Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với báo chí sau cuộc hội đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden

     Chiều tối 10-9, ngay sau cuộc hội đàm tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã phát biểu với báo chí hai nước và quốc tế, thông tin về kết quả tốt đẹp của cuộc hội đàm. Theo đó, hai bên đã nâng tầm quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ lên Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.

    Báo Quân đội nhân dân Điện tử trân trọng giới thiệu phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với báo chí:

“Thưa Ngài Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden,

Thưa các quý vị,

    Thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, tôi nhiệt liệt chào mừng Ngài Tổng thống Joe Biden, người đã dành tình cảm đặc biệt đối với đất nước, nhân dân Việt Nam và ở những cương vị khác nhau luôn dành nhiều sự ủng hộ quý báu cho việc phát triển quan hệ hữu nghị Việt Nam - Hoa Kỳ. Ngài đến thăm Việt Nam đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm xác lập quan hệ Đối tác toàn diện.

    Tôi luôn lưu giữ những kỷ niệm tốt đẹp về sự đón tiếp trọng thị của Chính phủ Hoa Kỳ và tình cảm của nhân dân Hoa Kỳ trong chuyến thăm của tôi vào tháng 7-2015, đặc biệt là cuộc trao đổi chân tình, thú vị giữa tôi và Ngài Joe Biden trong chuyến thăm. Tôi cũng cảm ơn Ngài Tổng thống Joe Biden tháng 6 vừa qua đã gửi thư mời tôi thăm lại Hoa Kỳ.

    Trong không khí hữu nghị, bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôi và Ngài Tổng thống Joe Biden vừa có cuộc hội đàm sâu rộng, đạt kết quả tốt đẹp. Hai bên thống nhất cho rằng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã có những bước phát triển mạnh mẽ, sâu sắc, thực chất, hiệu quả kể từ khi bình thường hóa và sau khi xác lập quan hệ Đối tác toàn diện. Nhân dịp này, tôi thay mặt nhân dân Việt Nam gửi lời chào và cảm ơn các tổ chức, cá nhân Hoa Kỳ đã ủng hộ Việt Nam, đóng góp vào sự phát triển của quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.

    Trên cơ sở đó, vì lợi ích của nhân dân hai nước và mong muốn tăng cường hợp tác nhằm các mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững trong bối cảnh mới, tôi và Ngài Tổng thống Joe Biden đã thay mặt hai nước thông qua Tuyên bố chung, thiết lập Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. 

Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với báo chí sau cuộc hội đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden
 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu với báo chí sau cuộc hội đàm. Ảnh: TRỌNG HẢI

    Quan hệ đối tác đó tiếp tục dựa trên cơ sở tôn trọng đầy đủ những nguyên tắc cơ bản định hướng cho quan hệ hai nước trong thời gian qua, trong đó có tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Chúng tôi cũng đã nhấn mạnh rằng sự hiểu biết lẫn nhau, hoàn cảnh của nhau, tôn trọng các lợi ích chính đáng của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau luôn có ý nghĩa quan trọng. Việt Nam đánh giá cao và coi trọng khẳng định của Hoa Kỳ ủng hộ một nước Việt Nam "mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng".

    Các nội hàm của mối quan hệ đối tác mới kế thừa những nội dung hợp tác hiện có giữa hai nước và đưa lên tầm cao mới thông qua việc thúc đẩy hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư theo hướng đổi mới sáng tạo là nền tảng, trọng tâm và động lực của quan hệ hai nước; tăng cường hợp tác khoa học - công nghệ là đột phá mới của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Trong thời gian tới, các cơ quan liên quan của hai nước sẽ phối hợp triển khai thực hiện các thỏa thuận đã đạt được, tạo điều kiện để phát triển những bước tiếp theo.

    Việt Nam thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ và các đối tác quốc tế khác theo tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ sau khi Việt Nam giành lại độc lập là Việt Nam làm bạn với tất cả các nước. Đối với Hoa Kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam và Việt Nam sẵn sàng hợp tác đầy đủ với Hoa Kỳ; nền độc lập và hợp tác đó có lợi cho toàn thế giới. Chúng ta đều biết trong nhiều năm tháng sau đó nhân dân Việt Nam đã phải trải qua muôn vàn hy sinh, gian khổ để bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước.

    Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng xác định chủ trương đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác song phương trong khuôn khổ của đường lối đối ngoại nhất quán là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

    Ngài Tổng thống Joe Biden và tôi đã thông tin cho nhau về tình hình hai nước, bày tỏ sự trân trọng đối với những nỗ lực và kết quả tích cực đạt được về phát triển kinh tế-xã hội ở mỗi nước. Đối với các tình hình phức tạp và xung đột quốc tế, Việt Nam mong muốn các bên đối thoại, giải quyết hòa bình trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

    Tôi mong rằng qua chuyến thăm quan trọng và đầy ý nghĩa này, Ngài Tổng thống, các quý vị trong đoàn và tất cả các bạn có thêm dịp để cảm nhận trực tiếp về đất nước Việt Nam đổi mới, phát triển năng động, có nền văn hiến, lịch sử lâu đời và người dân Việt Nam giàu tình cảm, hiếu khách, hữu nghị và yêu chuộng hòa bình.

    Tôi tin rằng chuyến thăm Việt Nam của Ngài Tổng thống Joe Biden sẽ thành công tốt đẹp. Xin chúc Ngài Tổng thống những thành công mới và chúc Ngài, các quý vị trong đoàn, các bạn có mặt ở đây và gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc”.

Sửa đổi một số thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực nghĩa vụ quân sự

     Bộ Quốc phòng vừa ra quyết định công bố thủ tục hành chính được sửa đổi trong lĩnh vực nghĩa vụ quân sự (NVQS) thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Bộ Quốc phòng.

    Theo đó, danh mục các thủ tục hành chính được sửa đổi thuộc lĩnh vực NVQS gồm: Thủ tục đăng ký NVQS lần đầu và thủ tục đăng ký NVQS chuyển đi khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập.

    Quyết định nêu rõ nội dung cụ thể của từng thủ tục hành chính sau khi sửa đổi. Đối với thủ tục đăng ký NVQS lần đầu thực hiện theo 3 bước, còn thủ tục đăng ký NVQS chuyển đi khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập thì thực hiện theo 2 bước.

    Đối tượng thực hiện là cá nhân, trực tiếp đến ban chỉ huy quân sự cấp xã nộp một bộ hồ sơ để đăng ký. Thời gian giải quyết cả hai thủ tục trên trong một ngày, do ban chỉ huy quân sự cấp xã trực tiếp thực hiện và không thu phí.

Cuộc đấu tranh không tiếng súng

 Những năm qua, các thế lực thù địch sử dụng nhiều hình thức, thủ đoạn truyền bá “Cách mạng màu”, “Cách mạng trắng” vào Việt Nam”. Thông qua các trang mạng xã hội Youtube, Facebook, Twitter, Zalo… chúng xuyên tạc, bịa đặt, xét lại lịch sử, bôi nhọ nhằm chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân. Mục đích của chúng là nhằm giải thể Đảng và Nhà nước Việt Nam. 

Cùng với phong trào đấu tranh rộng khắp của quần chúng nhân dân với các thế lực thù địch trên không gian mạng, nhiều cơ quan báo chí Trung ương và địa phương; các cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của các tỉnh, thành phố, Ủy ban MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội… đã đăng tải nhiều bài viết nhận diện, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong đó vạch trần luận điệu “Cách mạng màu” - “Cách mạng trắng”.

Cách mạng màu, Cách mạng trắng, Diễn biến hòa bình, Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

“Cách mạng màu” là một trong những thủ đoạn vô cùng nguy hiểm nằm trong âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Điều đáng chú ý là một số chủ kênh Youtube, Facebook, Zalo trong nước lên các trang mạng xã hội a dua, ủng hộ một số tờ báo, đài phát thanh, truyền hình và các trang mạng xã hội chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. 

Đầu năm 2022, khi Tạp chí Công an nhân dân phát hành số chuyên đề, đăng bài: “Cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc bịa đặt, bóp méo và xét lại lịch sử của các thế lực thù địch” thì một số kênh Youtube trong nước núp dưới chiêu bài “bảo vệ Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài (Nghị quyết số 36)” đã manh động chống đối, thóa mạ Ban Biên tập Tạp chí và tác giả. Điển hình là chủ kênh Youtube Công tử Bạc Liêu, Người Bạc Liêu, kênh Người lái xe - Tuấn Trần.

Ngày 1/11/2022, chương trình “Góc nhìn sự thật ANTV” (Truyền hình Công an nhân dân) phát phóng sự: “Vạch trần bộ mặt phản động của các hội nhóm núp bóng yêu nước”. Phóng sự gây được tiếng vang, được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ, tiếp sóng, lan truyền tích cực trên cộng đồng mạng cũng như khán giả truyền hình trong và ngoài nước. Ngay sau đó, ngày 2/11/2022 trên kênh Youtube Vietvision (VVS) với 270 nghìn người theo dõi, chủ kênh (HCC) đã trực tiếp livestream xúc xiểm, bôi nhọ, bịa đặt và xuyên tạc Ban Biên tập và khách mời trường quay của chương trình khiến dư luận quần chúng nhân dân hết sức bất bình.

Ngày 2/9/2022, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đăng bài “Vạch trần luận điệu xuyên tạc Cách mạng màu - Cách mạng trắng ở Việt Nam”. Sau khi bài báo đăng đã có trên 120 cơ quan báo chí, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử trong nước dẫn đường link đăng lại bài viết này. Ủy ban MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội nhiều tỉnh, thành phố, ngoài đăng trên trang thông tin điện tử còn đăng trên các trang Facebook, Zalo cộng đồng để tăng cường lan tỏa trong nhân dân. Một số đài truyền thanh xã, phường, thị trấn cũng đọc bài viết trên loa truyền thanh và trên sóng FM, được đông đảo quần chúng theo dõi, ủng hộ, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ngày 15/11/2022, Báo Quân đội nhân dân điện tử đăng bài “Vạch trần sự lươn lẹo của thủ lĩnh Cách mạng trắng liên kết với tổ chức khủng bố Việt Tân”. Bài viết sau khi đăng đã được trên 60 cơ quan báo chí, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của các tỉnh, thành phố, Ủy ban MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội dẫn đường link đăng lại. Đồng thời hàng trăm trang mạng xã hội Youtube, Facebook, Zalo của quần chúng yêu nước trong nước và kiều bào ở nước ngoài lan tỏa, chia sẻ, hội luận ủng hộ bài viết. Trước sự ủng hộ mạnh mẽ của quần chúng với bài viết của Báo Quân đội nhân dân, nhiều kênh Youtube dân chủ cuội đã co vòi hoặc im tiếng; nhóm ủng hộ “Cách mạng trắng” chỉ còn các kênh Youtube SGVV, Người Bạc Liêu, Cường Trần lên tiếng phản đối một cách yếu ớt.

Có thể khẳng định, dưới sự chỉ đạo của Đảng, các cơ quan thông tấn, báo chí đã kịp thời vào cuộc, định hướng dư luận và sát cánh cùng quần chúng nhân dân đấu tranh chống lại các luận điệu “Cách mạng màu - Cách mạng trắng”, những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Bám sát và thực hiện kịp thời, hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng và Kết luận 12 ngày 12/8/2021 của Bộ Chính trị về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới đã chỉ rõ: Phát huy hiệu quả các phương tiện truyền thông đa dạng của cộng đồng; hoàn thiện và nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp, phản ứng nhanh, kịp thời phản bác những luận điệu sai trái, không đúng sự thật về tình hình đất nước. Ngăn chặn và phòng ngừa việc lợi dụng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài để trục lợi, chống phá đất nước, ảnh hưởng đến uy tín và lợi ích quốc gia - dân tộc.


KHÔNG ĐƯỢC XUYÊN TẠC LỊCH SỬ.

Chúng ta đã biết Chủ nghĩa xét lại ra đời sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công mà đỉnh cao là dưới thời Khơ-rút-xốp, song thời kỳ đó nó đã bị những người Cộng sản chân chính ở Liên Xô đánh bại. Thế nhưng đến những năm 80 của thế kỷ XX, Chủ nghĩa xét lại đã phục hồi mạnh mẽ trở thành trào lưu hòa tấu cùng các trào lưu khác, lại được người đứng đầu Đảng Cộng sản Liên Xô cổ suý, để rồi bằng sự xuyên tạc, bóp méo lịch sử họ đã bôi nhọ các gương anh hùng cách mạng, họ tập trung hạ bệ thần tượng Xít-ta-lin và kế đó tấn công hạ bệ thần tượng nhà lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản thế giới V.I. Lê-nin. Khi thần tượng Lê-nin sụp đổ cũng là lúc Goóc-ba-chốp tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô dẫn đến sự tan rã của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết. Một sự kiện chấn động làm cả thế giới bàng hoàng, ngay cả kẻ thù của Liên Xô là đế quốc Mỹ cũng không thể hình dung Liên Xô tan rã nhanh như thế!


Trước sự kiện này nhà thơ Tố Hữu nhanh chóng có bài thơ: Chân lý vẫn xanh tươi, phản ánh về sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu. Trong bài thơ có đoạn chỉ đúng sự thật về Chủ nghĩa xét lại lịch sử ở Liên Xô lúc bấy giờ: “… Cả đàn sói chồm lên, cắn vào lịch sử Cào chiến công, xé cả xác anh hùng. Ôi! Nỗi đau này là nỗi đau chung. Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát? Lũ phản bội, điên cuồng, hèn nhát. Và cả bầy quân cướp nước, giết người. Chớ vội cười! Chân lý vẫn xanh tươi …” (Tố Hữu – 1991).


Bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô đã cho ta nhiều kinh nghiệm quý báu, nhất là tìm ra những nguyên nhân cả khách quan và chủ quan. Song với tư duy biện chứng các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và Bác Hồ từ trước đây đều cho rằng: Bài học từ những nguyên nhân chủ quan là quan trọng nhất, bởi vì như Lê-nin đã từng dự báo: Không ai có thể làm sụp đổ sự nghiệp của họ, nếu không phải chính họ tự làm sụp đổ sự nghiệp của mình. Và sự thật cùng với sự tấn công quyết liệt của kẻ thù, thì chính những người mang danh là đảng viên Đảng CS Liên Xô đã làm tan rã Đảng và Nhà nước Xô viết một thời hùng mạnh này.


Còn với đất nước ta, khi bước qua thiên niên kỷ mới cũng bắt đầu xuất hiện trở lại hiện tượng của Chủ nghĩa xét lại lịch sử, tuy chưa đến mức như ở Liên Xô vào những năm của thập kỷ 80, song cũng cần phải báo động và kiên quyết đấu tranh loại bỏ. Có thể khái quát những biểu hiện của Chủ nghĩa xét lại lịch sử này như sau: Thứ nhất về phương pháp luận, họ xa rời phương pháp luận Mác – Lê-nin mà lại núp dưới cái gọi là phương pháp: khách quan, đổi mới, toàn thể, văn hóa. Vậy chúng ta thử phân tích cách nhìn của họ như thế nào?


Đó là khi viết sử phải dùng những từ tránh miệt thị, trung tính, bất chấp sự thật lịch sử. Họ không đứng về phía của những người làm nên lịch sử mà tự mình đứng cửa giữa (trung tính) và họ cho đó là khách quan để từ đó họ cho mình cái quyền bác bỏ những gì người trong cuộc đã viết, đã nói hoặc lịch sử đã ghi chép lại như kiểu “Đến nay chúng tôi thấy không đủ cơ sở để khẳng định lịch sử dân tộc ta có 4.000 năm, nên chúng tôi sửa lại dân tộc ta có mấy ngàn năm lịch sử” và họ biết nếu viết và nói vậy sẽ bị mọi người phản ứng, họ đã chiết trung bằng cụm từ “dân tộc ta trải qua mấy ngàn năm lịch sử” hay như gần đây trong Bộ lịch sử 15 tập của nhóm biên tập do ông TĐC làm Tổng chủ biên đã bỏ cụm từ “ngụy…”, một cụm từ mà cả dân tộc ta đã hy sinh hàng triệu người để “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” thu non sông về một mối, theo họ cũng với lý do cho khách quan, trung tính, tránh miệt thị…


Lại nữa, nhân danh đổi mới họ xóa cả tên anh hùng, sự việc có thật họ bảo rằng không có thật, như câu chuyện về ngọn đuốc sống Anh hùng Lê Văn Tám, họ cho rằng đây là câu chuyện không có thật, về chị Võ Thị Sáu thì có kẻ nói chị là kẻ điên, thậm chí vẽ ra chuyện Bác Hồ không ra đi từ Bến cảng Nhà Rồng vì năm 1911 chưa có Bến cảng này, trong khi Cảng Nhà Rồng đã có từ năm 1899, hay như gần đây họ biến cuộc ngụy chiến ở quần đảo Hoàng Sa, mà chế độ ngụy quyền SG làm theo lệnh quan thầy Mỹ bàn giao cụm đảo phía Tây cho Trung Quốc, từ tội danh bán một phần lãnh thổ cho ngoại bang, họ đổi mới thành những người bảo vệ Tổ quốc, thậm chí họ còn có ý định đề nghị công nhận những nạn nhân này thành liệt sĩ. Thật xấu hổ khi họ cho rằng một chế độ bán nước lại còn có Tổ quốc để mà bảo vệ, nếu ngụy quyền SG có Tổ quốc thì họ là một quốc gia và chúng ta xóa đi chế độ đó thì phải chăng chúng ta đi xâm lược và có đời thuở nhà ai người Việt Nam đi xâm lược Việt Nam…?


Với quan điểm toàn thể, họ đã khai thác mọi nguồn tư liệu, cả địch cả ta, cả người trong cuộc và ngoài cuộc kể cả tư liệu của bọn chống Cộng trong nước và thế giới, để rồi với cách nhìn khách quan trung tính họ đã viết lịch sử theo kiểu “hầm bà làng”, hoặc cố tình lập lờ mà đáng ra họ chỉ có thể kết luận theo sự thật mà nó đã xảy ra, theo cách như tôi đã dẫn ở trên về sự kiện Trung Quốc chiếm giữ trái phép cụm đảo phía Tây ở quần đảo Hoàng Sa 1974, họ lấy tư liệu bịa đặt của ngụy quyền Sài Gòn bất chấp thực tế là ngụy đã dâng HS cho TQ theo lệnh Mỹ, hay như họ ra sức ca ngợi Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông bất chấp sự thật đây là Hòn Ngọc ăn chơi du hý của cả thời Pháp thuộc và Mỹ thuộc, là nỗi đau của dân tộc ta “những quả bom văn hóa Mỹ cao bồi, những quả bom làm lở loét làn môi, em ta đó khóc cười dang dở”… rồi họ nói đến nền kinh tế, văn hóa… miền Nam dưới chế độ SG, và chắc chắn họ lại đưa các số liệu mà chế độ ngụy cố tình vẽ ra mà họ quên mất những con số thực. Thực ra nói đến toàn thể nếu nó khoa học thì đây là quan điểm của CN Mác – Lê-nin, quan điểm toàn diện, song nó không khoa học nên họ sáng tạo ra cái quan điểm toàn thể này.


Họ đã đẻ ra cái quan điểm văn hóa này, thì các nhà Triết học chắc phải làm một cuộc hội thảo để xem có cái gọi là phương pháp luận văn hóa hay không? Song ở đây họ có ý đồ của họ, theo họ lịch sử viết phải có văn hóa, tránh dùng những từ ngữ “thiếu văn hóa” theo hướng miệt thị, lên án nặng nề, như: ngụy quân, ngụy quyền; tay sai, bán nước, bù nhìn… Và từ đó họ phục dựng chính danh cho các chế độ từ Bảo Đại, đến Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu… Bằng cách gọi: chính quyền Quốc gia Việt Nam, quân đội Quốc gia VN, chính quyền VNCH, quân đội VNCH… đây là điều mà những người trực tiếp cầm vũ khí đánh Mỹ, ngụy và những ai có tấm lòng yêu nước thật sự không thể nào chấp nhận.


Thứ hai, với trách nhiệm của họ, thì họ phải thường xuyên xem xét lại lịch sử để phát hiện những chứng cứ, tư liệu lịch sử, nhằm bổ khuyết làm sáng tỏ các sự kiện. Song họ lại làm ngược lại, đẩy các sự kiện vào chỗ lập lờ không rõ. Có thể dẫn chứng ra như tôi nêu ở trên: Lịch sử dân tộc ta hàng trăm năm nay đã khẳng định có 4.000 năm, nay họ lập lờ rằng dân tộc ta “Trải qua mấy ngàn năm lịch sử”, họ cố tình quên mất một nguyên tắc viết sử là cái gì tổ tiên ta đã nói, chỉ được phép sửa khi có đầy đủ sử liệu chính xác, đàng này họ đưa ra một kết luận bác cái của cha ông mà thay bằng một mốc không chính xác, rõ ràng, thực chất là một câu hỏi: Dân tộc ta có mấy ngàn năm lịch sử; hay như mới nhất việc ai là người soạn thảo lời đầu hàng của TT ngụy quyền SG vào ngày 30/4/1975, việc như vậy nhưng họ vẫn không kết luận được rõ ràng; hay khi ông PHL khẳng định không có Anh hùng Lê Văn Tám, đáng lẽ những nhà sử học phải vào cuộc làm rõ song họ bỏ lửng, để mặc cho bọn xấu tha hồ lợi dụng phủ lên lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ một sự hoài nghi cho rằng Cộng sản bịa đặt, tuyên truyền dối trá, hay như có kẻ đã xuyên tạc nữ Anh hùng Võ Thị Sáu, các nhà sử học đã lặng im để lập lờ ai hiểu sao cũng được, trong khi đáng lẽ họ phải là những người phản ứng đầu tiên, mạnh mẽ nhất…


Thứ ba là biểu hiện của đổi trắng thay đen, đó là sự nâng công, giảm tội cho những kẻ mà lịch sử đã kết luận, chẳng hạn họ cho rằng nhà Mạc có công cứu đất nước thoát khỏi họa chiến tranh nhờ cắt một phần đất đai dâng cho phương Bắc, tương tự như vậy họ nâng công Phan Thanh Giản khi ký hòa ước cắt ba tỉnh, sau đó là cả Nam bộ cho thực dân Pháp (kẻ mà ông cha ta đã nói: “Phan, Lâm mãi quốc, Triều đình khí dân”, rồi như họ nâng công cho ngụy quyền SG khi giao Hoàng Sa cho Trung Quốc…


Cuối cùng ngành lịch sử đã không làm tròn trách nhiệm, trước tình trạng bộ môn giáo dục lịch sử sa sút, học sinh, sinh viên không muốn học sử, phản ứng yếu ớt khi Bộ Giáo dục – Đào tạo đề xuất Chính phủ tích hợp môn sử vào chung với các môn học khác, buộc Quốc hội phải có Nghị quyết riêng buộc Bộ Giáo dục – Đào tạo không được tích hợp, nếu không học sinh sẽ không còn học lịch sử và hệ quả tất yếu là nhận thức về lịch sử dân tộc của học sinh không đầy đủ, giảm sút lòng tự hào, tự tôn dân tộc, kéo theo làm giảm sút lòng yêu nước của thế hệ trẻ, làm suy yếu dân tộc.


Tất cả những vấn đề nêu trên, chúng ta có thể nói rằng, ở nước ta đang có sự hình thành Chủ nghĩa xét lại trong ngành lịch sử, một nguy cơ hiện hữu nếu chúng ta không nhận diện rõ thì hậu quả của nó là khó lường. Mong Trung ương cần thấy rõ đừng để đến khi “cả bầy sói chồm lên cắn vào lịch sử… Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát…”.

***

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì lễ đón Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden

Tại Phủ Chủ tịch, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chủ trì lễ đón chính thức Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden sang thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10 đến 11-9.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì lễ đón Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden
Chuyến thăm Việt Nam lần này của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden được thực hiện theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Hoa Kỳ kỷ niệm 10 năm xác lập quan hệ đối tác toàn diện (2013-2023).

Việc Việt Nam đón Tổng thống Joe Biden thăm cấp Nhà nước là một trong những hoạt động nhằm triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, khẳng định Việt Nam nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, tiếp tục đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thế đan xen lợi ích, tăng độ tin cậy.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì lễ đón Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden
Bên cạnh đó cũng khẳng định Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ với Hoa Kỳ, mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ giữa hai nước theo hướng hợp tác cùng có lợi, đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững ở khu vực và thế giới.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì lễ đón Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden
Ngay sau lễ đón chính thức, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden tiến hành hội đàm tại Trụ sở Văn phòng Trung ương Đảng.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: SỬ DỤNG CHIẾC PHONG BÌ SAO CHO ĐÚNG?

         "Văn hóa phòng bì", bản chất nó là nét đẹp văn hóa của người dân Việt Nam. Trước kia, ít khi người ta sử dụng phòng bì mà là biếu xén quà cáp lẫn nhau để chia sẻ niềm vui hay nỗi buồn giữa những người thân quen, xóm làng với nhau, thể hiện tinh thần gắn bó, đoàn kết của người dân.

Ngày nay, thay vì quà cáp, người ta thường sử dụng phong bì như trào lưu phổ biến trong xã hội, vừa gọn nhẹ, vừa đáp ứng được nhu cầu của người nhận. Sử dụng phong bì phổ biến đến nỗi từ đám cưới, đám ma, mừng nhà mới, ốm đau hoặc đám chết... đều sử dụng phong bì. Bỏ tiền vào phong bì nhiều hay ít tùy thuộc vào mức độ tình cảm, thân quen hoặc là trả nợ lẫn nhau giữa người đưa và người nhận.

Đây là sự kế thừa truyền thống tốt đẹp của người dân Việt Nam, thể hiện tình cảm, "tương thân tương ái", "lá lành đùm lá rách" của người dân.

Thế nhưng, việc sử dụng phong bì không phải lúc nào cũng thể hiện đúng bản chất nhân văn của nó như tình trạng đưa phong bì để "chạy chức", "chạy quyền", "chạy" thủ tục hành chính, thủ tục hải quan, "chạy" việc làm hoặc kể cả tình trạng đưa phong bì trong ngành y tế, vốn là ngành được coi trọng nhất trong xã hội.

Biến tướng của phong bì ngày nay trong mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với người dân đã trở thành "bệnh" nan y, chưa có thuốc chữa. Tình trạng sử dụng phong bì tràn lan của người dân khi quan hệ, làm việc với cơ quan nhà nước đã làm hư cán bộ, công chức, tạo nên tiền lệ xấu trong quan hệ với người dân.

Việc nhận phong bì giữa cán bộ, công chức và người dân sẽ là chuyện bình thường khi dựa trên tinh thần tự nguyện, nghĩa là người dân cảm ơn cán bộ, công chức đã thực hiện thu tục hành chính cho mình, sự cảm ơn đó không được nhầm lẫn với việc hứa hẹn thực hiện thủ tục hành chính, hay đưa phong bì trước để được giải quyết thủ tục hành chính mà là cán bộ, công chức giải quyết thủ tục hành chính với tinh thần vô tư, khách quan, không vụ lợi và nhận lại sự cảm ơn của người dân, có thể là quà biếu, phong bì hoặc chỉ là lời cảm ơn.

Tuy nhiên, việc sử dụng phong bì tùy tiện, thiếu cân nhắc vô tình đã chuyển thành mối quan hệ "xin cho" "mua bán", trao đổi có điều kiện giữa cán bộ, công chức nhà nước với người dân, đặc biệt là vi phạm pháp luật hình sự như tội nhận hối lộ hoặc đưa hối lộ được quy định cụ thể trong Bộ luật hình sự. Khi việc đưa và nhận phong bì bị phát giác thì sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định nhưng đã gây hậu quả nghiêm trọng là xói mòn lòng tin của người dân vào bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức; tạo nên sự thiếu bình đẳng giữa người dân với nhau trong mối quan hệ với pháp luật, trong khi nguyên tắc tối thượng là "mọi điều bình đẳng trước pháp luật".

Thiết nghĩ, việc sử dụng phong bì của người dân cần phải được duy trì và phát huy nét đẹp văn hóa đã có từ bao đời nay, thể hiện tình cảm, đoàn kết, gắn bó, yêu thương của người dân.

Nhưng việc sử dụng phong bì trong cơ quan nhà nước, giữa cấp trên với cấp dưới, giữa người dân, tổ chức và cán bộ, công chức... ở góc độ nào đó đã có sự biến tướng, tiêu cực, bóp méo sự thật hoặc bẻ cong công lý... Do đó, cần nghiêm cấm việc đưa và nhận phong bì trong mối quan hệ giữa người dân với cán bộ, công chức nhà nước hoặc giữa cán bộ, công chức trong cùng hệ thống các cơ quan nhà nước, nếu việc đưa và nhận đó với mục đích "chạy chọt", "xin xỏ" hoặc bỏ qua hành vi vi phạm pháp luật...

Có như vậy, việc sử dụng chiếc phong bì sẽ trở về với nét đẹp vốn có của nó./.
Yêu nước ST.

 

Chủ động phòng ngừa tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan

Một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII chỉ ra là: “Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước”. Đây là những biểu hiện hết sức nguy hiểm mà các thế lực thù địch lợi dụng để tăng cường xây dựng, phát triển những phần tử phản động ở trong nước để chống phá cách mạng từ bên trong là chủ yếu, thay cho ý đồ trước đây là sử dụng lực lượng chống phá từ bên ngoài là chủ yếu. Một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch, cùng các phần tử cơ hội chính trị đang thực hiện là kích động để phát triển mạnh “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo” hòng tạo ra cuộc chiến ngay trong nội bộ, với cảnh “nồi da nấu thịt” như đã diễn ra ở một số nước.

 

Thực chất của “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”: là tư tưởng khép kín, biệt lập, bảo thủ, bài ngoại, ngờ vực dân tộc khác… Tư tưởng này thường hay nhấn mạnh đặc điểm riêng biệt của dân tộc, không thấy rõ lợi ích của quốc gia và tương lai của đất nước mình. Họ không muốn tiếp thu sự giúp đỡ và những kinh nghiệm hay những tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác. Nếu kích động thành công “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”, cũng có nghĩa dung dưỡng cho quan điểm đề cao lợi ích cục bộ của mỗi dân tộc, chia rẽ tình đoàn kết thống nhất và từ bỏ những lợi ích chung của dân tộc Việt Nam để kích động đồng bào dân tộc ít người đấu tranh đòi thành lập “Nhà nước riêng”, có vua riêng như đang kích động đối với đồng bào Mông, Khơ-me… hiện nay. Mục đích của “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi” là chia cắt đất nước ta thành nhiều vùng miền, khu vực tự trị của đồng bào dân tộc thiểu số và không phụ thuộc vào Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thay vào đó sẽ là lực lượng chính trị phản động nắm giữ…

 

Thực chất tư tưởng tôn giáo cực đoan: là tuyệt đối hóa tính biệt lập, đặc thù của mỗi tôn giáo, đề cao tôn giáo mình, phủ nhận hoặc xem thường với thái độ miệt thị các tôn giáo khác và những người không theo tôn giáo; chỉ thấy quyền lợi của tôn giáo mình, chà đạp lên quyền lợi của tôn giáo khác và nuôi dưỡng ngày càng sâu mối hận thù với các dân tộc, tôn giáo khác… Tư tưởng cực đoan tôn giáo thường xuất hiện ở những chức sắc, những tín đồ có những biểu hiện cực đoan, đối lập với chính quyền cơ sở hoặc những nhà hoạt động xã hội nhân danh là vì dân, cùng với sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch từ bên ngoài nhằm xây dựng những “cốt cán” trong tôn giáo… Bản chất sâu kín bên trong của “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và cực đoan tôn giáo” là công cụ mềm để thực hiện ý đồ cứng nhằm xây dựng những “cốt cán” trong nước, từng bước nắm giữ, khống chế đồng bào các dân tộc, các giáo dân để hình thành lực lượng đối trọng với chính quyền, cao hơn nữa là gây mâu thuẫn, xung đột dân tộc và đẩy tới ly khai, tự trị ở các vùng dân tộc thiểu số, lãnh địa độc lập của các tôn giáo.

 

Mục đích kích động “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và cực đoan tôn giáo” của các thế lực thù địch: là nhằm gieo rắc, phát triển ở các vùng, miền của đất nước, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo… tạo dựng được những lực lượng phản động bên trong đối lập với Đảng, Nhà nước và chính quyền cơ sở. Tập trung tạo dựng các ngọn cờ là những người có tư tưởng cực đoan trong dân tộc với cực đoan trong tôn giáo, dựa vào hình tượng, quyền uy của bề trên tối cao là “vua, chúa” để dụ dỗ và lôi kéo dân lành theo kịch bản đã định trước của chúng. Khi lôi kéo, tụ tập được đám đông quần chúng “nhẹ dạ cả tin” thì chúng sẽ đưa ra những lời lẽ xúi giục, kích động mọi người tham gia biểu tình, gây rối, vi phạm pháp luật… Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Nam đã chứng minh, các nước đế quốc có âm mưu thôn tính nước ta đã tính toán đến âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tạo dựng tay chân từ bên trong để chống phá cách mạng. Khi đã xâm lược đất nước ta thì kẻ thù tìm cách mua chuộc, lôi kéo những người có uy tín như già làng, trưởng bản trong các dân tộc thiểu số; giáo sĩ, tín đồ các tôn giáo để thực hiện mục đích cai trị. Thời kỳ chúng ta bước vào công cuộc đổi mới, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ để thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đang còn vững mạnh, không thể chuyển hóa ngay được nội bộ nên phải thực hiện từng bước. Con đường, biện pháp hữu hiệu để làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam suy yếu vẫn là dùng chiêu bài gieo rắc tư tưởng “dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan” vào trong nội bộ ta, nhất là cán bộ, đảng viên, công chức… hòng tạo ra những “chiến binh” phá hoại an ninh, gây mất trật tự, mất ổn định xã hội cùng với sự hỗ trợ từ bên ngoài sẽ từng bước làm cho Việt Nam “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và tự sụp đổ.

 

Chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan, làm thất bại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Để công việc ấy tiến hành có hiệu quả, trước hết cần tuyên truyền cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa và đồng bào tôn giáo có nhận thức sâu sắc về “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo”, sự nguy hại của nó để chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh. Đồng thời qua tuyên truyền, làm cho nhân dân thấy rõ ý đồ đen tối của các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài kích động “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chú trọng tuyên truyền về truyền thống quý báu trong lịch sử dân tộc ta; mỗi dân tộc, mỗi loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có nguồn gốc, đặc điểm và thời điểm hình thành, sự phát triển khác nhau, nhưng đều có điểm chung đó là tinh thần bao dung, đoàn kết giữa các thành phần dân tộc, đoàn kết lương giáo trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Trong các giai đoạn của cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc, các tín đồ ở mỗi tôn giáo đã không tiếc sức người, sức của góp phần to lớn làm nên thắng lợi hào hùng trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, nhiều chức sắc tôn giáo, tăng ni, phật tử đã hướng dẫn tín đồ chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa yêu nước” được vinh danh.

 

Trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta bao giờ cũng rất công bằng, nếu những ai đó có công với nước, với dân đều được ghi danh, những ai “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chấp nhận làm tay sai cho các thế lực thù địch, có dã tâm bán rẻ đồng bào và lợi ích quốc gia-dân tộc thì chúng ta kiên quyết đấu tranh lên án và bác bỏ./.

 

NHẬN DIỆN ÂM MƯU LỢI DỤNG ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” ĐỂ XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ ĐẢNG

Để thực hiện những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị thường khoét sâu vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp trong nội bộ tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Hiện nay, chúng triệt để lợi dụng những biểu hiện “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên để tuyên truyền, xuyên tạc, chống Đảng, Nhà nước..

 

Một trong những vấn đề chúng tập trung tuyên truyền, xuyên tạc là căn bệnh giả dối của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thiếu trung thực “giả dối” là một trong những thói hư, tật xấu của con người, ai cũng có thể mắc phải nếu thiếu tu dưỡng rèn luyện, kể cả đối với cán bộ, đảng viên. Thói giả dối là do tàn dư lạc hậu của xã hội và lối sống thiếu trung thực đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Có thể nói bệnh giả dối nếu không được ngăn chặn triệt để, nó sẽ làm suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm giảm sút lòng tin của quần chúng với Đảng. Bởi vậy, “Giả dối – Thói xấu tệ hại, người cộng sản cần loại bỏ” là một bài báo được đăng tải trên Báo Quân đội nhân dân gần đây, góp phần đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Cần khẳng định căn bệnh giả dối chỉ tồn tại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu trung thực, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống chứ không phải là bản chất của Đảng ta, của chế độ ta.

 

Thế nhưng, các thế lực thù địch đang ra sức rêu rao rằng: “Xảo trá, lật lọng là bản chất và thuộc tính mang thương hiệu cộng sản” và “Lừa bịp, xảo trá là những căn bệnh xấu xa đặc trưng thời cộng sản” … Thực chất của giọng điệu ấy không gì khác là lợi dụng, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu, phủ nhận bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Đảng và sự hy sinh, cống hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

 

Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước.

 

Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ để tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước. Chúng ta cần đề cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của công cuộc đổi mới./.

 

 

CẢNH GIÁC VỚI BỆNH CÔNG THẦN VÀ KIÊU NGẠO CỘNG SẢN

 10 Tháng Mười, 2019  Nhân Văn  0 Comments Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam

Bệnh công thần, kiêu ngạo cộng sản là những thói hư tật xấu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã từng được V.I Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo từ lâu. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu, tránh những căn bệnh ấy, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt cuộc đời, khi đương chức cũng như khi nghỉ hưu. Thế nhưng, vẫn có những người xao nhãng, để những căn bệnh ấy không chỉ làm méo mó hình ảnh, nhân cách, vinh quang của chính họ mà còn tạo ra dư luận xấu, ảnh hưởng đến niềm tin, tình cảm của nhân dân, đồng đội…

 

Họ đã và đang tự đánh mất chính mình

 

Chúng ta hẳn có nhớ một sự việc gần đây, từng có cựu Ủy viên Trung ương Đảng tuổi đời còn trẻ, tương lai đang rộng mở thì “dính chàm”, bị cách hết mọi chức vụ. Nguyên nhân do nhiều sai phạm, trong đó một phần do thói độc đoán, chuyên quyền, kiêu ngạo, không biết lắng nghe, không tôn trọng cả cấp trên và cấp dưới.

 

Lại có cán bộ cấp cao lúc nghỉ hưu vẫn không giữ được mình, có nhiều sai phạm ảnh hưởng đến thanh danh họ, như cựu quan chức mạt sát cảnh sát giao thông; cựu bộ trưởng đòi đặc quyền đặc lợi… Đáng buồn hơn, có cả cán bộ kinh qua rèn luyện, cống hiến, lập nhiều chiến công nhưng lúc nghỉ hưu lại thiếu tỉnh táo, nói và viết không đúng đường lối quan điểm của Đảng; tiếp xúc với nhiều đối tượng cơ hội chính trị, thậm chí cả đối tượng phản động, bị chúng lợi dụng, kích động, dẫn đến tán phát nhiều thông tin xấu, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận. Trước góp ý chân thành của đồng chí đồng đội, những người này lại không tiếp thu, sửa chữa, cho rằng cách nghĩ, cách làm của họ mới là cấp tiến, là “trở về với nhân dân”.

 

Họ còn tham gia các cuộc tọa đàm, trao đổi, tham gia xuất bản những ấn phẩm do một vài hội, nhóm tổ chức gây ra những tranh cãi, bất đồng chính kiến làm bức xúc dư luận. Rồi còn tham gia ký các đơn, tâm thư, thỉnh nguyện tập thể có nội dung trái với đường lối, quan điểm của Đảng, không có lợi cho đất nước, quân đội nhưng họ lại được kẻ xấu tung hô, ngợi ca nên ngày càng mù quáng… Ngay trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, văn hóa văn nghệ, nhiều năm qua, chúng ta không khỏi đau xót khi thấy có những nhà văn, nhà báo, nhà quản lý từng dạn dày kinh nghiệm, có tên tuổi nhưng khi nghỉ hưu đã đánh mất chính mình, đăng đàn nói, viết những điều sai trái, đi ngược với lý tưởng cả một đời theo đuổi. Có người còn tham gia thường xuyên viết bài, cộng tác cả cho những trang mạng phản động, có người bị kích động và bị lợi dụng để rồi xuất hiện trong những clip với nhiều nội dung sai sự thật, có cả thông tin xấu độc gây hoang mang dư luận. Có người để lại lời nói, việc làm thiếu trách nhiệm, tùy tiện đưa thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự, uy tín lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, quân đội…

 

Những căn bệnh cần tránh của người cộng sản

 

Cuộc sống luôn cần sự phản biện đa chiều nhưng nếu sự chỉ trích đi kèm bệnh kiêu ngạo cộng sản và công thần thì hậu quả vô cùng nguy hiểm.

 

Năm 1919, nhà văn Maxim Gorki đã viết thư đề nghị V.I Lênin ngừng “khủng bố” những trí thức bị bắt vì phản loạn. V.I Lênin đã viết bức thư trả lời, phân tích rằng không nên trộn lẫn “các lực lượng trí tuệ” của nhân dân với “lực lượng” trí thức tư sản. Ông còn lấy trường hợp tác giả cuốn sách với những mỹ từ “Chiến tranh, Tổ quốc và Nhân loại” nhưng thực ra là kẻ dùng lời đường mật đánh tráo khái niệm yêu nước đích thực; ông cho rằng những trí thức phản loạn, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia “bọn chúng không phải là bộ não …”. Sau này, trong bài viết vào năm 1921, V.I Lênin đã vạch ra một trong 3 thứ kẻ thù chính-kẻ thù “nội xâm” mà những người cộng sản Nga phải kiên quyết đấu tranh tiêu diệt, kẻ thù đầu tiên, chính là “tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa”.

 

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến bệnh công thần: “Cậy mình có một ít thành tích, thì tự kiêu tự đại, cho mình là “cứu tinh” của dân, “công thần” của Đảng. Theo Người: “… Có những người cậy mình là “công thần cách mạng”, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng…”. Người cũng chỉ ra nhiều thứ “bệnh” của cán bộ, trong đó có bệnh kiêu ngạo với những biểu hiện: “Tự cao, tự đại, hay lên mặt. Ưa người ta khen ngợi, tâng bốc mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo… Việc gì cũng muốn làm thày người khác”. Cùng với đó là bệnh hiếu danh, tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Rồi bệnh óc lãnh tụ: “Đánh được vài trận, hoặc làm được vài việc gì ở địa phương đã cho mình là tài giỏi lắm rồi, anh hùng lắm rồi, đáng làm lãnh tụ rồi. Nào có biết so với công cuộc giải phóng cả dân tộc thì những thành công đó chỉ là một chút cỏn con, đã thấm vào đâu!”.

 

Vi phạm cả pháp lý, đạo lý, xa rời nhân tâm, tự vùi danh dự

 

Soi rọi những lời căn dặn trên vào các biểu hiện mắc bệnh của một số cán bộ mà chúng tôi nêu ở phần đầu bài viết, có thể thấy rất rõ những điều các bậc tiền bối cách mạng căn dặn dường như đã nói đúng, nói trúng tim đen của ai đó xa rời đạo đức, danh dự người cộng sản chân chính. Người cộng sản cần có dũng khí để đấu tranh với những điều sai trái, những thói hư tật xấu trong xã hội nhưng phê bình phải trên tinh thần xây dựng, phải có cái tâm. Cuộc sống xấu đi bởi sự im lặng nhưng cuộc sống cũng xấu đi và tồi tệ hơn bởi những tiếng nói sai sự thật, phán xét hồ đồ, tùy tiện, vô trách nhiệm, giật gân, đao to búa lớn để nâng mình lên bằng cách bôi nhọ người khác, gắp lửa bỏ tay người. Đó là thói phê bình nói lấy được của kẻ không biết mình là ai, thậm chí “Chân mình thì lấm mê mê/Lại đi cầm đuốc mà rê chân người” như cha ông ta đã dạy. Đó là thói phê bình vơi tình cạn nghĩa, không thể chấp nhận đối với những người từng chung đội ngũ, từng thuộc lời thề thứ 7 về tình đồng đội.

 

Đã là người cộng sản, là đồng chí, đồng đội, thì khi góp ý, phê bình phải với tinh thần người cộng sản, đồng chí, đồng đội chứ không thể bịa đặt thông tin, đổi trắng thay đen, gây hoang mang, suy giảm niềm tin của nhân dân. Càng không thể phê phán khi chính mình chưa đủ tâm, đủ tầm, đủ thông tin và nhận thức về những lĩnh vực mình còn nông cạn, chưa trải nghiệm. Không thể chấp nhận những kiểu phê bình tùy tiện như biến người từng trải nghiệm, kinh qua chiến đấu, được đào tạo bài bản, có trình độ, năng lực chỉ huy quân sự cao thành người “không hiểu quân sự, không qua chiến tranh”. Không thể phê bình kiểu thầy bói xem voi phủ nhận cả thành tích, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng ý kiến chủ quan, lệch lạc.

 

Đây cũng là vấn đề mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đề cập, chỉ rõ để mỗi cán bộ, đảng viên không sai phạm. Nghị quyết chỉ rõ, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống có việc nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu… Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước, quân đội; Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội.

 

Nghị quyết cũng không cho phép “kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước…”.

 

Vậy thì rõ ràng, một vài hiện tượng cán bộ nghỉ hưu gần đây giao lưu, cấu kết với các thế lực phản động hoặc bị chúng lợi dụng để xuyên tạc, chống phá, tán phát thông tin sai sự thật trên mạng xã hội là điều không thể chấp nhận, chính là việc vi phạm Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng.

 

Nhìn ở góc độ pháp lý, những hành vi xuyên tạc, vu khống người khác thông qua cái gọi là phê bình, đấu tranh, bày tỏ chính kiến với nhiều trường hợp đã vi phạm Điều 155, Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, người vu khống, nói xấu, bôi nhọ danh dự, tuy tín của người khác còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về một trong các tội: Tội làm nhục người khác hoặc tội vu khống…

 

Đấu tranh và xử lý, không để tạo những tiền lệ xấu

 

Những hành vi vi phạm cả về pháp lý và đạo lý như vậy cần phải được đấu tranh, phê phán, lên án, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh. Tổ chức đảng, đoàn thể nơi quản lý những cán bộ đó phải tăng cường giáo dục, rèn luyện họ chấp hành đúng kỷ luật và các quy định của Đảng, đề cao lương tâm, trách nhiệm, danh dự của người đảng viên chân chính.

 

Đối với các cơ quan chức năng, nhất là cơ quan quản lý Nhà nước, phải có thái độ và biện pháp xử lý nghiêm minh, công bằng, không để nương nhẹ, hóa mù ra mưa với những trường hợp công thần, kiêu ngạo cộng sản dẫn đến những lời nói, việc làm sai phạm. Chúng ta từng có bài học kinh nghiệm sâu sắc về một số trường hợp tướng lĩnh quân đội, công an từng được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân nhưng vi phạm kỷ luật, pháp luật vẫn bị xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm.

 

Bác Hồ từng căn dặn: “Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng, là lãnh tụ”. Nhưng nhân dân và tổ chức cũng luôn rộng mở với những người biết khắc phục sửa sai. Thực tế đã có cán bộ tướng lĩnh có biểu hiện kiêu ngạo, được Bác Hồ nhắc nhở, rèn luyện sau trở thành vị tướng tài năng, đức độ, đảm nhiệm các chức vụ cao cấp của quân đội, sau đó ông tiếp tục sống cuộc sống khiêm nhường, cống hiến theo đạo đức cách mạng cho đến lúc nghỉ hưu, qua đời. Theo Người, để phòng trị bệnh kiêu ngạo, công thần, mỗi cán bộ, đảng viên phải: Rèn luyện đức khiêm tốn; thật thà tự phê bình và tiếp thu ý kiến phê bình của người khác; kịp thời phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm…

 

Với cán bộ cao cấp, càng đòi hỏi khi đương chức cũng như nghỉ hưu phải có sự tỉnh táo, cẩn trọng khi nói và làm, nhất là phát ngôn trên truyền thông và mạng xã hội, đặt lợi ích của đất nước, của cộng đồng lên trên; giữ gìn bản lĩnh, danh dự và uy tín người quân nhân cách mạng. Sinh thời, Bác Hồ từng gửi cho Thiếu tướng Nguyễn Sơn 12 chữ: “Đảm dục đại” (Gan phải to); “Tâm dục lễ” (tấm lòng, tâm hồn phải trong sáng); “Trí dục viên” (Suy nghĩ trọn vẹn, toàn diện, chu đáo); “Hạnh dục phương” (Hành động đúng đắn, ngay thẳng, phân minh, đàng hoàng). Sau này, nói chuyện với các tướng lĩnh, Bác nói đến 6 đức tính cần phải có, gồm: Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung nhưng phẩm chất đầu tiên phải có là Trí. Người chỉ rõ Trí là phải có đầu óc sáng suốt, nhìn mọi việc để suy xét, rồi quyết định cho đúng. Suy nghĩ thấu suốt, nhìn xa trông rộng, phát ngôn rạch ròi, có thể định hướng dư luận, thế mới xứng tầm của những người từng ở vị trí lãnh đạo, chỉ huy.

 

Để tán phát những thông tin xấu, tiếp tay cho những căn bệnh kiêu ngạo, công thần, những điều sai trái có “cánh tay vô hình” của kênh truyền thông mạng xã hội và thủ đoạn lôi kéo của các đối tượng xấu, cơ hội chính trị thường lợi dụng những cán bộ nghỉ hưu, có tinh thần đấu tranh cao nhưng trong nhiều trường hợp lại thiếu thông tin; không sử dụng hoặc ít cập nhật mạng xã hội, internet… Vì thế, cũng cần có biện pháp thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin, ngăn ngừa các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng.

 

Các cơ quan chức năng cần có biện pháp tăng cường quản lý hiệu quả mạng xã hội, để các nhà cung cấp của Google, Facebook, YouTube… chấp hành nghiêm quy định của pháp luật Việt Nam; buộc họ chủ động và có biện pháp ngăn chặn, xử lý những thông tin chưa được kiểm chứng, tránh lăng mạ, xúc phạm uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân, chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội…

 

ĐỔI MỚI LÀ ĐÒI HỎI TẤT YẾU

 

Trên thực tế vẫn có rất nhiều người đang cố thủ trong các vỏ bao bọc của lề thói cũ, tư duy và chủ nghĩa kinh nghiệm. Vấn đề này cũng đã được Đảng ta chỉ rõ trong nhiều văn kiện. Ngoài những yếu tố khách quan như tàn dư của chế độ phong kiến, thực dân; ảnh hưởng của cơ chế quan liêu bao cấp một thời; là sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên… chúng ta cần phải thấy một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến căn bệnh bảo thủ là do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Do chưa nhận thức rõ vấn đề và những đòi hỏi từ thực tế nên chúng ta đã chậm đổi mới trong cả tư duy và hành động; giáo dục và đào tạo không bắt kịp với xu thế phát triển của thời đại… Từ thực trạng tình hình, Đảng ta đã nhận rõ đổi mới tư duy là quy luật tất yếu của cách mạng, của công cuộc đổi mới. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta khẳng định rằng: “Chỉ có đổi mới tư duy thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy hết những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa”… Chính sự quyết tâm đấu tranh với tư tưởng bảo thủ, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện đất nước mà chúng ta có được những bước tiến dài như ngày hôm nay. Có thể khẳng định, hơn ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

 

Trước những đòi hỏi mới của tình hình, nhất là ở thời Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cái mới, cái tiến bộ không ngừng nảy sinh phủ định cái cũ, cái lạc hậu và chính sự ra đời của cái mới, sự triệt tiêu của cái cũ giúp cuộc sống của chúng ta không ngừng vận động, phát triển, thì cuộc đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tư tưởng bảo thủ, không ngừng đổi mới, sáng tạo càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: “Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình hình, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước… Không chịu tự phê bình, không chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được”(*). Tuy nhiên, đổi mới không có nghĩa là chúng ta phủ định sạch trơn cái ra đời trước, kinh nghiệm của những người đi trước. Nhưng nếu chúng ta cứ bình chân nằm ôm khư khư đống kinh nghiệm ấy mà không tìm tòi, đổi mới, sáng tạo thì nhất định chúng ta sẽ tụt hậu, đặc biệt trong xã hội hiện đại, khoa học, công nghệ phát triển như vũ bão, tri thức mới không ngừng ra đời như hiện nay.

 

Kiên trì đấu tranh bằng nhiều giải pháp

 

Bảo thủ là một tư tưởng đã ăn sâu, bám rễ, trở thành thuộc tính cố hữu trong cách nghĩ, cách làm và tư duy của cán bộ, đảng viên và người dân. Mặt khác, phản ứng lại sự tấn công của cái mới, cái tiến bộ vốn là thuộc tính của tư tưởng bảo thủ. Để bảo vệ mình, người mang tư tưởng bảo thủ luôn tìm ra đủ phương cách. Do đó đấu tranh khắc phục tư tưởng bảo thủ không phải là công việc đơn giản và dễ thực hiện trong một sớm một chiều. Muốn chữa trị căn bệnh bảo thủ, chúng ta phải có quyết tâm cao, kiên trì tiến hành đồng bộ, thường xuyên, liên tục, bằng nhiều giải pháp.

 

Thực tế cho thấy tình trạng mang nặng tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không mạnh dạn dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ, đảng viên đang là lực cản lớn đối với quá trình phát triển của đất nước ta. Để khắc phục tình trạng ấy, chúng ta cần phải đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục. Thực tế đã chứng minh tuyên truyền, giáo dục là một trong những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi căn bệnh bảo thủ. Để làm được điều đó, trước hết chúng ta phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục trong các cơ quan, đơn vị, trường học; nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là của cơ quan cấp trên, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị, bởi những người này mang nặng tư tưởng bảo thủ thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tập thể. Cùng với đó, chúng ta phải bảo vệ nhân tố mới, cổ vũ tư tưởng đổi mới, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tính linh hoạt, sáng tạo cả trong tư duy và hành động. Việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức để chống tư tưởng bảo thủ phải được xác định là việc làm thường xuyên, liên tục, ở mọi cấp, mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi lứa tuổi, đối tượng… Đối với từng nhóm đối tượng phải lựa chọn nội dung, hình thức và biện pháp tuyên truyền sao cho phù hợp, hiệu quả, trong đó cần nêu cao vai trò của báo chí, truyền thông.

 

Mặt khác, như đã nêu ở trên, một trong những nguyên nhân dẫn đến tư tưởng bảo thủ là do trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Thực tế cho thấy, với bất cứ một nền kinh tế-xã hội nào muốn duy trì sự tồn tại và phát triển cần phải có một nguồn lực nhất định, trong đó nguồn lực quan trọng và quyết định nhất là con người. Do vậy, để đẩy lùi căn bệnh bảo thủ, chúng ta cần nâng cao trình độ dân trí. Muốn nâng cao trình độ nhận thức, nâng cao dân trí thì không có cách nào khác là phải đầu tư cho giáo dục và đào tạo, hay nói cách khác là đầu tư cho con người. Trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên, trình độ dân trí được nâng cao, sẽ giúp chúng ta từng bước hạn chế và đi đến xóa bỏ được tư tưởng bảo thủ, trì trệ cả trong tư duy và hành động.

 

Căn bệnh thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm cần phải được chữa trị!

 19 Tháng Mười Một, 2019  Hoàng Năm  1 Comment diễn biến hòa bình, Đảng Cộng sản Việt Nam

Hiện nay, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đang trở thành căn bệnh ngày càng trầm trọng, lây lan trong xã hội. Dân tộc ta vốn có truyền thống đoàn kết, “tương thân, tương ái”, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”… Truyền thống ấy luôn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, vun đắp nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử; kinh tế ngày càng khởi sắc, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Song, những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự du nhập lối sống nước ngoài, nhất là lối sống thực dụng không phù hợp với truyền thống văn hóa và đạo lý dân tộc đã khiến một bộ phận trong xã hội ngày càng trở nên vô cảm, thờ ơ, thiếu trách nhiệm và trở thành căn bệnh làm mờ nhạt những truyền thống tốt đẹp đó.

 

Hiện nay, trên nhiều diễn đàn, các phương tiện thông tin truyền thông đã cảnh báo và đưa nhiều minh chứng về sự thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm gây bức xúc trong xã hội. Thờ ơ, vô cảm đã cho thấy sự thể hiện trơ lì về cảm xúc, dửng dưng trước các sự việc xung quanh; thờ ơ với nỗi đau khổ, mất mát của người khác, chỉ biết quan tâm đến lợi ích của mình. Chính sự thờ ơ, vô cảm ấy mà thấy tốt không ủng hộ, thấy xấu không lên án, ngại va chạm tạo điều kiện, tiếp tay cho cái xấu, cái ác nảy nở.

 

Không thể đổ lỗi cho nền kinh tế thị trường. Bởi lẽ, trong xã hội vẫn không thiếu những người tốt, những câu chuyện về “người tử tế”, những câu chuyện ấm áp lòng người như những hiệp sĩ đường phố, về người đi xây cầu từ thiện, những tấm gương quên mình cứu người giữa dòng nước lũ; tấm lòng của các nhà hảo tâm chung tay ủng hộ những mảnh đời khó khăn, bất hạnh trong cơn hoạn nạn… đã góp phần xây dựng lối sống hướng thiện, một xã hội, cộng đồng tốt đẹp, nhân văn…

 

Để chữa trị căn bệnh này cần phát huy vai trò, sức mạnh của toàn dân. Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục, tuyên truyền làm thức dậy tình thương yêu con người, đồng loại, sự hy sinh và trách nhiệm đối với xã hội. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội và cá nhân trong đấu tranh, ngăn ngừa căn bệnh thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm; khuyến khích các hoạt động nhân ái, bao dung, nghĩa hiệp, chống lại cái xấu, vun đắp và xây dựng những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.