Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

Không thể xuyên tạc bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa


Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp yêu cầu của lịch sử.

Tuy vậy, các thế lực thù địch vẫn đưa ra các nội dung xấu độc, các luận điệu gây nghi ngờ, đầy sự kích động. Trước những luận điệu phi lý, xuyên tạc sự thật và phản động này, cần phải khẳng định rằng:

NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Có thể nói, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại; là sự vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước; đồng thời được thực hiện xuyên suốt trong tiến trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhà nước pháp quyền là phương thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật. Đó phải là một nhà nước tuân thủ nguyên tắc chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân, thực hiện phân quyền, pháp quyền, dân chủ, tôn trọng quyền con người và quyền công dân… Đó phải “là thể chế, là chế độ mà ở đó, mọi chủ thể như nhà nước, cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước, cá nhân hay mọi chủ thể khác trên lãnh thổ đều phải chấp hành, thực hiện, tuân thủ pháp luật đã được ban hành”. Song trên thực tế, không có các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền chung, áp dụng thống nhất cho mọi nhà nước nhà nước pháp quyền cụ thể, mà là tùy thuộc từng quốc gia sẽ tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền hay tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập… Vì thế, việc Việt Nam tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc phân quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản/Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chẳng có gì trái với nguyên tắc tổ chức của một Nhà nước pháp quyền, dù không thực hiện tam quyền phân lập.

Hơn nữa, để đảm bảo Nhà nước pháp quyền trước hết phải là một nhà nước hợp pháp, hợp hiến, không lâu sau khi khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được triển khai thực hiện thông qua việc tổ chức Tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, đoàn kết để bầu Quốc hội khóa I (6/1/1946); để Quốc hội trao quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ chính thức và thông qua Hiến pháp 1946. Theo đó, Điều 1, Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Đây chính là minh chứng cho quan điểm nhân dân là chủ thể tối cao, duy nhất của quyền lực Nhà nước. Cho nên, mọi luận điệu cho rằng, không thể có một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị của các thế lực thù địch đều là xuyên tạc, bôi đen sự thật.

Thực tế, từ bản chất Nhà nước của dân, do dân, vì dân, ở Việt Nam, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (29/11/1991); tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1/1994) là “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” cũng như trong các văn kiện khác của Đảng sau đó như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. Đặc biệt, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp (lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001); đến Điều 2, Hiến pháp năm 2013 thì khẳng định rõ: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” và nhất là vấn đề “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị” (một nội dung quan trọng của Đại hội XIII)… chính là những dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng, củng cố và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo. Đó đồng thời cũng là quá trình hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trên tinh thần dựa vào dân, lấy dân làm gốc; nhân dân là nguồn gốc và chủ thể của quyền lực Nhà nước; tất cả vì lợi ích của nhân dân: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức lên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA KHẲNG ĐỊNH VÀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ của công dân không chỉ được pháp luật thừa nhận, tôn trọng, mà còn được bảo đảm thực hiện, thúc đẩy trong khuôn khổ pháp luật; quyền con người, quyền công dân, sự bình đẳng của mọi cá nhân không chỉ được khẳng định mà còn được bảo vệ, tôn trọng trong việc thụ hưởng và phát triển, không có sự phân biệt đối xử. Những nguyên tắc này không chỉ được khẳng định trong các bản Hiến pháp, mà còn được bổ sung, điều chỉnh và ngày càng hoàn thiện, đảm bảo để mọi người dân đều được tôn trọng, thụ hưởng, bảo vệ ngày càng đầy đủ hơn. Cụ thể, Chương “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” đứng vị trí thứ hai trong Hiến pháp năm 1946; trong đó ghi rõ công dân Việt Nam có các nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật; công dân Việt Nam có quyền bình đẳng trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, nhất là mọi công dân đều có thể tham gia vào chính quyền và công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước…

Sau đó, lần đầu tiên thuật ngữ “quyền con người” được ghi nhận chính thức tại Điều 50, Hiến pháp năm 1992: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Quyền công dân ở Hiến pháp năm 1992 cũng được mở rộng hơn so với Hiến pháp 1946, 1959, 1980 rất nhiều; trong đó có nhiều quyền mới trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội lần đầu được ghi nhận như quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 57); quyền của cá nhân được suy đoán vô tội (Điều 72)…

Khoản 1 Điều 14 tại Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” của Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đặc biệt, khoản 2 Điều 14 bổ sung nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đây không chỉ là sự phát triển, ghi nhận quyền con người, quyền công dân so với các bản Hiến pháp trước, mà còn là điều kiện để bảo đảm sự cân bằng, minh bạch trong mối quan hệ giữa Nhà nước với con người, công dân phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên cũng như hạn chế tối đa sự lạm dụng, tùy tiện quyền con người, quyền công dân…

Vì thế, theo Hiến pháp Việt Nam, thì không có cá nhân hay tổ chức nào có ý kiến tâm huyết nhằm làm cho đất nước phát triển mà “bị Nhà nước vu khống, bắt giam”; đồng thời, cũng càng không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” bị giam giữ, mà chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng truy tố, xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Thực chất việc đột lốt dân chủ, giả danh đấu tranh cho dân chủ để vi phạm pháp luật khác về bản chất với những ý kiến tâm huyết, đóng góp vì sự phát triển cảu đất nước. “Tù nhân lương tâm” chỉ là sự đánh tráo khái niệm, là cách gọi của các phần tử cơ hội, phản động dành để gọi những người, bị kết án và phải chấp hành hình phạt tù. Đó chính là những người đã tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017). Đó cũng là những người lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo Điều 331, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).

Cho nên, cần phải khẳng định chắc chắn rằng, không phải trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì mọi ý kiến “phản biện”, “tâm huyết” để “phát triển đất nước”, để “giúp người dân được sống tự do, hạnh phúc” của những người “yêu nước” đều bị bỏ tù như luận điệu phản động của các thế lực thù địch, mà chỉ có những người vi phạm pháp luật như Phạm Thị Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Văn Túc, Huỳnh Trương Ca, Lê Đình Lượng, Bùi Hiếu Võ, Đoàn Khánh Vinh Quang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Văn Hóa... thì phải chịu sự xử lý nghiêm minh của luật pháp. Cho nên, không có việc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, mà là ở Việt Nam thì thượng tôn pháp chế xã hội chủ nghĩa là tất yếu!

Cuối cùng, phải khẳng định rằng: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”. Vì thế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyện vọng và sự lựa chọn của nhân dân, phù hợp với xu hướng phát triển nhà nước trên thế giới, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cân nhắc, vận dụng và triển khai phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đó là sự thật và cũng là yêu cầu của lịch sử, chứ không phải là “nhà nước này không do dân chọn” mà là bị Đảng “nhét chữ vào miệng” như quy chụp; đồng thời cũng cho thấy nhận định “Nhà nước ở Việt Nam thời cộng sản không phải của dân, do dân và vì dân mà là “của Đảng, do Đảng và vì Đảng” của các thế lực thù địch là không khách quan, là bôi đen sự thật, là sự dối trá.

Thực tế, quá trình xây dựng và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được thực thi vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn “dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm” và “đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu” cũng như những kết quả đạt được về chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, thực hiện an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo; về đảm bảo và thực thi quyền con người, quyền công dân, bảo vệ công lý... của Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là minh chứng cho thấy luận điệu “nhân dân không bầu ra nhà nước này mà do Đảng tự lập ra để cai trị độc tài” của các thế lực thù địch là phản động, là nhằm mục đích kích động, phủ nhận bản chất “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên cần phải bác bỏ!

                                                            TS. Văn Thị Thanh Mai

                                                            TS. Trần Thị Bình

Bóc trần sự thật về "Bà Cô Dợ", tổ chức "Ân điển cứu rỗi"


Về hoạt động của đạo "Bà Cô Dợ" là do Vừ Thị Dợ (SN 1977), người Mông gốc Lào, trú tại TP Miwaukee, bang Wisconsin, Mỹ sáng lập năm 2016. Tổ chức này lợi dụng xuyên tạc một số câu, điều trong Kinh thánh Cựu ước, Tân ước để giảng dạy, tuyên truyền đạo. Vừ Thị Dợ tuyên truyền, con trai út của Dợ sinh ngày 23/11/2000 chính là Chúa Giêsu tái lâm lần hai, sẽ cai trị người Mông trong 1.000 năm, ai theo "Bà Cô Dợ" sẽ được chia tiền. Nhóm này sử dụng phần mềm Zoom chỉ đạo số đối tượng cốt cán trong nước tích cực tuyên truyền, lôi kéo người Mông tại Việt Nam tham gia, mục đích kích động tư tưởng ly khai, tự trị, tập hợp lực lượng lập "Nhà nước Mông"

Đã có hàng trăm đối tượng người Mông ở các nước tham gia tổ chức, trong đó tại Việt Nam có 19 điểm người Mông ở các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai và Thái Nguyên tham gia. Đáng chú ý, tổ chức "Bà Cô Dợ" có một số hoạt động ảnh hưởng tới an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội như: kích động tư tưởng hẹp hòi dân tộc và chia rẽ dân tộc; chỉ đạo các đối tượng dùng Kinh Thánh để phản bác lại chính quyền đến tuyên truyền; yêu cầu tất cả tín đồ "không được tiêm vaccine phòng dịch bệnh COVID-19 vì sẽ làm giảm trí nhớ, gây hại cho sức khỏe con người", đồng thời "hướng dẫn cách thức đối phó với cơ quan y tế để không tiêm vaccine COVID-19", "mong muốn mọi người phải vững tin theo "Bà Cô Dợ" thì sẽ có đất nước của người Mông"...

Tính đến đầu năm 2022, tỉnh Thái Nguyên có 4 người dân tộc Mông là vợ chồng, chị em trong một gia đình tại xóm Chòi Hồng, xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai bị ảnh hưởng theo tổ chức này. Công an tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp cấp ủy, chính quyền huyện Võ Nhai tổ chức tuyên truyền, vận động, đến nay các đối tượng đã ký cam kết từ bỏ.

Đối với tổ chức "Ân điển cứu rỗi" (còn có tên gọi khác là "Ân điển đời đời" hoặc "Sự cứu rỗi đời đời") do ông Park Ock Soo (SN 1944), lập ra năm 1971 tại Hàn Quốc. Tổ chức này thông qua các hoạt động từ thiện, mời tham gia các khóa đào tạo giáo lý để lôi kéo người tham gia. "Ân điển cứu rỗi" được coi là dạng hệ phái đạo Tin lành, nhưng giáo lý có nhiều nội dung sai lệch Kinh thánh khi cho rằng, ông Park Ock Soo là hiện thân của Chúa Giêsu, tin theo "Ân điển cứu rỗi" mặc nhiên "được Chúa cứu rỗi, không còn tội khi vi phạm", cổ súy cho lối sống phóng khoáng, tự do, "sống trong tội lỗi mà không cần phải ăn năn và cảm thấy day dứt hối hận". Do đó, các tổ chức Tin lành chính thống tại Hàn Quốc và các nước coi "Ân điển cứu rỗi" là "tà giáo".

Thời gian qua, tổ chức này đã đẩy mạnh tuyên truyền, lôi kéo người tham gia dưới nhiều hình thức biến tướng của tôn giáo, có nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định về ANTT tại địa phương. Ở Thái Nguyên có 10 hộ/49 khẩu là người dân tộc Mông tin theo tổ chức "Ân điển cứu rỗi" trú tại xóm Đồng Dong, xã Phương Giao, huyện Võ Nhai đang bị ảnh hưởng. Hiện, Công an tỉnh Thái Nguyên đang chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ phối hợp chính quyền địa phương tổ chức đấu tranh xóa bỏ, không để tổ chức này lan rộng gây ảnh hưởng đến ANTT...

                                                                                                    ST

Những luận điệu bịa đặt cũ mòn


Với các sự kiện ngoại giao quan trọng, nhất là khi Việt Nam trúng cử vào vị trí của các tổ chức thuộc Đại hội đồng LHQ, các thế lực thù địch, phản động lập tức tổ chức những chiến dịch chống phá cả trước, trong quá trình Việt Nam thực hiện nhiệm kỳ của mình. Nghị sĩ cực đoan tại một số nước phương Tây, các tổ chức phản động lưu vong người Việt Nam ở nước ngoài và những cá nhân người Việt ở trong, ngoài nước bị các thế lực thù địch mua chuộc, lợi dụng, số này thường núp bóng ngọn cờ dân chủ, nhân quyền, chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam. Một số tổ chức phi chính phủ quốc tế như Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá quốc tế (AI), Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), Tổ chức Ngôi nhà tự do (FH)... thường xuyên đưa ra các bài viết vu cáo, xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội và tự do dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

Luận điệu này mục đích gây bất lợi cho Việt Nam trong quá trình thực hiện nhiệm kỳ Phó Chủ tịch Đại hội đồng LHQ, vu cáo rằng Việt Nam “đàn áp nhân quyền”, “vi phạm quyền tự do, dân chủ” thì “không đủ tư cách” tham gia vào các tổ chức của LHQ. Đồng thời, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống phá ở trong, ngoài nước còn tìm cách kêu gọi cộng đồng quốc tế tẩy chay những hoạt động mà Việt Nam đăng cai, gửi “thư ngỏ”, “kiến nghị” đến các đoàn, cơ quan ngoại giao nước ngoài yêu cầu can thiệp những vấn đề trong nước, gây sức ép đối với chính quyền, triệt để thực hiện phương châm “quốc tế hóa các vấn đề nội bộ”. Họ dựng lên các “vụ án nhân quyền”, “tiếng nói dân chủ”, “tù nhân lương tâm”, xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại và quan hệ của Việt Nam với các nước đối tác; phủ nhận thành tựu trong công tác đối ngoại, hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế...

Với âm mưu chống phá đến cùng, họ cố tình bôi nhọ, đổi trắng thay đen, cố tình không nhìn thấy sự thật rằng: Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương lấy con người là trung tâm, là chủ thể, là động lực, là mục tiêu cao nhất. Ở Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo đảm theo hiến pháp, pháp luật. Những năm qua, người dân Việt Nam đã và đang được thụ hưởng ngày càng tốt hơn từ thành tựu phát triển đất nước trên mọi lĩnh vực về kinh tế, xã hội. Đảm bảo quyền con người luôn là ưu tiên cao nhất của Đảng và Nhà nước ta, nhất là dành sự ưu tiên đối với những nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương.

Đương nhiên, trong quá trình thực hiện, có những chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước chưa được đảm bảo tại một số lĩnh vực, địa bàn; còn sự nhũng nhiễu, tiêu cực của một bộ phận cán bộ công quyền, gây khó khăn, phiền hà cho người dân, gây thất thoát tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân; đời sống đồng bào, nhất là vùng sâu, vùng xa còn những khó khăn cả về vật chất và tinh thần… Những tồn tại, hạn chế đó có các nguyên nhân khách quan, chủ quan và trong quá trình phát triển, Đảng, Nhà nước ta luôn có các tổng kết, đánh giá, đưa ra các giải pháp khắc phục để đảm bảo đời sống người dân ngày càng được tốt hơn.

Sự nguy hại của những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt là luôn tìm cách quy hiện tượng thành bản chất, đánh đồng mọi hiện tượng tiêu cực thành bản chất của chế độ. Sự lặp đi lặp lại các luận điệu bôi nhọ, xuyên tạc này nhằm gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại và vị thế, uy tín của Việt Nam với các nước, khiến dư luận quốc tế hiểu sai lệch về Việt Nam.

Thứ Hai, 11 tháng 9, 2023

Những yếu tố tác động đến nhận thức và quá trình thực thi, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong quan hệ quốc tế

 

Một là, việc xác định lợi ích quốc gia - dân tộc trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại. Lợi ích quốc gia - dân tộc vừa là cái gốc chi phối mọi quyết định của mỗi quốc gia trong những vấn đề đối nội, vừa chi phối cách hành xử của quốc gia đó trên trường quốc tế. Chính vì vậy, đối với các nước, trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại, việc xác định lợi ích quốc gia - dân tộc trong các trường hợp cụ thể là vấn đề không đơn giản, bắt nguồn từ các yếu tố: 1- Sự khác nhau về lợi ích của các chủ thể tham gia quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại; 2- Sự khác nhau về nhận thức của các chủ thể tham gia quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại; 3- Các quy định, cách tiếp cận của các cơ quan tham gia hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại không đồng nhất dẫn đến cách hiểu, diễn giải và quyết định khác nhau. Những yếu tố này khiến quá trình xác định và thực hiện bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong hoạt động đối ngoại trở nên phức tạp, nhất là khi có sự vận động, tác động của các nhóm lợi ích. Các nhóm lợi ích có thể dùng các kênh và phương thức khác nhau để tác động, điều chỉnh hoặc cung cấp thông tin đối với từng vấn đề trong quá trình xây dựng và thực hiện bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc theo hướng mang lại lợi ích cho họ. Do đó, giới phân tích cho rằng, việc xác định lợi ích quốc gia - dân tộc nhấn mạnh tới vai trò của các chủ thể bên trong một nước với những dạng thức lợi ích khác nhau và thể chế chính trị của nước đó với những đặc thù, luật pháp quốc tế chi phối.

Hai là, mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và lợi ích quốc tế. Theo học giả người Mỹ Thô-mát Rô-bin-xơn (Thomas W. Robinson), bên cạnh lợi ích quốc gia - dân tộc còn có các lợi ích quốc tế (lợi ích song trùng, lợi ích bổ sung, lợi ích xung đột). Lợi ích quốc tế có thể bao gồm lợi ích chung của tất cả các quốc gia (lợi ích quốc tế toàn cầu) hoặc chỉ một số quốc gia nhất định (lợi ích quốc tế tập thể). Năm 1950, Liên Xô coi lợi ích quốc tế giới hạn trong phạm vi là lợi ích chung của khối xã hội chủ nghĩa. Mỹ coi lợi ích quốc tế bao gồm lợi ích chung của các nước tư bản phương Tây. Thực tế cho thấy, trong giai đoạn Chiến tranh lạnh, cả Liên Xô và Mỹ đều theo đuổi bảo vệ lợi ích tập thể hơn lợi ích quốc tế toàn cầu. Chiến tranh lạnh kết thúc, sự đối đầu quân sự giữa hai khối Đông - Tây chấm dứt. Ngày nay, tầm quan trọng của lợi ích quốc tế càng được nâng cao và thể hiện rõ nét trong những thách thức đa dạng mà thế giới nói chung đang phải đối mặt, như các quan hệ về kinh tế, thương mại, phát triển công nghệ, bảo vệ môi trường, kiểm soát dân số, thiên tai, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, vi phạm quyền con người, khủng hoảng di cư... Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc diễn ra ngày càng quyết liệt, các quốc gia vừa và nhỏ đều nhận thấy lợi ích quốc gia - dân tộc chỉ có thể được bảo đảm khi lợi ích chung của cộng đồng quốc tế được bảo đảm dựa trên luật lệ quốc tế. Bên cạnh đó, phải nhìn nhận rõ hơn về tầm quan trọng của lợi ích quốc tế, bởi khi các quốc gia có những lợi ích chung mới có thể cùng nhau hợp tác, xử lý và giải quyết những vấn đề xung đột lợi ích.

Ba là, phương cách, biện pháp tạo dựng sức mạnh tổng hợp quốc gia để tối ưu hóa lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong lịch sử nhân loại, có nhiều phương cách tạo dựng sức mạnh tổng hợp quốc gia, tuy nhiên việc lựa chọn phương cách nào được cho là phụ thuộc nhiều vào bối cảnh cụ thể và chủ thuyết chính trị của giới hoạch định chiến lược, cũng như quyết định chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Ngày nay, “sức mạnh mềm” ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng trong chiến lược của các quốc gia. Cách tiếp cận và biện pháp triển khai sức mạnh mềm hợp lý, đúng đối tượng, đúng thời điểm sẽ góp phần gia tăng sức nặng và tầm ảnh hưởng của các quốc gia trên “bàn cờ” chính trị quốc tế, cũng như tạo ra sức lôi cuốn và đồng thuận xã hội trong chính nội bộ quốc gia. Hầu hết các quốc gia đều nhận thấy, việc sử dụng và lạm dụng “sức mạnh cứng” để giải quyết mâu thuẫn nhằm đạt được mục tiêu nhiều khi không phát huy được tác dụng, thậm chí còn thất bại, dễ vấp phải sự phản ứng của cộng đồng quốc tế và đứng trước rủi ro bị cô lập, làm suy giảm vị thế, uy tín, hình ảnh của quốc gia trong quan hệ quốc tế.

HAIVAN

Bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc

 

Lợi ích quốc gia - dân tộc là một phạm trù được đề cập rộng rãi trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của các quốc gia trên thế giới. Các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế đã đưa ra khá nhiều quan niệm khác nhau về lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia - dân tộc. Tuy nhiên, hầu như các nhà nghiên cứu đều nhất trí cho rằng, lợi ích quốc gia - dân tộc là giá trị của một chủ thể có trách nhiệm tự xác định lợi ích của quốc gia, dân tộc mình. Vì vậy, có thể nói, đây là một khái niệm có tính khái quát hóa cao, bao gồm những nhu cầu sống còn của quốc gia đó; đó là tự bảo vệ, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quân sự và thịnh vượng về kinh tế. Tháng 3-1848, Thủ tướng Anh Hen-ry Pan-mơ-xtơn (Henry Palmerston) từng có một phát biểu kinh điển về lợi ích quốc gia tại Hạ viện Anh: “Không có đồng minh vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn và nhiệm vụ của chúng ta là theo đuổi những lợi ích đó”.

Ở Việt Nam, một số chuyên gia cho rằng, khái niệm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia - dân tộc mặc dù có những điểm khác nhau, song được xem là có chung nội hàm và có thể sử dụng thay thế lẫn nhau. Lợi ích quốc gia là lợi ích chung của cộng đồng những người sống trên một đất nước, có chung nguồn gốc, lịch sử, phong tục, tập quán và phần nhiều còn chung cả tiếng nói, chữ viết. Lợi ích quốc gia thiên về đại diện của giai cấp cầm quyền. Trong khi đó, lợi ích dân tộc bao hàm tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia - dân tộc có chủ quyền, thống nhất, độc lập, lãnh thổ toàn vẹn; cho sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia - dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; cho sự nâng cao không ngừng sức mạnh tổng hợp quốc gia, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia dân tộc. Lợi ích dân tộc là lợi ích của tất cả mọi người dân của một nước. Do những điều kiện đặc thù nên khái niệm lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam có hướng tổng hợp cả hai khái niệm trên. Vì vậy, có thể xem lợi ích quốc gia - dân tộc là toàn bộ những nhu cầu sống còn, trường tồn và phát triển của một quốc gia đã được nhận thức và biến thành mục tiêu của chính sách đối ngoại trong quan hệ với thế giới còn lại ở mỗi thời kỳ lịch sử nhất định, là công cụ hết sức quan trọng trong phân tích chính sách đối ngoại.

Việc xác định đúng và phù hợp mức độ, thứ tự ưu tiên lợi ích quốc gia - dân tộc là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia nói chung, Việt Nam nói riêng. Trên thế giới, các nhà nghiên cứu thống nhất cho rằng, việc sắp xếp mức độ ưu tiên trong các lợi ích quốc gia - dân tộc phụ thuộc rất lớn vào việc quyết định xem loại lợi ích nào quan trọng hơn, có tác động mạnh mẽ hơn tới sự tồn vong và phát triển của quốc gia đó. Một số quốc gia xác định lợi ích theo từng lĩnh vực (chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa...), thời gian đạt được lợi ích (vĩnh cửu, biến đổi); một số quốc gia khác xác định lợi ích theo tiêu chí tầm quan trọng (sống còn, cốt lõi, quan trọng, thứ yếu) hay phạm vi lợi ích (chung, bộ phận, cá nhân). Những nội hàm này cho phép các quốc gia có cơ sở để xác định những vấn đề nào là ưu tiên, cốt lõi phải bảo vệ, vấn đề nào có thể thỏa hiệp. Việc sắp xếp thứ tự ưu tiên giữa các lợi ích cũng góp phần phác họa bức tranh chung về lợi ích quốc gia - dân tộc của các quốc gia để từ đó đưa ra những giải pháp, cách thức chính xác nhằm nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia khi thực hiện một chính sách hay một chiến lược nào đó trong một giai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt cần có sự bảo vệ “quyết liệt” những lợi ích đó tại thời điểm được cho là mang tính “sống còn”. Đơn cử như, Trung Quốc xác định lợi ích cốt lõi trong Sách Trắng về “Phát triển hòa bình của Trung Quốc” (năm 2011), bao gồm chủ quyền quốc gia, an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất quốc gia, chế độ chính trị quốc gia mà Hiến pháp Trung Quốc xác lập và cục diện xã hội ổn định, sự bảo đảm cơ bản của kinh tế - xã hội phát triển bền vững. Trong “Chiến lược An ninh quốc gia” (năm 2017), Mỹ xác định “nước Mỹ trên hết” với “bốn lợi ích quốc gia tối quan trọng”, đó là bảo vệ người dân Mỹ, nước Mỹ và lối sống Mỹ; thúc đẩy sự thịnh vượng của nước Mỹ; bảo vệ hòa bình thông qua sức mạnh; gia tăng ảnh hưởng của Mỹ. Trong tài liệu “Các nguyên tắc cơ bản về chính sách Nhà nước Liên bang Nga đối với Bắc Cực đến năm 2035”, Nga đưa ra sáu lợi ích quốc gia - dân tộc của Nga, trong đó nhấn mạnh “bảo đảm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” là mục tiêu cao nhất. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, để có thể tạo không gian mở, linh hoạt trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại, không phải quốc gia nào cũng công khai các nội hàm lợi ích cụ thể.

Nhìn chung, lợi ích quốc gia - dân tộc được xem là “hòn đá tảng” hay “kim chỉ nam” của chính sách đối ngoại. Nội hàm của lợi ích quốc gia - dân tộc đôi khi cũng bao gồm cả những công cụ được lựa chọn để thực hiện mục tiêu chiến lược và ngoại giao chính là một trong những công cụ quan trọng giúp hiện thực hóa mục tiêu này. Để có thể thoát khỏi những “cạm bẫy” trong quá trình xác định và tối ưu hóa lợi ích quốc gia - dân tộc là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, bất kể lớn hay nhỏ, khi thực tế đã và đang cho thấy, thành công rất nhiều nhưng thất bại cũng không phải không có.

HAIVAN

Ngoại giao đa phương của Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng


Trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được một số kết quả quan trọng về đối ngoại. Hội nhập kinh tế quốc tế phát triển sâu rộng trên nhiều cấp độ từ khu vực đến toàn cầu, đa dạng về hình thức, với việc tham gia chủ động tích cực ở các tổ chức, diễn đàn, hội nghị đa phương quốc tế, đặc biệt là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên hợp quốc và Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương thế hệ mới, nổi bật là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á - Âu (VN - EAEU FTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA). “Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khung khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác. Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu”.

Trên cơ sở đó, Đại hội XIII của Đảng đã đưa ra quan điểm phát triển đất nước nói chung, quan điểm đối ngoại nói riêng, đó là: 1- Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; 2- Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; 3- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất. Mặc dù quan điểm về ngoại giao đa phương chưa được Đảng ta đưa vào văn kiện một cách chính thức và độc lập, nhưng những quan điểm trên được xem là tiền đề cơ bản (nguyên tắc, phương châm) cho chính sách và hành vi (hoạt động) về ngoại giao đa phương.

Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định mục tiêu đối ngoại: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”; tuy nhiên, Đảng ta vẫn chưa đề cập đến ngoại giao đa phương, chỉ hàm ý trong cụm từ “đa phương hóa, đa dạng hóa”. Đảng ta chỉ rõ: “Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể...; chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng đoàn kết... Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc”. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, 10 năm được thông qua tại Đại hội XIII của Đảng, mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm mặc dù không đề cập đến đối ngoại đa phương mà chỉ đề cập đến công tác đối ngoại nói chung: “Giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế”, song, trong phần phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 10 năm, Đảng ta lại đề cập một cách cụ thể, đó là: “Tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh, thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc”. Đặc biệt trong phương hướng đối ngoại, Đảng ta tiếp tục khẳng định và phát triển quan điểm đã nêu trong Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, về “Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”, đó là: Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, kết hợp chặt chẽ với đối ngoại song phương, thực hiện tốt các trọng trách quốc tế, nhất là trong ASEAN, Liên hợp quốc và các khuôn khổ hợp tác ở châu Á - Thái Bình Dương.

Nhìn chung, Việt Nam đã xác định ngoại giao đa phương là một nội dung quan trọng trong quan điểm về đối ngoại với việc sử dụng nhiều lần cụm từ “nâng tầm đối ngoại đa phương” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Thêm vào đó, quan điểm về ngoại giao đa phương được xác định khá cụ thể, như: đối tác trọng tâm là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công...; lĩnh vực được ưu tiên là kinh tế, quốc phòng, an ninh...; quan điểm về thái độ tham gia ngoại giao đa phương là chủ động, tích cực. Trong thời gian tới, ngoại giao đa phương của Việt Nam được Đảng ta xác định: “Tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế, lồng ghép với các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại đã ký kết”. Theo đó, Việt Nam sẽ tích cực, chủ động tham gia đóng góp, định hình “luật chơi” trong các hoạt động ngoại giao đa phương.

Đặc biệt, Việt Nam đã thể hiện sự nâng tầm về tư duy, quan điểm về ngoại giao đa phương khi khẳng định: “Tiếp tục đổi mới hợp tác quốc tế về pháp luật theo hướng chủ động, tích cực, tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng, khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong công tác hợp tác quốc tế về pháp luật”. Như vậy, có thể thấy, Việt Nam chủ trương tham gia ngoại giao đa phương trên cơ sở phối hợp ba hành vi: người thực hiện “luật chơi”, người tận dụng và người tham gia tạo dựng “luật chơi” (rule taker, rule manipulator và rule shaper). Việt Nam kỳ vọng chủ động thực hiện ngoại giao đa phương theo hướng góp phần hình thành các nguyên tắc, “luật chơi” trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, mức độ hành vi còn tùy thuộc vào mô thức ngoại giao đa phương mà Việt Nam tham gia.

Từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, tình hình dịch bệnh COVID-19 có nhiều diễn biến khó lường, các hoạt động ngoại giao đa phương của Việt Nam vẫn diễn ra linh hoạt, năng động và là minh chứng cho một Việt Nam đang tích cực, chủ động tham gia định hình “luật chơi” và nguyên tắc của thể chế đa phương. Việt Nam vẫn đảm nhiệm tốt vai trò, vị trí của mình trong các “sân chơi” đa phương khu vực và thế giới. Cụ thể, Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, tham gia hàng trăm cuộc họp và bỏ phiếu các nghị quyết, đưa ra nhiều sáng kiến quan trọng về các vấn đề liên quan đến thượng tôn pháp luật trong bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới; thúc đẩy bảo vệ người dân, nhất là phụ nữ và trẻ em; ứng phó với những thách thức an ninh phi truyền thống (biến đổi khí hậu, nước biển dâng...); thúc đẩy hợp tác chặt chẽ hơn và nâng cao vai trò của các tổ chức, khu vực và tiểu khu vực, hợp tác giữa các tổ chức, khu vực và tiểu khu vực với Liên hợp quốc trong bảo vệ hòa bình và an ninh ở các khu vực và quốc tế.

Việc tham gia tích cực, chủ động các hoạt động của ASEAN đã và đang khẳng định vai trò dẫn dắt, định hình “luật chơi” của Việt Nam tại diễn đàn đa phương lớn nhất của khu vực này. Việt Nam tham gia chuỗi các hội nghị cấp cao và quan trọng của ASEAN, như Hội nghị cấp cao ASEAN, Hội nghị cấp cao ASEAN với các đối tác, Hội nghị cấp cao Mê Kông - Hàn Quốc lần thứ ba, theo hình thức trực tiếp và trực tuyến... Cùng với đó, Việt Nam chủ động tham gia, tích cực phối hợp một cách có trách nhiệm, chủ động và hiện thực hóa các chương trình kế hoạch theo sáng kiến của Việt Nam, như: Quỹ ASEAN về ứng phó dịch bệnh COVID-19, Kho dự phòng vật tư y tế khẩn cấp ASEAN, Khung phục hồi tổng thể ASEAN và Khung thỏa thuận hành lang đi lại ASEAN (ATCAF)...

Tham gia ngoại giao đa phương trong khuôn khổ APEC cũng là một hoạt động đáng chú ý của Việt Nam. Bên cạnh việc Chủ tịch nước tham dự và phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh APEC lần thứ 28 được tổ chức tại Niu Di-lân, Việt Nam cũng tham gia nhiều sự kiện và hoạt động quan trọng của APEC, như Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC lần thứ 28 (APEC 28), phiên Đối thoại giữa lãnh đạo các nền kinh tế APEC với Hội đồng Tư vấn kinh doanh APEC (ABAC), Hội nghị thượng đỉnh doanh nghiệp APEC. Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Công Thương của Việt Nam cũng tham dự các phiên họp Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao - Kinh tế của APEC. Đặc biệt, tại APEC 28, Việt Nam đã đề xuất một số ý kiến được các nền kinh tế thành viên ghi nhận, bao gồm: chia sẻ và tiếp cận công bằng vắc-xin phòng ngừa dịch bệnh COVID-19, vật tư y tế và nguồn lực, đề nghị APEC có tầm nhìn, cách tiếp cận mới trong việc phục hồi kinh tế, như thúc đẩy nền kinh tế số, thúc đẩy thương mại điện tử, thúc đẩy tự do thương mại, dỡ bỏ các rào cản thương mại để khôi phục sản xuất, kinh doanh, tránh bị đứt gãy các chuỗi sản xuất, đề nghị các nền kinh tế thành viên hỗ trợ, quan tâm các đối tượng yếu thế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những biện pháp, đề xuất về thúc đẩy tăng trưởng xanh, tăng trưởng bao trùm... Tất cả các sáng kiến, đề xuất của Việt Nam đã được ghi nhận đầy đủ vào các văn kiện của APEC, trong đó có Tuyên bố cấp cao APEC, Tuyên bố cấp Bộ trưởng APEC cũng như Kế hoạch hành động triển khai Tầm nhìn APEC đến năm 2040; qua đó, thể hiện sự đóng góp hết sức trách nhiệm, tích cực, chủ động của Việt Nam, là thành viên chủ động, đi đầu trong APEC về xây dựng, củng cố đoàn kết trong APEC để tiếp tục tăng cường hợp tác vì một khu vực châu Á - Thái Bình Dương hòa bình và ổn định”.

Mặc dù đứng trước nhiều khó khăn, thách thức nhưng với những hoạt động sôi động và hiệu quả của hoạt động ngoại giao nói chung và ngoại giao đa phương nói riêng, Việt Nam đã khẳng định vị thế của một quốc gia đang trên đà phát triển. Với vị thế và thực lực cũng như định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đẩy mạnh và nâng tầm ngoại giao đa phương trên thực tế sẽ là đường lối quan trọng để Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của đất nước.

 HAIVAN

Ngoại giao đa phương - tiếp cận từ lý thuyết

 

Ngoại giao đa phương là một hình thức hoạt động ngoại giao, trong đó có sự tham gia của ba chủ thể trở lên trong quan hệ quốc tế (chủ yếu là quốc gia - dân tộc) vào quá trình đàm phán, thương lượng, ra quyết sách trong cùng một thời điểm và đáp ứng nhiều đòi hỏi khác nhau trước một vấn đề cụ thể. Các mô thức ngoại giao đa phương chủ yếu và mang tính phổ quát hiện nay là tổ chức quốc tế (với các tính chất khác nhau từ những tổ chức mang tính cộng đồng chung, liên minh đến những tổ chức mang tính hợp tác với những cam kết đơn giản; ở các cấp độ khác nhau, như khu vực, liên khu vực, toàn cầu; với các lĩnh vực đa dạng: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...); các diễn đàn, hiệp hội (tính chất và quy mô đa dạng nhưng ràng buộc lỏng lẻo hơn); các phong trào, các hội nghị, cuộc họp, hội thảo... (quy mô đa dạng, ít ràng buộc nhằm giải quyết một hoặc một vài vấn đề, mang tính ngẫu hứng hoặc thường niên).

Trong ngoại giao đa phương, lợi ích luôn là yếu tố quy định hành vi của chủ thể. Với mỗi thời điểm khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, các quốc gia có lợi ích khác nhau, dẫn tới hình thành động cơ thúc đẩy sự tham gia của các chủ thể, thời điểm sử dụng mô thức ngoại giao đa phương khác nhau trong quan hệ quốc tế. Hiện nay, chủ thể quan hệ quốc tế (cơ bản nhất là quốc gia - dân tộc độc lập có chủ quyền) tham gia ngoại giao đa phương khá sôi động, cho thấy ngoại giao đa phương đang đáp ứng được những lợi ích của các chủ thể. Một điểm đáng chú ý trong ngoại giao đa phương là tương quan lực lượng và thực lực quốc gia. Đây là nền tảng quan trọng của trật tự thế giới và là cơ sở để định hình “sân chơi” và nguyên tắc ứng xử (“luật chơi”) trong quan hệ quốc tế nói chung và ngoại giao đa phương nói riêng; đóng vai trò không nhỏ trong việc quyết định hành vi và tầm ảnh hưởng trong quá trình đàm phán. Thêm vào đó, thực lực quốc gia - nhân tố được coi là cơ sở của việc hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại - cũng quyết định hành vi của quốc gia trong ngoại giao đa phương. Vì vậy, các nước lớn có hành vi theo hướng chi phối và “bao cấp” cho thể chế đa phương, còn các nước nhỏ thì hành động theo hướng chấp nhận, tuân thủ và “ăn theo”.

Bên cạnh đó, hành vi của quốc gia cũng phụ thuộc vào mức độ thể chế hóa của các tổ chức đa phương. Tổ chức đa phương có mức độ thể chế hóa cao sẽ có khả năng cao hơn trong việc buộc các nước phải tuân thủ luật lệ và ngược lại, mức độ thể chế hóa thấp sẽ làm xu hướng không tuân thủ luật lệ xảy ra cao hơn.

“Luật chơi” (nguyên tắc, quy định) của các thể chế đa phương quốc tế cũng thúc đẩy hoặc tác động đến hành vi của các quốc gia. Các mô thức ngoại giao đa phương khác nhau sẽ có “luật chơi” khác nhau. Nhưng điểm chung của các mô thức ngoại giao đa phương là sản phẩm hay kết quả chính là các thỏa thuận quốc tế đa phương. Các thỏa thuận này là “luật chơi” ràng buộc hành vi tiếp theo của chủ thể trong ngoại giao đa phương. Vì vậy, trong quá trình hình thành “luật chơi”, quốc gia nào được tham gia đàm phán và đưa ra ý tưởng được chấp nhận và ghi nhận ý tưởng trong sản phẩm cuối cùng của ngoại giao đa phương, quốc gia đó sẽ khẳng định được lợi ích và vị thế của mình trong “sân chơi” đa phương này. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để quốc gia thuận lợi hóa môi trường cho hành vi tương lai. Song, do chủ quyền của quốc gia, sự chưa hoàn thiện của thể chế và khả năng đáp ứng nhu cầu của các bên trong các thỏa thuận quốc tế đa phương nên “luật chơi” của các thể chế đa phương chỉ ràng buộc một phần hành vi của quốc gia, bởi khi cần thiết chủ thể (quốc gia) sẽ viện dẫn lý do chủ quyền và lợi ích quốc gia để có thể bỏ qua những “luật chơi” này.

Trên thực tế, hành vi của các chủ thể khá đa dạng. Song, tựu chung chủ thể tham gia ngoại giao đa phương theo ba dạng hành vi cơ bản sau: 1- Các chủ thể thành viên phải chấp nhận và tuân thủ theo “luật chơi” chung (rule taker); 2- Vận dụng “luật chơi” hoặc kẽ hở luật pháp để tối ưu hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mình (rule manipulator); 3- Thay đổi, điều chỉnh hoặc xây dựng “luật chơi” mới để thích ứng với vị thế và thực lực mới (rule maker hoặc shaper). Các chủ thể có thể thay đổi hành vi của mình tùy theo lợi ích, tương quan lực lượng, “luật chơi” và “sân chơi” đa phương trong những thời điểm và vấn đề khác nhau. Ngoài ra, một chủ thể trong một thời điểm có thể có một hoặc hai, thậm chí có đủ cả ba hành vi ở những hoạt động ngoại giao đa phương khác nhau.

Trong thế kỷ XXI, quan điểm và hoạt động ngoại giao đa phương của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phong phú, rõ nét và mang tính đặc thù. Chẳng hạn, Mỹ theo đuổi chủ nghĩa đa phương có lựa chọn và chủ nghĩa đa phương hiệu quả với quan điểm xây dựng một hệ thống đa phương do Mỹ và các nước phương Tây dẫn dắt để có thể gây ảnh hưởng lên các quốc gia khác. Ngoại giao đa phương của Mỹ tồn tại cùng ngoại giao song phương và mang tính thực dụng. Mỹ lựa chọn phát triển hay cầm chừng hoặc từ bỏ hoạt động ngoại giao đa phương theo sự tính toán về lợi ích của họ với các thời điểm khác nhau. Điều này thể hiện rõ trong hành vi ngoại giao đa phương của Mỹ trên thực tế có xu hướng áp đặt “luật chơi” để bảo đảm lợi ích quốc gia, song Mỹ cũng sẵn sàng rời bỏ tổ chức đa phương cũ, khởi xướng thể chế đa phương mới cũng vì lợi ích quốc gia.

Nga luôn chủ trương gắn bó sâu sắc với các nguyên tắc của chủ nghĩa đa phương. Nga chú trọng các cơ chế đa phương như một dạng tập hợp lực lượng để nhằm phục hưng đất nước và ngăn chặn ảnh hưởng của phương Tây. Ngoại giao đa phương của Nga phân tán về chiều rộng từ cấp độ toàn cầu, khu vực tới tiểu khu vực, mang tính lựa chọn với các quan điểm: 1- “Lãnh đạo tập thể của những quốc gia hàng đầu” cùng có trách nhiệm giải quyết các vấn đề toàn cầu, khác với quan điểm lãnh đạo của một siêu cường; 2- Trong ngoại giao đa phương, chính sách đa phương cần được đàm phán giữa các bên liên quan và Nga không chấp nhận một quyết định nào mà chưa được thông qua (chẳng hạn những quyết định của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương hoặc Liên minh châu Âu mà Nga không tham gia sẽ không có giá trị); 3- Ngoại giao đa phương cần trở thành nền tảng, phản ánh sự phân chia quyền lực trong một thế giới đa cực đang nổi lên, bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Bra-xin, mà Nga hết sức chú trọng.

Trung Quốc hiện đang thể hiện cách tiếp cận mạnh mẽ và phổ biến về ngoại giao đa phương, nhất là với các tiểu vùng, khu vực và các tổ chức lớn, đa dạng trong nhiều lĩnh vực. Trung Quốc bắt đầu khẳng định vị thế, sức mạnh và sự dẫn dắt của mình trong nhiều thể chế đa phương qua sự tham gia tích cực vào các cơ chế bằng các sáng kiến đa phương, sự đầu tư và đóng góp, thể hiện sự gánh vác trách nhiệm, tham gia quản trị toàn cầu, phát huy “sức mạnh mềm” của Trung Quốc. Trung Quốc đưa ra chủ thuyết về một thế giới hài hòa, trong đó vai trò của các tổ chức đa phương được đề cao - cùng hợp tác để cùng thịnh vượng, cần tôn trọng sự đa dạng về văn hóa và hệ thống chính trị, các quốc gia đang phát triển có nhiều quyền quyết định hơn. Trung Quốc tích cực triển khai các hoạt động đa phương, truyền bá những tư tưởng mới, đưa ra thông điệp mới về xây dựng một thế giới hài hòa, dân chủ, kiến tạo một trật tự kinh tế thế giới mới, đặc biệt Trung Quốc nêu quan điểm không tham gia liên minh.

HAIVAN

Đảng viên quân đội phấn đấu, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay


Hiện nay, trước những tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, sự chống phá của các thế lực thù địch, sự cám dỗ của lợi ích vật chất, cùng với sự buông lỏng trong quản lý, kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy các cấp và việc thiếu ý thức tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên, đã làm cho một bộ phận không nhỏ đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ các cương vị chủ chốt, là lãnh đạo, chỉ huy của các cơ quan, đơn vị, thậm chí có cả những đảng viên là cán bộ cấp cao, là tướng lĩnh có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, ích kỷ, chạy theo danh lợi cá nhân, cục bộ, lãng phí..., dẫn đến vi phạm phải xử lý kỷ luật. Bên cạnh đó, do tính chất đặc thù của yêu cầu nhiệm vụ, phải thường xuyên công tác xa gia đình, điều kiện sống, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn, khắc nghiệt, gian khổ, thậm chí cả hy sinh tính mạng..., cho nên trong một bộ phận đảng viên quân đội dễ nảy sinh tâm lý so sánh thiệt hơn, ngại tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu, thậm chí dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc, hành động tiêu cực.

Từ thực trạng trên, việc giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng để mỗi đảng viên trong quân đội thấy được niềm vinh dự, tự hào và nghĩa vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc, với Đảng và với nhân dân là nhiệm vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp thiết. Để làm tốt công tác bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên trong quân đội, trước hết phải tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm, chủ trương của Đảng, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, Kết luận số 21 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII.

Bên cạnh đó, cần tập trung thực hiện có hiệu quả những giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức cho đội ngũ đảng viên trong quân đội về tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.

Để xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong quân đội, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tuyên truyền, giáo dục sâu rộng, làm cho toàn thể đội ngũ đảng viên thấm nhuần những nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh và về đạo đức cách mạng; phải làm cho các chủ thể, các đối tượng và lực lượng tham gia xây dựng đội ngũ đảng viên nhận thức được đầy đủ vị trí, vai trò, bản chất của đạo đức cách mạng. Trên cơ sở đó, cấp ủy các cấp, cơ quan chính trị, đội ngũ chính ủy, chính trị viên trong quân đội cần cụ thể hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đề ra phương hướng, mục tiêu, nội dung, giải pháp để tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng đơn vị. Kết hợp tuyên truyền, giáo dục với tạo điều kiện cho đảng viên tự học, tự rèn, tự soi, tự sửa để hoàn thiện bản thân, đối chiếu với những chuẩn mực đạo đức của người đảng viên trong quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên trong quân đội sẽ góp phần nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cộng sản, lòng trung thành đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tình yêu thương con người; gương mẫu trong công tác, lối sống, khiêm tốn giản dị, dân chủ, đoàn kết và kỷ luật, nói đi đôi với làm; thương yêu đồng chí, đồng đội, không quan liêu, độc đoán chuyên quyền, gia trưởng...; có trình độ chuyên môn và tác phong, phương pháp công tác tốt; luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.

Hai là, đề cao tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên; coi trọng việc tự giáo dục, tự rèn luyện.

Tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi đảng viên là biện pháp có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc tự giác hóa quá trình hình thành, phát triển đạo đức cách mạng. Tự giáo dục đạo đức cách mạng, một mặt, phải gắn liền với học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổ chức, quản lý; mặt khác, phải gắn liền giáo dục đạo đức với giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục pháp luật, kết hợp giữa nâng cao nhận thức về đạo đức cách mạng với rèn luyện đạo đức cách mạng thông qua hoạt động thực tiễn.

Do đó, để nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên trong quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố quyết định trực tiếp chính là hình thành sự tự nỗ lực phấn đấu, rèn luyện của từng đảng viên trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, trong công tác và trong sinh hoạt đời thường. Thực tiễn cho thấy, đơn vị nào đề cao vai trò tiền phong gương mẫu, tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thì ở đó chất lượng tư tưởng chính trị của người đảng viên được giữ vững, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh và đơn vị vững mạnh toàn diện.

Ba là, chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặc thù của từng đơn vị.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, nhất là trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh kết hợp thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến, tự chuyển hóa” với việc “răn đe quân sự” thông qua các cuộc chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn, liên tục, bền bỉ của các tổ chức đảng, đảng viên trong quân đội; trong đó, việc bồi dưỡng lập trường chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Song, để mỗi đảng viên giữ vững lòng trung thành, củng cố niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, thì phải chú trọng trang bị cho họ những tri thức chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, kỹ năng quân sự, chuyên môn cần thiết, phù hợp với đặc thù của từng đơn vị.

Bốn là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, tăng cường kỷ luật, xây dựng môi trường dân chủ lành mạnh trong đơn vị.

Các cấp ủy trong quân đội cần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình; trong đó, tự phê bình và phê bình phải trở thành nếp sinh hoạt thường xuyên với tinh thần nghiêm túc, thẳng thắn và đi đôi với thực hiện dân chủ rộng rãi; giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên. Nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan chính trị các cấp trong việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ là yêu cầu cấp thiết. Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng và của nhân dân trong quản lý, giáo dục, kiểm tra, giám sát, phê bình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, qua đó, giúp đội ngũ này được rèn luyện về quan điểm, lập trường tư tưởng, tác phong, lối sống và đạo đức cách mạng.

Năm là, kết hợp giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn ngừa những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

“Xây” đi đôi với “chống” là nguyên tắc trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách của người cán bộ, đảng viên nói chung và đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên quân đội nói riêng, nhằm đạt được kết quả cao nhất.

Thực tiễn cho thấy, đội ngũ đảng viên quân đội được Đảng, Nhà nước, quân đội giao cho nhiều cương vị, chức trách khác nhau; trong đó, nhiều đồng chí được giao quản lý khối lượng cơ sở vật chất, tài sản… có giá trị kinh tế cao, nên nếu không nghiêm khắc với bản thân, cũng như thiếu chế độ kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt sẽ dễ nảy sinh tư tưởng, hành vi tham nhũng, lãng phí. Trên thực tế, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, chưa nêu cao đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không dám đấu tranh với những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực trong đơn vị và trong xã hội; thậm chí, còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân... Thực trạng này đòi hỏi công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên quân đội trên thực tế cần phải kết hợp chặt chẽ với đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí và ngăn ngừa những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Kiên định mục tiêu lý tưởng, giữ vững lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân; luôn là lực lượng tiên phong trên mọi mặt trận, góp phần to lớn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là vinh dự, trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, đội ngũ đảng viên luôn phải là lực lượng nòng cốt, gương mẫu, đi đầu, chịu trách nhiệm trước tiên và cao nhất trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Do đó, việc bồi dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ đảng viên quân đội là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, để đội ngũ này thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó.

HAIVAN    

Yêu cầu, nhiệm vụ của đảng viên quân đội rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cho đội ngũ đảng viên trong quân đội, trước hết là lý tưởng cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, kiên định mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có giác ngộ sâu sắc lý tưởng đó, người đảng viên trong quân đội mới đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ nặng nề, dám hy sinh quyền lợi của bản thân và gia đình, đặt lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc lên trên hết, trước hết. Để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên: “Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”. Đồng thời, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ đảng viên trong quân đội ở bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải nâng cao kiến thức toàn diện. Người căn dặn: “Phải cố gắng học tập về mọi mặt chính trị, quân sự. Phải học tập chính trị: Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”; và muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cương vị, chức trách đảm nhiệm, đòi hỏi người đảng viên trong quân đội “Phải đoàn kết nội bộ, giữa cán bộ và chiến sĩ, đoàn kết quân dân, đoàn kết với các nước anh em”.

Từ những nội dung trên, có thể thấy, để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, người đảng viên quân đội cần phải thấm nhuần, thực hiện nghiêm túc những yêu cầu, nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, nói đi đôi với làm.

Đây là hành động cơ bản nhất thể hiện uy tín và để rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của người đảng viên. Tuy nhiên, đối với người đảng viên trong quân đội, hành động đó phải được biểu hiện ở mức độ cao hơn, phải “Triệt để thi hành mệnh lệnh cấp trên. Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, đội ngũ đảng viên trong quân đội phải nói ít làm nhiều, thân ái, đoàn kết đồng chí, đồng đội, phải là tấm gương trong rèn luyện ý chí chiến đấu kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí. Người cũng dành mối quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất, nhân cách của các tướng lĩnh trong quân đội. Người nhắc nhở: “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”, đây vừa là mục tiêu để rèn luyện, tu dưỡng, vừa là phẩm chất đặc trưng nhất của người đảng viên là lãnh đạo trong quân đội.

Thứ hai, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời.

Đây là yêu cầu cốt lõi trong rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của người cách mạng, bởi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi. Đảng viên giữ cương vị càng cao thì càng phải tích cực, liên tục học tập, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Khi gặp việc thuận lợi không tự cao, tự đại, thỏa mãn dừng lại, khi gặp việc khổ, việc khó thì không chùn bước, nản chí; phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành nhiệm vụ. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý cấp cao, là tướng lĩnh, trong lúc gian khổ thì không sợ nguy hiểm, cực khổ, có công với cách mạng, song đến khi có quyền hạn trong tay thì nảy sinh kiêu ngạo, tự mãn, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, phải xử lý kỷ luật.

Thứ ba, “xây” đi đôi với “chống”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người đảng viên trong quân đội phải luôn rèn luyện, tu dưỡng lối sống trong sạch, lành mạnh; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn gương mẫu trong việc giữ gìn vũ khí, trang bị, tài sản của quân đội; trong quan hệ với nhân dân, không được lấy dù là cái kim, sợi chỉ của nhân dân; mua bán với nhân dân phải công bằng, sòng phẳng; mượn cái gì của dân phải hỏi, dùng xong phải trả, làm hỏng, làm mất phải đền. Đồng thời, Người khẳng định phải kiên quyết chống lại những tệ nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa rời quần chúng. Theo đó, việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cho đội ngũ đảng viên trong quân đội phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục những phẩm chất, tấm gương tốt để lan tỏa, nhân rộng, với xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm để ngăn chặn sự lây lan của chúng.

HAIVAN

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người đảng viên quân đội


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vấn đề này được Người đề cập tới trong nhiều tác phẩm quan trọng như: Đường cách mệnh (năm 1927), Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Đời sống mới (năm 1947), Cần kiệm liêm chính (năm 1949), Đạo đức cách mạng (năm 1958), Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (năm 1969) và bản Di chúc hoàn chỉnh lần cuối cùng (tháng 5-1969). Trong các tác phẩm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là “gốc của người cách mạng”. Người chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Bên cạnh đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên được biểu hiện cụ thể ở các nội dung, như trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Những nội dung của đạo đức cách mạng có mối quan hệ biện chứng với nhau, chỉ cần thiếu một nội dung thì người cán bộ, đảng viên không thể làm tròn nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Đối với đội ngũ đảng viên trong quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đạo đức cách mạng được biểu hiện cụ thể ở những điểm như sau:

Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân. Đây là biểu hiện cao nhất ý thức đạo đức của người đảng viên nói chung, đặc biệt với những đảng viên là cán bộ, sĩ quan, công nhân viên, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng. Đó còn là biểu hiện cao nhất của lòng trung thành đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, là cơ sở để định hướng nhận thức và hành động, tạo thành niềm tin vững chắc và sức mạnh to lớn để mỗi đảng viên luôn hoàn thành chức trách, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó. Người chỉ rõ: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ” và “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc” lãnh đạo sự nghiệp cách mạng; đảng viên cũng là con, em của nhân dân và cũng chính “nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”; do đó, đối với mỗi đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, trung với nước phải luôn gắn liền với trung với Đảng, hiếu với dân.

Đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội, gắn bó mật thiết với nhân dân. Đoàn kết, nhân ái luôn là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Ở thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống đó được hun đúc và phát triển lên một tầm cao mới, là cơ sở để tạo thành sức mạnh vô địch của dân tộc, giúp Quân đội nhân dân Việt Nam đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội, Người căn dặn: “...cần phải đoàn kết hơn nữa, đoàn kết chặt chẽ giữa chiến sĩ với nhau, giữa cán bộ với nhau, giữa chiến sĩ và cán bộ, giữa quân và dân. Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi. Người còn căn dặn: “Người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên”, bởi trong quân đội, người đội trưởng, người chính trị viên là những người đảng viên trực tiếp, hằng ngày tiến hành công tác giáo dục, rèn luyện và quản lý bộ đội; vì thế, có tình cảm gắn bó đó mới lan tỏa tinh thần đoàn kết, xây dựng được sự tin tưởng, thương yêu của đồng chí, đồng đội, mới sẵn sàng sẻ chia và giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là một phẩm chất quan trọng, là nền tảng đạo đức của người quân nhân cách mạng nói chung, của người đảng viên trong quân đội nói riêng. Người chỉ rõ: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính của ta là đạo đức của người quân nhân cách mạng. Các chú phải thực hiện đạo đức đó”; đồng thời, phải “Tu sửa mình cho kỳ giữ được chí công vô tư, đối với việc phải sáng suốt, đối vật không tham lam, gắng làm kiểu mẫu, làm kiểu mẫu cho bộ đội, cho nhân dân”. Người luôn đặt niềm tin và yêu cầu đội ngũ đảng viên trong quân đội phải rèn luyện toàn diện các phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng: “Phải làm sao cho trong quân đội ta không có tham ô lãng phí”.

Tinh thần quốc tế trong sáng là một nội dung không thể thiếu của đạo đức cách mạng. Trong Thư gửi các đơn vị bộ đội ta có nhiệm vụ tác chiến ở Thượng LàoNgười chỉ rõ “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”. Đồng thời, Người nhắc nhở mỗi cán bộ, chiến sĩ, trong đó có đội ngũ đảng viên trong quân đội, phải luôn biết ơn sự giúp đỡ to lớn của nhân dân, chính phủ và quân đội các nước anh em trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Thấm nhuần tư tưởng đó, nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ tình nguyện Việt Nam đã không quản ngại hy sinh, gian khổ, vượt qua mọi khó khăn, tham gia chiến đấu, công tác trên các chiến trường Lào và Campuchia, viết nên những trang sử sáng ngời về đạo đức cách mạng của người cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.

HAIVAN


ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

        Đã 3 tháng trôi qua kể từ ngày xảy ra vụ tấn công trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Ea Tiêu và xã Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, làm 4 cán bộ chiến sĩ công an, 2 lãnh đạo xã hy sinh, 3 người dân vô tội thiệt mạng và 2 cán bộ Công an xã trọng thương cùng nhiều tài sản bị đốt phá (ngày 11/6/2023), nay nhịp sống ở Tây Nguyên đã bình thường trở lại. Nhưng không khí của những ngôi nhà thiếu vắng người cha, người chồng, người con… vẫn không khỏi quạnh quẽ, để lại nỗi đau thương, ám ảnh khôn nguôi trong lòng người ở lại.

          Thế nhưng, ngay sau khi xảy ra vụ việc ngày 11/6, các tổ chức phản động và phần tử cơ hội ở trong và ngoài nước đã lợi dụng truyền thông, không gian mạng để xuyên tạc, bóp méo sự thật. Nhiều clip, bài viết, bình luận thể hiện thái độ hả hê của các đối tượng phản động trước sự hy sinh và mất mát của đồng bào, cán bộ, chiến sĩ; cố tình đánh tráo bản chất, hướng vụ việc sang nguyên do khác nhằm kích động thù hận, kỳ thị dân tộc hòng chia rẽ khối đại đoàn kết…

          Chưa dừng lại, trong những ngày tháng 8, Đài Á Châu Tự Do (RFA), Người Thượng Vì Công Lý… lại tiếp tục dựng clip, viết bài rêu rao, cố tình xuyên tạc về vụ việc ngày 11/6.

          Cụ thể: Ngày 11/8, RFA và Người Thượng Vì Công Lý đã đăng tải bài viết “Việt Nam phủ nhận đàn áp người Thượng vì tôn giáo” với lời lẽ vu khống, bịa đặt rằng: Việt Nam đã có ý định xóa Người Thượng (Đêga) khỏi đất nước Việt Nam; phía Việt Nam cho rằng ở quốc gia này không có khái niệm người bản địa, cũng không có khái niệm người Thượng trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam … Ngày 22/8, RFA dựng clip về cuộc biểu tình trước Tòa Quốc hội Mỹ tại Wasington C.D trong sáng 20/7/2023 của hơn 200 người trong cộng đồng người Đêga đang sinh sống tại Hoa Kỳ để lên án chính quyền Việt Nam ngày càng đàn áp mạnh tay với cộng đồng người Thượng ở Tây Nguyên với các khẩu hiệu như: “Cộng sản Việt Nam hãy trả lại đất đai cho Đêga”, “Hãy chấm dứt đàn áp người Đêga”. Chúng cho rằng hàng trăm người Thượng đã bị cầm tù một cách bất công; Chính phủ Việt nam đã giết người dân Đêga một cách tàn bạo và vô tổ chức trong vụ 11/6 và truyền thông Việt Nam dàn dựng một chiều để ghép tội cho những người từ Mỹ lãnh đạo gây bạo loạn tại Đăk Lăk… Tại đây chúng đã phỏng vấn ông Y Hin Nie, Hội thánh Tin lành đấng Christ tại Hoa Kỳ, ông này cho rằng: Mục đích của cuộc biểu tình là để kêu gọi Hà Nội chấm dứt ngay việc hành hạ, việc lấy đất của người Thượng ở Tây Nguyên,…

          Rõ ràng, vụ việc ngày 11/6 xảy ra tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền Nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của các đối tượng rất man rợ, mất nhân tính, đi ngược lại lợi ích của Nhân dân, ảnh hưởng đến cuộc sống bình yên của Nhân dân… Đến thời điểm hiện tại, các đối tượng tham gia vụ khủng bố ngày 11/6 đều đã bị bắt giữ. Sự thật đã rõ, nhưng các thế lực thù địch vẫn cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật với những lời lẽ lộng ngôn, vô căn cứ như trên hòng chia rẽ khối đại đoàn kết trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Hành động này cần phải đấu tranh và lên án mạnh mẽ./.