Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

Ý NGHĨA LÂU BỀN CỦA TÁC PHẨM “THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY”

 


        Cái quý nhất của con người là đời sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đế khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: "Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được vì tật bệnh vô lý hay một sự tình cờ bi đát nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời".

        Ðó là đoạn văn miêu tả tâm trạng của Pavel trong nghĩa địa quê hương, nơi những bạn bè bị quân thù treo cổ, khi anh vừa thoát khỏi cái chết do bệnh thương hàn ở công trường Bayarka.

        Ðoạn văn tiêu biểu cho nhân sinh quan cộng sản ấy đã được nhiều bạn trẻ trên khắp thế giới thuộc lòng và lấy làm châm ngôn sống.

        Lý tưởng cao đẹp nhất - sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người, không chỉ bó hẹp trong một giai đoạn lịch sử đấu tranh giành chính quyền, không chỉ ở phạm vi một quốc gia nào, mà càng ngày, chúng ta càng thấy rõ sự nghiệp ấy chỉ mới bắt đầu. Nó không chỉ là một sự lựa chọn của một cá nhân, một giai cấp mà là sự nghiệp thống nhất của nhân dân toàn thế giới.

        Sau cuộc đấu tranh chống áp bức là cuộc đấu tranh chống đói nghèo bệnh tật, chống sự kỳ thị, khủng bố..., cuộc đấu tranh để hoàn thiện bản thân và dân tộc. Chỉ khi đó từ "giải phóng" mới có một ý nghĩa thật sự.

        Vì vậy, "Thép đã tôi thế đấy" không chỉ là khúc tráng ca về thế hệ đầu tiên của thanh niên Xô-viết, những con người đã được tôi luyện trong lửa đỏ và nước lạnh như Pavel, Sergey, Valia, Rita, Pankratov, Okuniev... mà là những vấn đề của hôm nay và của tương lai.

        Sau khi Liên Xô sụp đổ, những giá trị lớn của văn học Xô-viết bị xem xét lại. Người ta không dám công khai đả kích vào "Thép đã tôi thế đấy" nhưng cũng có người cho rằng, đó là một thứ văn nghệ tuyên truyền, văn nghệ của một thời đã qua, ít có giá trị văn hóa...

        N.Ostrovsky là một chiến sĩ, có học vấn không cao, cả đời ông chỉ viết được hai cuốn sách ("Ra đời trong bão táp" cũng đã được dịch ra tiếng Việt) nhưng không phải vì thế mà giá trị văn hóa của tác phẩm lại không cao.

        Trước đây, nhà văn Ilia Erenbua đã từng coi "Thép đã tôi thế đấy" là Thánh kinh mới của thanh niên Xô-viết. Nó là cuốn sách gối đầu giường của nữ anh hùng Liên Xô Zoya, của Lý Tự Trọng, người thanh niên cộng sản Việt Nam đầu tiên. Ngay trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuốn sách đã được nhà báo Thép Mới (báo Nhân Dân) và Huy Vân dịch ra tiếng Việt, xuất bản năm 1954 và từ đó đến nay đã làm say mê hàng triệu trái tim tuổi trẻ, là nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ thanh niên.

        Hiện nay, ở nước Nga sau cải tổ một tờ báo lớn viết: "Nokolai Ostrovsky và hình tượng của nhà văn là Pavel Corchaghin đã và đang là biểu tượng lớn của một nền văn minh vĩ đại".

        Vào dịp này, hai cuốn tiểu thuyết "Ra đời trong bão táp" và "Thép đã tôi thế đấy" của nhà văn lại được tái bản tại Việt Nam. Một cậu bé lớp 9 đã thức suốt đêm để đọc một mạch 700 trang "Thép đã tôi thế đấy" vì không dứt được. Sức sống của tác phẩm không hề giảm sút ...

        Cho đến nay, "Thép đã tôi thế đấy" vẫn là một trong những tác phẩm thành công nhất khắc họa chân dung người thanh niên cộng sản.

        Pavel Corchaghin-ghin từ con nhà "mụ nấu bếp", nghịch ngợm, đầy tính tự phát, trong con mắt của con bé quý tộc hàng xóm là "du côn", đã trở thành một anh hùng trong nội chiến, anh hùng trong lao động, và thể hiện rõ là chân dung một con người thuộc về văn hóa tương lai. Cách mạng không chỉ tôi luyện chí anh hùng mà còn có khả năng hoàn thiện và mở rộng những tính cách, những khả năng tốt đẹp của con người. Cái nhìn của tư sản mới kỳ thị. Cái nhìn của vô sản mới thật sự cầu thị và bao dung. Pavel mê tít sách ở nhà Tonya, nhìn mẹ Tonya trong mối thiện cảm, dành nửa tháng lương để may áo xa-tanh mới và húi tóc, biết làm ngoại giao, giữ thể diện quốc gia khi gặp lại con bé nhà Lesinsky... là một khả năng cách mạng, khả năng tự cải biến mình nhưng không bao giờ xa rời nguyên tắc, xa rời lý tưởng sống cao đẹp. Ðoạn đối thoại với Tonya khi gặp lại Pavel, một bên sực nức mùi son phấn, giàu có, một bên là anh xúc tuyết (để làm đường sắt chở củi cứu thành phố khỏi cái rét mùa đông) là đoạn bộc lộ sự tự tin của một tầm cao văn hóa: "Tonya khó khăn lắm mới nhận ra cái người mặc rách rưới này là Pavel đứng ngay đó, trước mặt Tonya, mình khoác manh áo rách bươm, chân xỏ đôi ủng kỳ quái, cổ buộc cái khăn mặt cáu bẩn, mặt đã lâu không rửa. Chỉ độc có đôi mắt là vẫn như xưa, đôi mắt ánh lên một ngọn lửa không gì dập tắt được: đôi mắt Pavel... Tonya ngại ngùng không dám đưa tay ra bắt. Vasili, chồng chị, sẽ nghĩ thế nào, nếu chị bắt tay Pavel? Ðời Pavel đã xuống dốc đến thế thì mình cũng ngượng với mình thật ...

        - Chào Pavlusa. Nói thật với anh, tôi không ngờ thấy anh như thế này. Hóa ra chính quyền Xô-viết không có việc gì khác tốt hơn đáng giao cho anh hay sao mà lại để anh đi xúc đất như vậy? Tôi cứ tưởng đã từ lâu anh làm chính ủy hay là giữ một chức vụ gì đại khái như vậy rồi kia đấy"...

        Suy nghĩ của Tonya có thể coi là một suy nghĩ bình thường vì Pavel có công trạng, đã từng cứu sống cán bộ cấp trên. Nhưng Pavel đi làm cách mạng để hiến dâng chứ không phải đi kiếm lợi lộc, chức vụ. Nếu như vậy, chỉ là từ thân phận hèn kém này sang thân phận hèn kém khác dù có được sự "bọc đường" dễ chịu. Ðây là tấm gương soi cho những ai theo cách mạng chỉ nhằm kiếm lợi lộc mà Lenin đã hết sức đả đảo. Giải phóng nhân loại, giải phóng cá nhân, trước hết là sự tiến lên về tư tưởng, nhân cách. Tầm cao và ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm được toát lên từ hình tượng Pavel chính là ở chỗ đó. Sức cuốn hút, sự tất thắng của con người và CNCS cũng chính là ở chỗ đó.

        Chừng nào con người còn những khát vọng cao cả, chừng đó, "Thép đã tôi thế đấy" vẫn còn là cuốn sách hấp dẫn, thôi thúc tiến lên./.

Phát huy vai trò của gia đình, dòng họ trong xây dựng xã hội học tập

           Giống như nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các dân tộc Á Đông, trong những truyền thống tốt đẹp đóng vai trò “giá trị gốc” để tạo nên những giá trị khác theo dòng chảy lịch sử, người Việt Nam từ xưa đã coi gia đình và dòng họ là nền tảng quan trọng để xác lập nên những phẩm chất tốt đẹp của con người. Chính từ gia đình và dòng họ, những giá trị như lòng trung thành, kính già nhường trẻ, tôn sư trọng đạo, biết ơn tiền nhân, trân trọng truyền thống… đã được thấm nhuần trong tâm hồn lớp lớp thế hệ người Việt.

Mặc dù tư duy và nhận thức về phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam đã được nâng lên nhưng cần được nhìn nhận kết quả đó từ góc độ vai trò của gia đình, dòng họ một cách sâu sắc, thực tế và cụ thể hơn. Hiện nay, vai trò của gia đình, dòng họ trong vấn đề này rất lớn nhưng chưa thấy được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu và lan tỏa trong xã hội, đặc biệt là về văn hóa giáo dục, nhất là khi nguyên lý giáo dục là sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội đang bị mờ nhạt, trong khi giáo dục là con đường tạo dựng hệ các giá trị văn hóa. Giáo dục là một thiết chế của văn hóa và giáo dục cũng chính là văn hóa - học để phát triển văn hóa, đó là quan hệ nhân quả, không thể tách rời.

Mọi công dân phải có trách nhiệm với gia đình, với xã hội và có quyền được học tập thường xuyên, học tập suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để trở thành công dân tốt, công dân số, công dân toàn cầu. Xây dựng những mô hình học tập trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phải được thực hiện gắn kết với các tiêu chí xây dựng các mô hình văn hóa, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Câu lạc bộ “Lý luận trẻ” góp phần đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Một trong những đơn vị cơ sở đoàn triển khai hiệu quả hoạt động của mô hình, CLB “Lý luận trẻ” Đoàn khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh, gồm 26 thành viên đã phát huy hiệu quả hoạt động của mình. Từ đầu năm 2023 đến nay, đã tổ chức nhiều hoạt động tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống tới cán bộ, ĐVTN, nổi bật như hoạt động du khảo về nguồn, tổ chức công tác tập huấn cho cán bộ đoàn chủ chốt, các hoạt động tình nguyện vì an sinh xã hội... Ngoài ra, CLB còn tổ chức phổ biến pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng, facebook, zalo, fanpage của đoàn... Đặc biệt, các thành viên CLB phát huy vai trò là những cây bút phản biện sắc bén trên không gian mạng, kịp thời định hướng dư luận, tích cực đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, độc hại trên không gian mạng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nhờ được tuyên truyền, nhiều người dân, nhất là ĐVTN đã nâng cao hiểu biết, tự giác chấp hành pháp luật, nhất là nhận thức đúng đắn hơn về chủ trương, đường lối của Đảng, không dao động, hoang mang trước những thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Việc thành lập và ra mắt CLB là hoạt động ý nghĩa, thông qua sinh hoạt đã nắm bắt tư tưởng, tình hình dư luận của ĐVTN trong Đoàn khối để kịp thời định hướng dư luận và tư tưởng. Để các buổi sinh hoạt đi vào thực chất, các thành viên đã phát huy vai trò tiên phong của mình thông qua việc phát động viết tin, bài chuyên đề, phản biện thể hiện quan điểm cá nhân một cách đúng đắn về tình hình chính trị của đất nước hoặc địa phương. Những bài viết hay được chọn và đăng tải trên trang mạng xã hội đã lan tỏa đến ĐVTN và các tầng lớp Nhân dân.

Thời gian tới, các thành viên CLB tiếp tục tăng cường hoạt động, có giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những thông tin xấu, độc, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên mạng xã hội. Mỗi thành viên CLB tiếp tục phát huy hiệu quả vai trò là những tuyên truyền viên, báo cáo viên nòng cốt, định hướng, dẫn dắt CLB “Lý luận trẻ” các cấp thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình, nhất là thường xuyên chia sẻ bài viết chính thống, thể hiện quan điểm, góp phần tích cực vào đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái.


Thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em vào các vấn đề chính của trẻ em

             Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về Quyền Trẻ em. Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để khẳng định các quyền của trẻ em và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của gia đình, nhà trường và xã hội trong chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em.

Phiên họp đã thể hiện được vai trò tiê phong, sáng tạo của tổ chức Đoàn, Đội trong việc tạo môi trường phát huy quyền tham gia của trẻ em.
Tuy nhiên, các vụ việc tiêu cực liên quan đến trẻ em vẫn xảy ra, các mối nguy hại đối với trẻ em, đặc biệt là trên môi trường mạng đang diễn biến với những hình thái phức tạp, khó lường.

Gia đình cần quan tâm đến sức khỏe thể chất, tâm lý của trẻ em, tránh gây áp lực không hợp lý cho các em về học tập và cuộc sống.

Chính phủ, các bộ, ngành, lãnh đạo các địa phương đặc biệt quan tâm, đảm bảo đầy đủ các điều kiện để Trung ương Đoàn, Hội đồng Đội Trung ương và các cấp bộ Đoàn, Đội thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em, thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em vào các vấn đề của chính trẻ em.

Bệnh sính thành tích và “nghệ thuật” che giấu khuyết điểm

Thành tích là kết quả tốt đẹp do sự cố gắng, nỗ lực mà đạt được. Thành tích đi liền với biểu dương, khen thưởng sẽ là động lực cho sự phát triển. Đáng tiếc hiện nay, nhiều “thành tích” ảo vì bị một bộ phận cán bộ, đảng viên nhào nặn mà thành.

Nguy hại hơn, vì thành tích mà họ cố tình che giấu khuyết điểm bằng cách tự “nặn ra thành tích”, không được thì họ “chạy thành tích”, cậy cục, gõ cửa cấp trên, lo lót cho một số cán bộ có chức quyền để báo cáo gian dối, xuyên tạc kết quả, thậm chí sẵn sàng dùng những mánh khóe để đánh lừa cấp trên và dư luận... Vì thành tích mà họ thù ghét những ai vạch mặt, chỉ tên những hạn chế, khuyết điểm của mình. Họ nâng sự che giấu khuyết điểm lên tầm “nghệ thuật”, gọi là “nghệ thuật” che giấu khuyết điểm. Sính thành tích và che giấu khuyết điểm luôn gắn liền với nhau, là hệ lụy của nhau. Họ dùng thành tích để che giấu khuyết điểm, đánh bóng tên tuổi, tạo sự vững mạnh giả tạo, làm bình phong che chắn cho mình, để mở cánh cửa thăng tiến, củng cố vị trí, quyền lực.
Nhận diện căn bệnh này không quá khó, nhưng khá phức tạp vì nó thường được che giấu bởi vẻ bề ngoài hào nhoáng, bóng bẩy. Nếu không nhìn nhận thấu đáo, soi vào bản chất, logic của vấn đề thì khó đoán biết, phải qua kiểm tra, giám sát của tổ chức, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân mới phát hiện được chính xác. Bệnh sính thành tích và "nghệ thuật” che giấu khuyết điểm xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan.

Khắc phục bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm là công việc đòi hỏi phải có sự thống nhất về tư tưởng, hành động, được tiến hành kiên trì và đồng bộ ở tất cả các cấp với nhiều giải pháp tích cực và chủ động. Trong đó phải thật sự coi trọng biện pháp trọng tâm: Khắc phục tâm lý sùng bái thành tích, phô trương, giấu giếm khuyết điểm của cán bộ, đảng viên; phát huy quyền làm chủ tập thể của đảng viên và quần chúng trong mỗi tổ chức đảng trên cơ sở nâng cao trình độ hiểu biết của đảng viên, quần chúng về mọi mặt; khắc phục sự hình thức trong thi đua... chính là biện pháp cơ bản nhất để chống bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm.

Người trẻ trước thách thức “xâm lăng văn hóa” Đổi mới nhưng không “đổi màu”

Có thể khẳng định rằng, với sự phát triển của công nghệ hiện nay, thế hệ trẻ ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận, hưởng thụ, thỏa sức khám phá những giá trị văn hóa đa dạng. Một tín hiệu lạc quan là rất nhiều bạn trẻ ngày nay khẳng định tình yêu cội nguồn bằng cách lấy văn hóa truyền thống của dân tộc làm nền tảng để đổi mới, sáng tạo. Việc khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các bạn trẻ nhân rộng những mô hình khởi nghiệp sáng tạo trên nền tảng văn hóa truyền thống, lan tỏa giá trị văn hóa Việt tới cộng đồng quốc tế phù hợp với xu thế hiện đại được xem là một trong những giải pháp hiệu quả để tổ chức đoàn và các ngành chức năng quan tâm đẩy mạnh, qua đó giúp thế hệ trẻ thêm yêu, trân trọng, nâng cao ý thức gìn giữ và phát huy truyền thống, chống lại sự “xâm lăng văn hóa”.

Tận dụng công cụ có sẵn trên các nền tảng mạng xã hội, nhiều bạn trẻ xây dựng và thành công với việc quảng bá những sản phẩm văn hóa truyền thống của địa phương trên không gian mạng. Những ý tưởng và mô hình khởi nghiệp từ văn hóa truyền thống của thanh niên tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với cộng đồng và gặt hái thành công bước đầu. Thông qua đó, không chỉ góp phần quảng bá giá trị văn hóa của Việt Nam ra thế giới mà còn tạo nên những giá trị kinh tế to lớn từ các sản phẩm văn hóa. 

Nhận rõ vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.
Cốt lõi của vấn đề vẫn nằm ở ý thức và trách nhiệm công dân, đặc biệt là thế hệ trẻ phải thực sự khẳng định bản lĩnh để chống lại nguy cơ bị đồng hóa văn hóa, bị hòa tan trong quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ này.

Hỗ trợ người cao tuổi phòng, chống thông tin xấu, độc trên không gian mạng

Mạng xã hội mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng tồn tại nhiều nguy cơ gây ảnh hưởng đến con người, thậm chí là an ninh, trật tự xã hội. Những thông tin xấu, độc làm ảnh hưởng lớn tới nhận thức của người tiếp nhận; làm cho người tiếp nhận có cách nhìn nhận lệch chuẩn, đặc biệt với đối tượng tiếp xúc nhiều nhất là giới trẻ.

Do đó, tại khóa đào tạo này, các đơn vị đã triển khai chương trình thí điểm đào tạo đoàn viên thanh niên cách sử dụng các công cụ và kỹ năng để đảm bảo an toàn trực tuyến từ chia sẻ của các chuyên gia của Google. Từ đó, thanh niên sẽ tiếp tục hướng dẫn người cao tuổi sử dụng mạng Internet an toàn hơn, thu hẹp khoảng cách thế hệ và giúp tạo nên môi trường Internet an toàn, lành mạnh và bổ ích.

Tái diễn luận điệu xuyên tạc trong dịp Quốc khánh 2/9

Nhiều bài viết nêu quan điểm sai lệch về thành quả cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; bác bỏ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xem nhẹ giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Quốc khánh 2/9.
Họ cố tình thổi phồng các tồn tại, tiêu cực trong đời sống xã hội hiện nay, đặc biệt là vấn đề suy thoái, tham nhũng trong bộ phận cán bộ, đảng viên để đổ lỗi cho chế độ, hạ thấp và phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời không ngừng ca ngợi lối sống tư bản, hưởng thụ, ca ngợi kiểu tự do thái quá nhằm tạo ra suy nghĩ lệch lạc rằng, đất nước ta đi theo con đường CNXH là sai lầm.

Việc các thế lực phản động, cơ hội mang dòng máu Việt Nam nhưng lại cố tình xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp bản chất, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 là hành vi đi ngược lại lợi ích đất nước, phủ nhận khát vọng của dân tộc, vong ơn trước xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu xuyên tạc và những con người đang đi ngược dòng sự thật ấy chỉ có thể gây nhiễu về thông tin chứ không thể ngăn cản bởi dòng chảy lịch sử của dân tộc.
Nét đặc sắc của giá trị văn hóa giữ nước chính là xây dựng và phát triển đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, thực hiện “trong ấm, ngoài yên”, đặc biệt là giữ yên lòng dân; ngăn ngừa, đẩy lùi, triệt tiêu mọi nhân tố dẫn đến nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, giữ nước ngay khi đất nước đang thái bình.

VIỆT NAM SÁNH VAI VỚI CÁC CƯỜNG QUỐC NĂM CHÂU


        Không phải quốc gia nào cũng có quan hệ cấp cao nhất được với 3 cường quốc hàng đầu thế giới Trung - Nga - Hoa Kỳ. Có quốc gia quan hệ cao nhất với Trung, nhưng không thể thiết lập được quan hệ cao nhất với Hoa Kỳ. Có quốc gia đặt quan hệ cao nhất với Nga nhưng lại không phải là đối tác cao nhất của Trung Quốc...

        Không phải đất nước cũng có thể khiến đích thân Tổng thống một siêu cường đứng đầu thế giới thân chinh qua để nâng cấp quan hệ chiến lược toàn diện. Trong khi với riêng Việt Nam, họ bay đến tận nơi là một điều rất đáng phấn khởi. Thậm chí, sự kiện Chiếc không lực 1 đến Hà Nội còn làm lu mờ Hội nghị ASEAN mở rộng với hơn 30 nước tham gia ở Indonesia. 

        Trong tương lai, danh sách đối tác ngoại giao song phương cấp cao nhất sẽ không dừng ở con số 5 như hiện tại. Trong thời gian tới, danh sách "đối tác chiến lược toàn diện" sẽ được mở rộng đến với Nhật Bản, Úc, Anh Quốc, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan....

        Nói hơi phũ phàng một chút, một người hèn và yếu thì không có quyền "chọn bạn để mà chơi", một con người hành xử lỗ mãng thì không thể có nhiều bạn bè. Việt Nam phải là một quốc gia như thế nào thì họ mới đến, đặt mối quan hệ cao nhất, gửi lời thân thiết nhất.... 

        Việt Nam đã có một vị thế được dựng lên từ lịch sử!

Nữ bí thư chi bộ tiêu biểu vùng đồng bào dân tộc Ba Na

Trong ba năm qua, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Đăk Pơ đã lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ; trong đó có công tác xây dựng, nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức mạnh chiến đấu của cấp ủy, chi bộ, nhất là các đồng chí bí thư chi bộ trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số người Ba Na.

Trên cương vị là Bí thư Chi bộ, chị Xắc chú trọng lãnh đạo, xây dựng chi bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; trong mọi công việc chị luôn đề cao tinh thần đoàn kết, phát huy dân chủ, sâu sát với quần chúng Nhân dân, tôn trọng người dân, từ việc nhỏ nhất đều là người gương mẫu đi đầu, luôn đặt lợi ích của tập thể, của Nhân dân lên trên hết và thực hiện tốt quy chế dân chủ, góp phần quan trọng vào thành tích chung của địa phương.

Trước những công việc quan trọng của làng như: Tập trung xây dựng nông thôn mới, củng cố bảo tồn văn hóa của người Ba Na, bài trừ hủ tục tảo hôn lạc hậu…, đồng chí Xắc đều cùng tập thể cấp ủy, chi bộ xin ý kiến góp ý của các đảng viên và những người có uy tín trong làng; thành lập bốn tổ tuyên truyền và phân công các đảng viên phụ trách và chịu trách nhiệm của mình trên từng mảng công tác và các hộ gia đình, qua đó nắm chắc tình hình tư tưởng, nguyện vọng của bà con, những thuận lợi để lan tỏa, phát huy, những khó khăn trong quá trình thực hiện để tìm cách tháo gỡ. Xác định phương pháp tốt, những cách làm hay, hiệu quả cho nên Chi bộ làng Bung Bang Hven luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ để cuối năm nay sẽ "về đích" nông thôn mới.

Tự hào nữ đảng viên tuổi 18

Khi vừa bước vào tuổi 18, lứa tuổi đẹp nhất trong cuộc đời mỗi con người, em Hoàng Thị Thu - học sinh lớp 12A2 của Trường THPT Gia Viễn, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng đã vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Em vinh dự là học sinh THPT thứ hai trên địa bàn huyện Cát Tiên được kết nạp Đảng tại các chi bộ trường học trên địa bàn huyện.

Để trở thành đảng viên ở tuổi 18, em Hoàng Thị Thu đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu hết mình trong học tập và tham gia tích cực các phong trào do trường, lớp phát động. Đặc biệt, từ sự nhiệt huyết trong công tác Đoàn, em có một thanh xuân đẹp nhất khi dành cho Đoàn.

Với những thành tích xuất sắc trong học tập và rèn luyện, em Thu đã được Ban Chấp hành Đoàn trường và Chi bộ Trường THPT Gia Viễn bồi dưỡng, giáo dục để trở thành một đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Em đã được Chi bộ Trường THPT Gia Viễn giới thiệu cử đi học lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng và được xem xét, đề nghị kết nạp Đảng. Tính đến ngày kết nạp Đảng, em Hoàng Thị Thu mới 18 tuổi 3 tháng. Em là học sinh THPT thứ hai trên địa bàn huyện Cát Tiên được kết nạp Đảng tại Chi bộ trường học.

Đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc hoạt động hìn giữ hoà bình LHQ của Quân đội nhân dân Việt Nam

Tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (LHQ) của Quân đội nhân dân Việt Nam là thực hiện sứ mệnh quốc tế cao cả, thể hiện vai trò, trách nhiệm của nước ta với thế giới. Hình ảnh quân nhân “Mũ nồi xanh” Việt Nam hoạt động gìn giữ hòa bình tại châu Phi đã nâng cao vị thế của Quân đội ta trong hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Hoạt động GGHB LHQ của quân đội là trụ cột của đối ngoại quốc phòng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đường lối đối ngoại của chúng ta là kế thừa truyền thống yêu chuộng hòa bình của dân tộc, được đúc kết trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, kết hợp với vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Nhờ thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, Nhà nước, công tác đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế và đặc biệt là những thành công của QĐND Việt Nam khi tham gia lực lượng GGHB LHQ, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Tuy nhiên, điều đó lại đang cản trở âm mưu của các thế lực phản động, cơ hội chính trị, khiến chúng điên cuồng tìm cách chống phá cách mạng nước ta. Vì, mục đích sâu xa trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động đối với nước ta vẫn là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, lái nước ta đi theo con đường lệ thuộc.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động lại có những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì thế, chúng ta cần nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái đó.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: PHẢI CHĂNG VIỆC VỘI VÃ BAN HÀNH LUẬT 115/2020 LÀ "BỊT MIỆNG" CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC "?

LUẬT VIÊN CHỨC CŨ RẤT TỐT CHO CHẾ ĐỘ XHCN NHƯNG THAY LUẬT VIÊN CHỨC MỚI RẤT RẤT NHIỀU KHE HỞ THEO LUẬT NÀY NGƯỜI THỦ TRƯỞNG, HIỆU TRƯỞNG CÓ QUYỀN KÝ QUYẾT ĐỊNH CHO THÔI VIỆC ĐÂY LÀ KẺ HỞ CHO THAM NHŨNG VÀ SẼ DIỆT NHỮNG NGƯỜI ĐÁM ĐỨNG LÊN ĐẤU TRANH. ĐÓ LÀ LUẬT 115/2020? AI LÀ NGƯỜI SOẠN THẢO? AI ĐÃ THAM MƯU? ĐÂY LÀ CÓ ÂM MƯU?

Chúng "tham mưu" chúng ta chỉnh sửa luật theo cách xóa bỏ những thành tựu, những giá trị nhân văn của CNXH mà lãnh đạo nước ta không biết (?) trong các Luật Giáo dục, Luật Y tế, Luật Viên chức để làm rối loạn cuộc sống của nhân dân:

NHỮNG SAI LẦM TAI HẠI CỦA LUẬT VIÊN CHỨC 2019 VÀ SỰ VỘI VÀNG CỦA NGHỊ ĐỊNH 115/2020?
     Luật Viên chức 2010 đang rất tốt, thế hiện những thành quả bao nhiêu năm đấu tranh giải phóng và chứa đựng nhiều giá trị nhân văn của CNXH thì bị thay thế bằng Luật Viên chức 2019( có sự tư vấn của các chuyên gia Mỹ và những người (?)!
     Luật mới trình bày rối rắm, lời lẽ mập mờ khó hiểu tạo nhiều khe hở cho tiêu cực. Trong phạm vi bài viết này,tôi chỉ bàn đến 2 vấn đề nhân văn của CNXH đã bị xóa sổ hoặc làm mờ nhạt như tôi đã vạch ra trong bài "Cảnh báo về một âm mưu nham hiểm" và cái nghị định 115/2020 vội vã ra đời chỉ sau công văn 5378/2019 tròn 8 tháng?
     Luật Viên chức cũ, viên chức đã được nhà nước tuyển dụng là do chính quyền quản lý. Hiệu trưởng, giám đốc chỉ là viên chức quản lý về chuyên môn. Viên chức chỉ bị buộc thôi việc (hình thức kỷ luật cao nhất) sau khi có kết luận của cả 1hội đồng kỷ luật với nhiều thành phần. Như vậy viên chức sẽ được bảo vệ và xem xét công bằng.
     Thế nhưng, Luật viên chức 2019 lại bãi bỏ điều này mà giao cho hiệu trưởng (giám đốc) ký hợp đồng lao động với viên chức và giao quyền hạn chấm dứt hợp đồng lao động nếu viên chức 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ.
     Hậu quả là chưa một ai bị chấm dứt hợp đồng lao động vì yếu năng lực mà ngược lại tất cả những viên chức trung thực dám đứng ra tổ cáo lãnh đạo tham nhũng đều bị lãnh đạo dùng trăm phương ngàn kế trả thù,trù dập không thương tiếc để xếp loại "2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ" và đuổi việc như các cô giáo Hoàng Thị Hoài Thanh, Nguyễn Thị Tuất, Nguyễn Thị Xuyến, Trần Thị Lịch... (Tất cả các cô đều là giáo viên giỏi nhiều năm trước khi tổ cáo tham nhũng)? Giáo dục hiện nay chỉ còn lại những người an phận,hèn nhát,a dua. Bằng chứng là khi biểu quyết xếp hạng các cô đấu tranh chống tham nhũng, họ đều làm theo ý lãnh đạo. Giáo dục không thối nát mới là lạ.
     Hơn 1 năm qua, 25000 GV đã bỏ việc (tôi tin đa số họ là những người giỏi, có tay nghề, hành động dứt khoát, không chịu đựng được sự bất công do Luật Viên chức 2019 tạo ra) cũng là hậu quả tai hại của " bàn tay lông lá" của người M.
     Hai là viên chức trước đây đi học nâng cao trình độ theo yêu cầu công việc không phải nộp tiền. Còn Luật mới (Điều 19) lại mập mờ "Ngân sách là của đơn vị, chính quyền địa phương và cá nhân tự đóng góp". Thế là, đồng lương ít ỏi của viên chức lại bị cả một bầy, đàn lợi ích nhóm xúm vào xà xẻo.
     Tóm lại Luật viên chức 2019 không phát huy được tác dụng gì tốt đẹp hơn luật cũ mà chỉ làm nảy sinh nhiều tiêu cực và đặc biệt đã xóa bỏ những giá trị nhân văn của CNXH, gây mất lòng tin của nhân dân vào chế độ, vào Đảng cộng sản Việt Nam
     Nghị định 115/2020 ra đời là cụ thể hóa cho những sai lầm tai hại của Luật Viên chức 2019. Và càng tai hại hơn khi nó vội vàng chèn ép công văn 5378/2019 của BNV, bỏ quên toàn bộ những GV mn HD hợp đồng theo nghị định 60 và 09 ,gây ra bao nhiêu ai oán như các bạn đã thấy hôm nay.
  Cũng xin đáp trả những luận điểm của những người "cố đấm ăn xôi" là việc tuyển dụng đặc cách ở Thái Bình, Hà Nam, Phú Thọ chỉ là khắc phục những hậu quả của thói làm việc vô trách nhiệm,táng tận lương tâm của chính những người quản lý công việc. Đảng sẽ xử lý nghiêm khắc những người cố tình quên đi công văn 5378/2019 để nhảy cóc sang nghị định 115/2020 với động cơ (!)
     Cuộc đấu tranh của nhân dân để thay đổi Luật Viên chức 2019 và chỉnh sửa nghị định 115/2020 chính là cuộc đấu tranh giữa chính với tà, đúng với sai, nhân nghĩa và bất nghĩa. Thắng lợi của cuộc đấu tranh này trước mắt sẽ cứu vớt cuộc đời hàng trăm ngàn GV mầm non hợp đồng và lâu dài hơn là cứu vớt tình yêu và niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ XHCN của chúng ta bất chấp sự chống cự ngoan cố của những kẻ tà tâm./.


Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN SAI SỰ THẬT VỀ NGƯỜI KHMER Ở VIỆT NAM

 

        "Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước", Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định.

          Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữa nước của cả dân tộc. Bởi vậy, có thể khẳng định, lịch sử hình thành, phát triển các dân tộc gắn với lịch sử hình thành và phát triển đất nước Việt Nam. Thời gian qua, nhiều thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng vấn đề quyền của người dân tộc để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong đó phải kể đến tổ chức Khmer Kampuchea Krom.

         Khmer Kampuchea Krom là một tổ chức hoạt động trên phạm vi quốc tế có xu hướng bài Việt Nam và tham gia các hoạt động chống Đảng, chính quyền, Nhà nước Việt Nam. Tổ chức này gồm nhiều đối tượng xấu, trước nay thường xuyên vu cáo về cái gọi là "Việt Nam cướp đất của Campuchia". Khmer Kampuchea Krom sử dụng hình ảnh 3 màu xanh - vàng - đỏ làm biểu tượng tuyên truyền, vận động, lôi kéo, móc nối với số phần tử thù địch, phản động trong nước với mục tiêu mặc định sự tồn tại của tổ chức trong vùng dân tộc Khmer, tiến tới đòi quyền "dân tộc tự quyết" cho người Khmer, lập "Nhà nước Khmer Krom"…

        Hồi tháng 7, tổ chức này còn lợi dụng việc phá bỏ cổng chào tỉnh Trà Vinh, vốn bị hư hỏng nặng và có khả năng gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông để bịa đặt thông tin chính quyền không cho người dân tổ chức các trò chơi dân gian nhân dịp lễ Chôl Thnăm Thmây năm 2023 và đưa ra luận điệu xuyên tạc rằng "chính quyền người Việt muốn xóa bỏ văn hóa của người Khmer", muốn thực hiện chính sách "đồng hóa dân tộc Khmer". Thậm chí, nhiều đối tượng thù địch, quá khích còn công khai thách thức chính quyền nhân dân, treo cờ của tổ chức Khmer Kampuchea Krom, xuyên tạc "Lịch sử vùng đất Nam bộ - Việt Nam"… Chưa hết, chúng tiếp tục lợi dụng những người Khmer bức xúc về giải quyết tranh chấp đất đai, lôi kéo, xúi giục họ không chấp hành sự giải quyết của chính quyền địa phương… Gần đây, Khmer Kampuchea Krom lại tiếp tục bịa đặt về tình hình người Khmer ở Việt Nam.

          Liên quan đến vấn đề này, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng ngày 31/8 đã khẳng định: “Chúng tôi bác bỏ những thông tin không có cơ sở, sai sự thật về tình hình người Khmer ở Việt Nam. Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Các dân tộc Việt Nam đều được đối xử bình đẳng. Nhà nước Việt Nam bảo đảm và tạo điều kiện phát triển về mọi mặt nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp, đóng góp củng cố khối đại đoàn kết dân tộc”.

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN “LÊN TIẾNG VỀ QUYỀN TỰ DO INTERNET” ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

    Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng tại Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng một xã hội minh bạch và công bằng nhưng với tâm địa đen tối, các đối tượng chống đối Đảng, nhân dân Việt Nam núp sau các tổ chức xã hội độc lập và công dân tự do đã đăng trên facebook: “Đảng Việt tân” với tiêu đề “Bản lên tiếng về quyền tự do Internet”. Nội dung của bài viết đưa ra những nhận định xuyên tạc, quy chụp, vu khống trắng trợn Đảng, Nhà nước Việt Nam và xuyên tạc công cuộc phòng chống tham nhũng, bằng những nhận định sai lệch rằng: “tranh giành quyền lực”, “cướp bóc của quan chức”… bóp méo, bôi đen việc thực thi pháp luật, tạo cớ kích động “công dân sử dụng Internet, các blogger, các facebooker, các chủ trang nhân quyền liên kết thành mạng lưới”,… tiến tới việc thúc đẩy toàn dân Việt Nam đứng lên giải thể chế độ… Thủ đoạn này đã cho thấy dã tâm nham hiểm của các tổ chức xã hội độc lập và các công dân tự do nên cần được vạch trần và bác bỏ.

          1. Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tiếp cận và sử dụng Internet và các phương tiện thông tin đại chúng.

          Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ những năm gần đây, mạng xã hội đã trở nên phổ biến với cuộc sống hàng ngày của hầu hết người Việt Nam. Việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, báo chí: Hiện nay, về cơ bản pháp luật trong nước đã tương thích với pháp luật quốc tế, đầy đủ và đồng bộ, từ Hiến pháp, luật, đến nghị định, tiêu biểu là một số văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Ngoài ra, việc triển khai thi hành các văn bản quy phạm pháp luật cũng được tiến hành một cách nghiêm túc. Đến năm 2022, Việt Nam có 127 cơ quan báo; 670 cơ quan tạp chí (có 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến 2023, lượng người dùng Internet tại Việt Nam đạt hơn 72 triệu người (73%) và hiện là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên thế giới; số thuê bao điện thoại di động sử dụng smartphone 94,2 triệu, riêng số người dùng mạng xã hội hiện nay có 76,95 triệu người, tương đương với 78,1% dân số. Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm tốt các quyền đó của con người và được quy định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng và tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài …”; Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…”.

          2. Không nước nào dung túng cho hoạt động lợi dụng Internet để chống phá đất nước, nhân dân mình.

          Tự do thông tin, tự do Internet, tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người cần được tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, ở bất kỳ quốc gia nào, tự do thông tin, tự do Internet, tự do ngôn luận cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật, nhằm tránh bị lợi dụng, gây phương hại đến quyền, lợi ích của quốc gia, cộng đồng xã hội và các cá nhân. Vì thế, không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới cũng ban hành các điều luật để kiểm soát những thông tin được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên các trang mạng xã hội, qua đó hạn chế sự lan tràn, phát tán những thông tin giả mạo và độc hại.

    Việc các thế lực thù địch, phản động và một số đối tượng bất mãn lợi dụng mạng Internet tiến hành chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo các vấn đề bức xúc trong xã hội; tạo dựng thông tin sai sự thật, nhằm làm nhiễu loạn truyền thông, gây hoài nghi trong quần chúng, từng bước tạo bất ổn trong xã hội tiến tới hình thành các xu hướng phản kháng chống chính quyền Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vi phạm pháp luật và bị xử lý nghiêm minh là hoàn toàn xác đáng.

          Như vậy, có thể khẳng định “Bản lên tiếng về quyền tự do Internet” là bài viết đưa ra là những nhận định, đánh giá sai sự thật và hết sức phi lý về tự do Internet ở Việt Nam, quy chụp, vu khống trắng trợn Đảng, Nhà nước Việt Nam… Thủ đoạn này đã cho thấy dã tâm nham hiểm, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam của các tổ chức xã hội độc lập và các công dân tự do. Mọi người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác và đấu tranh bác bỏ những thông tin xấu độc, sai sự thật về tự do Internet được phát tán trên mạng xã hội hiện nay./.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 11 THÁNG 9 NĂM 1950!

         “Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”!
Đây là lời phát biểu chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại “Hội nghị cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn, đại đoàn tham gia Chiến dịch Biên giới”, ngày 11/ 9/1950.
Kỷ luật của Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương, điều lệ của Đảng; hiến pháp, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt nhấn mạnh: Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, kỷ luật quân đội là điểm mấu chốt tạo nên sự thống nhất cao độ trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là trên chiến trường; do vậy, kỷ luật là động lực vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, kỷ luật phải được thi hành bình đẳng, nhất quán, triệt để từ trên xuống dưới, không phân biệt đối xử.
Lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, quan điểm “Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, đủ sức đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong sự nghiệp xây dựng quân đội hiện nay, để duy trì nghiêm kỷ luật quân đội, cùng với việc chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần phải làm tốt công tác giáo dục, tăng cường quản lý, duy trì kỷ luật trong đơn vị, tiến hành xử lý nghiêm minh, triệt để mọi vụ việc vi phạm kỷ luật theo đúng quy định. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải là những cán bộ luôn gương mẫu, tận tụy trong công tác, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội làm tấm gương sáng cho bộ đội học tập, noi theo. Có như vậy, kỷ luật của quân đội ta mới thật sự là nghiêm minh, tự giác, tạo nền móng xây dựng sự đoàn kết, nhất trí xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao./.
Môi trường ST.

CẢNH GIÁC VỚI CÁI GỌI LÀ “NHÂN DANH NHÂN DÂN” CỦA CÁC THẾ LỰC CHỐNG PHÁ

 

          Nói lên tiếng nói của người dân là cách hiệu quả nhất để thuyết phục người nghe. Chính vì thế, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng cái gọi là “nhân danh nhân dân”, “đại diện cho người dân” để xuyên tạc, kích động, lôi kéo người dân thực hiện các mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đây là chiêu trò khá tinh vi, bài bản, đòi hỏi chúng ta phải cảnh giác để nhận diện và kiên quyết đấu tranh.

          Mưu đồ đặt người dân trong mối quan hệ đối lập với chính quyền

          Đây vừa là mục đích, vừa là thủ đoạn nguy hiểm nhằm phá hoại một trong những mối quan hệ “rường cột” của khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch - người đóng vai “đại diện cho nhân dân”. Cách thức phổ biến được các đối tượng chống phá thực hiện là đánh đồng hiện tượng của một hoặc một nhóm người với toàn thể nhân dân. Từ sự việc của một người dân, họ tô vẽ, thổi phồng để tìm sự đồng cảm của nhóm người, sau đó cộng hưởng với quá trình “tam sao, thất bản” trên internet, mạng xã hội, sự việc ấy sẽ bị đẩy lên mang tính toàn thể nhân dân, tạo cớ để các đối tượng “mượn gió bẻ măng”, tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền.

          Với thủ đoạn: tạo ra sự đối lập, đẩy mâu thuẫn lên cao, châm ngòi cho các hoạt động chống đối chính quyền, cùng với việc xuyên tạc hình ảnh người dân thống khổ, các đối tượng chống phá còn thêu dệt nên hình ảnh của đảng độc tài, xã hội mất dân chủ, chính quyền yếu kém, quan tham,… không dừng lại ở đó, họ còn tìm mọi cách khai thác, nhào nặn, thêm thắt, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đặc biệt, lợi dụng việc một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, đưa ra xét xử do liên quan đến những vụ án tham nhũng, tiêu cực, các đối tượng chống phá suy diễn, quy chụp, cho đó là tình trạng phổ biến, hệ quả của chế độ xã hội chủ nghĩa, là “căn bệnh” do cơ chế độc đảng lãnh đạo,… gây hoài nghi và làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

          Song, dù có cố tình tô vẽ thế nào, thì các thế lực chống phá cũng không thể che lấp sự thật là, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính quyền nhà nước các cấp thực sự là chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước và nhân dân vẫn luôn bền chặt, gắn bó. Mọi hoạt động của chính quyền đều hướng tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Gần đây, với những nỗ lực cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử, chuyển đổi số,... đã góp phần nâng cao mức độ hài lòng của người dân với chính quyền các cấp, chính quyền phục vụ nhân dân tốt hơn, cán bộ, công chức gần dân, sát dân, giải quyết kịp thời những vướng mắc, bức xúc của nhân dân. Từ đó, nhân dân ngày càng phát huy dân chủ, tích cực hưởng ứng, tham gia các hoạt động, phong trào, cuộc vận động của các cấp chính quyền phát động hiệu quả hơn.

          Ngụy tạo hình tượng “người dân thống khổ” để đổ lỗi cho chính quyền

          Đây cũng là một chiêu trò khá quen thuộc của các thế lực thù địch, nhằm tung tin giả để dẫn dắt dư luận theo mưu đồ của chúng. Theo đó, hình tượng người dân trong con mắt của các thế lực thù địch rất đa dạng, nhưng chung quy lại đều có hoàn cảnh thống khổ theo nhiều góc độ khác nhau. Trước hết, họ bám vào các đối tượng vi phạm pháp luật1, đã bị xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội với các tội danh như: “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”, “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,... để “phù phép” thành những “người tử tế”, “người hùng”, những “tù nhân lương tâm”,… rồi kêu gọi, lập “hội nhóm”, ra sức kêu oan cho các đối tượng này.

          Một chiêu thức khác là họ lợi dụng một số người dân có khiếu kiện với chính quyền để tạo ra “dân oan”. Không cần biết việc khiếu kiện đúng hay sai, một mặt, các thế lực thù địch tiếp cận, kích động để người dân thấy oan ức, tiếp tục các hoạt động khiếu kiện đông người, gây mất an ninh, trật tự xã hội,… mặt khác, họ sử dụng các phương tiện truyền thông để xuyên tạc, quy chụp chính quyền không vì lợi ích của người dân. Chúng còn hậu thuẫn cho các đối tượng chống đối trong các tôn giáo tạo cớ kêu gọi đòi đất đai trái pháp luật, gây chia rẽ tôn giáo với chính quyền, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối, làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Gần đây, xuất hiện một số trí thức, học sinh, sinh viên có nhận thức chính trị hạn chế, bị các thế lực thù địch lôi kéo, dụ dỗ tham gia bình luận, viết bài, quay video clip cổ súy quan điểm “dân chủ tư sản”, nói xấu chế độ, vu cáo, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước rồi tán phát trên blog, mạng xã hội và được các đài, báo phản động nước ngoài khai thác triệt để, tạo hình ảnh về một lực lượng quần chúng bất bình với chế độ ở trong nước.

          Lợi dụng những khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch cũng không từ một thủ đoạn nào để khắc họa một bức tranh xám xịt, một tương lai không lối thoát cho đồng bào nơi đây. Cùng với đó, mảnh đất màu mỡ là “nhân quyền”, “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” luôn được các thế lực thù địch cày xới để trồng những “mầm non” ảo tưởng về sự áp bức, bất công của chế độ ta.

          Họ cũng rất “chịu khó” đi từng ngõ ngách của xã hội, lân la, dò hỏi, góp nhặt thông tin, hình ảnh một số người dân có những tranh chấp dân sự chưa được giải quyết thấu đáo, có hoàn cảnh khó khăn,… để xây dựng nên hình mẫu một người “dân oan” với những ngôn từ khổ sở, thê thảm, rồi kích động, xúi giục mọi người đấu tranh đòi quyền lợi cá nhân. Khi người dân sập bẫy thì những bài viết, video clip xuyên tạc, bóp méo sự thật được xuất hiện và nhanh chóng chia sẻ trên một số trang mạng của các tổ chức, cá nhân phản động, thiếu thiện chí. Trong đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư, khi cả hệ thống chính trị và toàn dân đang căng mình, nỗ lực để vừa chống dịch hiệu quả, vừa chăm lo tốt an sinh xã hội cho người dân thì các thế lực thù địch lợi dụng thời điểm khó khăn của đất nước, “đục nước béo cò” ra sức tung ra nhiều chiêu trò xuyên tạc, bóp méo sự thật, phủ nhận thành tựu chống dịch của đất nước. Thời điểm này, những luận điệu vu khống, sai sự thật, như: “người dân đấu tranh đòi quyền sống giữa đại dịch”, “hàng nghìn người tham gia biểu tình, tuần hành phản đối chính quyền, kéo lên phường cướp kho gạo vì bị bỏ đói hơn tuần nay”,… được chia sẻ rộng rãi trên một số trang mạng, xúi giục, kích động người dân phá rào cách ly, tấn công lực lượng chức năng. “Tát nước theo mưa”, các tổ chức phản động ở hải ngoại cũng ra sức hùa theo với luận điệu kích động, như: “dân đã bắt đầu biết xuống đường đấu tranh bất bạo động”, “Ai chưa nhận được hỗ trợ hãy làm như họ, xuống đường ngay và luôn”, v.v.

Hoàn thành xong công đoạn tô vẽ hình tượng người dân khổ sở, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách vu khống, bóp méo sự thật, ra sức đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước, cho rằng “họ là nạn nhân” của sự “độc tài, độc quyền”, tham nhũng,… của chế độ ta. Như lẽ tất yếu, cái đích mà chúng luôn ngắm tới của những nỗ lực công kích ấy là chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc,… tiến tới đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Vì vậy, chúng ta cần nêu cao cảnh giác, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng để đấu tranh hiệu quả.

          Bộ mặt “Rắn độc giả lươn”

          Không khó để tìm các bài viết, video clip mang nội dung kêu gọi hãy “cứu dân”, bảo vệ “dân oan”, “thương cho người Việt phải chịu đựng cái đảng cầm quyền bất lực, tham lam, tàn ác đến bao giờ”,… mà các thế lực thù địch đăng tải trên các trang mạng xã hội. Thoạt nghe, người ta dễ lầm tưởng họ đang “thương cho dân, lo cho nước”, song thực chất là họ cố tình che đậy bản chất phản động đằng sau những luận điệu xuyên tạc, lừa bịp, mị dân; làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.

          Được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự, như: “nhóm tuổi trẻ yêu nước”, “hội dân oan”, “hội cựu tù nhân lương tâm”, “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”, “liên đoàn lao động Việt tự do”,… các đối tượng chống phá tổ chức nhiều diễn đàn như: “tiếng nói người dân”, “người dân lên tiếng”, “diễn đàn dân chủ”,… để rêu rao cho cái gọi là “đại diện cho người dân”, đưa ra những yêu sách về tự do dân chủ, tự do ngôn luận,…; thậm chí viết “thư ngỏ”, tham gia “hiến kế” cho Đảng, Nhà nước ta với những nội dung ngông cuồng, phi thực tế. Bỉ ổi hơn, với thủ đoạn “bí mật giật dây”, “sau bức màn che”, chúng mua chuộc, lừa gạt, ép buộc người dân nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn cho những cuộc biểu tình, đập phá, để rồi khi vi phạm pháp luật tất cả hậu quả người dân đều gánh chịu, còn những kẻ tự xưng “đại diện cho người dân” thì ung dung ở trời Tây nhận thưởng với thành tích lừa dân của chúng.

          Đóng vai “một người lạ”, những kẻ cơ hội chính trị, có tư tưởng bất mãn cũng lân la tận các ngõ xóm, tìm đến những người có hoàn cảnh khó khăn; chúng giả nhân, giả nghĩa, vờ đồng cảm với người nghèo, lao động thất nghiệp, tự cho mình “đại diện” để nói lên tiếng nói cho họ, dựng lên bức tranh bi thảm về một xã hội bất công rồi kích động người dân đấu tranh với chính quyền để đòi công bằng.

          Song, dù có “khoác tấm áo người dân” với bất kỳ cái tên gì thì bản chất giả nhân, giả nghĩa của các thế lực chống đối đã dần bị bộc lộ. Mọi ngôn từ mĩ miều “thương cho dân”, đồng cảm với “nỗi khổ” của người dân cuối cùng đều dẫn đến mục đích chính trị của chúng là chống phá Đảng, Nhà nước. Bản chất xấu xa của những kẻ “đại diện cho người dân” đã bộc lộ hoàn toàn khi đưa ra những lời hô hào, xúi giục, kích động nhân dân “đoàn kết”, đấu tranh đòi “cái bánh vẽ” tự do, dân chủ, nhân quyền,... để phá hoại sự bình yên của cuộc sống, chống phá công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước ta.

          Thực tế đã chứng minh, bản chất côn đồ, coi thường pháp luật của “tổ đồng thuận” không thể đại diện cho đa số người dân xã Đồng Tâm chất phác, lương thiện; hay sự trơ trẽn của “nhóm dân oan” do Cấn Thị Thêu cầm đầu không thể đánh đồng với những người dân đang kiến nghị theo đúng trình tự pháp luật. Những chứng cứ không thể chối cãi cùng những lời thú tội của những kẻ “đại diện cho người dân” này trước tòa cho thấy rõ chân tướng xấu xa của chúng. Và những kẻ ảo tưởng ngông cuồng về quyền lực, sống lưu vong, tị nạn chính trị theo đuôi các tổ chức phản động ở nước ngoài không có đủ tư cách để đại diện cho quyền lợi của người dân Việt Nam trong nước và người Việt yêu nước ở nước ngoài. Và, rắn độc vẫn mãi là rắn độc, các thủ đoạn, chiêu trò của họ nhằm gài bẫy người dân sẽ ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Do vậy, mỗi người dân cần đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, tránh trở thành người tiếp tay cho tội phạm, là “con rối” bị các đối tượng chống đối lợi dụng, đưa vào vòng lao lý./.

TÁCH RỜI, ĐỐI LẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN: THỦ ĐOẠN TINH VI CHE ĐẬY BẢN CHẤT CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ CHẾ ĐỘ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG VÀ PHẦN TỬ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ

 

          Một trong những thủ đoạn thâm độc mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị thường sử dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ là tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ hiện hành trên đất nước ta. Do đó, nhận diện, bóc trần thủ đoạn này là một nội dung căn cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

          Thực chất mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin

          Có thể khẳng định, giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin có mối quan hệ biện chứng, được thể hiện trên 3 phương diện chính sau đây:

          Thứ nhất, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là cội nguồn lý luận cơ bản hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

          Trong quá trình tìm đường cứu nước, bằng sự nhạy cảm chính trị và khảo sát kỹ lưỡng thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin - chân lý lớn của thời đại. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cung cấp cho Người nhân sinh quan cách mạng, thế giới quan, phương pháp luận khoa học và các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trên cơ sở đó, Người tổng kết kiến thức, tổng kết lịch sử và kinh nghiệm thực tiễn để hình thành nên “một phương lược cứu quốc đầy đủ nhất”(1).

          Tuyên bố đi theo “chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(2), Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã trở thành một nhà tư tưởng mác-xít sáng tạo. Nếu chủ nghĩa Mác - Lê-nin lấy giai cấp công nhân làm vũ khí “vật chất”, giai cấp công nhân lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm “vũ khí tinh thần”, thì Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm “vũ khí không gì thay thế được”(3) cho nhận thức và hành động của mình. Nếu không có chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Người sẽ không thể vượt khỏi những hạn chế của những sĩ phu Việt Nam yêu nước thời trước; tư tưởng của Người không thể mang đầy đủ đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn; con đường cứu nước mà Người vạch ra không thể trở thành con đường “bách chiến, bách thắng” như trên thực tế đã diễn ra. Có thể nói, dù tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành dưới sự tác động của nhiều nhân tố, bao gồm cả nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, cả tiền đề lịch sử và tiền đề tư tưởng, hội tụ truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, nhưng quan trọng nhất, quyết định nhất vẫn là chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

          Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. 

          Tin và đi theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin nhưng thấu hiểu đặc tính “mở” của hệ thống lý luận ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không tiếp thu theo lối giáo điều, sách vở, không bị trói buộc trong cái “vỏ” ngôn từ mà nắm lấy “cái thần”, cái “linh hồn sống” của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là phép duy vật biện chứng. Nắm vững nguyên tắc thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Người nhận thức rõ sự khác biệt giữa xã hội Việt Nam và xã hội phương Tây nên đã khẳng định: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”(4). Sau này, Người nói rõ hơn: “Học chủ nghĩa Mác - Lênin không phải nhắc như con vẹt “Vô sản thế giới liên hiệp lại” mà phải thống nhất chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nói đến chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam là nói đến chủ trương, chính sách của Đảng... Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải ở đâu người ta cũng làm cộng sản, cũng làm Xôviết”(5).

          Chủ tịch Hồ Chí Minh ít khi nói đến các khái niệm, phạm trù hay quy luật của triết học Mác - Lê-nin, nhưng Người vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cách rất linh hoạt và từ chính thực tiễn đó, Người rút ra nhiều kết luận mang tầm chân lý nhưng lại rất dễ hiểu để bổ sung, làm giàu cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Với tư duy sáng tạo, Người đã phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên một loạt vấn đề căn cốt của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc cho đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bằng cách đó, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong một thời đại mới và không gian mới. Sự vận dụng, phát triển sáng tạo của Người đã làm cho học thuyết Mác - Lê-nin được “Việt Nam hóa”, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Người cũng giúp dân tộc ta thoát khỏi tâm lý thụ động để phát huy truyền thống tự lực, tự cường và nhờ đó, cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại. Người đã để lại bài học lớn: Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “kim chỉ nam” cho hành động cách mạng nhưng không phải là khuôn mẫu, là “linh đan kê sẵn”; nếu biến lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin thành “kinh thánh” và công thức sáo mòn thì tức là đã gạt bỏ nó ra khỏi thực tiễn không ngừng biến đổi. Vì thế, người trung thành nhất phải là người sáng tạo nhất.

          Thứ ba, chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hai bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Trước khi thành lập Đảng, khi viết tác phẩm “Đường Cách mệnh”, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu tác phẩm bằng câu nói của V.I. Lê-nin: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”(6); “chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(7). Trong Cương lĩnh thành lập Đảng (tháng 2-1930), dù không trực tiếp tuyên bố Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, nhưng Người đã đề ra chủ trương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(8) và khẳng định, điều kiện tiên quyết để gia nhập Đảng là phải “tin theo chủ nghĩa cộng sản”(9). Theo đó, Đảng đi theo lý tưởng cộng sản, đi theo con đường mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã vạch ra. Đến Hội nghị Trung ương lần 1 (tháng 10-1930), Luận cương chính trị của Đảng tuyên bố: “Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc”(10).

          Tại Đại hội VII của Đảng (năm 1991), trong bối cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở các nước Đông Âu và Liên Xô, Đảng ta vẫn khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đảng lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”(11). Sự bổ sung “tư tưởng Hồ Chí Minh” vào nền tảng tư tưởng của Đảng tại Đại hội VII hoàn toàn phù hợp với thực tế đã diễn ra từ năm 1930 và với tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhân dân dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nền tảng tư tưởng của Đảng được tạo thành bởi chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là “thể thống nhất liền khối”, luôn hiện hữu và quyện chặt trong nhau, không thể tách rời.

          Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị khi đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin

          Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của mình là vấn đề mang tính quy luật của một đảng chính trị. Như mọi cuộc chiến khác, muốn giành thắng lợi, người tranh đấu phải hiểu rõ âm mưu và thủ đoạn của đối phương. Thực tế cho thấy, để đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đã sử dụng các thủ đoạn chủ yếu sau đây:  

          Trước hết, chúng mưu toan phủ nhận sự tồn tại của “tư tưởng Hồ Chí Minh”, xuyên tạc rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải là nhà tư tưởng. Mặc dù giá trị, tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm định bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, được thừa nhận bởi các học giả ở trong nước và nước ngoài, nhưng các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị vẫn rêu rao xuyên tạc rằng, “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Để chứng minh cho điều đó, họ đưa ra các luận chứng mang tính chủ quan, khiên cưỡng, như: Xét về nội dung, Hồ Chí Minh là người đọc nhiều, nhớ nhiều, giỏi tổng thuật chủ kiến của người khác và không dẫn nguồn nên người ta cứ tưởng Hồ Chí Minh là người đưa ra các quan điểm đó, nhưng thực chất thì không phải (?!). Xét về hình thức, Hồ Chí Minh chỉ có những bức thư ngắn, những bài viết, bài nói ngắn chứ không có các tác phẩm đồ sộ như các nhà tư tưởng khác (?!). Họ còn rêu rao rằng, trong bối cảnh ngọn cờ Mác - Lê-nin mất “thiêng” khi chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ liên tiếp ở các nước Đông Âu, tại Đại hội VII (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam vội vã “nhào nặn” ra cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” để “gia cố” cho nền tảng tư tưởng đang “lung lay” của mình. Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn là sản phẩm chủ quan, duy ý chí của Đảng Cộng sản Việt Nam với mong muốn giữ lại quyền lãnh đạo của mình (?!).

          Những luận điệu xuyên tạc này của các thế lực thù địch hoàn toàn đối lập với sự thật lịch sử. Trên thực tế, nhờ có tư tưởng Hồ Chí Minh - sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vĩ đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ làm biến đổi số phận của dân tộc Việt Nam mà còn góp phần làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên quy mô toàn thế giới, thúc đẩy “bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ”(12). Cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều nhà khoa học và chính khách lớn của thời đại cũng khẳng định giá trị và tầm vóc thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ - Gớt Hôn viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ và một nhà tư tưởng mácxít-lêninnít vĩ đại của thế giới. Đồng chí Hồ Chí Minh là con người cần thiết xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu lịch sử với những tư tưởng và ý kiến đúng. Chính vì vậy, đồng chí đã làm ra lịch sử”(13). Giáo sư Nhật Bản Sing-gô Si-ba-ta đã viết một công trình có tên là “Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng”. Việc những kẻ chống phá “quay lưng” lại với những bằng chứng hiển nhiên về sự tồn tại và giá trị to lớn, bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy, họ không xuất phát từ lập luận khoa học, mà từ động cơ chính trị đen tối. Đây là sự cố tình phủ nhận, “đổi trắng thay đen” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Với đặc tính “tiền hậu bất nhất” của những kẻ chuyên “nói càn”, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị còn có một giọng điệu hoàn toàn khác là về hình thức bề ngoài “giả bộ” làm ra vẻ ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Để “hạ bệ” chủ nghĩa Mác - Lê-nin, họ đưa ra nhiều lý do khác nhau. Đầu tiên, họ vin vào “yếu tố thời đại”, biện bạch rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phù hợp với bối cảnh của thế kỷ XIX, cùng lắm là đầu thế kỷ XX, chỉ thích hợp với văn minh công nghiệp, trong khi bây giờ nhân loại đã ở thế kỷ XXI; trong thời đại kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, sứ mệnh của giai cấp công nhân đã khác đi, vai trò của trí thức “lên ngôi” nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin trở nên lỗi thời và bị lịch sử vượt qua. Đây là cách lập luận rất “hàm hồ”, bởi cho dù thời đại mà chúng ta đang sống rất khác với thời đại mà C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin sống, nhưng những biến đổi của nó vẫn không vượt ra ngoài những quy luật chung nhất mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin khám phá ra. Với đặc tính “mở”, chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà chưa có một chủ nghĩa nào có thể thay thế.

          “Yếu tố địa lý” cũng là một lý do mà các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị thù địch vin vào để phủ nhận một cách vô căn cứ chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Theo họ, chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là sản phẩm của các nước phương Đông cũng như Việt Nam, mà là học thuyết “ngoại lai”, “nhập ngoại” từ phương Tây nên không phù hợp với điều kiện xã hội của Việt Nam - một xã hội phương Đông với nền kinh tế tiền tư bản chủ nghĩa. Họ còn “lu loa”: Khi chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã “chết” trên chính quê hương của C. Mác, của V.I. Lê-nin, rộng hơn là ở cả châu lục mà nó sinh ra, nhưng những người cộng sản Việt Nam vẫn cứ theo đuổi nó, “hà hơi tiếp sức” cho nó thì đó là tư duy bảo thủ(?!). Có thể thấy, những kẻ đưa ra luận điệu này đã cố tình không hiểu sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa và tầm nhìn thời đại trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Mặc dù chủ nghĩa Mác - Lê-nin có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ phương Tây, nhưng khi được bổ sung bằng “dân tộc học phương Đông”, thì “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng ở đó”(14) (tức là ở phương Đông), như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từng khẳng định và nỗ lực thực hiện.

          Thủ đoạn được các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị sử dụng nhiều nhất để phản bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Theo họ, sự sụp đổ này chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin sai lầm từ bản chất, chứ không phải là do nó được nhận thức sai, vận dụng sai và vì thế, khẩu hiệu “chủ nghĩa Mác - Lê-nin bách chiến, bách thắng” đã hoàn toàn mất giá trị. Họ cố tình không hiểu rằng, tính bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin so với các học thuyết khác là ở chỗ, nó dựa trên một thế giới quan khoa học là phép biện chứng duy vật, và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực có nhiều khuyết tật và chậm được sửa chữa, chứ không phải là sự sụp đổ của một học thuyết khoa học.  

          Một thủ đoạn khác được các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đưa ra để mưu toan phủ định chủ nghĩa Mác - Lê-nin chính là sự khác biệt giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng, chủ nghĩa Mác chủ trương đấu tranh giai cấp còn Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và là “người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản...”(!) Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy tính ngụy biện, họ đi đến kết luận hàm hồ rằng: Lúc này, chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là “đáng giá” và vì thế, cần loại bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng.

          Việc các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị giả vờ “đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh, đem tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hoàn toàn trái với quan điểm, tư tưởng và tình cảm của bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1927, Người đã khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin. Người từng nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”(15). Câu nói đó đã nói lên sự lựa chọn tiên quyết và sự kiên trì của Người đối với chủ nghĩa Mác và sau này là toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người còn nhấn mạnh: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(16). Khi viết Di chúc, Người gọi việc từ giã cõi đời của mình là “đi gặp các cụ Các Mác, cụ Lê-nin”, bởi giữa các bậc vĩ nhân ấy là sự đồng điệu về khát vọng giải phóng con người và “tình hữu ái vô sản” thiêng liêng. Thậm chí, trong lần trả lời phỏng vấn cuối cùng vào ngày 15-7-1969, Người khẳng định: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”(17). Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lê-nin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gắn bó với chủ nghĩa Mác - Lê-nin bằng tình yêu và lòng biết ơn vô hạn.

          Phải khẳng định rằng, việc “đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin thực chất là một âm mưu đen tối, thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị. Sự nguy hiểm của nó là ở chỗ, dễ làm cho người ta ngộ nhận, tin theo, bởi nó “đánh vào” tình yêu lãnh tụ và tinh thần tự tôn dân tộc. Thực chất, đây không phải là sự ca ngợi hay đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, mà chỉ là thủ pháp “nâng lên để hạ xuống”, tìm cách cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi ngọn nguồn lý luận chủ yếu của nó để qua đó, làm suy yếu và tiến tới phủ định luôn cả tư tưởng Hồ Chí Minh. Thâm độc hơn, thông qua phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những kẻ chống phá còn muốn phủ nhận toàn bộ cương lĩnh, đường lối của Đảng được hoạch định trên nền tảng tư tưởng đó để đi đến mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ hiện hành và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

          Tiếp tục đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn đem tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị

          Lâu nay, để tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” - “cuộc chiến tranh không khói súng”, “khâu đột phá” mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị thường sử dụng là tấn công trên mặt trận tư tưởng. Việc đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một thủ đoạn nhằm phủ định đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động bạo loạn lật đổ để thay đổi thể chế chính trị hiện hành ở nước ta. Chừng nào chưa đạt được mục đích của mình, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị sẽ còn chống phá bằng các hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta phải mài sắc vũ khí lý luận để đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị nói chung và âm mưu, thủ đoạn đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói riêng. Theo đó, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

          Một là, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân về mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về động cơ đen tối của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị khi phủ nhận mối quan hệ này. Cần làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ rằng, mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là mối quan hệ giữa cội nguồn và phát triển, giữa cái chung và cái đặc thù nên “tuy hai mà là một, tuy một mà là hai”. Vì thế, không thể tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cũng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin và ngược lại. Cho dù tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm sáng tạo, nhưng lại thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở chiều sâu bản chất, ở lý tưởng giải phóng con người... Việc các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị mưu toan tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cố tình lờ đi mối quan hệ biện chứng giữa hai hệ thống tư tưởng, lý luận này không phải là do chưa có đủ thông tin hay chưa có phương pháp nghiên cứu phù hợp, mà là sự chủ ý xuyên tạc, bịa đặt và lừa bịp nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

          Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị để cán bộ, đảng viên hiểu rõ nội dung, bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những năm tháng đất nước bị chia cắt, kẻ thù đế quốc từng dùng “trăm phương ngàn kế” để ly gián nhân dân miền Nam với Bác Hồ, với Đảng, với miền Bắc xã hội chủ nghĩa nhưng đều bị thất bại trước ý chí sắt đá của nhân dân ta: “Dù ai nói ngả, nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân/ Dù ai rào giậu, ngăn sân/ Lòng ta vẫn vững là dân Bác Hồ”. Lúc này cũng vậy, nếu cán bộ và nhân dân đều thấu hiểu, thấu cảm giá trị đích thực, sức sống thời đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì mọi sự xuyên tạc sẽ trở nên vô nghĩa. Do đó, cần tập trung thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”. Làm tốt công tác giáo dục lý luận chính trị, đẩy lùi căn bệnh lười học lý luận chính trị ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, tích cực bồi đắp tri thức khoa học cho cán bộ, đảng viên và nhân dân chính là tạo “vắc-xin” phòng, chống sự xâm nhập của các luồng thông tin xấu, độc, các quan điểm sai trái, thù địch.

          Ba là, xây dựng đội quân tinh nhuệ tác chiến mặt trận tư tưởng lý luận là các chuyên gia giỏi, am hiểu về lý luận chính trị để đấu tranh trực diện với những âm mưu, thủ đoạn, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các chuyên gia khi tham gia vào trận chiến trên mặt trận đấu tranh tư tưởng phải có thái độ vừa mạnh mẽ, điềm tĩnh, vừa kiên quyết, kiên trì; mọi lập luận đưa ra phải đạt tới mức tinh thông, sắc bén về lý luận, phong phú, sinh động về thực tiễn. Theo đó, cần thường xuyên và kịp thời cung cấp thông tin cho lực lượng này và tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm với các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt về đấu tranh trên không gian mạng để họ trở thành những chiến sĩ thực thụ trên mặt trận đấu tranh tư tưởng.  

          Bốn là, kiên định và tăng cường hơn nữa việc vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đất nước để thúc đẩy tiến trình đổi mới đất nước, làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc và không ngừng nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Đây thực chất là giải pháp dùng thực tiễn để bảo vệ lý luận, bảo vệ chân lý, bởi thực tiễn là nơi kiểm nghiệm mọi lý luận, mọi chân lý một cách xác thực nhất. Chúng ta phải “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng… Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(18). Việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta chính là minh chứng hùng hồn nhất cho sức sống, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thời đại ngày nay. Ngược lại, mỗi hành vi sai trái của từng cá nhân cán bộ, đảng viên hay tổ chức đảng vô hình trung đều là sự “tiếp tay” cho kẻ thù trong việc tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì thế, việc tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn chặt với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh./.

 NÂNG TẦM QUAN HỆ ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - HOA KỲ

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden sẽ có chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam từ ngày 10-11/9/2023 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. 

Theo Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc Knapper, chuyến thăm gửi đi một thông điệp mạnh mẽ tới người dân hai nước về tầm quan trọng của mối quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ và sẽ làm sâu sắc thêm tình hữu nghị giữa hai nước.

Tháng 7/2015, lần đầu tiên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước, hai bên đã thông qua Tuyên bố về Tầm nhìn chung quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, khẳng định tiếp tục triển khai quan hệ sâu sắc, bền vững và thực chất, trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và thể chế chính trị, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Trong cuộc điện đàm hồi tháng 3 năm nay với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden khẳng định, Việt Nam là đối tác quan trọng; ủng hộ một Việt Nam “độc lập, tự cường và thịnh vượng”; tái khẳng định tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của Việt Nam; nhất trí rằng sự tôn trọng là một nền tảng quan trọng của quan hệ hai nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden đã nhắc lại lời mời thăm cấp cao lẫn nhau. Hai nhà lãnh đạo vui vẻ nhận lời và giao các cơ quan liên quan thu xếp vào thời gian phù hợp.

Phó Tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris trong chuyến thăm Việt Nam tháng 8/2021 khi tiếp xúc với các nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đều nhấn mạnh sự ủng hộ của Hoa Kỳ vì một Việt Nam hùng mạnh, độc lập và thịnh vượng.

“Tất cả những gì chúng tôi làm với Việt Nam đều dựa trên niềm tin của chúng tôi vào một Việt Nam hùng mạnh, độc lập, thịnh vượng và kiên cường. 

Mọi việc chúng tôi làm với Việt Nam đều dựa trên niềm tin chung về toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền, tôn trọng hệ thống chính trị của nhau. Và đây là những quan điểm chung của cả hai bên. Niềm tin chung đó đã được làm sâu sắc hơn trong 10 năm qua và tôi tin rằng trong 10 năm tới, nó sẽ tiếp tục được củng cố”, bà Kamala Harris khẳng định.

Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc Knapper ngày 6/9 khẳng định, chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden đến Việt Nam sắp tới là “sự kiện lịch sử quan trọng”, thể hiện sự coi trọng của Hoa Kỳ với Việt Nam, đồng thời cho thấy “sự trân trọng mà chúng tôi muốn thể hiện với Tổng Bí thư”. “Việc Tổng thống Joe Biden đến Việt Nam từ ngày 10-11/9 là cách tốt nhất để thể hiện tầm quan trọng mà chúng tôi nhìn nhận đối với mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ”, Đại sứ Marc Knapper nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, Đại sứ cũng đề cao mối quan hệ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lần đầu gặp ông Joe Biden, khi đó là Phó Tổng thống, trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm 2015 theo lời mời của Tổng thống Barack Obama. Trong buổi chiêu đãi ở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 7/7/2015, ông Joe Biden đã đọc bản tiếng Anh của hai câu thơ trong Truyện Kiều khi nâng ly chúc mừng quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ cùng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

“Tôi nghĩ Phó Tổng thống Joe Biden khi đó và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tìm thấy sự đồng điệu. Họ xây dựng quan hệ rất tốt ngay từ đầu, cùng dẫn những câu thơ trong Truyện Kiều. 

Hai lãnh đạo cũng thường xuyên trao đổi thư trong những năm tiếp theo và có cuộc điện đàm quan trọng hôm 29/3”, Đại sứ Marc Knapper nói thêm; đồng thời bày tỏ tin tưởng chuyến thăm “sẽ rất tích cực và đặc biệt thành công”, cho người dân hai nước thấy chính quyền hai bên đánh giá mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ quan trọng như thế nào.

Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Dũng cho biết, từ khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, hai nước luôn duy trì trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao đều đặn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhiều lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đã đi thăm Hoa Kỳ.

Tổng thống Joe Biden sẽ là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 5 đến thăm Việt Nam kể từ ngày 11/7/1995, thời điểm hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Kể từ cột mốc quan trọng này đến nay, mỗi đời Tổng thống Hoa Kỳ đều sang thăm Việt Nam. 

Các Tổng thống đương nhiệm từng tới thăm Việt Nam trước ông Joe Biden bao gồm: Tổng thống Bill Clinton (thăm tháng 11/2000), Tổng thống George W. Bush (thăm tháng 11/2006), Tổng thống Barack Obama (thăm tháng 5/2016). Trong đó, riêng Tổng thống Donald Trump thăm Việt Nam hai lần. Lần một là vào tháng 11/2017, khi ông đến Việt Nam dự Hội nghị cấp cao APEC. Thời điểm đó ông Trump là Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên thăm Việt Nam ngay trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ Tổng thống. Lần hai là vào tháng 2/2019, khi ông sang Việt Nam dự Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên.

Các cuộc trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc duy trì đà và tạo thêm xung lực cho quan hệ giữa hai nước. 

Tháng 2/2023, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Catherine Tie đã đến thăm Việt Nam. Theo sau là một loạt chuyến thăm Việt Nam của các quan chức cấp cao Hoa Kỳ như chuyến thăm của Giám đốc Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ Rochelle P. Walensky, Tổng Giám đốc Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) Samantha Power, Ngoại trưởng Antony Blinken cũng như Bộ trưởng Nông nghiệp Thomas Vilsack và mới nhất là chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Tài chính Janet Yellen.

Bên cạnh đó, Hoa Kỳ đã có đoàn đại biểu Quốc hội cấp cao gồm thành viên thuộc hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đại diện cho cả Thượng viện và Hạ viện thăm Việt Nam. Một phái đoàn doanh nghiệp Hoa Kỳ lớn nhất từ trước đến nay cũng đã có mặt tại Việt Nam trong tháng 3 năm nay…

Theo Đại sứ Marc Knapper, “tất cả các chuyến thăm này cho thấy Hoa Kỳ quan tâm trở lại ở mức độ rất cao trong mối quan hệ với Việt Nam. Hoa Kỳ rất tin tưởng vào tình hữu nghị với Việt Nam và mong muốn làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ giữa hai nước”.

Kể từ khi thiết lập khuôn khổ quan hệ Đối tác toàn diện tháng 7/2013, mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ phát triển sâu rộng, hiệu quả và thực chất trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, ngoại giao, kinh tế - thương mại đến văn hoá, giáo dục, khoa học - công nghệ, y tế, quốc phòng - an ninh, giao lưu nhân dân.

Một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy quan hệ giữa hai nước là kinh tế. Thương mại hai chiều Việt Nam và Hoa Kỳ đã tăng hơn 5 lần, từ 25 tỷ USD năm 2012 lên gần 140 tỷ USD vào năm 2022, nếu tính từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ thì tăng hơn 300 lần. Hoa Kỳ trở thành đối tác thương mại và thị trường xuất khẩu số một của Việt Nam, đồng thời, Việt Nam đã vươn lên vị trí đối tác thương mại lớn thứ 7 của Hoa Kỳ. Đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam liên tục tăng, trong khi đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam vào Hoa Kỳ cũng đang trở thành xu thế. Tháng 3/2023, Hoa Kỳ đưa phái đoàn gồm hơn 50 doanh nghiệp tới Việt Nam, điều này phản ánh niềm tin của các công ty Hoa Kỳ vào chính trị và kinh tế Việt Nam, bất chấp những trở ngại được dự báo trong năm nay về kinh tế Việt Nam cũng như toàn cầu.

Trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 7, Bộ trưởng Tài chính Yellen đánh giá, Việt Nam là đối tác ngày càng quan trọng với Hoa Kỳ. Bộ trưởng Yellen đã nhấn mạnh Việt Nam là một giao điểm quan trọng trong chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu, được chứng minh bởi các khoản đầu tư lớn của doanh nghiệp công nghệ Hoa Kỳ vào Việt Nam như Công ty Amkor Technology hay Tập đoàn Intel, với nhà máy lắp ráp và kiểm định chíp lớn nhất thế giới được đặt tại TP Hồ Chí Minh.

Về giáo dục, hợp tác song phương cũng ghi nhận sự phát triển vượt bậc. Theo báo cáo của Open Doors về trao đổi giáo dục quốc tế được tổ chức này công bố tháng 11/2022, năm học 2021-2022, Hoa Kỳ có 948.000 sinh viên quốc tế đến từ hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó, số sinh viên quốc tế người Việt là 20.713 người.

Thông tin về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Joe Biden, Thư ký báo chí Nhà Trắng Karine Jean-Pierre nhấn mạnh: “Lãnh đạo hai nước sẽ thảo luận về các cơ hội để thúc đẩy phát triển kinh tế, tập trung vào công nghệ và đổi mới, mở rộng quan hệ đối thoại nhân dân thông qua trao đổi giáo dục cũng như các chương trình phát triển lực lượng lao động, chống biến đổi khí hậu và tăng cường hòa bình, thịnh vượng, ổn định trong khu vực”.

Còn Phó Tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris trong cuộc tiếp xúc với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhân dịp dự Hội nghị Cấp cao ASEAN 43, cũng nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Joe Biden theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và tin tưởng chuyến thăm sẽ đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ giữa hai nước; góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ hai nước lên tầm cao mới vì hòa bình, hợp tác, phát triển./.