giữ lại mà sống, đừng hằn học, tức tối làm gì. Nếu có dịp mời các ông về thăm lại đất nước và con người Việt Nam hiện nay thì các ông mới hiểu và ân hận về những nhận thức sai lầm của các ông. Nhân dân Việt Nam luôn có lòng nhân ái,khoan dung, độ lượng, không thù hằn gì các ông đâu, các ông đừng sợ khi về Việt Nam. Chân lý bao giờ cũng thuộc về lẽ phải của những người Việt Nam yêu nước chân chính./.

 

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 – KỶ NGUYÊN MỚI

CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Lẽ ra tôi không viết bài với tựa đề này, vì ý nghĩa và tầm vóc vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám đã có rất nhiều bài viết đã khẳng định, ngay cả những người ở phía bên kia cũng phải thừa nhận. Tuy nhiên, tình cờ tôi đọc được một bài báo trên mạng viết về nội dung cuộc phỏng vấn của một nhà báo Trần Quang Thành (mà cũng chẳng biết nhà báo này của báo nào, ông ấy là ai) với ông Nguyễn Gia Kiểng (một nhân vật tôi đã biết tường tận về thân thế và nghề nghiệp của ông ta) qua một số bài viết của ông ấy gần đây.

 

Trước hết, xin được nói với ông Kiểng thế này: bài phỏng vấn của ông với nhà báo Quang Thành được thực hiện ở nước ngoài và gửi về Việt Nam, nếu như bài phỏng vấn này diễn ra trên đất Việt Nam, ông và ông nhà báo đó còn ngồi ở Việt Nam chắc giờ cũng chẳng cần gì nói thêm với các ông nữa, vì các ông đã không dám bước ra khỏi cửa hoặc là đã không còn tồn tại.

 

Thứ hai, điều mà tôi muốn nói với 2 ông là bài phỏng vấn này chẳng có giá trị gì về mặt lý luận cũng như chẳng có tác dụng đối với mỗi con người Việt Nam hiên nay, bởi vì lời lẽ của các ông chỉ mang tính “hằn học”, “xáo rỗng”, “vu khống”, mà dân Việt Nam lại rất ghét cách nói năng, giao tiếp kiểu đấy. Đến con gái tôi năm nay mới học lớp 5, khi tình cờ đọc bài báo này tôi để trên bàn làm việc, nó còn hỏi tôi hai ông này là ông nào mà viết chẳng đúng với lịch sử gì cả? Tại sao các ông ấy viết thế mà cũng được đang báo? Thôi đấy là chuyện của con trẻ. Bài báo viết ra mà đến con trẻ cũng “không tiêu hóa” được thì xin thưa với các ông là bài báo đó chẳng có ý nghĩa đối với mỗi con người Việt Nam, chỉ tốn giấy mực và lao tâm khổ tứ thôi. Có lẽ tôi khuyên các ông hiện còn tí sức lực thì giữ gìn để mà sống, để mà hấp hối kẻo đến lúc chết lại không nhắm được mắt vì sức lực kiệt quệ rồi !!!

 

Nói về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính các ông cũng đã phải thừa nhận đó là một cuộc cách mạng. Từ lời phỏng vấn đến câu trả lời của ông Kiểng đều gọi đó là một cuộc cách mạng. Cách mạng có hàm ý là thay cũ, đổi mới tốt đẹp hơn. Nếu như không có cuộc Cách mạng đó thì thử hỏi Việt Nam có nền độc lập không, toàn thể nhân dân Việt Nam có cuộc sống tự do, ấm no hạnh phúc không hay vẫn phải chìm trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân vẫn phải chịu kiếp ngựa trâu, làm nô lệ.

 

Những lời các ông viết trong bài phỏng vấn đó chứng tỏ một điều là các ông chẳng hiểu gì về người cộng sản, lý tưởng cộng sản, không hiểu gì về những người cộng sản Việt Nam. Mục tiêu của cuộc Cách mạng Tháng Tám đã rõ như ban ngày trong lịch sử dân tộc Việt Nam, thế mà các ông cứ cố tình xuyên tạc, cố tình không hiểu. Một cuộc cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, được nổ ra và giành thắng lợi trọn vẹn ở một nước thuộc địa thực sự là một cuộc cách mạng vô sản kiểu mẫu. Cuộc cách mạng đó chỉ có mất đi xiềng xích, mất đi sự cơ cực lầm than, khốn cùng của nhân dân Việt Nam. Các ông là người Việt, chắc cũng đã nghiên cứu và biết được lịch sử của dân tộc Việt Nam và chắc cũng thấu hiểu sự nhục nhã của người dân mất nước, mất độc lập, chịu sự đô hộ của thực dân phong kiến.

 

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đến đầu thế kỷ XX, về cơ bản, thực dân Pháp đã áp đặt xong chế độ thống trị ở Việt Nam. Lúc này, các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam liên tục nổ ra. Nhưng do nhiều nguyên nhân và nhất là do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn nên các phong trào đó không giành được thắng lợi. Thất bại của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX chấm dứt thời kỳ đấu tranh chống xâm lược theo hệ tư tưởng phong kiến. Phong trào nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo còn kéo dài đến đầu thế kỷ XX cũng bị thất bại. Đầu thế kỷ XX có những tác động mới vào con đường đấu tranh và phát triển của dân tộc. Đó là con đường Duy Tân (1868), tư tưởng của cách mạng tư sản Pháp (1789) và những tư tưởng cải cách của cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911). Một số sĩ phu yêu nước đã tiếp thu tư tưởng này, mong muốn giành độc lập cho dân tộc và phát triển đất nước theo con đường cải cách. Khuynh hướng của Hội Duy Tân do Phan Bội Châu sáng lập và lãnh đạo là đi theo con đường của Nhật Bản để đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập. Chủ trương của Phan Chu Trinh là theo hướng cải cách dân chủ tư sản, muốn dựa vào Pháp để xoá bỏ chế độ phong kiến. Những người khác như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội nhằm cổ động tinh thần yêu nước chống Pháp, khuyến khích cải cách, đả kích chế độ phong kiến. Phong trào chống thực dân Pháp của Việt Nam Quốc dân Đảng cũng thể hiện tinh thần yêu nước, kết thúc bằng thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX thể hiện đậm nét tinh thần dân tộc, song đường lối chính trị không rõ ràng, do đó không tập hợp và thống nhất được lực lượng dân tộc chống đế quốc.

 

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng đã tập hợp được đông đảo mọi giai cấp, mọi tầng lớp đứng lên làm cách mạng. Sau 15 năm chuẩn bị, trước thời cơ cách mạng ngàn năm có một, Đảng đã lãnh đạo toàn dân đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công. Cách mạng Tháng Tám 1945 là bước nhảy vọt lịch sử vĩ đại, đánh dấu sự thay đổi cực kỳ to lớn trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam, đã mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam; nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Thắng lợi đó đã đập tan sự thống trị của thực dân Pháp trong 87 năm, lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành nước độc lập, một nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, hệ thống chính quyền cách mạng ở các cấp được thành lập và củng cố trên phạm vi cả nước, trực tiếp lãnh đạo nhân dân xây dựng cuộc sống mới và bảo vệ thành quả cách mạng.

 

Theo như các ông cho rằng, Cách mạng Tháng Tám là cuộc bạo động chính trị, với mục đích mang lại quyền lợi cho những người cộng sản Việt Nam. Và theo như các ông không cần tiến hành Cách mạng Tháng Tám 1945 thì Việt Nam cũng sẽ có độc lập? Một số nước châu Phi, Mỹ La tinh có cần cách mạng đâu? Sao các ông lại thiển cận về chính trị đến thế. Chính nhờ Cách mạng Tháng Tám đã phá tan một mắt xích quan trọng và thúc đẩy sự tan rã không thể cứu vãn của hệ thống thuộc địa, mở đầu quá trình sụp đổ của chế độ thực dân cũ tàn bạo, cỗ vũ nhân dân các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng, giành độc lập, tự do. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 đã góp phần cỗ vũ phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh; thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng lẫn chiều sâu, tấn công vào hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc thực dân. Từ 1945 đến 1960 ở châu Á và châu Phi, hàng loạt nước đã giành được độc lập thông qua nhiều con đường khác nhau. Riêng năm 1960 đã có 17 quốc gia châu Phi giành được độc lập, được gọi là năm châu Phi. Đến cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX đã có hơn 50 nước trên thế giới giành được độc lập dân tộc. Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ bị sụp đổ hoàn toàn.

 

Xét về động cơ, mục tiêu của cuộc cách mạng, lực lượng tham gia cách mạng, phương thức tiến hành cách mạng, có thể khẳng định với các ông một điều là Cách mạng Tháng Tám 1945 thực sự là một cuộc cách mạng vô sản kiểu mẫu, một cuộc cách mạng để phát triển, cách mạng vì sự tiến bộ của loài người.

 

Cuối cùng, tôi chỉ muốn nói với các ông một điều là: còn nhiều người Việt Nam ở nước ngoài đang hằn học trước sự phát triển của Việt Nam như hiện nay, và chúng tôi còn đọc được nhiều bài viết xuyên tạc mạnh hơn, chống phá mạnh hơn bài phỏng vấn của các ông, nhưng cũng chẳng có ý nghĩa gì đối với mỗi con người Việt Nam, khi mỗi con người Việt Nam có lòng tự hào dân tộc thì những bài viết như của các ông chẳng có nghĩa lý gì. Thực tế bao giờ cũng là thực tế, chân lý, lẽ phải bao giờ cũng chiến thắng, cái gì nó là thực tế, là chân lý thì các ông nên tôn trọng nó, đừng có bẻ cong chân lý, bẻ cong thực tế có ngày chính thực tế, chính lẽ phải quay lại phản các ông đấy. Các ông còn chút sức khỏe nên giữ lại mà sống, đừng hằn học, tức tối làm gì. Nếu có dịp mời các ông về thăm lại đất nước và con người Việt Nam hiện nay thì các ông mới hiểu và ân hận về những nhận thức sai lầm của các ông. Nhân dân Việt Nam luôn có lòng nhân ái,khoan dung, độ lượng, không thù hằn gì các ông đâu, các ông đừng sợ khi về Việt Nam. Chân lý bao giờ cũng thuộc về lẽ phải của những người Việt Nam yêu nước chân chính./.

 

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA TRẦN TRUNG ĐẠO

Trần Trung Đạo đăng trên “Vietnamthoibao” bài viết có tiêu đề: “Tham nhũng dưới chế độ CS”. Bài viết của Trần Trung Đạo đã lấy một số hạn chế trong hoạt động phòng, chống tham nhũng ở một số nước xã hội chủ nghĩa là Liên Xô (trước đây), Trung Quốc và Việt Nam để xuyên tạc đánh lừa người đọc hiểu nhầm nguyên nhân dẫn đến tham nhũng ở các nước xã hội chủ nghĩa và ở Việt Nam là do Đảng cộng sản lãnh đạo, do thể chế chính trị. Y đưa ra quan điểm hết sức sai trái rằng: “tham nhũng thối nát không thể nào bị ngăn chặn hay xóa bỏ khi nào tính độc tài chuyên chính còn tồn tại…”. Song, thực tiễn lại hoàn toàn bác bỏ luận điệu xuyên tạc, sai trái của Trần Trung Đạo, bởi lẽ:

 

Thứ nhất, Trần Trung Đạo phải hiểu rằng: Tham nhũng là một hiện tượng tồn tại tất yếu khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, không riêng gì ở Việt Nam mà bất cứ một quốc gia nào, hay chế độ chính trị nào trên thế giới cũng đều có vấn nạn này.

 

Ví như ở Mỹ, theo thống kê của Đại học Illinois, thủ đô Washington D.C và các thành phố lớn: Chicago, Los Angeles, Manhattan, Miami có số công chức bị kết tội tham nhũng rất cao. Trong giai đoạn từ năm 1976 tới năm 2016, Chicago có hơn 1.700 công chức bị xử lý, cao nhất tại Mỹ. Los Angeles đứng thứ hai với hơn 1.500 công chức bị xử lý. Manhattan đứng thứ ba với hơn 1.300 công chức. Đứng thứ tư và thứ năm lần lượt là Miami với 1.165 công chức và Washington D.C với gần 1.200 công chức. Như thế, mặc dù Mỹ có các đảng phái cạnh tranh, giám sát nhau; hệ thống pháp luật khá hoàn thiện, nhưng tình trạng tham nhũng vẫn rất nghiêm trọng. Hay tại châu Âu, nơi các quốc gia theo chế độ đa đảng, nhưng theo báo cáo về tham nhũng của Đảng Xanh châu Âu (European Green Party) công bố cuối năm 2018 cho biết một thực trạng tồi tệ, đó là các quốc gia thành viên của EU mất tới 900 tỷ euro (khoảng 1.000 tỷ USD) mỗi năm vì tham nhũng. Như thế, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh, mà mọi quốc gia đều phải tiến hành chứ không phải như lời lẽ xuyên tạc của Trần Trung Đạo

 

Bên cạnh đó, tham nhũng ở Mỹ và các nước châu âu còn được thực hiện một cách tinh vi dưới những vỏ bọc hợp pháp trên danh nghĩa vận động hành lang. Đó là việc gián tiếp đưa hối lộ bằng nhiều hình thức như thông qua việc quyên góp, ủng hộ quỹ cho các chiến dịch của các chính trị gia, các nghị sĩ … nhằm thao túng các quyết sách của giới lãnh đạo Mỹ và châu Âu. Mặt khác, nhìn vào bảng xếp hạng Chỉ số cảm nhận tham nhũng (công bố đầu năm 2022) có thể thấy rất rõ quốc gia nào cũng có tham nhũng, mà không phân biệt tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa chỉ khác ở mức độ nghiêm trọng, bởi không có quốc gia nào đạt được điểm 100 (tức là không có tham nhũng). Những nước đứng đầu bảng xếp hạng CPI là Đan Mạch, Phần Lan và New Zealand, cũng chỉ đạt 88 điểm, nghĩa là vẫn có tham nhũng. Còn những nước đứng cuối bảng là Somalia, Syria và Nam Sudan chỉ đạt từ 11 đến 13 điểm. Bảng xếp hạng còn cho biết, trong 10 năm qua (kể từ năm 2012 đến nay), 23 quốc gia và vùng lãnh thổ đã giảm đáng kể về chỉ số CPI, trong đó có các nước như Australia, Canada và Mỹ. Điều đó cho thấy tham nhũng ở những nước này trong 10 năm qua có xu hướng gia tăng.

 

Thứ hai, Việt Nam có phòng, chống được tham nhũng hay không thì hãy nhìn vào những việc làm, hành động cụ thể mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thực hiện trong công cuộc phòng, chống tham nhũng.

 

Ở Việt Nam hiện nay công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được Đảng lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng và toàn diện. Công tác xây dựng, hoàn thiện cơ chế, thể chế về quản lý kinh tế-xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cũng được chú trọng đẩy mạnh, từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng. Các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta cũng ngày càng được hoàn thiện đầy đủ. Công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế được tiến hành kiên trì, kiên quyết, không khoan nhượng, không nương nhẹ, không làm oan, sai; không bỏ lọt tội phạm; xử lý dứt điểm nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp với nhiều cán bộ cấp cao bị xử lý hình sự, kể cả Ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng, thứ trưởng, chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang.

 

Như vậy, có thể khẳng định, với sự quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” tham nhũng ở Việt Nam từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, củng cố thêm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng chứ không có chuyện chỉ các nước phương tây mới chống được tham nhũng. Đây cũng chính là minh chứng rõ nét, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của Trần Trung Đạo và đồng bọn./.

 

ĐẤU TRANH VỚI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA NGUYỄN ĐÌNH CỐNG

 

Trên trang “Doithoaionline” Nguyễn Đình Cống có bài viết “Lòng yêu nước thời kỳ cộng sản” nội dung kích động chia rẽ nội bộ, gây mất đoàn kết chống phá Đảng, xuyên tạc bản chất của đảng cho rằng đảng: “như một cành tầm gửi”; “sống bám vào cây chủ, là nhân dân”…. Đây là thủ đoạn thâm độc thường thấy của các thế lực thù địch, đăc biệt là kẻ có tâm địa chống Đảng như Nguyễn Đình Cống bằng các lời phán xét tưởng chừng vu vơ nhưng đầy chủ đích tiến công vào nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng nên cần được vạch trần và bác bỏ.

 

Để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và dân tộc Việt Nam, cần khẳng định rõ, cả lý luận và thực tiễn hiện nay đều cho thấy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội luôn là mục tiêu nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Là một Đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam đồng thời cũng là của dân tộc Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chiến đấu và rèn luyện để luôn xứng đáng là người lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng luôn lấy việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là mục đích cao nhất, ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác.

 

Trải qua thực tiễn đấu tranh chống xâm lược đầy cam go, khốc liệt, Đảng ta khẳng định, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt, luôn gắn chặt với nhau. Trong đó, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội, còn chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Tuy nhiên, ở từng giai đoạn lịch sử, tùy vào điều kiện cụ thể, vấn đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được vận dụng phù hợp, hài hòa. Sau 37 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, năm 1989 đạt 6,3 tỷ USD, đến năm 2022 đã đạt 409 tỷ USD, đứng thứ 37 trên thế giới. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, năm 1985 bình quân thu nhập đầu người mới đạt 159 USD/năm, đến năm 2022 đạt 4.110 USD/năm. Tuổi thọ trung bình tăng từ 70,5 năm 1990 lên 73,6 năm 2021, cao nhất giữa các quốc gia trong khu vực có mức thu nhập tương đương. Chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2021 của Việt Nam là 0,703, xếp 115/191 trên thế giới. Bên cạnh đó, công tác giáo dục, y tế đạt được nhiều thành tựu. Quy mô giáo dục tiếp tục được phát triển, cơ sở vật chất được nâng cao, chất lượng đào tạo từng bước đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cũng được chú trọng đầu tư, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân. Công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện, nhất là các đối tượng chính sách, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần nâng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng cao hơn.

 

Đảng Cộng sản Việt Nam – chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Ngay từ đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm đứng ra nhận sứ mệnh lịch sử to lớn mà giai cấp và dân tộc giao phó: Lãnh đạo các tầng lớp nhân dân Việt Nam đấu tranh chống thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, dân chủ cho nhân dân, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, sách nhiễu nhân dân. Đấy chỉ là những con sâu làm rầu nồi canh, nhân dân đang mất niềm tin vào những đảng viên thoái hóa chứ chưa bao giờ mất niềm tin vào Đảng của mình. Vì thế, các thế lực thù địch đừng vội ảo tưởng nghĩ rằng dân Việt nam không còn gắn bó với Đảng, xa rời Đảng.

 

Như vậy, tất cả các chủ trương, quan điểm và mục tiêu nhất quán trên của Đảng ta đều hướng vào bảo đảm quyền và lợi ích của nhân dân. Đây là minh chứng sát thực nhất để bác bỏ hoàn toàn các luận điệu sai trái, phản động cho rằng Đảng: “như một cành tầm gửi”; “sống bám vào cây chủ, là nhân dân”…. Do vậy, mỗi người dân nói chung, thanh niên nói riêng phải nâng cao nhận thức, cảnh giác, tỉnh táo, nhận diện, đấu tranh kịp thời; đồng thời, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước./.

 

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC HIẾN PHÁP, CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 

Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước, có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, tính tối thượng của Hiến pháp luôn được bảo đảm. Thế nhưng, trên Facebook: “Đài Á châu tự do Đông Phong”, với bài viết “Hạt giống” Hiến pháp và pháp luật chuẩn mực”, cho rằng: “Việt Nam hiện tại với cơ chế tập trung, quyền lực nằm trong tay giai cấp thống trị một cách tuyệt đối, họ vừa tham gia Lập pháp, vừa tham gia Hành pháp, cũng kiêm nhiệm luôn Tư pháp thì sự tha hóa quyền lực là không thể tránh khỏi”. Thực chất, đây là luận điệu xuyên tạc Hiến pháp, chống phá Việt Nam.

 

Thứ nhất, cần hiểu đúng cơ chế lập hiến và Hiến pháp Việt Nam. Ở Việt Nam, Hiến pháp phản ánh ý chí và nguyện vọng chung của dân tộc và toàn thể nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam; là cơ sở pháp lý cho xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

 

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), cũng như Hiến pháp năm 2013 xác định rõ: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

 

Quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Việt Nam được giao cho các cơ quan khác nhau trong nhà nước. Quyền lập pháp giao cho Quốc hội, quyền hành pháp giao cho Chính phủ, quyền tư pháp giao cho Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân. Trong đó, Quốc hội Việt Nam là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng, cốt yếu của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Chỉ có Quốc hội mới có đủ thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, các vấn đề trọng đại của đất nước. Cùng với quyền lập hiến, Quốc hội cũng là cơ quan có quyền sửa đổi Hiến pháp. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Các cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân) là cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

 

Thứ hai, thực tế xây dựng Hiến pháp và thực thi pháp luật ở Việt Nam được bảo đảm một cách tuyệt đối. Hiến pháp Việt Nam do Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành, theo một quy trình thủ tục chặt chẽ. Từ chủ trương xây dựng Hiến pháp đều được biểu thị bằng nghị quyết của Quốc hội; việc xây dựng Hiến pháp được tiến hành bằng một cơ quan do Quốc hội lập ra; dự thảo Hiến pháp được lấy ý kiến rộng rãi của nhiều tầng lớp nhân dân; việc thông qua Hiến pháp được tiến hành tại một kỳ họp của Quốc hội và chỉ được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc sửa đổi Hiến pháp cũng được thực hiện theo một trình tự quy định tại Hiến pháp.

 

Từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, nước ta đã có 5 bản Hiến pháp, đó là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1992, (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001), Hiến pháp năm 2013. Quá trình xây dựng Hiến pháp ở Việt Nam luôn phát huy dân chủ rộng rãi trong nhân dân. Trong Hiến pháp năm 2013, xác định rõ mối quan hệ trong việc phân quyền, phân công, phối hợp và thực hiện kiểm soát quyền lực giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân. Theo đó, bảo đảm tốt cho thực hiện kiểm soát, cân bằng, khống chế và kiềm chế quyền lực giữa các cơ quan nhà nước, giúp ngăn ngừa được sự chuyên chế phát sinh ở xã hội lạm quyền.

 

Thực tiễn, quá trình phát triển và tiến hành công cuộc đổi mới của đất nước, Việt Nam luôn coi trọng bổ sung, hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật, bảo đảm phù hợp với thực tiễn đất nước và sự phát triển của cách mạng Việt Nam, tạo sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Việt Nam từ nền kinh tế kém phát triển, nay đã trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Công cuộc phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Từ Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (tháng 2/2013) đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng và sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý. Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân sai phạm; kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính hơn 975.000 tỉ đồng, gần 76.000 ha đất; chuyển cơ quan điều tra gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

 

Những minh chứng trên, đã khẳng định sự rõ ràng, tính tối thượng của Hiến pháp và việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ở Việt Nam. Như vậy, những luận điệu xuyên tạc trên Facebook “Đài Á châu tự do Đông Phong”, là không có cơ sở lý luận và thực tiễn, mục đích nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Hiến pháp Việt Nam.

 

 

“CHIÊU TRÒ” VỀ NHÂN QUYỀN CỦA NGUYỄN NAM!


Lợi dụng nhân quyền là một “chiêu trò” đã cũ của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị để xuyên tạc, phủ nhận những thành quả đã đạt được trong việc thực thi các quyền con người cũng như tính ưu việt của chế độ chính trị, hạ thấp hình ảnh, uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mặc dù vấn đề này đã được Việt Nam chứng minh bằng thực tiễn bảo đảm đúng, phù hợp với công ước, điều ước quốc tế nhưng trên trang “Thongluan-rdp”, Nguyễn Nam đã cố tình “nhai lại” những luận điệu đó trong bài: “Hồ sơ nhân quyền của Việt Nam trước giờ vẫn vậy”. Bởi vậy, cần bác bỏ và khẳng định một số vấn đề như sau:

 

Thứ nhất, không thể áp đặt nhân quyền theo khuôn mẫu của một quốc gia này đối với một quốc gia khác. Tuy cùng hướng đến mục tiêu tốt đẹp vì con người và cho con người nhưng các quốc gia có đặc điểm lịch sử, văn hóa, chế độ chính trị, trình độ phát triển khác nhau. Không có một mô hình nào là tuyệt đối về vấn đề nhân quyền và coi là hình mẫu để áp đặt lên quốc gia khác. Đồng thời, một quốc gia không có tư cách phê phán, chỉ trích quốc gia khác về vấn đề này theo định kiến của mình một cách vô căn cứ. Mỗi quốc gia – dân tộc đều có quyền tự lựa chọn con đường phát triển, thể chế chính trị của mình. Khoản 1, Điều 1 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm 1966 khẳng định “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”, nên mọi sự lợi dụng giá trị “dân chủ”, “nhân quyền” như là một khuôn mẫu để buộc quốc gia khác phải tuân thủ là sai trái. Hơn nữa, để giải quyết vấn đề nhân quyền, cần phải gia tăng đối thoại, hợp tác quốc tế, nâng cao sự hiểu biết, lòng tin lẫn nhau, bảo đảm tăng cường các quyền dân chủ, quyền con người; tạo cơ hội bình đẳng cho các dân tộc và cho con người ngày càng phát triển toàn diện. Bởi vậy, Nguyễn Nam cho rằng do hồ sơ nhân quyền làm ảnh hưởng đến quan hệ đối tác toàn diện giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là phi lý – chỉ là suy diễn cá nhân của Y.

 

Thứ hai, thực tiễn Việt Nam đã thực thi tốt vấn đề nhân quyền. Nguyễn Nam cho rằng tình hình nhân quyền ở Việt Nam hiện nay so với hơn chục năm trước đến nay “vẫn vậy” và “tiếp tục bị chỉ trích là điều không lạ”. Để minh chứng cho luận điệu xuyên tạc của mình, Y đã trích dẫn những “nhận xét tóm lược”, “nội dung” từ “hơn chục năm trước” là điều không thể chấp nhận được. Bởi, mọi đường lối, chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật của Việt Nam luôn hướng tới mục tiêu vì con người và các nhu cầu chính đáng của người dân; nâng cao mức sống của người dân cũng như đảm bảo công bằng xã hội. Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người như: Công ước về các quyền dân sự và chính trị, về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước về quyền trẻ em, Công ước không tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm…, ngày 11-10-2022, Việt Nam đã được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023-2025, thể hiện sự tín nhiệm, tin tưởng và ghi nhận của cộng đồng quốc tế về những nỗ lực trong bảo đảm quyền con người cho người dân cũng như tham gia tích cực thúc đẩy quyền con người trên bình diện quốc tế. Trong báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2023 được công bố trên ấn phẩm của Mạng lưới Giải pháp Phát triển bền vững của LHQ dựa trên số liệu được thu thập từ người dân tại hơn 150 quốc gia, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65.

 

Đây là sự minh chứng đanh thép đập tan những luận điệu vu cáo Việt Nam về vi phạm nhân quyền. Thành quả đạt được thông qua sự nỗ lực phấn đấu bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Đảng, Nhà nước Việt Nam là không thể phủ nhận, mọi người dân Việt Nam cần đấu tranh với những luận điệu, chiêu trò, lợi dụng danh nghĩa nhân quyền để xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách hòng can thiệp vào công việc nội bộ và quyền tự quyết của Việt Nam.

Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Để thực hiện có hiệu quả và thực chất chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; một trong những vấn đề mang tính căn cốt là phải xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó nền tảng, tạo sức mạnh nội sinh để mỗi cán bộ, đảng viên đấu tranh chống ảnh hưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, là người lãnh đạo trung thành và tận tụy của nhân dân.

NHỮNG CHUẨN MỰC CỦA ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ được coi là những điều quy định làm căn cứ để đánh giá phẩm chất, nhân cách của người đảng viên, để xem người đó có xứng đáng là thành viên trong đội tiên phong lãnh đạo của giai cấp công nhân, xứng đáng đảm nhận trọng trách với sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ cách mạng, những nhà tư tưởng quan tâm và bàn luận nhiều nhất vấn đề đạo đức, đặc biệt là đạo đức cách mạng. Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện, các lĩnh vực hoạt động của đời sống, trong các mối quan hệ và bản chất của con người, Hồ Chí Minh đã nêu lên chuẩn mực, những giá trị chung nhất, cơ bản nhất mang tính phổ quát của nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng.

Người khái quát nội hàm đạo đức cách mạng là: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”(1); “Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân”(2). Người nêu bật những phẩm chất của người cách mạng cần được bồi đắp là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm và khẳng định: “Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”(3). Như vậy, chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh không nằm ngoài những yêu cầu trong các chuẩn mực, hành vi đạo đức thông thường, mà là sự đòi hỏi cao hơn, trách nhiệm hơn đối với cái chung và trách nhiệm xã hội, trách nhiệm với sự nghiệp cách mạng.

Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, người đảng viên chịu không ít những tác động tiêu cực, trong đó tác động trực tiếp và mạnh nhất đối với cán bộ, đảng viên chính là mặt trái của quyền lực, mặt trái của kinh tế thị trường, của hội nhập quốc tế.Cần đặc biệt lưu ý là mặt trái của quyền lực kết hợp với mặt trái của kinh tế thị trường, đã tạo thành một sự cộng hưởng gây nên những tiêu cực, suy thoái về đạo đức trong cán bộ, đảng viên hết sức nghiêm trọng. Tình hình đó đòi hỏi chuẩn mực đạo đức của người đảng viên cần có sự phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Văn kiện XIII của Đảng nêu yêu cầu phải “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”(4).

PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC TIÊU BIỂU CỦA MỖI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Để thực hiện có hiệu quả và thực chất chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; một trong những vấn đề mang tính căn cốt là phải xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó nền tảng, tạo sức mạnh nội sinh để mỗi cán bộ, đảng viên đấu tranh chống ảnh hưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, là người lãnh đạo trung thành và tận tụy của nhân dân. Có thể đề xuất một số phẩm chất đạo đức tiêu biểu của mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay như sau:

Thứ nhất, bản lĩnh chính trị.

Đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là thành viên của một đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Sứ mệnh đó đòi hỏi Đảng và mỗi đảng viên phải rất vững vàng, độc lập, sáng tạo trong việc đề ra và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách cũng như xây dựng nội bộ Đảng đoàn kết, vững mạnh; không dao động trước khó khăn, thử thách.Bởi vậy, bản lĩnh chính trị là phẩm chất chính trị tuyệt đối cần thiết đối với Đảng Cộng sản cũng như đối với mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng.

Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên biểu hiện ở nhiều phương diện, trong đó nổi bật là sự kiên định mục tiêu, lý tưởng của cách mạng xã hội chủ nghĩa; sự trung thành với Tổ quốc, Đảng; sự vững vàng trước mọi tình huống, sự quyết tâm phấn đấu, vượt mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ, vì lợi ích của Đảng, của giai cấp, dân tộc và nhân dân. Hồ Chí Minh căn dặn mỗi đảng viên “phải giữ chủ nghĩa cho vững”(5), "Những người cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới"(6). Kiên định mục tiêu, lý tưởng, tức là vô luận lúc nào, vô luận việc gì, cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau, nếu khi "lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng"(7). Người phê phán nghiêm khắc những kẻ lợi dụng địa vị để mưu cầu lợi ích cá nhân làm tổn hại đến lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lạo động. “Suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân"(8) là phẩm chất cao quý của người cách mạng” - đó là “tính Đảng”, là nguyên tắc cao nhất của Đảng mà mỗi đảng viên phải tuyệt đối chấp hành. Đó cũng là điều kiện tiên quyết hình thành những tình cảm tốt đẹp, cao cả, nhiệt huyết cách mạng, tình cảm và ý chí cách mạng của người đảng viên không ngừng phấn đấu cho sự nghiệp chung, phấn đấu đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đóng góp trí tuệ, sức lực, tài năng cho việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Bên cạnh đó, Bộ Chính trị (khóa XIII) đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung nhằm tạo cơ chế, góp phần xây dựng và tăng cường bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, ham học hỏi, cầu tiến bộ.

Hồ Chí Minh đã từng lưu ý cán bộ, đảng viên: “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”(9). Công cuộc Đổi mới mà Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thực hiện là một cuộc vận động mang tính cách mạng toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là một quá trình khó khăn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, chưa có mô hình định sẵn. Mặt khác, trong thời đại công nghệ và toàn cầu hóa hiện nay, thế giới đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, nhiều vấn đề phức tạp mới nảy sinh. Từ đó, đòi hỏi Đảng Cộng sản lãnh đạo sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa phải có tiềm lực tư tưởng, khoa học mạnh mẽ ở trình độ cao của trí tuệ xã hội và thời đại, trong đó đảng viên phải là người có học thức, có năng lực trí tuệ và sáng tạo, có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ.

Cầu tiến bộ, ham học hỏi là phẩm chất đạo đức cách mạng rất căn bản, bởi chỉ khi mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng học tập, nâng cao trình độ mọi mặt thì Đảng mới không bị lạc hậu, mới đủ sức mạnh trí tuệ để lãnh đạo dân tộc thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình. Phẩm chất này đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải nhanh chóng nắm bắt kiến thức khoa học hiện đại, trước hết là trong lĩnh vực hoạt động của mình, bắt kịp những thành tựu mới trong lĩnh vực chuyên môn mà mình đảm nhiệm. Phẩm chất này đòi hỏi mỗi người phải chống lại thái độ chây lười, ngại học tập, nâng cao trình độ, thoả mãn với vốn kiến thức đã có, coi thường khoa học, lý luận, đề cao kinh nghiệm, chống lại tình trạng cán bộ, công chức, đảng viên mà không thành thạo chuyên môn, chức trách, công việc được giao, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như sự tin tưởng của nhân dân với cán bộ, đảng viên. Xã hội càng hiện đại càng đòi hỏi trình độ kiến thức cao. Với sự nỗ lực học tập không ngừng, cán bộ, đảng viên mới có đủ khả năng lãnh đạo, quản lý xã hội phát triển.

Thứ ba, giữ vững kỷ luật Đảng và nghiêm chỉnh thực thi pháp luật của Nhà nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật”(10). Người yêu cầu “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(11). Là đảng viên cộng sản, thì khi nào và ở đâu cũng phải chịu sự phân công, quản lý của tổ chức Đảng, phải hành động theo phạm vi kỷ luật của tổ chức. Đảng viên chẳng những phải giữ gìn kỷ luật của Đảng mà còn phải giữ gìn kỷ luật của chính quyền, của cơ quan, đoàn thể cách mạng, của nhân dân, bởi “kỷ luật của chính quyền, của đoàn thể, nhân dân và Đảng cũng là một”(12). Đối với cán bộ, đảng viên càng có công thì càng phải khiêm tốn, đảng viên giữ vị trí càng cao, càng phải gương mẫu và nếu mắc sai phạm càng phải chịu kỷ luật nghiêm khắc. Trong bất kỳ trường hợp nào, mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và bình đẳng về mặt công dân trước pháp luật, không được “tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật”(13). Mọi đảng viên có quyền trình bày ý kiến riêng của mình. Song, khi đã có nghị quyết của tập thể thì phải làm theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức. Phục tùng kỷ luật, đó là “bổn phận”, là “nghĩa vụ” của đảng viên, ngược lại “không giữ vững kỷ luật của Đảng, không kiên quyết chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng, không thiết tha quan tâm đến lợi ích của Đảng - là trái với nghĩa vụ của đảng viên”(14).

Ý thức tổ chức kỷ luật của đảng viên phải được thể hiện cả trong suy nghĩ lẫn trong hành động, cả trong cách nói lẫn trong giao tiếp, ứng xử hàng ngày và trong công việc. Đảng viên phải gương mẫu chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quyết định, sự phân công, điều động của tổ chức; kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện tiêu cực, thoái hóa, biến chất đặc biệt là bệnh tham ô, tham nhũng.

Hồ Chí Minh chỉ rõ bản chất của tham ô, tham nhũng là ăn cắp của công, là nhũng nhiễu, gian lận, đục khoét nhân dân, là tham lam, là trộm cướp. Trong công cuộc Đổi mới, từ Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta đã nhận thức một cách sâu sắc thực trạng và những tác hại sâu sắc của căn bệnh này: “Điều cần nhấn mạnh là: tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân (...). Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng”(15). Văn kiện Đại hội XIII thẳng thắn nêu lên khuyết điểm, hạn chế trong Đảng “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn phức tạp… Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”(16). Bởi vậy, bên cạnh việc nêu cao đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên thì việc tăng cườngcông tác kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật của Đảng; xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật nghiêm minh là biện pháp cực kỳ cần thiết nhằm làm trong sạch hóa đội ngũ cán bộ.

Tăng cường ý thức kỷ luật không có nghĩa là thủ tiêu sự sáng tạo cá nhân của các cán bộ, đảng viên, đặc biệt trong công cuộc đổi mới toàn diện hiện nay rất cần tư duy, nhận thức mới có tính đột phá, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ, nhanh chóng đời sống kinh tế xã hội. Song điều đó không có nghĩa đảng viên có thể là vượt qua các nguyên tắc, vi phạm các quy chế của Đảng, đặt mình ra ngoài tổ chức, đứng trên tổ chức, vi phạm các nguyên tắc tổ chức. Ý thức tổ chức, kỷ luật, đoàn kết nội bộ là một phẩm chất tiên quyết của đạo đức cách mạng. Nó bảo đảm cho các phẩm chất khác có thể thực hiện được trọn vẹn, đầy đủ và hoàn chỉnh.

Thứ tư, trọng dân, yêu dân, tin dân, gần dân, học dân.

Đảng ta đã xác định chế độ chính trị của nước ta là chế độ làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sức mạnh vô địch của Đảng là ở mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Không phải ngẫu nhiên Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, trau dồi quan điểm và thái độ đúng đắn đối với quần chúng, coi việc tôn trọng, học hỏi, có quan hệ mật thiết với quần chúng là một vấn đề thuộc về phẩm chất, tư cách, đạo đức của đảng viên.

Đảng ta là đảng cầm quyền, vì vậy, nhiều cán bộ, đảng viên là những người lãnh đạo, quản lý. Cán bộ, đảng viên còn là cầu nối giữa Đảng với quần chúng, là người tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước. Bởi vậy, có yêu dân, có tin dân, có trọng dân, đảng viên mới hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, mới tích cực lắng nghe ý kiến của nhân dân, mới có thể khơi dậy và phát huy sức mạnh trí lực, nhân lực và tài lực của nhân dân. Có gần dân, đảng viên mới hiểu đời sống xã hội thực tiễn phong phú, sinh động đang diễn ra; mới nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân để đề ra các chủ trương, biện pháp phù hợp cũng như làm cho dân hiểu, dân tin vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, có học hỏi dân, đảng viên mới mở mang, làm giàu thêm hiểu biết của mình bằng trí tuệ sáng tạo và kinh nghiệm phong phú của nhân dân.

Đương nhiên, trong quá trình phát huy dân chủ phải chống thái độ theo đuôi quần chúng. Đặc biệt với sự bùng nổ công nghệ thông tin, sự phổ biến rộng rãi của các mạng xã hội như hiện nay, một vấn đề đưa có rất nhiều quan điểm, nhiều luồng ý kiến trái chiều nhau. Điều đó đòi hỏi cán bộ, đảng viên với tư cách là người lãnh đạo quần chúng, cần phải có đủ tầm, đủ tâm, đủ bản lĩnh để biết lắng nghe, chắt lọc những gì là thích hợp và đúng đắn. Sâu xa hơn, mỗi cán bộ, đảng viên cần luôn phải tự ý thức một chân lý hiển nhiên: có nhân dân thì mới có cán bộ, đảng viên; nhân dân bầu ra cán, trả lương cho cán bộ; không "trọng" dân, tức là đã phản bội người đã bầu mình, nuôi mình. Không “gần dân, trọng dân”, đó không chỉ là sự vi phạm đạo đức đảng viên mà rộng hơn là sự tha hóa của đạo đức “làm người”.

Thứ năm, phòng chống chủ nghĩa cá nhân.

Ngay sau khi Đảng trở thành Ðảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trước hoàn cảnh mới, người cán bộ, đảng viên rất dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân. Người chỉ rõ: Chủ nghĩa cá nhân là trong bất cứ công việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết, muốn cho mọi người vì mình trước khi mình vì mọi người. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, mệnh lệnh, v.v.... Từ đó, Người đặt ra nhiệm vụ “xoá sạch chủ nghĩa cá nhân”(17) là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, liên tục trong công tác xây dựng Đảng.

Trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo duy nhất và nhất từ khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng có điều kiện phát triển. Mục tiêu làm giàu bằng mọi giá, coi trọng lợi ích vật chất đã và đang trở thành cái đích hướng tới của không ít người. Do vậy, đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đối với một số người có chức, có quyền nếu thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng, họ rất dễ bị cám dỗ và sa ngã bởi lợi ích vật chất "che mắt", việc lợi dụng chức quyền, thu vén cá nhân, tham nhũng, làm giàu bất chính dẫn đến suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, biến chất về phẩm chất chính trị là hệ quả tất yếu. Chống chủ nghĩa cá nhân hiện nay, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên luôn có ý thức phục tùng kỷ luật tập thể, biết đặt “việc công, lợi ích công” lên trên hết và trước hết, kiên quyết loại bỏ ham muốn không chính đáng, làm phương hại đến lợi ích tập thể, lợi ích của Đảng, của nhân dân và dân tộc.

Nêu cao chủ nghĩa tập thể, chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là hy sinh lợi ích chính đáng của cá nhân, xóa bỏ cá tính cá nhân. Chủ nghĩa tập thể kết hợp hài hoà quyền lợi và nghĩa vụ, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể theo nguyên tắc mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người. Giữ vững kỷ luật tập thể, tổ chức đồng thời tôn trọng sáng kiến cá nhân, phát triển cá tính, phát triển nhân cách và năng lực sáng tạo, đóng góp riêng của mỗi cá nhân. Làm được điều đó, mới có thể gắn bó, đoàn kết mọi người trong tổ chức và tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng.

Ở bất kỳ giai đoạn nào, sự hoàn thiện đạo đức trong Đảng với những tấm gương sáng về đạo đức của cán bộ, đảng viên luôn có ảnh hưởng sâu sắc và rộng lớn đến những giá trị đạo đức của toàn xã hội, của dân tộc. Từ khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa có một thực tế là, hệ thống thang giá trị chuẩn mực xã hội được hình thành trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã và đang biến đổi. Bởi vậy, để thực hiện nhiệm vụ cao cả, cần thiết nhưng hết sức khó khăn và phức tạp hiện nay là xây dựng Đảng về đạo đức, trước hết Đảng Cộng sản Việt Nam phải định hướng những chuẩn mực đạo đức mà mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đạt được. Đạt được những chuẩn mực đó, sẽ làm trong sạch Đảng, giải quyết những bức xúc của nhân dân, củng cố lại niềm tin của dân với Đảng, nâng Đảng lên tầm cao mới, góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. 

TS. Lê Thị Hằng

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

--

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.9, tr. 354.

(2) (11) (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr.169, 611, 169

(3) (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 292, 291.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.184.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 280.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 467.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.611.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 333.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 17.

(12) (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 11, 284

(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr. 67

(15) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr. 15, 76

(16) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2021, tập II, tr. 222

Tuyengiao.vn

 

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐOÀN THANH NIÊN TRONG 

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam, là đội quân xung kích cách mạng, bao gồm những thanh niên tiên tiến, tự nguyện phấn đấu thực hiện mục tiêu lý tưởng của Đảng. Nhận thức rõ nhiệm vụ quan trọng này, những năm qua, Đoàn Thanh niên đã phát huy tốt vai trò trong công tác xây dựng Đảng; triển khai tích cực, hiệu quả, đồng bộ các giải pháp và đạt nhiều kết quả quan trọng, ngày càng được khẳng định trong thực tiễn. Tuy nhiên, với thái độ hằn học, bất mãn các đối tượng thù địch, chống phá luôn tìm cách nào đó để “chọc ngoáy”, “phá bĩnh”. Mới đây, chúng rêu rao rằng: “Đoàn thanh niên đã mất vai trò”, “phai nhạt lý tưởng”, “không còn quan tâm đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”…  Đây là luận điệu sai trái, xuyên tạc, hết sức nguy hiểm, bởi mục đích sâu xa của chúng hòng phủ nhận vai trò của đoàn thanh niên đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tiến tới kích động thanh niên chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ.

 

Cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, những năm gần đây, dưới sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường, mạng xã hội, một bộ phận nhỏ thanh niên bị ảnh hưởng bởi lối sống hưởng thụ, thực dụng, sa vào các tện nạn xã hội; bị các thế lực thù địch lôi kéo, móc nối, xúi giục để chống phá chính quyền. Điều này đã được các cấp bộ, ngành tuyên truyền, giải thích và xử lý nghiêm, tuy nhiên đã gây ra những ảnh hưởng nhất định đến phong trào của đoàn thanh niên.

 

Thực tế cho thấy, trên cơ sở quán triệt Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng, tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Trung ương Đoàn đã chủ động xây dựng, tham mưu với Chính phủ phê duyệt chương trình “Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng trên không gian mạng giai đoạn 2022 – 2030”; tổ chức đoàn các cấp đã tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên về nội dung cơ bản, giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động cung cấp, định hướng thông tin chính thống, tin tốt, chuyện đẹp cho đoàn viên, thanh niên, nhất là trên mạng xã hội; đề ra nhiều giải pháp để đổi mới nội dung, phương thức định hướng, giáo dục chính trị cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên.

 

Theo báo cáo của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, thời gian qua các hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lực lượng đoàn viên, thanh niên diễn ra rất tích cực, sôi nổi. Tiêu biểu là các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong thanh niên, như: Các cuộc thi Olympic các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chương trình cập nhật kiến thức, đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị; các chương trình thông tin, thời sự; các câu lạc bộ lý luận trẻ, trí thức trẻ ở các cấp và trong trường học với nhiều sản phẩm sáng tạo, hiện đại, hiệu quả.

 

Đặc biệt, trên mặt trận không gian mạng, Đoàn thanh niên các tỉnh, thành phố, cơ quan, đơn vị đã thành lập các trang thông tin điện tử, fanpage, nhóm Facebook, Zalo… Tiêu biểu như  Hà Nội 100% các cơ sở đoàn trực thuộc Thành đoàn đều đã thành lập và duy trì các fanpage, Facebook để thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền; tỉnh đoàn Nghệ An với nhiều chuyên mục hấp dẫn, tính đến nay, website tinhdoannghean.vn có lượt truy cập trung bình hàng ngày trên 10.000 lượt, nâng tổng số lượt truy cập của website đạt trên 20,5 triệu lượt… đăng tải kịp thời các nội dung tuyên truyền, phản bác luận điệu sai trái, thù địch với lượng người tiếp cận đạt gần 57.000 người và hàng chục nghìn lượt xem và bình luận.

 

Từ những vấn đề trên cho thấy, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là cuộc đấu tranh đầy cam go, phức tạp, cần huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó vai trò của đoàn thanh niên là không thể phủ nhận. Để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ trên đòi hỏi mỗi đoàn viên, thanh niên ngoài trau dồi nâng cao trình độ, kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng thì cần phải nâng cao cảnh giác, phát huy hơn nữa vai trò trách nhiệm của tuổi trẻ trong nhận diện, đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.