Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

 

KHÔNG ĐỂ BẢO THỦ TRỞ THÀNH “SỢI DÂY” TRÓI BUỘC SỰ TIẾN BỘ

 

Không chỉ ở Việt Nam mà với mọi quốc gia, dân tộc, tư tưởng bảo thủ được xem là một rào cản lớn, một “sợi dây” trói buộc sự vận động, phát triển của xã hội.

 

Tại Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Đảng ta cũng chỉ rõ “bảo thủ” là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Hiện nay, các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương đã và đang tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2019. Khi phân tích về nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, nhiều đơn vị, địa phương cũng chỉ rõ đó là tình trạng chậm đổi mới cả trong tư duy và hành động, hay nói cách khác là căn bệnh bảo thủ còn khá nặng… Trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, việc nhận diện những biểu hiện cụ thể, nguyên nhân và hậu quả của tư tưởng bảo thủ, trên cơ sở đó xác định và tiến hành các chủ trương, biện pháp đấu tranh hiệu quả, góp phần đưa đất nước phát triển là việc rất quan trọng.

 

Bảo thủ – “sợi dây cột chân cột tay người ta”

 

Theo Đại từ điển tiếng Việt, bảo thủ được hiểu là “duy trì cái cũ, cái hiện tồn, không muốn tiếp nhận cái mới”. Còn theo cách hiểu thông thường, bảo thủ là duy trì cái cũ, bảo vệ cái cũ, cái đã lỗi thời, lạc hậu; không chịu tiếp thu cái mới, cái hay, cái tiến bộ, chống lại những tư duy mới, hành động mới trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội… Trên thực tế những biểu hiện của tư tưởng bảo thủ được thể hiện, bộc lộ dưới rất nhiều dạng, nhiều khía cạnh. Có những biểu hiện chỉ thoáng qua người ta đã biết, nhưng có những biểu hiện không phải ai cũng dễ nhận ra, do đó việc nhận diện đúng tư tưởng bảo thủ để đấu tranh khắc phục là việc làm cần thiết.

 

Danh ngôn có câu: “Một trí óc bảo thủ là một trí óc đang chết dần”. Tác hại mà tư tưởng bảo thủ gây ra với mỗi tập thể, mỗi xã hội là rất rõ ràng. Tác hại của tư tưởng bảo thủ sẽ càng lớn khi nó được áp đặt vào người khác, áp đặt vào tập thể. Do đó sẽ rất nguy hại nếu người mang tư tưởng bảo thủ giữ chức vụ cao, nhất là những người giữ vai trò chủ trì, chủ chốt ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Chuyện kể rằng có một công ty nọ chuyên sản xuất hàng may mặc xuất khẩu, công ty phát triển khá nhanh do thường xuyên đầu tư hiện đại máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, đổi mới mẫu sản phẩm, ký được nhiều hợp đồng với nhiều nước trên thế giới… Sau những thành công ấy, giám đốc công ty hả hê và càng ngày càng cảm thấy thoã mãn với sự nghiệp của mình. Ông ta cho rằng mẫu mã trước đây đã khẳng định được vị trí, tìm được chỗ đứng trong khách hàng nên không cần phải thay đổi nữa, chỉ cần duy trì mẫu mã cũ cũng đủ sức phát triển… Thực chất đó chính là biểu hiện của tư tưởng bảo thủ và hệ quả đã thấy rõ, công ty của ông ta dần dần bị tụt hậu, không theo kịp sự phát triển của thời đại, hàng hóa của công ty trở thành lỗi thời, lạc hậu, không ký được hợp đồng, khách hàng cũng mất dần; các đối thủ cạnh tranh vượt lên. Chẳng bao lâu công ty may mặc của ông giám đốc nọ đã bị phá sản…

 

Từ câu chuyện trên, suy rộng ra cho chúng ta thấy tính chất nguy hại của tư tưởng bảo thủ đối với sự phát triển của xã hội. Nhận thức rõ những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng bảo thủ, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc biệt đến việc đấu tranh ngăn chặn tư tưởng bảo thủ. Trong Thư gửi đồng bào và cán bộ xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), ngày 13-2-1962, khi đề cập đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tư tưởng bảo thủ là như những sợi dây cột chân cột tay người ta, phải vất nó đi. Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ dám làm”. Trong nhiều bài viết, bài nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích rõ tác hại của tư tưởng bảo thủ. Người ví nó như sợ dây trói buộc, ngăn cản sự tiến bộ của con người, ngăn cản sự phát triển của tập thể.

 

 

 

 

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 

LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN


 Vừa qua, trên trang mạng xã hội, đăng tải bài viết: “Sự ngụy biện của đám tuyên giáo” của Phạm Nhật Bình. Trong suốt bài viết, Bình “khéo tìm cách” tung tin, bôi xấu những người làm công tác tuyên giáo, ngụy tạo các sự kiện lịch sử, công kích chế độ nhất nguyên chính trị; đồng thời tuyên truyền và đòi “đa đảng” ở Việt Nam.

 

Thực chất, đây cũng chỉ là chiêu trò cũ – phủ nhận nhận thành tựu cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo, hòng gây sự phân tâm trong xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là mưu đồ hết sức thâm độc, nham hiểm và trắng trợn của các thế lực thù địch, cần phải nhận diện và đấu tranh. Thực tiễn lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và thành tựu trong công cuộc đổi mới đã chứng minh:

 

1. Lịch sử chứng minh, chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam  lãnh đạo cách mạng Việt Nam thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đấu tranh giải phóng dân tộc thắng lợi.

 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) là một tất yếu lịch sử và cũng từ đây, chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc.

 

Trong thời kỳ 1930 – 1945,  lịch sử Việt Nam đã chứng minh, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua Mặt Trận Việt Minh đã lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành chính quyền mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dẫn tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc và đi lên chủ nghĩa xã hội – đó chính là công lao to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Trong thời kỳ (1945-1975), bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn tồn tại nhiều đảng phái như: Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam, Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam cách mạng đồng minh hội… đây là cuộc “thử lửa” trong cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, một lần nữa lịch sử và nhân dân lại lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Và thực tế, với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) thắng lợi đã chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử giải phóng dân tộc và thống nhất nước nhà, mở ra bước ngoặt vĩ đại thiết lập quyền làm chủ của nhân dân trên toàn bộ đất nước, đưa đất nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, đây là minh chứng rõ nét nhất về vai trò hoạch định chủ trương, đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

2. Thực tế sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công cuộc đổi mới đất nước.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Đất nước Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu, chịu hậu quả tàn khốc của hai cuộc chiến tranh, đời sống khó khăn, bị bao vây cấm vận đã tiến hành đổi mới thành công, trở thành nước có thu nhập trung bình, nền kinh tế đang phát triển năng động, tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được đảm bảo, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.

 

Như vậy, cái mà ông Bình gọi là “độc đảng” đưa đất nước “không ngóc đầu lên được” – mới thực sự là ngụy biện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, đạt được tiêu chí cao nhất đối với một đảng cầm quyền đó là: Chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng, văn hoá, xã hội phát triển bền vững, an sinh xã hội được bảo đảm. Đúng như, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn” và “Ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng”./.

 

ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ NGÀY QUỐC KHÁNH CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

Ngày 2 tháng 9 là ngày Quốc khánh của nước Việt Nam, sở dĩ gọi là Ngày Quốc khánh vì chính ngày này năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là sự thật không thể phủ nhận. Song, các thế lực thù địch lại cố tình xuyên tạc sự thật này. Trên trang “Baoquocdan”, Quốc Vy có bài viết: “Ngày 2 tháng 9: Quốc khánh hay Quốc hận?”, Y cho rằng, ngày Quốc khánh là ngày Quốc hận. Vì, nó là ngày mở đầu của thời kỳ lầm lạc, đau buồn, ly tán cho dân tộc Việt Nam; người dân không hề được hưởng độc lập, tự do như bánh vẽ của cộng sản. Đây là sự xuyên tạc trắng trợn lịch sử của dân tộc Việt Nam. Chúng ta cần nhận thức sâu sắc vấn đề và chỉ cho Quốc Vy biết rằng:

 

1. Độc lập là quyền bất khả xâm phạm của một đất nước, một quốc gia, một dân tộc. Độc lập còn có thể hiểu là sự không phụ thuộc của cá nhân, tập thể, xã hội, quốc gia hay dân tộc này vào cá nhân, tập thể, xã hội, quốc gia hay dân tộc khác. Độc lập thường có được khi có đấu tranh giải phóng khỏi sự thống trị. Nói cách khác, độc lập là tình trạng không bị điều khiển, cai trị bởi một thế lực khác thông qua chủ nghĩa thực dân, sự bành trướng hay chủ nghĩa đế quốc. Độc lập chỉ có thể giành được nhờ việc chống lại đế quốc, thực dân hóa, chống lại sự chia cắt. Độc lập sẽ giúp cho nhân dân sống trong ấm no hạnh phúc, không sợ hãi về những gì chiến tranh, xung đột, bạo loạn gây ra. Tự do là không bị kiểm soát bởi một thế lực nào đối với số phận của cá nhân và dân tộc. Tự do bao gồm các quyền tự do của cá nhân và quyền tự do của một quốc gia. Quyền tự do cá nhân là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mình mong muốn mà pháp luật cho phép. Quyền tự do của một quốc gia là quyền tự quyết của dân tộc. Với quyền này, các quốc gia phải thực hiện mọi biện pháp để bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ và tính mạng, tài sản của người dân. Có thể khẳng định rằng, dưới sự cai trị của thực dân, phong kiến, người dân Việt Nam bị mất nước, trở thành thân phận nô lệ và chưa bao giờ được hưởng tự do, độc lập.

 

2. Ngày 2 tháng 9 hằng năm, ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngày này đã đi vào lịch sử như một mốc son chói lọi nhất trong hành trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, khẳng định quyền tự do, độc lập của nhân dân Việt Nam trước toàn thế giới, là ngày chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta, đồng thời mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Với ý nghĩa và tầm vóc lớn lao đó, ngày 2 tháng 9 trở thành ngày hội lớn của dân tộc, ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Chương 1, Điều 13, Mục 4 khẳng định: “Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945”. Từ đây, với tư cách người chủ thực sự của đất nước, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã kiên cường, bất khuất đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc và chế độ phong kiến. Ba mươi năm, sau ngày Quốc khánh, ngày 30/4/1975, Đảng ta, quân và dân ta đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên đáng kể. Việt Nam được bạn bè thế giới mến phục, coi là biểu tượng của sự ổn định chính trị, tinh thần chiến thắng đói nghèo, đề cao giá trị, nhân nghĩa trong thế kỷ XXI. Chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. 78 năm qua là cả một quá trình phấn đấu hy sinh không gì so sánh nổi của cả dân tộc để bảo vệ và xây dựng nên một Việt Nam hôm nay. Ngày nay, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có uy tín, vị thế trên trường quốc tế. Kỷ niệm 78 năm ngày Quốc khánh 2 tháng 9 năm nay, mỗi người dân Việt Nam dù đang ở bất kỳ nơi đâu cũng không khỏi xúc động, bồi hồi khi nhớ về ngày 2/9/1945 lịch sử, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây chính là dịp để bất cứ người dân Việt Nam ở trong nước cũng như kiều bào ở nước ngoài cùng hướng về Tổ quốc, là dịp để các thế hệ cùng nhau nhìn lại chặng đường gian khổ và hào hùng của dân tộc, để tiếp tục hun đúc ý chí, tinh thần yêu nước, cống hiến nhiều hơn nữa cho dân tộc./.

Vạch trần sự xuyên tạc về “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” của Hoàng Lan Mộc Châu

 15 Tháng Một, 2023  Thiên Tước  0 Comments

Trái ngược với việc Đảng, Nhà nước Việt Nam đang quyết liệt hành động đề ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, chế độ, trên trang “Vietnamthoibao”, Hoàng Lan Mộc Châu đã đăng tải bài viết: “Nguyễn Tất Thành ông tổ tự chuyển hóa, tự diễn biến” với mục đích xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời xuyên tạc chủ trương phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên cần vạch trần và đấu tranh bác bỏ.

 

Hoàng Lan Mộc Châu đã đánh tráo khái niệm khi mô tả quá trình đi tìm được cứu nước và hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách thuần túy, “tự nhiên”. Y cho rằng: “Người tự diễn biến, tự chuyển hóa đầu tiên, nhiều nhất và tích cực nhất là Nguyễn Tất Thành”, nhưng để minh chứng cho luận điệu này, xuyên suốt trong bài viết của Y chỉ là những lý lẽ đơn giản như “Nguyễn Tất Thành (NTT) tự chuyển biến, tự thay tên đổi họ rất nhiều lần” hoặc “NTT liên tục thay đổi, tự diễn biến, tự chuyển hóa, mang nhiều bộ mặt khác nhau” và “chuyển biến liên tục, từ nơi này qua nơi khác”. Sự mô tả này, rõ ràng là những chuyển biến, chuyển hóa mang tính cơ học, Hoàng Lan Mộc Châu đã cố tình lấp liếm sự chuyển hóa về chất của Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước, hoạt động cách mạng. Nghiêm trọng hơn, Y dựa vào những công việc mà Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đã làm như phụ bếp, cào tuyết để nói xấu, bôi nhọ hình ảnh của Người, nhất là các hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh tại nước Pháp, nước Anh với những lời lẽ miệt thị, xuyên tạc. Đây là điều không thể chấp nhận được!

 

Bởi vì, quá trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc và hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh là quá trình chuyển biến, chuyển hóa về chất từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, từ một thanh niên thành người chiến sĩ cách mạng. Điều này, đã được chứng minh qua thực tiễn hoạt động của Hồ Chí Minh và được tái hiện ở cuốn sách “Hành trình theo chân Bác” của tác giả Trần Đức Tuấn được Nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 2016 và “Bản đồ Hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ” được kế thừa từ chính tác phẩm trên. Bên cạnh đó, nhân dịp kỷ niệm 110 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2021) còn có nhiều tác phẩm, ấn phẩm bàn về cuộc đời, sự nghiệp, cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó, nổi bật là cuốn sách ảnh “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: Hành trình cứu nước” của Đỗ Hoàng Linh chủ biên, do Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch tổ chức xuất bản bằng 4 thứ tiếng Việt, Anh, Nga, Trung Quốc. Những tác phẩm, ấn phẩm trên đều được bạn đọc Việt Nam và bạn đọc quốc tế ghi nhận với hàng trăm bức ảnh tư liệu, tài liệu, bút tích quý giá tái hiện lại quá trình hoạt động của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Đây là những bằng chứng thép ghi lại quá trình chuyển hóa về chất thành người chiến sĩ cộng sản của Hồ Chí Minh.

 

Như vậy, quá trình tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập được hiểu là quá trình tự biến đổi về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, dẫn tới những hành động đi ngược lại, thậm chí chống lại quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nguy hiểm hơn, hành động đó, dẫn đến phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, việc phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII nêu rõ trong Nghị quyết số 04-NQ/TW ban hành ngày 30 tháng 10 năm 2016. Mỗi người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác trước những luận điệu lợi dụng ngôn ngữ để suy diễn, xuyên tạc hạ thấp, bôi nhọ uy tín, hình ảnh của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng như Hoàng Lan Mộc Châu và những kẻ như Y trên không gian mạng./.

 

DÂN CHỦ - BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Dưới chiêu bài dân chủ, các thế lực thù địch tiếp tục tuyên truyền luận điệu sai trái, chống phá chế độ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây mất ổn định về chính trị tư tưởng, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trên Bloger của “Luatkhoa. org” Vũ Hoàng Anh có bài viết: “Bàn về Dân chủ”, cho rằng dưới sự cai trị của độc tài cộng sản Việt Nam trở thành xã hội phi dân chủ; kỳ thị các dân tộc thiểu số. Thực tế, Vũ Hoàng Anh đang cố tình không hiểu và xuyên tạc tình hình dân chủ và chính sách dân tộc ở Việt Nam.

 

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dân chủ có nghĩa dân là chủ và người dân làm chủ. Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là bản chất của chế độ chính trị do Đảng lãnh đạo, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đảng, Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Nội dung cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân, gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân; được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở.

 

Thực tiễn chứng minh rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mối, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đốì với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện dân chủ không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rôì nội bộ, làm mất ổn định chính trị, xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân.

 

Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Nhà nước thực hiện chính sách về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Đảng ta khẳng định: Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số là sự nghiệp chung của nhân dân cả nước, của nhân dân các dân tộc không phân biệt là dân tộc đa số hay thiểu số. Vì lợi ích trực tiếp của nhân dân các dân tộc thiểu số, đồng thời vì lợi ích chung của cả nước, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ là một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Chính sách dân tộc thể hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Thực hiện chính sách dân tộc là trách nhiệm chính trị cả hệ thống chính trị, toàn xã hội. Vì vậy, phải tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc.

 

Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên Hợp Quốc công bố ngày 20/3/2023 xếp Việt Nam đứng thứ 65/150 trong bảng xếp hạng, tăng 12 bậc so với năm 2022. Sự tiến bộ của dân chủ xã hội chủ nghĩa, cùng chính sách đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam được quốc tế công nhận và đánh giá cao chính là chân lý, thực tế mà các thế lực thù địch không thể xuyên tạc hay hoài nghi./.

 THỦ ĐOẠN “LÊN TIẾNG VỀ QUYỀN TỰ DO INTERNET” ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM


Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng tại Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng một xã hội minh bạch và công bằng nhưng với tâm địa đen tối, các đối tượng chống đối Đảng, nhân dân Việt Nam núp sau các tổ chức xã hội độc lập và công dân tự do đã đăng trên facebook: “Đảng Việt tân” với tiêu đề “Bản lên tiếng về quyền tự do Internet”. Nội dung của bài viết đưa ra những nhận định xuyên tạc, quy chụp, vu khống trắng trợn Đảng, Nhà nước Việt Nam và xuyên tạc công cuộc phòng chống tham nhũng, bằng những nhận định sai lệch rằng: “tranh giành quyền lực”, “cướp bóc của quan chức”… bóp méo, bôi đen việc thực thi pháp luật, tạo cớ kích động “công dân sử dụng Internet, các blogger, các facebooker, các chủ trang nhân quyền liên kết thành mạng lưới”,… tiến tới việc thúc đẩy toàn dân Việt Nam đứng lên giải thể chế độ… Thủ đoạn này đã cho thấy dã tâm nham hiểm của các tổ chức xã hội độc lập và các công dân tự do nên cần được vạch trần và bác bỏ.


1. Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tiếp cận và sử dụng Internet và các phương tiện thông tin đại chúng.


Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ những năm gần đây, mạng xã hội đã trở nên phổ biến với cuộc sống hàng ngày của hầu hết người Việt Nam. Việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, báo chí: Hiện nay, về cơ bản pháp luật trong nước đã tương thích với pháp luật quốc tế, đầy đủ và đồng bộ, từ Hiến pháp, luật, đến nghị định, tiêu biểu là một số văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Ngoài ra, việc triển khai thi hành các văn bản quy phạm pháp luật cũng được tiến hành một cách nghiêm túc. Đến năm 2022, Việt Nam có 127 cơ quan báo; 670 cơ quan tạp chí (có 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến 2023, lượng người dùng Internet tại Việt Nam đạt hơn 72 triệu người (73%) và hiện là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên thế giới; số thuê bao điện thoại di động sử dụng smartphone 94,2 triệu, riêng số người dùng mạng xã hội hiện nay có 76,95 triệu người, tương đương với 78,1% dân số. Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm tốt các quyền đó của con người và được quy định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng và tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài …”; Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…”.


2. Không nước nào dung túng cho hoạt động lợi dụng Internet để chống phá đất nước, nhân dân mình.


Tự do thông tin, tự do Internet, tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người cần được tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, ở bất kỳ quốc gia nào, tự do thông tin, tự do Internet, tự do ngôn luận cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật, nhằm tránh bị lợi dụng, gây phương hại đến quyền, lợi ích của quốc gia, cộng đồng xã hội và các cá nhân. Vì thế, không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới cũng ban hành các điều luật để kiểm soát những thông tin được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên các trang mạng xã hội, qua đó hạn chế sự lan tràn, phát tán những thông tin giả mạo và độc hại.


Việc các thế lực thù địch, phản động và một số đối tượng bất mãn lợi dụng mạng Internet tiến hành chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo các vấn đề bức xúc trong xã hội; tạo dựng thông tin sai sự thật, nhằm làm nhiễu loạn truyền thông, gây hoài nghi trong quần chúng, từng bước tạo bất ổn trong xã hội tiến tới hình thành các xu hướng phản kháng chống chính quyền Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vi phạm pháp luật và bị xử lý nghiêm minh là hoàn toàn xác đáng.


Như vậy, có thể khẳng định “Bản lên tiếng về quyền tự do Internet” là bài viết đưa ra là những nhận định, đánh giá sai sự thật và hết sức phi lý về tự do Internet ở Việt Nam, quy chụp, vu khống trắng trợn Đảng, Nhà nước Việt Nam… Thủ đoạn này đã cho thấy dã tâm nham hiểm, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam của các tổ chức xã hội độc lập và các công dân tự do. Mọi người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác và đấu tranh bác bỏ những thông tin xấu độc, sai sự thật về tự do Internet được phát tán trên mạng xã hội hiện nay./.


 

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – BẬC ĐẠI TRÍ, ĐẠI NHÂN, ĐẠI DŨNG

 

Trên trang “Baoquocdan” Nguyễn Thị Cỏ May tiếp tục chiêu trò cũ, đả kích, đánh tráo khái niệm, xuyên tạc tác phẩm “Ngục Trung Nhật ký” – “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dẫn lời học giả Lê Hữu Mục, May cho rằng tập thơ này ra đời dưới sự dàn dựng công phu của  ban biên soạn thuộc hệ thống Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm đánh bóng tài năng cho Hồ Chí Minh.

 

Lý lẽ mà bài viết đưa ra là: Lúc đó Bác chưa đủ trình độ tiếng Hán để làm thơ tiếng Hán theo thể thơ Đường và quan điểm trong bài thơ mang tính chung chung, không thể hiện rõ quan điểm giai cấp vô sản. Từ đó Lê Hữu Mục khẳng định tác giả cuốn Ngục trung nhật kí chắc chắn là một người Hán (tức “già Lý”) vốn trung thành với quốc gia, đất nước Trung Hoa, chứ không phải Hồ Chí Minh. Song, Nguyễn Thị Cỏ May thiếu hiểu biết hay cố tình bỏ qua, bởi trong Ngục Trung Nhật ký còn một bài thơ: Bệnh trọng (Ốm nặng), hai câu đầu viết: Ngoại cảm Hoa thiên tân lãnh nhiệt/Nội thương Việt địa cựu sơn hà. Với hai câu trên trong bài thơ, đã chứng minh: Chẳng lẽ ông già Lý người Hán đang ở tù tại Hồng Kông lại ngồi thương cho nước Việt; chẳng lẽ một người Hán (“già Lý”, vốn là một tướng cướp) lại làm đại biểu cho nhân dân Việt Nam. Và không biết rằng động cơ thúc đẩy Lê Hữu Mục xuyên tạc “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật kí” đã đi ngược lại phiên họp thứ 24 tại Paris năm 1987, Đại hội đồng UNESCO thông qua Quyết định về kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990. Quyết định này đã tôn vinh “Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Do đó, xuyên tạc, bịa đặt nhưng thiếu tri thức, thiếu hiểu biết, chỉ biết dùng lời lẽ của kẻ thù hận để đánh lừa thiên hạ, không những không đạt được mục đích lấy đen đổi trắng, mà càng chứng tỏ Nguyễn Thị Cỏ May và đồng bọn chỉ là những tay bồi bút, phản động không hơn không kém.

 

Tiếp tục xuyên tạc về phẩm chất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dẫn lời của Trần Đức Thảo, Nguyễn Thị Cỏ May cho rằng: Bác là người hám danh, cuồng danh. Nhận định này đã chứng minh chính May không những là kẻ thiếu hiểu biết, mà còn lú lẫn và mù quáng. Bởi lẽ, chưa cần đề cập đến công lao trời biển mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mang lại cho nhân dân, dân tộc Việt Nam, mà cần chỉ qua tập thơ Nhật ký trong tù đã chứng minh Người là một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng.

 

Cái đại trí của Người là những nhận thức đúng đắn về cuộc sống nhân sinh, về thời cuộc, về đường lối chiến lược, chiến thuật của cách mạng. Trong hoàn cảnh lao tù, con người mất tự do, Người luôn hướng về tự do, nghĩ về tự do. Người đáng giá cao tự do: “Tự do tiên khách trên trời” (Quá trưa). Bác luôn cho rằng cuộc đời có gian nan vất vả, những sẽ có ngày vui: “Hết khổ là vui vốn lẽ đời”; “Hết mưa là nắng ửng lên thôi”(Trời hửng)… Đại trí của Người thể hiện: “Thà chết chẳng cam nô lệ mãi/Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền” (Việt Nam có bạo động). Cái đại trí còn thể hiện cái nhìn sâu sắc về đời sống nhân sinh, những hoài cảm và những suy tưởng của Bác về sự vật, sự việc trong nhiều bài thơ, câu thơ khác. Cái đại trí làm nên đặc điểm nhân cách cao cả con người Hồ Chí Minh.

 

Hồ Chí Minh là bậc đại nhân được thể hiện rất rõ qua tấm lòng thiết tha yêu Tổ quốc, yêu thương, trân trọng con người, lòng yêu thiên nhiên, tình cảm quốc tế trong sáng của Người. Trước hết là tình yêu Tổ quốc, là tình cảm thường trực ở Người, nhiều đêm nhớ nước Người không ngủ được: “Một canh, hai canh, lại ba canh/ Trằn trọc băn khăn giấc chẳng thành/ Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt/ Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh, (Ngủ không được). Nỗi nhớ đồng bào đồng chí canh cánh bên lòng: “Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng/Tin tức bên nhà bữa bữa trông”, (Tức cảnh).

 

Bác là con người đại dũng tập trung ở khí phách kiên cường, tinh thần vượt qua gian lao thử thách, niềm tin, lòng lạc quan cách mạng ở Người. Khí phách ấy, được nói lên ngay lời mở đầu của tập thơ: “Thân thể ở trong lao/Tinh thần ở ngoài lao/Muốn nên sự nghiệp lớn/tinh thần càng phải cao”. Trong hoàn cảnh lao tù, trước sự hành hạ, cưỡng chế, tra xét Người không hề sợ hãi, nao núng mà lại tự động viên: “Nghĩ mình trong bước gian truân/Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng”, (Tự khuyên mình). Đọc Nhật ký trong tù chúng ta được gặp tâm hồn vĩ đại của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng Hồ Chí Minh. Chúng ta thấy trái tim của Người toả ánh sáng chói ngời trong hoàn cảnh tối tăm. Người bị giam hãm, đoạ đầy, trói buộc, xiềng xích, bị nghi ngờ, bêu diễu, cấm đoán, mất hết cả tự do. Tâm hồn Người theo thời gian vẫn cất lên, bất chấp sự cùng khổ về vật chất cũng như tinh thần, coi thường cả sự hiểm nguy, dũng mãnh vượt lên gian lao thử thách, ngạo nghễ để chiến thắng, thể hiện phong thái ung dung, niềm tin tưởng lạc quan son sắt, tình cảm giao hoà với thiên nhiên; đặc biệt là tình cảm thắm thiết đối với đồng bào, nhân dân Việt Nam.

 

Có thể khẳng định, luận điệu dẫn lời Lê Hữu Mạc, Trần Đức Thảo của Nguyễn Thị Cỏ May không nhằm mục đích đóng góp cho khoa học, cho chân lý mà chỉ cho thấy những thiên kiến chính trị, phục vụ cho ý đồ đen tối chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc, vu khống như thế không những làm xấu hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam, mà còn cho thấy cái đại trí, đại nhân, đại dũng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Do vậy, những dòng “bồi bút” của kẻ cố tình xuyên tạc sự thật, bôi nhọ lãnh tụ Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ vấp phải sự chỉ trích, lên án mạnh mẽ của các nhà khoa học và dư luận xã hội và cộng đồng quốc tế. Hồ Chí Minh là tác giả của Nhật ký trong tù, đó là sự thực hiển nhiên. Bọn chúng có cố tình phủ nhận, lái góc này sang góc kia, dùng ý này xỏ ý khác, thì càng chứng minh chúng chính là kẻ thiếu hiểu biết, lú lẫn, phản quốc, hại nước, hại dân./.

                                ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA PHẠM QUÝ THỌ

 

Mới đây, lợi dụng phiên tòa xét xử vụ án “chuyến bay giải cứu”, trên trang “Rfavietnamse” Phạm Quý Thọ đã đăng bài viết với tựa đề “Đạo đức, tư tưởng quan chức chế độ suy thoái nghiêm trọng thế nào?”. Mục đích của Y nhằm hướng lái từ vụ án hình sự sang vấn đề chính trị, tạo cớ bôi nhọ đất nước, chống phá Đảng, Nhà nước, các cấp lãnh đạo, hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo “hoài nghi” về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

 

1. Phạm Quý Thọ lợi dụng sự suy thoái đạo đức, tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên để chống phá chủ trương phòng chống tham nhũng ở nước ta.

 

Ngay đầu bài viết Y cho rằng “Suy thoái đạo đức, tư tưởng của cán bộ lãnh đạo, đảng viên ngày càng nghiêm trọng trong bối cảnh nghịch lý tăng trưởng nhanh và tham nhũng tràn lan đe dọa sự tồn vong của chế độ.”

 

Đây là luận điệu vô căn cứ, bởi trong thực tế, tham nhũng là hiện tượng xã hội mang tính phổ biến, ảnh hưởng tiêu cực, gây thiệt hại nghiêm trọng đến các nguồn lực công, làm suy giảm hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước, làm sai lệch công lý, công bằng xã hội, suy giảm niềm tin của nhân dân, cản trở nổ lực giảm nghèo và phát triển đất nước, xã hội của mọi quốc gia. Nó tồn tại ở các quốc gia trên thế giới, là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ đa nguyên, đa đảng hay một đảng. Vì thế, cần khẳng định rõ chế độ cầm quyền của Đảng ta không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn xã hội tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Ngược lại, công tác phòng chống tham nhũng ở nước ta được tiến hành bài bản không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đã và đang thu được nhiều kết quả tích cực và ngày càng mang lại niềm tin lớn lao trong các tầng lớp nhân dân, được dư luận trong nước và quốc tế ủng hộ, ghi nhận và đánh giá cao không như những gì mà Phạm Quý Ngọ xuyên tạc trên trang Rfavietnamse.org, đây chỉ là chiêu trò đổi trắng thay đen, một cái nhìn ác cảm của Y với Việt Nam mà thôi.

 

2. Phạm Quý Thọ đã vu khống, bịa đặt, coi thường luật pháp Việt Nam khi cho rằng tòa án Việt Nam nói chung và phiên tòa xét xử “chuyến bay giải cứu” nói riêng chỉ là trò“diễn” trước vành móng ngựa.

 

Như chúng ta đã biết, phiên tòa xét xử 54 bị cáo trong vụ án tổ chức những “chuyến bay giải cứu” một lần nữa khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, khẳng định sự nghiêm minh của pháp luật và không có vùng cấm.

 

Ngược lại thời gian, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn ra phức tạp trên phạm vi toàn thế giới, việc tổ chức chuyến bay cứu hộ vừa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân, vừa thể hiện tính nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới công dân Việt Nam ở nước ngoài. Đây là sự cố gắng, nỗ lực của cả dân tộc, và được thế giới công nhận là “hình mẫu” nhân văn, nhân ái, thể hiện bản chất chế độ xã hội mà không phải quốc gia nào trên thế giới cũng làm được. Tuy nhiên, từ chính chính sách tốt đẹp, mang ý nghĩa nhân đạo, nhân văn đó lại xuất hiện một số cán bộ, đảng viên lợi dụng chức vụ, quyền hạn, móc ngoặc với nhau để đưa và nhận hối lộ, tư lợi cá nhân.

 

Để giữ nhiêm kỷ cương pháp luật và thực hiện chủ trương phòng, chống tham nhũng “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử “chuyến bay giải cứu” đã diễn ra công khai và được thông tin rộng rãi, đúng luật pháp; điều đó chứng tỏ Đảng, Nhà nước ta đang quyết tâm trị tận gốc căn bệnh tham nhũng, kiên quyết sử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên phạm tội “Đưa hối lộ”, “Nhận hối lộ”, “Môi giới hối lộ”, “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại một số bộ, ngành và địa phương. Như vậy, hoạt động của tòa án Việt Nam nói chung và phiên tòa xét xử “chuyến bay giải cứu” nói riêng không phải là trò “diễn” trước vành móng ngựa mà là thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, qua đó bác bỏ mọi bịa đặt của Phạm Quý Thọ.

 

Với bản chất phản động, Phạm Quý Thọ đã lợi dụng vụ án để hạ uy tín, phủ nhận vị trí cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; làm lung lay quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Y triệt để lợi dụng những thiếu sót trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta để kích động các phần tử phản động trong và ngoài nước gia tăng hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân ta tinh vi, xảo quyệt hơn. Mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của Phạm Quý Ngọ và đồng bọn./.

 

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH KHÔNG TÁCH RỜI VÀ ĐỐI LẬP VỚI CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN


Mới đây, trên trang “Vietnam. org” đăng tải bài viết của Kiều Phong xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, âm mưu tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin. Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh có thể thấy rõ những quan điểm nói trên là hoàn toàn sai trái, bởi lẽ:

 

Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc lý luận chủ yếu từ chủ nghĩa Mác – Lênin.

 

Chủ nghĩa Mác – Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để hình thành hệ thống quan điểm phong phú, toàn diện của Người về cách mạng Việt Nam. Trong tìm đường cứu nước, Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và tìm thấy ở đây cái “cẩm nang thần kỳ” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Từ đó, Người đứng hẳn về Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp vào cuối năm 1920, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt quyết định trong hình thành tư tưởng chính trị của mình.

 

Để chuẩn bị cho quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1927, Người viết tác phẩm “Đường kách mệnh”, trong đó khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[1]. Trong bài: “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến nguồn gốc lý luận tư tưởng của mình là chủ nghĩa Mác – Lênin. Người khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[2]. Vì vậy, không thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh tách rời với chủ nghĩa Mác – Lênin.

 

Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

 

Chính trên cơ sở nắm vững và quán triệt sâu sắc bản chất cốt lõi những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để tự tìm ra những chủ trương, giải pháp, đối sách phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, từng thời kỳ cụ thể của cách mạng Việt Nam; để hình thành nên hệ thống quan điểm phong phú, toàn diện về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Người không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lênin, mà tiếp thu lý luận Mác – Lênin theo phương pháp nhận thức mác xít; đồng thời, theo lối “đắc ý, vong ngôn”, tức là cốt nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin, chứ không tự trói buộc trong cái vỏ ngôn từ; trên cơ sở đó vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, hình thành nên những quan điểm cơ bản về mục tiêu, lực lượng, động lực, phương pháp cách mạng,… của cách mạng Việt Nam.

 

Hồ Chí Minh luôn tự mình quán triệt, thực hiện và yêu cầu: “Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”[3]; là “học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”[4]. Chính trên tinh thần đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam dần được hoàn bị, phản ánh sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam. Do vậy, không thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh tách rời với chủ nghĩa Mác – Lênin như Kiều Phong đã xuyên tạc.

 

Như vậy, luận điệu của Kiều Phong đưa ra thực chất là một quan điểm sai trái, xuyên tạc về mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác – Lênin, âm mưu phủ định cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là bước đi nhằm tiến tới phủ định bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá của Kiều Phong cùng đồng bọn của y.

 

VIỆT NAM -THẾ GIỚI: LỄ ĐÓN CHÍNH THỨC TỔNG THỐNG HOA KỲ JOE BIDEN THĂM CẤP NHÀ NƯỚC TỚI VIỆT NAM!

     Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Joe Biden đã đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10 - 11/9/2023.

Chiều 10/9, Lễ đón chính thức Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden được tổ chức trọng thể tại Phủ Chủ tịch theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Lễ đón.

Tham dự Lễ đón có: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lê Minh Hưng; Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái; Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Lê Hoài Trung; Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn; lãnh đạo thành phố Hà Nội, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Văn phòng Tổng Bí thư...

Đúng 16 giờ 50 phút, đoàn xe chở Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden tiến vào Phủ Chủ tịch. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chào đón Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden. Hai bên giới thiệu các quan chức có mặt tại Lễ đón. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mời Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden bước lên bục danh dự. Quân nhạc cử quốc thiều hai nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden duyệt đội danh dự Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đây là lần đầu tiên một Tổng thống Hoa Kỳ thăm cấp Nhà nước theo lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Chuyến thăm diễn ra đúng dịp kỷ niệm 10 năm hai nước xác lập Quan hệ Đối tác toàn diện. Đây cũng là sự tiếp nối truyền thống trong gần 30 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ.

* Ngay sau Lễ đón, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam và Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Hoa Kỳ tiến hành Hội đàm, tại Trụ sở Trung ương Đảng)./.






Theo TTXVN.
Yêu nước ST.

 

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

Chủ nghĩa Mác do C.Mác và Ph.Ăng ghen sáng lập vào giữa thế kỷ XIX, đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã được V.I.Lênin phát triển thành chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ đó đến nay, thế giới đã trải qua biết bao biến cố thăng trầm, quanh co, phức tạp, song đời sống xã hội vẫn không nằm ngoài những quy luật phổ biến đã được C.Mác tổng kết. Khẳng định giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời, bên cạnh việc bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, còn phải đấu tranh phê phán các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin được phát tán trên mạng xã hội, kiểu như bài viết của Nguyên Anh đăng trên trang “Quyenduocbiet. com”, với tiêu đề “Bọn tâm thần hoang tưởng tự sướng “Mác – Lê”.

 

Thực tế cho thấy, trong quá trình xây dựng và phát triển học thuyết của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phải đấu tranh chống lại các quan điểm, duy tâm, siêu hình, các quan điểm giáo điều, xét lại. Đồng thời, trình bày quan điểm chính diện của mình, phát triển, hoàn thiện học thuyết của mình. Có thể nói, thông qua đấu tranh tư tưởng, lý luận để bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác là tính quy luật trong sự tồn tại của chủ nghĩa Mác. Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới, V.I. Lênin đã kiên quyết đấu tranh, kịch liệt phê phán những quan điểm cơ hội, xét lại, đồng thời vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo vào thực tiễn nước Nga, Lênin và Đảng Bônsêvích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga tiến hành cuộc Cách mạng tháng Mười vĩ đại, mở ra thời đại mới trong sự phát triển của loài người – thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới.

 

Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng được nhiệm vụ lịch sử mà không một học thuyết nào cũng có thể thay thế được. Sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin được thể hiện ở chỗ nó soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi của nhân loại. Nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, bất công, tha hóa. Thời đại ngày nay có nhiều nội dung, đặc điểm rất mới so với thời C.Mác và V.I.Lênin sống và hoạt động. Song, các giá trị bền vững trong tư tưởng, quan điểm và phương pháp của Mác, Ăngghen, Lênin đã và đang là lý luận và phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới.

 

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho đến nay, chủ nghĩa Mác – Lênin đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam và thời đại. Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho cách mạng.

 

Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, những thành tựu trong công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH gần 40 năm qua đã khẳng định sức sống, ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lê nin đối với cách mạng Việt Nam.

 

Trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử cả về nhận thức lý luận và thực tiễn. Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn, ngày càng được bổ sung, phát triển qua các kỳ đại hội Đảng trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn biến đổi của tình hình thế giới.

 

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi chủ nghĩa Mác – Lênin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”. Người coi chủ nghĩa Mác – Lênin là “cái cẩm nang thần kỳ”, “mặt trời chói lọi” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Vì vậy Đảng Cộng sản Việt Nam luôn yêu cầu “phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” trong tình hình mới.

 

Như vậy, có thể khẳng định, quan điểm của Nguyên Anh mới là hoang tưởng, phi lý và phiến diện, còn chủ nghĩa Mác – Lênin là khoa học và cách mạng, có giá trị và sức sống bền vững, trường tồn. Do đó, các tổ chức, lực lượng tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải thường xuyên trau dồi, nâng cao tri thức khoa học, bản lĩnh chính trị, kỹ năng nhận diện và đấu tranh trên các mặt trận tư tưởng, lý luận; thường xuyên bám sát thực tiễn của cuộc đấu tranh, nhất là hoạt động chống phá của các thế lực thù địch xuyên tạc lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh./.

 

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI VỮNG TIN THEO ĐẢNG

 

Nhìn lại 37 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để lôi kéo, móc nối với các thế lực phản động, dụ dỗ người dân nhất là cộng đồng người Việt ở nước ngoài để liên minh chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

 

Trên trang báo “Quyenduocbiet. com”, Trần Công Lâm có bài viết với cách đặt vấn đề “Liên minh hay không liên minh”. Vẫn với lối mòn quen thuộc, Y đưa ra bình luận cái gọi là “ Đảng – Đảng cũ – Đảng mới” để đánh giá không trung thực, điêu toa về bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Y cho rằng: “Bao nhiêu lần CSVN đổi mới, sửa sai để rồi tham nhũng hại dân vẫn như cũ”. Song cuối bài viết Y lại giả giọng khuyên rằng: “CĐNV liên minh với Mỹ để chống Cộng sản Việt Nam”. Thật đúng là giả dối, Trần Công Lâm phải biết rằng:

 

Thứ nhất, dân tộc việt Nam không có “Đảng cũ – Đảng mới” mà chỉ có duy nhất một Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam; “Đảng Cộng sản Việt Nam là đạo đức, là văn minh”

 

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Tại Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, nhằm khẳng định sự vĩ đại của Đảng; qua đó giáo dục, bồi dưỡng, khích lệ tinh thần phấn đấu, vươn lên của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, hạ thấp uy tín và bôi nhọ Đảng ta của các thế lực thù địch và thành phần cơ hội chính trị.

 

“Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, một luận điểm hết sức sâu sắc, tinh tế, kết tinh những giá trị đặc sắc của lương tâm, danh dự, trí tuệ, bản lĩnh, tâm và tầm của người cán bộ, đảng viên của Đảng; Đảng ta luôn trọn vẹn tấm lòng thủy chung vì dân tộc, vì Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân mà chiến đấu; biết đặt mình trong sinh mệnh của nhân dân, gắn bó với lợi ích quốc gia-dân tộc, hết lòng vì dân, vì nước. Đảng ta quang minh, chính đại, luôn “dĩ công vi thượng”, không che giấu hạn chế, khuyết điểm; trung thực, dũng cảm nhận sai lầm và kiên quyết đấu tranh sửa chữa, khắc phục để luôn tiến bộ, trưởng thành, để dân yêu, dân mến, dân tin. Đảng ta không dung tha cho những kẻ “đội lốt”, “mang danh đảng viên” để hại dân, hại nước, chống phá Đảng và chế độ; Đảng không chấp nhận “trường hợp ngoại lệ”, xử lý nghiêm minh những kẻ sâu mọt, thoái hóa, biến chất, bất liêm, bất chính, dù ở cương vị nào. Đảng ta là đạo đức, là văn minh bởi chiều sâu nhân cách, trí tuệ của mỗi cán bộ, đảng viên và nền tảng tinh thần của Đảng là đạo đức mới – đạo đức cách mạng. Không bao giờ Đảng chấp nhận lùi bước trước những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, tệ nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa dân. Đảng là đạo đức, là văn minh được thể hiện rất chân tình, giản dị, ấm áp, đi vào lòng người bởi những phẩm chất đạo đức và những giá trị văn hóa dân tộc đặc sắc của Đảng, thấm nhuần sâu sắc vào từng cán bộ, đảng viên của Đảng, suốt đời “tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân”. Vậy mà Trần Công Lâm giả dối nói rằng: “Bao nhiêu lần CSVN đổi mới, sửa sai để rồi tham nhũng hại dân vẫn như cũ”, đúng là trò “bịp bợm” vớ vẩn của Y.

 

Thứ hai, cộng đồng người Việt ở nước ngoài luôn vững tin theo Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không liên minh với bất cứ thế lực nào để chống phá Đảng

 

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời, là một nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam, kiều bào ta đồng thuận, ủng hộ sự nghiệp đổi mới và sẵn sàng chung tay, xây dựng, phát triển đất nước. Trong những năm qua, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục lớn mạnh cả về lượng và chất; vai trò, vị thế và uy tín của kiều bào ta trong xã hội sở tại ngày càng được nâng cao. Ðại bộ phận bà con có địa vị, pháp lý, ổn định cuộc sống, hội nhập sâu rộng và có nhiều đóng góp với xã hội sở tại trong tất cả lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, đến văn hóa, xã hội…

 

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cầu nối quan trọng gắn kết Việt Nam với thế giới. Dù sống ở nước ngoài, nhưng trái tim, khối óc và dòng máu Lạc Hồng của người Việt Nam ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc, ngày càng gắn bó và hướng về quê hương, thật sự trở thành một bộ phận không tách rời và một nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Những năm qua cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã đóng góp tích cực cho quá trình xây dựng, bảo vệ, phát triển và hội nhập của đất nước. Các doanh nhân, trí thức đồng bào ta ở nước ngoài sẵn sàng, khao khát trở về đầu tư làm giàu và xây dựng quê hương, đất nước. Theo Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, hiện có khoảng 5,3 triệu người Việt Nam sinh sống, làm việc tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, với hơn 500.000 doanh nhân, trí thức có trình độ cao, luôn tích cực tham gia “hiến kế” cho Ðảng, Nhà nước trong nhiều vấn đề quan trọng. Công tác về người Việt Nam ở nước ngoài thời gian qua luôn được lãnh đạo Ðảng, Nhà nước quan tâm sâu sắc. Các đồng chí cán bộ cấp cao của Ðảng và Nhà nước rất quan tâm, dành thời gian trực tiếp thăm hỏi bà con ta ở nhiều nước trên thế giới trong các chuyến công tác nước ngoài. Mặc dù đứng trước nhiều khó khăn, song kiều bào ta ở khắp nơi trên thế giới luôn vững tin theo Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là sợi dây kết nối giao thương, tạo cơ hội thắt chặt các hoạt động giao lưu văn hóa, du lịch… góp thêm nguồn lực cùng Ðảng, Nhà nước và nhân dân trong nước phát triển kinh tế-xã hội.

 

Chắc chắn rằng, với ý thức tự hào, tự tôn dân tộc cộng đồng người Việt ở nước ngoài không bao giờ liên minh với bất cứ thế lực nào để chống phá Đảng. Trần Công Lâm sẽ không bao giờ thực hiện được ý tưởng “sảo quyệt” đen tối của mình, muốn “CĐNV liên minh với Mỹ để chống Cộng sản Việt Nam”./.