Thứ Hai, 11 tháng 9, 2023

NÂNG CAO VỊ THẾ VIỆT NAM TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ

 Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ hội kiến Tổng thống Hoa Kỳ Joseph R. Biden


Chiều 11.9 tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã hội kiến Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Joseph R. Biden.

Cùng dự hội kiến về phía Hoa Kỳ có: Ngoại trưởng Antony Blinken; Đặc phái viên của Tổng thống Hoa Kỳ về Biến đổi khí hậu John Kerry; Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E.Knapper và nhiều quan chức, cựu chiến binh của Hoa Kỳ. 

Về phía Việt Nam có các Ủy viên Trung ương Đảng: Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Lê Hoài Trung; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn; Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường; Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Vũ Hải Hà; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến. 

Cùng dự có Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Thượng tướng Bế Xuân Trường; Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Dũng; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc; các cựu chiến binh Vũ Đức Tức, Nguyễn Văn Thiện... 

Tại hội kiến, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ bày tỏ vui mừng chào đón Tổng thống Joe Biden là vị Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tới Nhà Quốc hội Việt Nam; chúc mừng cuộc Hội đàm rất thành công giữa Tổng Thống Joe Biden và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào chiều ngày 10.9 tại Trụ sở Trung ương Đảng; hoan nghênh hai nước xác lập Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững, mở ra chương mới trong quan hệ hai nước, cả trên kênh Đảng, Quốc hội, Chính phủ và giao lưu nhân dân.

Tại hội kiến, trong bầu không khí thân tình, cởi mở, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với Tổng thống Joe Biden không chỉ là một nhà lãnh đạo mà còn là một người đàn ông của gia đình, luôn yêu thương và dành thời gian chăm sóc phu nhân, con cái và gia đình.

Tổng thống Joe Biden chia sẻ, ông luôn ghi nhớ lời căn dặn của cha mình “gia đình là điểm khởi đầu và cũng là nơi kết thúc của một con người”, vì thế, tuy bận rộn nhưng ông vẫn luôn cố gắng dành thời gian cho gia đình.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ bày tỏ trân trọng tình cảm tốt đẹp và đánh giá cao đóng góp của Tổng thống Joe Biden đối với quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, qua nhiều cương vị khác nhau, trong đó có thời gian 36 năm ông Joe Biden hoạt động tại Nghị viện Hoa Kỳ và nay trên cương vị Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Tổng thống Joe Biden bày tỏ vui mừng đến thăm và có cuộc gặp với Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tại Nhà Quốc hội Việt Nam; cho biết, với 36 năm hoạt động nghị viện, ông rất hiểu về vai trò của Quốc hội/Nghị viện và luôn ủng hộ việc tăng cường quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam, góp sức bình thường hóa quan hệ hai nước ngay từ những ngày đầu.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và Tổng thống Joe Biden cùng chia sẻ Quốc hội hai nước đã và đang đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình hàn gắn, xây dựng - củng cố lòng tin, tăng cường hợp tác và nâng tầm quan hệ hai quốc gia.

Tổng thống Joe Biden bày tỏ vui mừng về việc hai nước đã nâng cấp lên quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện; đồng thời thể hiện sự ủng hộ đối với quan hệ hai nước và quan hệ giữa Quốc hội hai nước; khẳng định, sẽ tiếp tục cùng với Thượng Nghị sĩ John Kerry và những người bạn khác xây dựng mối quan hệ mạnh mẽ hơn với Việt Nam.

Hai nhà lãnh đạo cũng nhắc tới những nghị sĩ tiêu biểu của hai quốc gia đã có những đóng góp rất quan trọng cho kết quả quan hệ của hai nước ngày nay như cố Thượng nghị sĩ John McCain, Thượng nghị sĩ Patrik Leahy, Đặc phái viên John Kerry và nhiều nghị sĩ thế hệ khác như Thượng nghị sĩ Jeff Merkley, Mike Capro, Hạ nghị sĩ Jason Smith và Trent Kelley. Về phía Quốc hội Việt Nam, nhiều thế hệ lãnh đạo, tiêu biểu như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân luôn ủng hộ quan hệ sâu rộng, thực chất, cùng có lợi với Hoa Kỳ, từng bước đưa quan hệ hai nước lên những tầm cao mới.

Về phần mình, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết, từng ở nhiều cương vị khác nhau trong ngành hành pháp và lập pháp luôn coi trọng và ủng hộ, thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ vì lợi ích và sự thịnh vượng của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp hai nước.

Tại hội kiến, hai nhà lãnh đạo cũng chia sẻ nhiều giá trị chung giữa hai quốc gia, hai dân tộc, trong đó có những quyền thiêng liêng được ghi trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn trong phần mở đầu của Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam): “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Về những kết quả rất tốt đẹp mà Tổng thống Joe Biden đã đạt được sau cuộc Hội đàm với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết Quốc hội Việt Nam sẽ cùng Chính phủ triển khai Kế hoạch hành động để thực hiện Tuyên bố chung; đồng thời đề nghị Chính phủ và Nghị viện Hoa Kỳ tích cực đồng hành tổ chức thực hiện.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị Tổng thống Joe Biden quan tâm chỉ đạo việc Hoa Kỳ sớm công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường; tiếp tục dành nguồn lực cho hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh - là lĩnh vực không thể thiếu đối với quá trình hàn gắn, xây dựng và củng cố lòng tin, sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa hai Nhà nước và nhân dân hai nước.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cũng mong muốn Tổng thống Joe Biden tiếp tục thúc đẩy các chính Đảng và lưỡng viện Hoa Kỳ đồng thuận ủng hộ phát triển quan hệ ổn định, lâu bền và cùng có lợi với Việt Nam và Quốc hội Việt Nam.

Tổng thống Joe Biden, Đặc phái viên John Kerry nhất trí với các đề xuất của Chủ tịch Quốc hội và ghi nhận đề nghị sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường với Việt Nam.

Tổng thống Joe Biden cũng cho biết thời gian chuyến thăm Việt Nam lần này khá ngắn do ông có lịch trình tham dự sự kiện tưởng nhớ các nạn nhân của sự kiện 11.9 tại Bang Alaska trong ngày 11.9; hy vọng sẽ sang thăm Việt Nam và thăm Nhà Quốc hội với thời gian lâu hơn. Tổng thống Joe Biden chào mừng và mong sẽ sớm gặp Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tại Thủ đô Washington DC.

Bày tỏ tưởng nhớ các nạn nhân của sự kiện 11.9, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cũng nhấn mạnh, điều này cho thấy trách nhiệm của chúng ta trong việc gìn giữ hoà bình cho mọi người dân, không để xảy ra những sự kiện tương tự trên thế giới.

Tại buổi tiếp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và Tổng thống Joe Biden đã chứng kiến Bộ Quốc phòng Việt Nam trao tặng kỷ vật chiến tranh cho phía Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHƯ VẬY LÀ CHÚNG TA ĐÃ CÓ QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC, TOÀN DIỆN VỚI 3 NƯỚC TRONG THƯỜNG TRỰC HĐBA LIÊN HIỆP QUỐC!

     Mỹ là nước thứ năm, sau Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc mà Việt Nam chúng ta quan hệ ngoại giao tầm "chiến lược toàn diện". Điều đó cho thấy lời ước nguyện năm xưa của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại rằng chúng ta sẽ sánh vai với các cường quốc, năm châu, bốn bể đã trở thành hiện thực. Cả đời Bác chỉ mong sao đất nước được hòa bình, độc lập, tự do, dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc. Trên thực tế về mặt quan hệ Quốc tế sẽ không có kẻ thù vĩnh viễn, không có bạn bè vĩnh viễn, mà chỉ có lợi ích Quốc gia dân tộc mới là vĩnh viễn mà thôi. Điều đáng nói trong năm nước mà VN quan hệ ngoại giao "chiến lược toàn diện" thì có ba nước đại diện hội đồng bảo an LHQ (Nga, TQ, Mỹ). Với tình hình thế giới rất phức tạp hiện nay, Việt Nam luôn giữ vững lập trường trung lập trên con đường ngoại giao cũng như bang giao với tất cả các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới trên tinh thần hòa bình hợp tác cùng nhau phát triển cũng như sự bình đẳng tôn trọng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không liên kết với nước này để chống phá nước khác...tuy nhiên trong niềm tự hào sánh vai với các cường quốc, năm châu thì cũng không thể chủ quan, lơ là mất cảnh giác với hai anh bạn to đầu như Mỹ và TQ, bởi lịch sử đã chứng minh, cũng như bản chất của họ thì mọi người dân Việt Nam chúng ta ai cũng đều nắm rất rất rõ về họ "biết địch, biết ta..." để đối nhân, xử thế sao cho hợp tình, hợp lý mới là thượng sách. Một điều đáng phải suy ngẫm và lo lắng trong giai đoạn hiện nay, nền văn hóa và lịch sử nước nhà đang bị xâm hại nghiêm trọng, đó là một trong những âm mưu "diễn biến hòa bình" mà các thế lực thù địch trong và ngoài nước chúng không ngừng chống phá nhằm lật đổ chế độ và dân tộc ta, cũng là âm mưu thâm độc của chủ nghĩa tư bản đứng đầu là đế quốc Mỹ nhằm xóa bỏ chế độ XHCN, xóa bỏ đảng Cộng sản của ta nói riêng và thế giới nói chung. Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác bài thơ "Lịch sử nước ta" có hai câu: 
  "Dân ta phải biết sử ta
   Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"
   Lịch sử và văn hóa là cội nguồn của dân tộc, bởi vậy không thể lơ là và xem nhẹ, nếu đất nước, chế độ và dân tộc trường tồn thì không gì khác phải bảo vệ bằng được nền văn hóa và lịch sử của dân tộc theo di nguyện của NGƯỜI!!!


Yêu nước ST.

ĐÁNH DẤU BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM HOA KỲ

 Trưa 11/9, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tiếp Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden cùng Đoàn đại biểu cấp cao Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đang có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của Tổng thống Joe Biden, tiếp nối truyền thống các Tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm đều có chuyến thăm Việt Nam, kể từ khi Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995. 

Tuyên ngôn Độc lập - một áng văn lập quốc vĩ đại

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa đến nay gắn liền với truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

Điều đó nói lên một khát khao to lớn của dân tộc ta là, luôn mong muốn có được một nền độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân và đó cũng là một giá trị tinh thần thiêng liêng, bất hủ của dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân cho tinh thần ấy.

Đấu tranh chống thực dân, giành độc lập dân tộc là khát vọng, động lực và mục đích lớn nhất trong suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giúp Người có đủ bản lĩnh vượt qua mọi gian nan, thử thách trên hành trình cứu nước, giải phóng dân tộc: "Tổ quốc độc lập, thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước, thì ai cũng phải làm nô lệ". Suốt 30 năm bôn ba ở nước ngoài, với biết bao hiểm nguy, gian khó, Người vẫn luôn khẳng định mà không hề nao núng rằng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn”. Rồi đến khi về nước lãnh đạo phong trào cách mạng, vô luận trong bất kỳ hoàn cảnh nào, khi “ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo”, Người luôn luôn chỉ nghĩ đến đất nước, đến nhân dân mà quên chính bản thân mình.

Lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng bản Tuyên ngôn Độc lập do Người thay mặt Chính phủ lâm thời đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 đã biến khát vọng độc lập, thống nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam trở thành hiện thực. Bản Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn lập quốc vĩ đại, một kiệt tác bất hủ về lý luận, tư tưởng độc lập dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có những tư tưởng độc lập tự chủ về đối ngoại.

Tinh thần độc lập, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạt động đối ngoại thể hiện ở tính chủ động và tự quyết trong việc xác định đúng vai trò, vị trí, lợi ích của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, đồng thời đánh giá khách quan môi trường quốc tế thực tại, xác định đúng thời cơ và thách thức để từ đó hoạch định chính sách đối ngoại phù hợp, phục vụ cho lợi ích chính đáng của dân tộc, đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Nguyên lý chủ yếu xuyên suốt của phương châm này là: “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Độc lập tự chủ tức là dựa vào sức mình là chính, tự mình phải suy nghĩ, tìm tòi, định ra những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm tự giải quyết lấy công việc của đất nước mình; có tham khảo kinh nghiệm quốc tế; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng quốc tế nhưng không nhận bất cứ một sức ép nào từ bên ngoài, không để biến thành con bài trong tay bất kỳ một thế lực nào.

Trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, nhìn từ góc độ quan hệ quốc tế, quan điểm độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính được thể hiện rất rõ với mục tiêu là độc lập dân tộc, với niềm tin là chính nghĩa, là lẽ phải, là các tấm gương oanh liệt của các dân tộc trên thế giới theo tinh thần cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ. Căn cứ vào những quyền tự do, bình đẳng và quyền con người - “những quyền mà không ai có thể xâm phạm được” đã được ghi trong bản Tuyên ngôn Độc lập của cách mạng Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, ngay trong phần mở đầu của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định những giá trị thiêng liêng, bất biến về quyền dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do… đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “những lẽ phải không ai chối cái được” nói trên phải được nhận thức đầy đủ và sâu sắc thì độc lập dân tộc của tất cả dân tộc trên thế giới mới được thừa nhận. Chính vì vậy, thông điệp đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tới cộng đồng thế giới thông qua Tuyên ngôn độc lập năm 1945, đó là: nước Việt Nam phải được độc lập, dân tộc Việt Nam phải được tự do, đó phải là một “tất nhiên”, vì đó chính là quyền “Thượng đế” ban cho họ. Vậy mà dân tộc Việt Nam phải trải qua bao hy sinh gian khổ, mất mát và thiệt thòi mới vùng lên đòi lại cái vốn có của mình. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự nối tiếp cuộc đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc, cho quyền con người trong dòng chảy của trào lưu tiến bộ trên toàn thế giới, là bước đi tất yếu trên con đường tiến hóa mà nhân loại đã đi và còn sẽ tiếp tục đi. Cho nên nền độc lập của dân tộc Việt Nam đạt được sau cuộc cách mạng ấy cần phải được tôn trọng, quyền bình đẳng giữa các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới cần được thực hiện nghiêm túc.

Chính vì thế, nội dung quan trọng tiếp theo trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò quốc tế của các nước lớn, trách nhiệm quốc tế đối với các nước nhỏ nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa các dân tộc, đảm bảo cho các quốc gia kém may mắn, chậm phát triển và được thừa hưởng nền độc lập theo Hiến chương Liên hợp quốc, được tự do phát triển tiến bộ và hòa bình. Người kêu gọi các nước lớn như Mỹ, Anh, Ấn Độ… hãy công nhận nền độc lập của Việt Nam bởi vì: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. 

Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 còn thể hiện quan điểm đối ngoại rất hiện đại và rất thời đại của Chủ tịch Hồ Chí  Minh đó là Việt Nam sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước, kể cả các nước có quá khứ thù địch hay đấu đầu, chỉ cần công nhận nền độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam mà thôi. Đó chính là truyền thống khoan dung, nhân ái Việt Nam, là tinh thần tha thiết với hòa bình, một yếu tố làm nên sức mạnh dân tộc Việt Nam bên cạnh tinh thần yêu nước, ý chí quyết chiến, quyết thắng. Đề cập đến mối quan hệ với nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn tuyên bố rằng “tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp”.

Thông điệp này cần được hiểu rõ rằng: chúng ta không chấp nhận sự thống trị thực dân của Pháp chứ chúng ta không từ bỏ mối quan hệ hữu nghị Việt Nam với Pháp mà chúng ta sẵn sàng và chủ động xây dựng tình hữu nghị Việt - Pháp, thật lòng hợp tác và hợp tác toàn diện với chính phủ và nhân dân Pháp. Với Đồng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm tranh thủ sự ủng hộ, "ràng buộc" Đồng minh bằng thái độ mềm mỏng, hiểu biết trên quan điểm trước sau như một về quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc – một mục đích chính nghĩa mà Đồng minh vẫn giương cao. Tuyên ngôn Độc lập chỉ rõ, trái ngược hoàn toàn với thái độ chống phá Đồng minh của Pháp, ở Việt Nam nếu có một lực lượng nào thực sự đứng về phía Đồng minh chống phát xít thì chỉ có thể là nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Việt Minh.

78 năm đã trôi qua kể từ mùa thu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, một nhà nước hoàn toàn mới trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, đem lại cuộc đổi đời lịch sử cho người dân Việt Nam khi đón nhận những thành quả “độc lập - tự do - hạnh phúc”. Thế giới đã trải qua bao biến động và vẫn còn bao sự biến đổi khó lường đe dọa đến hòa bình hữu nghị và hợp tác phát triển. Nhưng quan điểm đối ngoại độc lập tự chủ thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9 năm ấy vẫn ngời sáng những giá trị tham chiếu cho hiện tại.

Vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng đối ngoại độc lập, tự chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bối cảnh hiện nay, chúng ta phải giữ vững và thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết; phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, tạo sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới; tiếp tục đường lối ngoại giao rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, hợp tác nhiều mặt với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tranh chấp đang tồn tại bằng biện pháp hòa bình. Có như vậy, Việt Nam mới khẳng định được vị thế “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” như Văn kiện Đại hội Đảng XIII đã xác định.

LỢI DỤNG TỰ DO TÔN GIÁO - CHIÊU TRÒ ĐÃ LỖI THỜI

 LỢI DỤNG TỰ DO TÔN GIÁO - CHIÊU TRÒ ĐÃ LỖI THỜI

Lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam là hoạt động lỗi thời, không phù hợp với xu thế phát triển của nền chính trị thế giới trong thời đại hiện nay. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để chống phá Việt Nam. Tại một số nước, vẫn còn có các nhóm người công khai lợi dụng vấn đề tôn giáo, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam…
Buổi “Hội luận Ngày Quốc tế tưởng niệm nạn nhân bị bạo hành vì tôn giáo hay niềm tin” (22/8) do cái gọi “Ủy ban Cứu trợ người vượt biển - BPSOS” tổ chức và được Đài RFA cùng một số trang mạng xã hội của các tổ chức phản động lưu vong ra sức khuyếch trương, có thể xem là một ví dụ. Nhiều tài liệu từ buổi “Hội luận…” này được RFA và một số trang mạng xã hội phát tán có nội dung thông tin xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt Nam, vu cáo Việt Nam “đàn áp” các “nhóm tôn giáo độc lập”, “vi phạm tự do tôn giáo”…
Chúng ta chẳng lạ thực chất của buổi “Hội luận…” này không nhằm mục đích nào khác là tạo cơ hội cho các tổ chức, cá nhân thù địch xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo về tự do tôn giáo ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Những thông tin, tài liệu từ buổi “Hội luận…” mà RFA cùng một số trang mạng xã hội phát tán về tự do tôn giáo ở Việt Nam là hồ đồ, vô căn cứ và trắng trợn xuyên tạc sự thật. Thực tế đời sống tôn giáo ở Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc phát đi từ buổi “Hội luận…”.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như trong việc quản lý xã hội, điều hành đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến tôn giáo và có chính sách tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã có những chính sách tôn giáo đúng đắn. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu sáu vấn đề cấp bách cần giải quyết, trong đó có việc thực hiện “tín ngưỡng tự do, Lương - Giáo đoàn kết”.
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng; đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật…”.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”.
Trong Hiến pháp và các văn bản luật của Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân luôn được ghi nhận. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 (Chương II) của Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Đặc biệt, sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đã chứng tỏ Nhà nước Việt Nam rất quan tâm và quyết tâm phấn đấu đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.
Các tôn giáo ở Việt Nam, đều bình đẳng trước pháp luật, không một tôn giáo nào hoạt động đúng pháp luật mà bị ngăn cấm. Mọi người dân Việt Nam hoàn toàn tự nguyện, tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào, không bị ép buộc, cấm đoán. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân luôn được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và đảm bảo. Ở Việt Nam ngày càng có thêm nhiều tổ chức tôn giáo được công nhận và hoạt động. Số lượng các tín đồ tôn giáo tăng nhanh. Các cơ sở thờ tự liên tục được xây dựng, mở mang, tạo điều kiện cho sinh hoạt tôn giáo. Hoạt động in ấn, phát hành kinh sách được xuất bản tự do theo nhu cầu của các tôn giáo… Có thể khẳng định, đời sống tôn giáo ở Việt Nam chưa bao giờ phong phú, sôi động như hiện nay. Các tổ chức nhân quyền và tôn giáo quốc tế đã nhiều lần đến thăm, làm việc, khảo sát thực tế và thừa nhận những tiến bộ của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo.
Cần khẳng định rằng, tại Việt Nam không bao giờ có chuyện “đàn áp tôn giáo”, “vi phạm tự do tôn giáo”… Các cá nhân, “nhóm tôn giáo độc lập”… mà một số tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam cho là bị “đàn áp” vì thực hiện quyền tự do tôn giáo, thực chất đó là những trường hợp đã lợi dụng, đội lốt tôn giáo để hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam. Những hành vi đó đã vi phạm pháp luật Việt Nam và đương nhiên phải bị xử lý theo pháp luật. Đó là việc làm hoàn toàn chính đáng, hợp pháp nhằm bảo vệ an ninh trật tự, giữ nghiêm kỷ cương phép nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, trong đó có giáo dân.
Đi đôi với tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản các tín đồ thực hiện nghĩa vụ công dân; đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc…”.
Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Nhà nước Việt Nam không cho phép bất kỳ tôn giáo nào được đứng ngoài luật pháp, đứng ngoài dân tộc, đứng trên lợi ích quốc gia. Một yêu cầu khách quan đặt ra trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam là dù nội sinh hay ngoại sinh, các tôn giáo muốn phát triển đều phải hòa đồng với dòng chảy văn hóa của dân tộc và phải chịu sự quản lý của Nhà nước. Khi xem xét, giải quyết các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, một trong những yêu cầu cơ bản mà Nhà nước Việt Nam đặt ra là: Trong sáng vô tư, không có sự phân biệt hay đối xử thiên vị giữa các tôn giáo. Mục tiêu trong thực hiện chính sách tôn giáo của Việt Nam là đoàn kết dân tộc, phát huy lòng yêu nước, trách nhiệm của đồng bào có đạo và đồng bào không có đạo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Nhân dân Việt Nam hiểu quá rõ những âm mưu và hoạt động của các cá nhân, tổ chức thù địch nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chế độ chính trị tại Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ đó, họ thường lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, trong đó có vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo. Bằng mọi cách, họ tiến hành các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ, bóp méo sự thật nhằm làm giảm sút uy tín, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, tạo cớ hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam… Những âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo để chống phá Việt Nam dù có thâm độc, tinh vi, nham hiểm đến đâu chăng nữa cũng nhất định sẽ bị dư luận trong nước vạch trần và dư luận quốc tế lên án./.

Cán bộ, đảng viên làm gì trên không gian mạng?

Thời gian qua, nhiều cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) có ý thức, trách nhiệm cao trong sử dụng mạng xã hội (MXH). Tuy nhiên, vẫn còn một số CB, ĐV sử dụng MXH với mục đích không lành mạnh, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trên thế giới ảo.

Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng MXH liên tục tăng nhanh trong những năm gần đây. Hiện một số MXH đang được thịnh hành ở nước ta, như: Facebook, Zalo, TikTok, YouTube... Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến quý I-2023, Việt Nam có hơn 70 triệu thuê bao internet, trong đó có hơn 70 triệu tài khoản MXH. Trung bình mỗi ngày, người Việt Nam vào MXH hơn 2 giờ. Đối tượng sử dụng thường xuyên nhất là nhóm tuổi từ 15 đến 40 và tập trung chủ yếu vào học sinh, sinh viên, CB, ĐV, công chức và người lao động.

Đối với CB, ĐV, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị nói riêng khi tham gia MXH, nhiều người đã tận dụng những ưu thế và sử dụng MXH phục vụ hiệu quả cho công việc. Thông qua MXH, một bộ phận CB, ĐV nhanh chóng chia sẻ thông tin, trao đổi kinh nghiệm công tác; tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lan tỏa những tấm gương điển hình tiên tiến, mô hình hay, cách làm hiệu quả trong công việc chuyên môn...

Đánh giá về vấn đề này, lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định, về cơ bản, đội ngũ CB, ĐV luôn giữ vững và phát huy được phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị khi tham gia hoạt động, phát ngôn trên MXH. Đại đa số đảng viên có ý thức tốt, trình độ nhận thức cao, hiểu rõ, đầy đủ các vấn đề thực tiễn của đất nước, địa phương, đơn vị. Họ chủ động đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch bằng cách tích cực tuyên truyền quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thường xuyên lan tỏa những thông tin tích cực, thông điệp nhân văn với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực” và đẩy mạnh đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế cũng cho thấy, bên cạnh những mặt tích cực, MXH đã và đang tiềm ẩn rất nhiều yếu tố rủi ro đối với CB, ĐV. Mặc dù Ban Bí thư đã có Quy định số 85-QĐ/TW ngày 7-10-2022 về việc CB, ĐV thiết lập và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân trên internet, mạng xã hội, tuy nhiên, một bộ phận CB, ĐV khi tham gia MXH nhưng thiếu tỉnh táo, có những bình luận, chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng hoặc thông tin mang tính chất kích động vào các mục đích xấu, như công kích cá nhân, bàn luận, suy diễn những nội dung không có thật. Mặt khác, một bộ phận CB, ĐV có thói quen thường xuyên truy cập vào các trang mạng xã hội tại nơi làm việc với mục đích cá nhân như: Bàn luận, mua sắm, bán hàng online, chơi game trực tuyến... làm giảm hiệu quả công việc, lãng phí thời gian làm việc tại cơ quan. Đó là chưa kể, có những CB, ĐV chưa ý thức sâu sắc về hành động, việc làm của mình khi tham gia MXH nhưng có thể để lại những hậu quả nặng nề. Không ít người sẵn sàng chia sẻ, lan truyền thông tin mà họ cho là “giật gân”, tin “hot” để câu like, câu view. Lại có CB, ĐV cố tình đưa những thông tin, hình ảnh, bình luận ác ý, phát ngôn tùy tiện, thiếu tính xây dựng, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của đội ngũ CB, ĐV, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ...

Chia sẻ quan điểm về vấn đề này, đồng chí Lâm Hồ Sỹ, Phó trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bạc Liêu cho rằng, những hành vi tiêu cực, chưa chuẩn mực của CB, ĐV khi tham gia MXH có nhiều nguyên nhân, song rõ nhất là do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một bộ phận CB, ĐV. Trên thực tế, vẫn còn một bộ phận CB, ĐV thờ ơ, vô cảm trước những thông tin sai trái, thông tin xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Trong đời sống xã hội hay trên không gian mạng, cái đúng phải được bảo vệ, cái sai trái cần phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, loại bỏ thì chúng ta mới xây dựng được xã hội văn minh cũng như một môi trường trên không gian mạng thực sự lành mạnh. Điều này, một công dân bình thường cũng phải làm và có thể làm được, là CB, ĐV càng phải gương mẫu đi đầu.

Từ những vấn đề trên thấy rằng, việc giám sát, quản lý CB, ĐV trên không gian mạng và nâng cao ý thức, trách nhiệm của CB, ĐV khi tham gia MXH là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho mỗi cấp ủy, tổ chức đảng. Mặt khác, từng CB, ĐV khi tham gia MXH phải chú trọng thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong CB, ĐV, quần chúng nhân dân tại địa phương, cơ quan, đơn vị nơi mình sinh sống và công tác, nhất là theo dõi, nắm bắt trên không gian MXH. Qua đó kịp thời phát hiện, góp ý, phê bình... không để đồng chí, đồng nghiệp của mình bị lôi kéo, dụ dỗ, vô tình hay cố ý chia sẻ, lan truyền những thông tin xấu độc trên không gian mạng.

Đặc biệt là, mỗi CB, ĐV cần quán triệt và thực hiện tốt ý kiến chỉ đạo của đồng chí Võ Văn Thưởng ngay từ khi đồng chí mới đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương: “Nếu mỗi CB, ĐV dùng smartphone, Facebook mỗi ngày chủ động chia sẻ cho nhau một bài báo hay, một clip tốt, viết một bình luận tích cực, tìm kiếm một thông tin tốt đẹp, gửi đi thông điệp hay thì đã góp phần làm cho công tác tư tưởng ngày càng tốt hơn”.

54 cán bộ bị xử lý do không trung thực về nguồn gốc tài sản tăng thêm

 54 cán bộ bị xử lý do không trung thực về nguồn gốc tài sản tăng thêm

Chính phủ cho biết có 23 trường hợp nộp lại quà tặng cho đơn vị, với số tiền 93 triệu đồng. 54 người bị xử lý do không trung thực trong việc kê khai tài sản, thu nhập và giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm.
Chính phủ vừa có báo cáo công tác phòng chống tham nhũng năm 2023 gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Báo cáo cho thấy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan chức năng đã nỗ lực lớn, quyết tâm cao, thực hiện nghiêm túc kết luận của Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Công tác PCTN, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, có bước tiến mới, quyết liệt, đồng bộ, toàn diện và hiệu quả hơn, để lại dấu ấn tốt, củng cố thêm niềm tin của nhân dân, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội.
39 người đứng đầu, cấp phó bị kết luận là thiếu trách nhiệm
Đề cập việc xây dựng và thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ, Chính phủ cho biết các bộ, ngành, địa phương đã ban hành 8.150 văn bản; huỷ bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung 1.938 văn bản về định mức, tiêu chuẩn, chế độ.
Cùng với đó tiến hành 6.374 cuộc kiểm tra việc thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, chế độ, phát hiện 300 vụ việc và 439 người vi phạm (tăng 28% số vụ và 38,1% số người vi phạm so với năm 2022); đã xử lý hành chính 129 người; chuyển xử lý hình sự 2 người; kiến nghị thu hồi 45,2 tỷ đồng, đã thu hồi được 37,4 tỷ đồng.
Báo cáo cũng cho biết đã tiến hành kiểm tra việc thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức tại 7.651 cơ quan, tổ chức, đơn vị (tăng 67,1% so với năm 2022); kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các sai phạm và xử lý 893 cán bộ, công chức, viên chức vi phạm quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp (số trường hợp vi phạm tăng 71,5% so với năm 2022). Có 23 trường hợp nộp lại quà tặng cho đơn vị, với số tiền 93 triệu đồng.
Trong kỳ đã có 60.458 người kê khai tài sản thu nhập lần đầu; 545.535 người đã kê khai hằng năm; 44.015 người đã kê khai bổ sung; 161.928 người kê khai tài sản thu nhập phục vụ công tác cán bộ; 655.299 người đã được công khai bản kê khai tài sản thu nhập.
Kết quả xác minh tài sản, thu nhập năm 2022 là 13.093 người; có 2.664 người có sai sót về kê khai sai mẫu, chưa bảo đảm theo hướng dẫn, không đầy đủ thông tin, chậm thời hạn so với quy định…; có 54 người bị xử lý do không trung thực trong việc kê khai tài sản, thu nhập và giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm.
Về xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, báo cáo cho thấy, có 39 người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu bị kết luận là thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi tham nhũng, trong đó có 11 người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu đã bị xử lý hình sự do thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi tham nhũng; 28 người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu bị xử lý kỷ luật do thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi tham nhũng.
Ngăn chặn tình trạng nhũng nhiễu, vòi vĩnh
Các cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã thụ lý điều tra 967 vụ án/2.552 bị can phạm tội về tham nhũng; trong đó khởi tố mới 620 vụ án/1.749 bị can. Đã kết luận điều tra đề nghị truy tố 377 vụ án/997 bị can­­.
Viện kiểm sát các cấp thụ lý THQCT và kiểm sát điều tra 1225 vụ/3357 bị can (trong đó án mới 755 vụ/2315 bị can).
Tòa án nhân dân các cấp giải quyết theo thủ tục sơ thẩm 614 vụ /1.467 bị cáo; đã giải quyết 476 vụ /1.115 bị cáo trong đó xét xử 384 vụ/849 bị cáo về các tội tham nhũng.
Liên quan đến việc thu hồi tài sản tham nhũng, Chính phủ thông tin số có điều kiện thi hành 3.258 việc với số tiền hơn 56.688 tỷ đồng; đã thi hành xong 1.703 việc với số tiền hơn 19.818 tỷ đồng.
Trong năm 2023, những kết quả đạt được trong PCTN, tiêu cực là rất quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, góp phần quan trọng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, Chính phủ cũng nhận định, tham nhũng ngày càng tinh vi, diễn biến phức tạp.
Chính vì vậy, Chính phủ nhấn mạnh tiếp tục hoàn thiện và thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, nhất là các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp…
Cùng với đó siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, thi hành án; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tiêu cực; ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây khó khăn, phiền hà cho người dân, doanh nghiệp khi giao dịch với cơ quan nhà nước.
Hiếu Minh/VOV.VN
Chính phủ nhấn mạnh tiếp tục hoàn thiện và thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực

Người trẻ trước thách thức “xâm lăng văn hóa”- Đổi mới nhưng không “đổi màu”

Quá trình hội nhập quốc tế đặt ra vấn đề làm thế nào để giới trẻ vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại nhưng phải biết gạn đục khơi trong, hòa nhập nhưng không hòa tan, đổi mới nhưng không “đổi màu”, giữ gìn và phát huy bản sắc, giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong thời đại mới.

Tựa vào văn hóa truyền thống để đổi mới, sáng tạo

Có thể khẳng định rằng, với sự phát triển của công nghệ hiện nay, thế hệ trẻ ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận, hưởng thụ, thỏa sức khám phá những giá trị văn hóa đa dạng. Một tín hiệu lạc quan là rất nhiều bạn trẻ ngày nay khẳng định tình yêu cội nguồn bằng cách lấy văn hóa truyền thống của dân tộc làm nền tảng để đổi mới, sáng tạo. Việc khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các bạn trẻ nhân rộng những mô hình khởi nghiệp sáng tạo trên nền tảng văn hóa truyền thống, lan tỏa giá trị văn hóa Việt tới cộng đồng quốc tế phù hợp với xu thế hiện đại được xem là một trong những giải pháp hiệu quả để tổ chức đoàn và các ngành chức năng quan tâm đẩy mạnh, qua đó giúp thế hệ trẻ thêm yêu, trân trọng, nâng cao ý thức gìn giữ và phát huy truyền thống, chống lại sự “xâm lăng văn hóa”.

Thực tiễn thời gian gần đây, nhiều người trẻ biết tựa vào văn hóa truyền thống để làm nguồn cảm hứng thăng hoa sáng tạo. Ở lĩnh vực âm nhạc, nhiều nghệ sĩ trẻ mạnh dạn khai thác, biến tấu những chất liệu dân gian, tạo ra những tác phẩm gây tiếng vang. Đó là “Chiếc khăn piêu” mang âm hưởng Tây Bắc, được phối khí theo phong cách nhạc jazz; hình tượng “bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương, rồi cô Tấm, nàng Mị, Thúy Kiều đi vào âm nhạc đương đại. Sự kết hợp giữa sẩm, rap và nhạc điện tử, rồi nhạc cụ trên sân khấu chèo và hát văn xuất hiện trong dàn nhạc giao hưởng. Những tín hiệu đáng mừng trong hoạt động văn học-nghệ thuật biểu diễn nêu trên là minh chứng bản sắc văn hóa Việt đang thấm sâu vào giới trẻ.

Trong ngành mỹ thuật, một số họa sĩ trẻ nổi lên như những gương mặt tiên phong làm mới dòng tranh dân gian bằng mỹ thuật ứng dụng đương đại. Lĩnh vực thời trang cũng không thiếu những câu chuyện thú vị chứng minh cho tình yêu cội nguồn văn hóa của lớp người Việt Nam trẻ tuổi. Nhiều nhóm bạn trẻ đam mê tìm hiểu về trang phục truyền thống và mong muốn tái hiện văn vật của nước Việt Nam xưa đã thành lập các trang thông tin, fanpage được đầu tư cả về hình ảnh lẫn nội dung, thu hút đông đảo sự hưởng ứng, tương tác. Từ đây, rất nhiều dự án tìm hiểu về cổ phục Việt và phục dựng trang phục cổ truyền đã tạo ra tác động rất lớn tới cộng đồng. Nhiều bạn trẻ sử dụng Việt phục như một trang phục trong sinh hoạt thường ngày như đi dạo phố, tham quan các di tích lịch sử, hay trong những ngày lễ, tết, cưới hỏi...

Nhìn sang các lĩnh vực chứa đựng chiều sâu văn hóa Việt Nam như ẩm thực, du lịch... cũng trở thành phương tiện hữu hiệu để các bạn trẻ quảng bá, giới thiệu văn hóa dân tộc ra thế giới. Không chỉ dừng lại ở tình yêu và niềm đam mê, nhiều người trẻ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống. Nhiều kênh YouTube, trang web được các bạn trẻ xây dựng cung cấp nội dung phong phú, hấp dẫn về các món ăn truyền thống, di tích, thắng cảnh, văn hóa dân tộc các vùng miền của Việt Nam... Đặc biệt, nhiều di sản, di tích lịch sử được người trẻ giới thiệu, quảng bá sinh động thông qua các nền tảng số bằng ngôn ngữ tiếng Việt và nhiều thứ tiếng nước ngoài, thu hút đông đảo lượt xem và chia sẻ. 

Công chúng hiện tại rất ưa thích cái mới, ủng hộ sáng tạo và ứng dụng công nghệ, sẵn sàng trải nghiệm các sản phẩm, dịch vụ chứa đựng các yếu tố văn hóa. Điển hình như Di tích Nhà tù Hỏa Lò với hệ thống thuyết minh tự động, không gian trưng bày online, tham quan trực tuyến trên hai nền tảng Spotify và Apple Podcasts, đặc biệt là “tour đêm” trải nghiệm tái hiện qua nhiều hoạt cảnh kết hợp với hiệu ứng âm thanh và ánh sáng đánh thức mọi cung bậc cảm xúc của du khách, tạo sức hút rất mạnh mẽ và trở thành một sản phẩm du lịch rất hấp dẫn ở Hà Nội.

Việt Nam có tiềm năng to lớn trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng văn hóa. Chúng ta có một kho tàng văn hóa vô giá với hàng chục nghìn di tích lịch sử-văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ, thắng cảnh, lịch sử cách mạng; hàng nghìn truyền thuyết gắn với từng giai đoạn lịch sử; hàng nghìn lễ hội dân gian, lịch sử và tôn giáo; hàng nghìn làng nghề và làng có nghề truyền thống; hàng trăm trò chơi dân gian; hàng chục loại hình diễn xướng truyền thống... Cùng với đó là y học cổ truyền, nghệ thuật ẩm thực, trang phục truyền thống, phong tục, tập quán... Nền văn hóa truyền thống phong phú, đa dạng, đặc sắc và nhân bản của Việt Nam là mảnh đất hứa hẹn đối với hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam còn chưa được khai thác, hoặc khai thác ở quy mô nhỏ lẻ, ở tầng nấc bên ngoài chứ chưa đi vào chiều sâu. Điều này đồng nghĩa với việc còn rất nhiều dư địa để những người trẻ khai phá, lựa tìm và đầu tư sáng tạo.

Bày tỏ quan điểm về sự quan tâm của giới trẻ đối với văn hóa truyền thống, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Bùi Quang Huy cho rằng, chúng ta đã và đang phát triển được rất nhiều sản phẩm văn hóa mang lại giá trị cao, đặc biệt là trên các nền tảng số, rất nhiều trong số đó là của những bạn trẻ. Ngày càng nhiều sản phẩm văn hóa “made in Việt Nam” phát triển mạnh mẽ trên nhiều nền tảng, nhất là công nghệ số, tạo dựng được niềm tin, sự quan tâm của cộng đồng xã hội. Trên mạng xã hội ngày càng xuất hiện nhiều sản phẩm dạng phim ngắn, series phim ngắn, phim sitcom do các bạn trẻ sản xuất với những tình huống thú vị, mang lại nhiều bài học ý nghĩa trong cuộc sống; những sản phẩm phim đồ họa 3D, 4D, hoạt hình hấp dẫn, giới thiệu về các triều đại lịch sử của dân tộc; các phong tục, tập quán, lễ hội Việt Nam; những video trải nghiệm văn hóa, phong tục, tập quán, ẩm thực...

Tận dụng công cụ có sẵn trên các nền tảng mạng xã hội, nhiều bạn trẻ xây dựng và thành công với việc quảng bá những sản phẩm văn hóa truyền thống của địa phương trên không gian mạng. Những ý tưởng và mô hình khởi nghiệp từ văn hóa truyền thống của thanh niên tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với cộng đồng và gặt hái thành công bước đầu. Thông qua đó, không chỉ góp phần quảng bá giá trị văn hóa của Việt Nam ra thế giới mà còn tạo nên những giá trị kinh tế to lớn từ các sản phẩm văn hóa.  

Trong “cơn lốc” của văn hóa ngoại lai, nhiều ý kiến bày tỏ trăn trở rằng, lớp trẻ sẽ bị cuốn trôi và quên đi những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Sự lo lắng ấy là có cơ sở bởi một bộ phận người trẻ thiếu nhận thức, bản lĩnh, bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc. Thế nhưng nhìn vào thực tiễn, chúng ta có cơ sở để tin tưởng vào vai trò, ý thức, trách nhiệm của thanh niên đối với sứ mệnh giữ gìn, phát huy, lan tỏa vẻ đẹp văn hóa trường tồn của dân tộc.

Bên cạnh hệ thống giải pháp về cơ chế, chính sách, tạo dựng hệ sinh thái khởi nghiệp dựa trên nền tảng văn hóa, việc giáo dục cái hay, cái đẹp của văn hóa Việt Nam cần được đẩy mạnh ngay từ các bậc học phổ thông, ở các tổ chức đoàn, hội, đội cũng như trong toàn xã hội, giúp người trẻ có nền tảng tri thức về văn hóa và lòng tự hào, tự tôn dân tộc, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm vốn văn hóa truyền thống nước nhà.

Phát huy nội lực, siết chặt quản lý

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 xóa nhòa những ranh giới địa lý khiến sự giao lưu của con người về mọi mặt, trong đó có văn hóa, trở nên nhanh hơn, dễ dàng hơn rất nhiều. Bối cảnh của thế giới kết nối cũng khiến cho việc quản lý, bảo vệ, giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống chưa theo kịp. Với thực tế hiện nay cùng vị trí rất quan trọng của văn hóa-một lĩnh vực được xác định mang tầm quan trọng ngang với kinh tế, chính trị, xã hội-cần những giải pháp chấn chỉnh kịp thời và hiệu quả hơn, không thể xuề xòa, “bắt cóc bỏ đĩa”, bởi nếu cứ để tình trạng “xâm lăng văn hóa” kéo dài sẽ là sự nguy hại rất lớn đối với đất nước và thế hệ tương lai.

Nhìn rộng ra thì việc gìn giữ, củng cố nền tảng văn hóa không chỉ là yêu cầu cấp thiết đối với nước ta mà với các quốc gia khác trên thế giới như Mỹ, Anh, Trung Quốc... việc phát huy văn hóa bản địa, bảo vệ văn hóa trước các tác động tiêu cực cũng không hề bị lơ là. Cụ thể như phiên điều trần vừa qua của CEO TikTok tại Quốc hội Mỹ kéo dài 5 tiếng đồng hồ nhưng vẫn chưa đủ thuyết phục các nhà lập pháp của Hoa Kỳ để nền tảng chia sẻ video hoạt động tự do như trước. Còn tại Anh, cơ quan quản lý dữ liệu nước này mới phạt TikTok 12,7 triệu bảng Anh vì để hơn 1,4 triệu trẻ em dưới 13 tuổi ở nước này sử dụng TikTok mà không có sự đồng ý của người lớn. Australia, New Zealand, châu Âu và các nước châu Á gồm Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh cũng cấm một phần hoặc hoàn toàn nền tảng TikTok. Tại Trung Quốc, “phong sát” trở thành nỗi khiếp sợ của những nghệ sĩ vi phạm pháp luật hay có những hành xử gây ảnh hưởng xấu đến xã hội... 

Theo lãnh đạo Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông), cơ quan chức năng đang đấu tranh yêu cầu các nền tảng xuyên biên giới phải có những ứng dụng dành riêng cho trẻ em. Một biện pháp mà Bộ Thông tin và Truyền thông đang làm rất quyết liệt là ngăn chặn dòng tiền đến với các kênh độc hại. Tất cả những kênh đăng tải nội dung độc hại sẽ bị tắt chế độ tìm kiếm, tắt chế độ tặng quà hay nhận vật phẩm ảo.

Ngày 31-3-2023, Bộ Thông tin và Truyền thông có Quyết định số 512/QĐ-BTTTT về việc ban hành kế hoạch hành động cập nhật kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược phát triển lĩnh vực phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử giai đoạn 2021-2025. Theo đó, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử phối hợp với Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) trong thực hiện việc quản lý người nổi tiếng trên mạng; từ tháng 10-2023 sẽ hạn chế phát sóng, biểu diễn, quảng cáo đối với nghệ sĩ, KOLs có hành vi vi phạm pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục. Tháng 9-2023, thí điểm giám sát, kiểm tra các nền tảng xuyên biên giới chưa có văn phòng tại Việt Nam. Từ tháng 12-2023, tiến hành điều hướng dòng tiền quảng cáo xuyên biên giới vào các cơ quan báo chí chính thống, các nền tảng nội dung số, website, các kênh, tài khoản đã được cấp phép hoặc có đăng ký hoạt động với Bộ Thông tin và Truyền thông (quảng cáo trên white list, chặn quảng cáo black list).

Bộ Thông tin và Truyền thông cũng sẽ duy trì thường xuyên việc đấu tranh buộc các nền tảng xuyên biên giới chặn, gỡ thông tin xấu độc với tỷ lệ đáp ứng cao (90-95%), thời gian xử lý dưới 24 giờ; khóa các trang, kênh vi phạm nghiêm trọng; phát triển thuật toán để chặn hiệu quả các quảng cáo sai sự thật; gỡ các game không phép trên Google Store và Apple Store...

Bên cạnh dọn dẹp lại một môi trường văn hóa tiêu cực, việc ươm mầm phát triển cho không gian văn hóa với bản sắc riêng, phát huy nội lực bằng những tác phẩm điện ảnh có chất lượng, cùng với những hoạt động của các cơ quan an ninh trong đấu tranh ngăn chặn các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tấn công trên các lĩnh vực văn hóa là việc làm bức thiết. Những giải pháp ngăn chặn tán phát sản phẩm văn hóa nước ngoài độc hại cần được quyết liệt, ráo riết triển khai, không để những “rác phẩm” này tán phát trên không gian mạng và thẩm thấu vào tâm trí người trẻ. Ngoài hệ thống giải pháp trong giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chống “xâm lăng văn hóa” thì việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, siết chặt quản lý dịch vụ nền tảng xuyên biên giới, hạn chế và tiến tới ngăn chặn triệt để các sản phẩm văn hóa độc hại thẩm lậu vào Việt Nam là giải pháp cần được chú trọng phát huy.

Nhận rõ vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.

Cốt lõi của vấn đề vẫn nằm ở ý thức và trách nhiệm công dân, đặc biệt là thế hệ trẻ phải thực sự khẳng định bản lĩnh để chống lại nguy cơ bị đồng hóa văn hóa, bị hòa tan trong quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ này.

Kiên quyết, kiên trì bảo vệ hồn cốt của dân tộc Việt Nam

 Kiên quyết, kiên trì bảo vệ hồn cốt của dân tộc Việt Nam

Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, nói lên bản sắc của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn... Bởi vậy, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị có nhiều âm mưu, thủ đoạn để tấn công vào lĩnh vực văn hóa. Do đó, đấu tranh bảo vệ nền văn hóa dân tộc là nhiệm vụ quan trọng trong tình hình hiện nay.
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, soi đường dẫn lối cho sự phát triển, tiến bộ của xã hội, của mỗi quốc gia, dân tộc trong hành trình xây dựng và phát triển.
Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước, suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng vai trò của văn hóa và hết sức quan tâm đến công tác xây dựng văn hóa trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, Đảng ta đã đề cập đến vấn đề phải phát triển văn hóa của dân tộc. Năm 1943, khi nước nhà còn chưa giành được độc lập, Đảng ta đã đề ra "Đề cương về văn hóa Việt Nam”, trong đó chỉ rõ: "Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa)"; đồng thời nêu 3 nguyên tắc vận động xây dựng nền văn hóa Việt Nam là dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa.
Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc thế kỷ 20, văn hóa giữ nước được phát huy cao độ, lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm, đoàn kết dân tộc được nâng lên một tầm cao mới, thực sự trở thành động lực tinh thần để huy động tất cả mọi nguồn lực, góp phần quan trọng làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, thống nhất Tổ quốc, thu giang sơn về một mối, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Từ năm 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã tiến hành đổi mới đồng bộ và toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nhận thức về văn hóa ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn trên các lĩnh vực, các loại hình; các sản phẩm văn hóa ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu mới, nhiều mặt của xã hội. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa của dân tộc được kế thừa, bảo tồn và phát triển. Văn hóa trong chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả, tích cực. Công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa có bước khởi sắc. Hoạt động giao lưu, hợp tác và hội nhập quốc tế có bước phát triển mới. Xây dựng con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng cần nhìn thẳng vào những hạn chế, tồn tại, bất cập, yếu kém trên lĩnh vực văn hóa, đó là: Văn hóa chưa được các cấp, các ngành nhận thức một cách sâu sắc và chưa được quan tâm một cách đầy đủ, tương xứng với kinh tế và chính trị; chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước. Vai trò của văn hóa trong xây dựng con người chưa được xác định đúng tầm, còn có chiều hướng nặng về chức năng giải trí. Phát triển các lĩnh vực văn hóa chưa đồng bộ, còn phiến diện, nặng về hình thức, chưa đi vào chiều sâu, thực chất. Việc tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại còn hạn chế; chưa coi trọng đúng mức cũng như chưa có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc; nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách lố lăng, phản cảm, không có chọn lọc.
Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không từ một thủ đoạn nào để tấn công vào lĩnh vực văn hóa. Ngoài việc công kích Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ra sức xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, phủ nhận giá trị các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược của dân tộc Việt Nam, đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa, làm lẫn lộn vai trò của những chiến sĩ cách mạng chân chính với những kẻ cướp nước và bè lũ bán nước. Chúng tuyên truyền cho các giá trị văn hóa phương Tây; hạ thấp giá trị các sáng tác văn học-nghệ thuật ca ngợi cuộc sống lao động, chiến đấu của quân dân ta; tán dương các tác phẩm có khuynh hướng bôi nhọ lịch sử, phủ nhận chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang...
Những biểu hiện đó có nguy cơ làm thay đổi các thang giá trị về đạo đức, lối sống trong xã hội; khơi dậy bản năng chạy theo lợi ích vật chất, cá nhân mà quên đi đạo lý, nghĩa vụ và trách nhiệm của người công dân trong một quốc gia văn minh, tiến bộ; thậm chí làm cho con người sa ngã, quay lưng lại với lịch sử truyền thống và những giá trị mang đậm cốt cách con người Việt, dân tộc Việt.
Để đấu tranh bảo vệ hồn cốt của dân tộc, trước hết, mỗi cấp ủy, chính quyền, cơ quan, ban, ngành chức năng cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa, quán triệt đầy đủ các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về văn hóa, thực hiện đúng quan điểm Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển kinh tế, xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.
Phát huy vai trò chủ thể sáng tạo, chủ thể thụ hưởng văn hóa là Nhân dân; đề cao, phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, của những người làm công tác văn hóa; tôn trọng và bảo vệ sự biểu đạt đa dạng của văn hóa, của người dân, các dân tộc, các vùng, miền. Xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, làm cho văn hóa thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh.
Kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, tiêu cực; chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "quét sạch chủ nghĩa cá nhân", nguồn gốc của mọi sự tham nhũng, tiêu cực, hư hỏng ngay trong các ngành văn hóa, các cơ quan làm công tác văn hóa. Thực hiện tốt quan điểm của Đảng là chủ động nâng cao "sức đề kháng" của các tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại.
Trong tình hình hiện nay, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bác bỏ những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc hiểm độc của các thế lực thù địch, phản động đối với nền văn hóa của dân tộc, bảo vệ vững chắc “bức tường thành văn hóa” của cộng đồng 54 dân tộc anh em. Trong xã hội, cần quan tâm chú trọng lấy cái đẹp dẹp cái xấu, phát huy giá trị văn hóa giữ nước, tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý tốt đẹp của cha ông ta. Đó chính là giải pháp hữu hiệu để góp phần bảo vệ hồn cốt của dân tộc Việt Nam.

Soi xem mình được mấy “dám”?

Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội theo tinh thần "7 dám" là quan điểm chỉ đạo được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương nhấn mạnh tại Hội nghị Quân ủy Trung ương 6 tháng đầu năm 2023. Quán triệt, thực hiện tinh thần “7 dám” vừa là giải pháp rất quan trọng xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, vừa góp phần tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ...

Gắn vào thực tiễn “xây” và “chống”

Tinh thần “7 dám” của cán bộ Quân đội trong tình hình mới được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương khái quát, gồm: "Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”. Gắn vào thực tiễn công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chúng ta thấy rõ: “7 dám” vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp của công tác bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ Quân đội.

Nội hàm của cán bộ “7 dám” là sự cụ thể hóa những đặc trưng, truyền thống tốt đẹp về phẩm chất đạo đức, giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, là sự phát triển tư duy lý luận, đặt ra những yêu cầu mới ngày càng cao đối với phẩm chất, năng lực cán bộ Quân đội trong giai đoạn mới. Khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc này để thấy rõ hơn, sự phát triển của đời sống xã hội là quy luật vận động không ngừng. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, chủ lực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng...

Quân đội ta phải đặt ra yêu cầu, tiêu chí và giải pháp ngày càng cao trong xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Khi cán bộ hội tụ đầy đủ phẩm chất, năng lực theo tinh thần “7 dám”, các cơ quan, đơn vị các cấp trong Quân đội sẽ có nền tảng tinh thần vững chắc, tạo động lực mạnh mẽ để cán bộ, chiến sĩ khai mở tiềm năng, năng lực, phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.

Để hiện thực hóa tinh thần “7 dám”, Tổng Bí thư yêu cầu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và các cấp ủy đảng trong Quân đội phải đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, đủ đức, đủ tài, có uy tín cao; cấp trên phải làm gương cho cấp dưới, chỉ huy phải mẫu mực trước toàn đơn vị. Trong Quân đội, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm...

Thực tiễn quá trình thực hiện nhiệm vụ ở các đơn vị Quân đội trong thời gian qua, bên cạnh những thành tựu to lớn, những thành tích nổi bật đã đạt được, đáng lưu ý là ở một số đơn vị, trong một số thời điểm còn để xảy ra những vụ việc nghiêm trọng. Một bộ phận cán bộ, cấp ủy, người chỉ huy vẫn còn "bệnh thành tích", giấu giếm khuyết điểm; xử lý một số vi phạm, vụ việc phức tạp, nhạy cảm chưa kịp thời, triệt để... Những hạn chế, khuyết điểm này trong một số trường hợp nhất định không chỉ ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ; chất lượng, hiệu quả huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị... mà còn là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng không gian mạng thực hiện các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, kích động, chống phá Quân đội...

Quán triệt phương châm “xây” và “chống”, “lấy xây để chống” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống theo quan điểm của Đảng, chúng ta càng thấy rõ tính cấp thiết của việc củng cố, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ Quân đội theo tinh thần “7 dám”. Đó cũng là căn cứ để cấp ủy, chỉ huy các cấp đẩy mạnh thực hiện phê bình, tự phê bình; đề ra các chỉ tiêu, nội dung, giải pháp đấu tranh, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương “về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”.

Soi rọi vào chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên

Từ thực tiễn hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đã được Quân ủy Trung ương sơ kết, đánh giá tại Hội nghị Quân ủy Trung ương 6 tháng đầu năm 2023, chúng ta thấy: Để xảy ra những biểu hiện tiêu cực, yếu kém ở đơn vị, nguyên nhân trực tiếp đều bắt nguồn từ phẩm chất, năng lực, phương pháp làm việc, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, nhất là cấp ủy, người chỉ huy các cấp.

Nhìn rộng ra và sâu hơn, chúng ta thấy, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần kiên trì, quyết liệt, không có vùng cấm... trong những năm qua đã đưa ra ánh sáng công lý hàng loạt cán bộ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong những vụ việc, vụ án được dư luận xã hội quan tâm đặc biệt, có không ít cán bộ cấp cao trong Quân đội. Để dẫn đến tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân trực tiếp, cơ bản và căn cốt nhất vẫn là do phẩm chất của cán bộ, đảng viên.

Lấy tinh thần “7 dám” soi rọi vào từng cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao, chúng ta càng thấy rõ, nếu thiếu hoặc coi nhẹ các tiêu chí đó, cán bộ không những không hoàn thành nhiệm vụ mà còn dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chẳng hạn, khi đơn vị có hiện tượng tiêu cực, vi phạm kỷ luật nghiêm trọng nhưng cán bộ báo cáo không trung thực, tìm cách bao biện, che giấu khuyết điểm... thì đó là thiếu tinh thần “dám nghĩ”, “dám làm”, “dám chịu trách nhiệm”...

Cán bộ thấy đồng chí của mình sai nhưng im lặng, né tránh, làm ngơ... thì đó là biểu hiện không “dám nói”, không “dám hành động vì lợi ích chung”. Che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích để được khen thưởng, thực dụng, chỉ lo vun vén cho quyền lợi cá nhân, luồn lách tìm cơ hội thăng tiến thì đó là những biểu hiện coi nhẹ đổi mới sáng tạo, không “dám đương đầu với khó khăn, thử thách”...

Các tiêu chí, nội hàm của cán bộ “7 dám” có mối quan hệ biện chứng, bổ trợ, tác động qua lại lẫn nhau. Thiếu đi một “dám” sẽ tác động, ảnh hưởng đến những phẩm chất còn lại. Thiếu càng nhiều “dám” hoặc làm sai lệch nội hàm, bản chất của những tiêu chí đó đều là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, là một bước ngắn dẫn đến tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong bối cảnh toàn quân ta đang nỗ lực tập trung triển khai, thực hiện các mục tiêu, nội dung, giải pháp đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, việc bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ theo tinh thần “7 dám” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tổ chức đảng các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đang đẩy mạnh thực hiện đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thực chất các chương trình, kế hoạch xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kiên quyết phòng, chống chủ nghĩa cá nhân theo các nghị quyết, chỉ thị, kết luận... của Đảng và Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương. Với phương châm kết hợp chặt chẽ “xây” và “chống”, “lấy xây để chống” theo quan điểm của Đảng; cấp ủy, tổ chức đảng các cơ quan, đơn vị cần bổ sung vào nghị quyết lãnh đạo, chương trình hành động, tổ chức học tập, quán triệt đầy đủ, sâu sắc tinh thần “7 dám”.

Cần coi đây là một trong những căn cứ quan trọng để thực hiện thường xuyên phê bình, tự phê bình. Mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người chỉ huy, bí thư, cấp ủy các cấp cần nêu gương, nghiêm túc đánh giá bản thân trên cương vị, chức trách được giao xem mình được mấy “dám”? Những cái “dám” nào mình còn thiếu, hoặc lâu nay vì nhiều lý do, chưa thực sự coi trọng thì có kế hoạch khắc phục, rèn luyện, phấn đấu. Soi xem mình được mấy “dám” sẽ có căn cứ để đánh giá bản thân có hay không thái độ bàng quan, cầu an, “mũ ni che tai”, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai né tránh đấu tranh, nói xấu, tìm kẽ hở của đồng chí, đồng đội để xoi mói, nịnh bợ, tâng công, cầu vinh, vụ lợi... Soi xem, nếu thấy những thứ ấy đang đè nặng hoặc lởn vởn trong tư duy, nếp nghĩ của mình thì hãy tự sửa, tự gột rửa.

Quân đội ta mạnh ở tính đoàn kết, thống nhất, tự giác, nghiêm minh. Bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ theo tinh thần “7 dám” không chỉ là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong một thời điểm mà cần lấy đó làm “cẩm nang” thường xuyên, gắn kết với các hình thức, phương thức giáo dục khác để đẩy mạnh tự giáo dục, tự tu dưỡng, tự rèn luyện. Chỉ khi cán bộ thực sự “dám” đối diện với những thói hư, tật xấu, khuyết điểm... của bản thân thì mới có động lực để “dám” cống hiến, hy sinh vì tập thể, vì đơn vị, vì sự nghiệp xây dựng Quân đội. Đó cũng là cách để ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội.