Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

Quan điểm của Đại hội VI về dân chủ

 


Đại hội VI của Đảng (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, nhấn mạnh phát huy dan chủ để tạo ra một động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước. Đại hội khẳng định “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”, “bài học cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” bao giờ cũng quan trọng. Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng: ở đâu nhân dân lao động có ý thức làm chủ và được làm chủ thật sự, thì ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng”. Đại hội VI tiếp tục kế thừa khái niệm “làm chủ tập thể” của các dại hội IV, V và khẳng định “Đảng ta coi làm chủ tập thể XHCN là bản chất của chế độ dân chủ XHCN cần được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống”. Chúng ta xác dịnh mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chut, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong  quản lý toàn bộ xã hội”

 

Tăng cường bản chất giai cấp công nhân trong quân đội hiện nay

 


          Tình hình hiện nay, quân đội ta phải luôn kiên định lập trường chính trị, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Không dao động trước các luận điệu tuyên truyền, xuyên tác, phản động của các thế lực thù địch. Bằng các chủ trương, biện pháp thông tin, tuyên truyền, định hướng cho toàn quân nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đồng thời phát huy vai trò của ban chỉ đạo 35, lực lượng 47 của các cơ quan đơn vị tích cực hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

          Tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho quân đội trong giai đoạn hiện nay là một trong những nội dung rất quan trọng vừa cấp bách và lâu dài; đồng thời là vấn đề cốt lõi, có tính nguyên tắc đảm bảo cho quân đội ta thực sự là quân đội cách mạng, thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ công tác, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Đây là nền tảng chính trị bảo đảm cho quân đội ta có khả năng sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống; hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao; đồng thời, là cơ sở để hiện thực hóa phương hướng nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong thời gian tới.

 

Mối quan hệ con người với vũ khí theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin

 


Về mối quan hệ con người với vũ khí, theo V.I.Lênin, trong chiến tranh, con người là yếu tố quyết định thắng lợi. Song, yếu tố con người phải gắn với vũ khí, trang bị kỹ thuật. Yếu tố tinh thần chỉ có thể phát huy được tác dụng khi dựa trên một cơ sở vật chất nhất định. Tinh thần của quân đội dù cao đến đâu cũng không thể là yếu tố duy nhất đảm bảo thắng lợi trên chiến trường. V.I.Lênin cho rằng: “Một đội quân giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ”(5). Người còn chỉ ra vấn đề có tính quy luật nổi lên là yếu tố khoa học quy định rất lớn đến sự vận động, phát triển sức mạnh chiến đấu của quân đội. “Không có khoa học thì không thể xây dựng được một quân đội hiện đại”(6)  và khoa học tác động rất lớn tới các yếu tố cấu thành của sức mạnh chiến đấu của quân đội. Tóm lại, theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, quân đội cách mạng là quân đội có mục tiêu lý tưởng cách mạng, có niềm tin, trách nhiệm, đạo đức, kỷ luật, trí tuệ, sẵn sàng cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân.

 

         

ĐỌC GIÚP BẠN: TP HUẾ: ĐỀ NGHỊ DỪNG TỔ CHỨC LỄ GIỖ HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG TẠI MIẾU ĐÔI ĐỂ PHỤC VỤ CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHẢO CỔ, LỊCH SỬ LÀ MỘT SỰ HỒ ĐỒ, KHÔNG TÔN TRỌNG QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN, ĐẶC BIỆT LÀ SỰ BẤT KÍNH VỚI NGƯỜI ANH HÙNG ÁO VẢI (QUANG TRUNG HOÀNG ĐẾ) CÓ CÔNG LAO TO LỚN VỚI ĐẤT NƯỚC!

     Việc quần chúng nhân dân thờ phụng và tổ chức lễ giỗ nhà Vua Quang Trung đã diễn ra từ xưa đến nay tại miếu Đôi thuộc phường Vân Thủy TP. Huế là hoàn toàn đúng đắn, là bày tỏ lòng tôn kính, là sự biết ơn đến công lao to lớn của người anh hùng dân tộc đã có công chống giặc ngoại xâm bảo vệ non sông bờ cõi nước Việt ta.
   Khi chưa có kết quả và luận chính xác về nghiên cứu khảo cổ, về lịch sử chính xác của Miếu Đôi mà các vị cho dừng việc làm lễ giỗ nhà vua Quang Trung của quần chúng nhân dân là một sự hồ đồ, một sự bất kính với anh linh của người anh hùng dân tộc có công lao to lớn với đất nước ta, là sự trà đạp lên tín ngưỡng thờ cúng nhà vua Quang Trung của quần chúng nhân dân TP Huế nói riêng và cả nước nói chung...mà nói thẳng cho các vị rõ: cái Hội Sử học, Khảo cổ học của các vị cũng là do nhân dân đẻ ra, nhân dân đang nuôi các vị đó, các vị đừng chơi trò "cả vú lấp miệng em" với nhân dân là không ổn đâu nhé...
   Vua Quang Trung cũng như các tiền bối anh hùng dân tộc như Đinh Bộ Lĩnh, Lê Lợi, Lý Công Uẩn,Trần Hưng Đạo Lý Thường Kiệt, gần đây có Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp và rất nhiều vị tiền bối khác vv, được nhân dân ta xây dựng tượng đài và thờ phụng khắp mọi nơi trên mọi miền Tổ quốc để tỏ lòng tôn kính và biết ơn đến công lao to lớn của các vị là hoàn toàn hợp với ý Đảng và lòng dân về sự uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây...riêng về góc nhìn cá nhân tôi, tôi cho rằng gần đây một số nhà "lật sử" cấu kết với một nhóm lợi ích nào đó đã và đang có ý đồ hạ bệ và phủ nhận công lao của Hoàng đế Quang Trung với đất nước, với dân tộc ta, để nâng bi cho kẻ cõng rắn cắn gà nhà (Nguyễn Ánh) với cái gọi là "công lao triều Nguyễn), là một âm mưu đen tối cần phải lên án một cách mạnh mẽ, không khoan nhượng, không thể chấp nhận để cho bọn chúng lộng hành được đằng chân, lân đằng đầu bất chấp dư luận của quần chúng nhân dân ta mãi được./.
Yêu nước ST.

 Nhận diện một số biểu hiện suy thoái 


Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mặc dù vậy, còn rất nhiều biểu hiện suy thoái trong cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) khi thực thi nhiệm vụ, đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận thấu đáo, nhận diện, phát hiện và kiên quyết đấu tranh.


Trước hết, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị tương đối dễ nhận diện đó là “tranh công, đổ lỗi”. Khi công việc được hoàn thành đúng tiến độ, đạt chất lượng, hiệu quả cao thì cố gắng tranh giành đó là công lao của mình, còn gặp khó khăn, thất bại thì tìm mọi cách đổ lỗi cho một cá nhân khác hoặc do yếu tố khách quan. Song hành cùng biểu hiện này còn có biểu hiện khác là “đùn đẩy, né tránh trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ”. Biểu hiện này thường thấy ở việc không có cơ quan, đơn vị, cá nhân nào chịu trách nhiệm chính trong công tác phối hợp, luôn cho rằng nhiệm vụ đó không phải là nhiệm vụ chính của cơ quan, đơn vị mình và đơn vị chỉ có trách nhiệm phối hợp thực hiện, dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”, hoặc “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” đối với những công việc có sự tham gia phối hợp của nhiều đầu mối đơn vị...


Bên cạnh đó, một biểu hiện khác nghiêm trọng hơn biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm là “thực hiện công việc nửa vời, không đến nơi đến chốn”. Đó là việc cá nhân đã ý thức được việc làm của mình, thấy trước được kết quả, nhưng làm cho có và không mang lại hiệu quả. Mặt khác, có một bộ phận CB, ĐV “lười nghiên cứu chủ trương, chính sách và các quy định của pháp luật để phục vụ công tác”. Đây là biểu hiện suy thoái dễ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng do thực hiện không đúng, không đủ các quy định của pháp luật, chủ yếu ra các quyết định thông qua bộ phận tham mưu, không xem xét, kiểm tra trước khi quyết định. Nghiêm trọng hơn, CB, ĐV có biểu hiện suy thoái này thường đùn đẩy trách nhiệm, hoặc sợ sai không dám làm vì không nắm chắc các quy định của pháp luật có liên quan đến lĩnh vực chuyên môn.


Ngoài những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị nêu trên, một biểu hiện hết sức nguy hại khác đang diễn ra khá phổ biến ở không ít nơi, đó là “trọng dụng người không đủ năng lực, không đủ tài, đức và ưa dùng người xu nịnh”. Với việc đánh giá và sử dụng cán bộ như vậy khiến cho những người có năng lực, trình độ, có tinh thần cống hiến mất niềm tin, không còn động lực phấn đấu và gây mất đoàn kết nội bộ trong cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng.


Trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, một bộ phận CB, ĐV đã có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống mà phổ biến nhất trong thực tiễn đó là “lợi dụng việc mua sắm, đầu tư công để hưởng lợi tư”. Không ít người lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc mua sắm, đầu tư công để móc nối, cấu kết với các đơn vị nhà thầu hưởng phần trăm chênh lệch, tiền “hoa hồng”, “lót tay” để phục vụ mục đích cá nhân.


Một biểu hiện khá phổ biến khác đó là “sử dụng thời gian làm việc hành chính để phục vụ mục đích cá nhân”. Biểu hiện này được thể hiện thông qua việc không tập trung vào chuyên môn, không xem nhiệm vụ được giao là nhiệm vụ chính mà chú tâm vào các mối quan hệ bên ngoài, “tham nhũng” thời gian làm việc công để tranh thủ làm việc riêng, tạo thu nhập cá nhân... Cùng với biểu hiện trên, “thiếu đạo đức nghề nghiệp” cũng được xem là biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Trong đó, người mắc biểu hiện này chỉ chú trọng đến lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm mà đi ngược lại với đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức xã hội...




 VÌ SAO VIỆT NAM PHẢI “KIÊN QUYẾT”’ “KIÊN TRÌ” ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO


     Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo là vấn đề hệ trọng, thiêng liêng của quốc gia và được quy định bởi luật phát quốc tế. Đồng thời, đây còn là một chủ trương đúng đắn, biện pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả của Việt Nam.

     

     Thời gian gần đây, chủ quyền biển, đảo của Việt Nam thường xuyên bị xâm phạm bởi các thế lực bên ngoài. Trong bối cảnh đó, Đảng ta đề ra chủ trương “kiên quyết”, “kiên trì” đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biển, đảo. Đây cũng là quan điểm cơ bản, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt, đồng thời là nguyên tắc, sách lược của Việt Nam.

     

     “Kiên quyết” thể hiện quyết tâm dứt khoát, không do dự, không khoan nhượng, không thỏa hiệp về chủ quyền biển đảo. Đồng thời, kiên quyết thể hiện quyết tâm cao trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, chủ quyền quốc gia.

    

     “Kiên trì” bao hàm ý nghĩa cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo có tính chất lâu dài; đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không nản lòng, không nóng vội. Kiên trì còn có hàm ý cuộc đấu tranh đó được tiến hành bằng con đường hòa bình, không phải bằng vũ trang.

   

      Chúng ta phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:

     

      Thứ nhất, chủ quyền biển, đảo là vấn đề hệ trọng, thiêng liêng của quốc gia

      

      Việt Nam là một quốc gia biển, nằm trên phần cực Đông của bán đảo Đông Dương. Những tuyến thông thương tự nhiên với thế giới bên ngoài về phía Bắc và phía Tây hầu như bị rào chắn bởi những dãy núi hiểm trở, gây khó khăn cho hoạt động giao thông, thương mại. Cửa ngõ thông thoáng duy nhất để giao lưu với bên ngoài nằm ở đường bờ biển dài hàng nghìn kilômét.

      

     Biển đối với Việt Nam không phải là yếu tố ngăn cách, mà là yếu tố kết nối. Biển cũng như sông, là những “con đường biết đi”, giúp chúng ta vận chuyển, đi lại. Mặt khác, biển còn là một kho chứa bao la với trữ lượng vô tận về muối và cá cùng những hải sản khác. Biển còn là lá phổi khổng lồ điều hòa khí hậu cho một đất nước ở vị thế “lưng tựa núi cao, mặt trông ra biển lớn”.

      

     Thế kỷ XXI, vai trò của biển và đại dương ngày càng quan trọng, thậm chí được cho là “thế kỷ biển và đại dương”. Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam có vùng biển rộng khoảng 1 triệu km2 (chiếm gần 30% diện tích Biển Đông), 3000 hòn đảo lớn nhỏ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa. Đối với Việt Nam, biển, đảo là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh quốc gia.

      

     Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền trên toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này đã được Đảng và Nhà nước ta nhiều lần khẳng định dựa trên những chứng cứ lịch sử rõ ràng và cơ sở pháp lý được quốc tế thừa nhận. Tuy nhiên, hiện nay, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần không nhỏ quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị thế lực bên ngoài chiếm giữ trái phép.

      

     Chủ quyền biển, đảo, thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia, là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài và gian lao của cả dân tộc, trong đó, không ít chiến sĩ, người dân đã phải hy sinh xương máu để bảo vệ. Do vậy, chủ quyền biển đảo không chỉ là không gian sinh tồn, cơ sở, tiền đề, nguồn lực cho sự phát triển mà còn là vấn đề thiêng liêng của quốc gia - dân tộc.

     

     Trong bối cảnh chủ quyền biển, đảo bị vi phạm, thách thức nghiêm trọng, Đảng và Nhà nước ta nhiều lần nhấn mạnh quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biển, đảo vì đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

     

     Thứ hai, luật pháp quốc tế quy định

     

     Luật pháp quốc tế về chủ quyền biển,đảo được thể hiện rõ nhất trong Hiến chương Liên hợp quốc và Công ước của Liên hợp quốc về Luận Biển năm 1982.

      

     Hiến chương Liên hiệp quốc ra đời năm 1945 trong bối cảnh cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, có mục đích duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Đây là hiệp ước của tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh, có vai trò như một bản hiến pháp đối với các quốc gia thành viên. Khoản 3 Điều 2 quy định: “Tất cả các thành viên của Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hoà bình”(1); Khoản 1 Điều 33 quy định các bên giải quyết tranh chấp “bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hoà giải, trọng tài, toà án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hoà bình khác tuỳ theo sự lựa chọn của mình”(2).

      

      Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 nhấn mạnh việc lấy Hiến chương Liên Hợp quốc làm căn cứ, áp dụng phương thức hoà bình để giải quyết tranh chấp. Điều 279 của Công ước quy định: “Các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp xảy ra giữa họ về việc giải thích hay áp dụng Công ước bằng các phương pháp hòa bình theo đúng Điều 2, khoản 3 của Hiến chương Liên hợp quốc và, vì mục đích này, cần phải tìm ra giải pháp bằng các phương pháp đã được nêu ở Điều 33, khoản 1 của Hiến chương”(3).

       

     Ngoài ra, ngày 4-11-2002, tại Phnôm Pênh (Campuchia), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), trong đó có Việt Nam và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC). Tuyên bố khẳng định các bên cam kết giải quyết mọi tranh chấp lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thông qua trao đổi ý kiến và thương lượng giữa các quốc gia có chủ quyền liên quan phù hợp với các nguyên tắc được công nhận rộng rãi của pháp luật quốc tế(4).

     

     Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC)

      

      Như vậy, có thể thấy luật pháp quốc tế đều nhấn mạnh đến việc giải quyết các tranh chấp bằng con đường hòa bình. Việt Nam đã ký các điều ước quốc tế vì vậy phải tuân thủ luật pháp quốc tế. Việc sử dụng biện pháp hòa bình trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay có nghĩa là không được nóng vội, không được thỏa hiệp mà phải kiên quyết, kiên trì.

     

     Thứ ba, kiên quyết, kiên trì là biện pháp phù hợp, hiệu quả

     

      Chúng ta biết rằng, trên bình diện khu vực và quốc tế nói chung, mâu thuẫn chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biển, đảo luôn là vấn đề nhạy cảm và phức tạp. Chủ trương kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế và phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước.

      

      Về so sánh lực lượng, sức mạnh tổng hợp quốc gia giữa Việt Nam và một số quốc gia có liên quan đến Biển Đông (trong đó có Trung Quốc) cho thấy cán cân không nghiêng hẳn về phía Việt Nam. Vì vậy, việc xử lý các vấn đề trên Biển Đông cần phải hết sức khéo léo, không được nóng vội, nhưng cũng không được thỏa hiệp. Nếu nóng vội có thể dẫn đến những hệ quả khôn lường như xung đột vũ trang, làm mất đi môi trường hòa bình và điều kiện phát triển của đất nước. Ngược lại, nếu thỏa hiệp, nhượng bộ sẽ ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân, uy tín của quốc gia, thậm chí nếu chúng ta nhân nhượng thì các thế lực bên ngoài sẽ càng lấn tới.

     

      Chủ trương kiên quyết, kiên trì trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam hiện nay nhận được sự đánh giá cao và sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế. Điều đó làm hạn chế các hành vi áp đặt, xâm phạm của các thế lực cường quyền hiếu chiến, góp phần vào việc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

      

      Thực hiện chủ trương kiên quyết, kiên trì trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, Việt Nam đã đấu tranh buộc các tàu nước ngoài phải rút khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, tiêu biểu như tàu Hải Dương 981 (năm 2014), tàu Hải Dương 8 (tại bãi Tư Chính năm 2019), tàu Hướng Dương Hồng 10 của Trung Quốc (tháng 5-2023)... Sự kiên quyết, kiên trì đấu tranh của Việt Nam đã góp phần giữ vững chủ quyền biển, đảo, không để xảy ra tình trạng đổ máu trong bối cảnh chính trị cường quyền trỗi dậy là một thành công của Việt Nam.

      

      Kiên quyết, kiên trì đấu tranh là một thể thống nhất, không tách rời nhau trong quá trình thực hiện. Đây là đối sách mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, người dân Việt Nam cần phải thấu suốt chủ trương đó của Đảng.


(1), (2) Hiến chương Liên hợp quốc, ký ngày 26-6-1945, có hiệu lực từ ngày 24-10-1945, https://thuvienphapluat.vn.

(3) Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển, ký ngày 10-12-1983, https://thuvienphapluat.vn.

(4) Declaration on the conduct of parties in the South China sea, https://asean.org.





 TINH THẦN BẤT KHUẤT PHỤ NỮ VIỆT NAM


Đó là câu chuyện đầy xúc động của những cô gái tuổi đôi mươi lái xe Zin130, Gaz 51, Gaz 69... Trước khi trở thành dũng sĩ lái xe, họ là thanh niên xung phong (TNXP), y tá, nuôi quân... đã tình nguyện nhận một nhiệm vụ lịch sử: Vượt tuyến lửa Trường Sơn vào c.hiến trường.


Ngày ấy ch.iến trường đang ác liệt, những chuyến xe vượt Trường Sơn ít khi trở về. Tiền tuyến kêu gọi, một trung đội nữ gồm 40 cô gái tuổi đôi mươi đã tình nguyện nhận nhiệm vụ lịch sử: ôm vô-lăng băng mình qua tuyến lửa để chở đ.ạn dược, hàng hóa ra chiến trường và tải th.ương bi.nh về hậu cứ. Đó là trung đội vận tải cơ giới nữ duy nhất trong những tháng năm chống Mỹ.


Quyết định thành lập trung đội nữ lái xe tải phục vụ c.hiến trường đang trong giai đoạn ác l.iệt khi đó được xem là một quyết định đầy táo bạ.o và vô cùng nguy hiểm. Bởi các cô gái đều xuất thân là tay ngang, người đang là TNXP mở đường, người là y tá, người là chị nuôi tại các kho trạm... Tất cả gặp nhau ở tinh thần xung phong tình nguyện và được binh đoàn tuyển chọn để đưa đi đào tạo lái xe cấp tốc chỉ trong vòng 45 ngày.


Các cô bảo nhau rằng chiến trường đang khẩn cấp, thể hiện lòng yêu nước là phải vượt qua chính khó khăn ban đầu này. Kết quả sau 45 ngày học tập, 40 cô gái trẻ đều đạt kết quả xuất sắc và được đưa vào binh trạm 12 đoàn 559 đóng ở vùng rừng núi tỉnh Quảng Bình để chính thức thành lập trung đội nữ lái xe chuyên chở hàng hóa chi viện cho chiến trường dọc theo con đường huyết mạch Trường Sơn./.


Nguồn: St 



 CÂN BẰNG ĐỐI TÁC


Chuyện Mỹ - Việt: Cân bằng đối tác

Mấy anh em nháo nhác làm gì

Cùng nhau hợp tác để đi

Hoà bình, hữu nghị có gì mà lo?


Tình Việt - Trung, vững đò chèo lái

Láng giềng tốt đâu ngại ép sân 

Biển Đông lặng sóng êm dần.

Mậu biên nhộn nhịp để dân được nhờ.


Tình Việt - Nga màu cờ đỏ thắm

Nghĩa anh em sâu thẳm ân tình

Chính trị, quân sự, an ninh

Mấy chục năm vẫn ân tình thuỷ chung.


Giờ thế giới vô cùng nguy hiểm

Bởi chiến tranh, binh biến khó lường

Làm sao ổn định biên cương

Tránh đất nước khỏi chiến trường đạn bom.


Các nước lớn, người dòm, ké ngó

Quan hệ thêm khốn khó muôn phần

Bạn bè, đối tác cân phân

“Bốn không” ta đã vạn lần nói ra.


Chuyện  Mỹ - Việt đó là tất yếu

Đừng vẽ tô, cường điệu, xấu lời

Chiến lược toàn diện cùng chơi

Mấy anh lớn, trải chiếu mời ngồi chung.


Nga - Trung - Mỹ rượu cùng thưởng thức

Thịt dã cầy thơm phức cùng xơi

Để đất liền đến biển khơi

Non sông đất nước muôn đời bình yên./.





 Vì sao? Trái đất nặng ân tình

Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh

Như một niềm tin, như dũng khí

Như lòng nhân nghĩa, đức hy sinh.

Đâu chẳng vang lời Bác thiết tha?

Đời vui tiếng Bác ấm muôn nhà

Bác đi... Đâu cũng nghe chân bước

Như gió xuân về, đất nở hoa....

Nếu có hôm nào ta vắng Bác

Chắc là Người bận chuyến đi xa...

Ơi đàn em nhỏ quên ca hát

Hãy lớn ngoan như Bác có nhà!

*

Nhà gác đơn sơ, một góc vườn

Gỗ thường mộc mạc, chẳng mùi sơn

Giường mây chiếu cói, đơn chǎn gối

Tủ nhỏ, vừa treo mấy áo sờn.

Máy chữ thôi reo, nhớ ngón đàn

Thong dong chiếc gậy gác bên bàn

Còn đôi dép cũ, mòn quai gót

Bác vẫn thường đi giữa thế gian...

Bụt mọc dầm chân đứng đợi ai 

Quanh hồ thấp thoáng bóng hôm mai

Ngọn đèn kia thức bên ai đó

Mà dạ hương còn phảng phất bay.


Trích: Theo chân Bác -Tố Hữu (1970)



HÃY DỪNG NGAY VIỆC “THỌC GẬY BÁNH XE”!

     Cho đến nay, dư luận trong nước và quốc tế đều đã coi thông tin về chuyến thăm Việt Nam của tổng thống M.ỹ Joe Biden diễn ra từ ngày 10-11/9 tới là phù hợp thông tin cả từ hai phía đã đưa ra. Vậy mà, vẫn có kẻ tỏ ra cái gọi là “quan tâm đến vận mệnh đất nước” cảnh tỉnh chúng ta “hãy coi chừng các hệ lụy xấu sau chuyến thăm”; rằng “hãy phân tích thấu đáo M.ỹ có thực lòng với Việt Nam không vì họ là cường quốc số 1, còn Việt Nam là nhỏ xíu”; rằng “sau khi đã nâng cấp quan hệ, các bè bạn chí cốt của Việt Nam từ xưa có mặn mà với ta nữa không?!” v.v… Đúng là giọng của những kẻ mang “2 lưỡi” nên cùng một sự việc, lúc họ nói thế này, khi nói ngược lại, chung quy là cái tâm xấu độc luôn kích động để chia rẽ nhân dân ta chống lại Đảng, Nhà nước ta mà thôi!

Riêng về quan hệ Việt – M.ỹ, từ năm 2022 về trước, họ đưa ra luận điểm phải “bám vào M.ỹ, đi theo M.ỹ thì đất nước mới phát triển”, “có đủ tiềm lực kinh tế, quốc phòng chống lại Bắc Kinh bành trướng, nhất là ở biển Đông”! Hôm nay, thấy M.ỹ và Việt Nam sau 10 năm quan hệ hợp tác toàn diện và có chung dụng ý nâng tầm quan hệ là “đối tác chiến lược toàn diện” thì họ lại quay ngoắt cảnh báo ta “hãy coi chừng những hệ lụy xấu sau chuyến thăm”?!

Trước hết, mong các ông đọc kỹ phát biểu trong buổi họp báo của đại sứ Mỹ Marc Kuapper ngày 6/9/2023 khi nói về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Joe Biden “là sự kiện lịch sử quan trọng, thể hiện sự coi trọng của M.ỹ với Việt Nam”; “Chính sách của chúng tôi đối với Việt Nam trong nhiều năm qua dựa trên mục tiêu vì một Việt Nam vững mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng. Các chính sách đó dựa trên sự tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền và thể chế chính trị của nhau”. Vậy “hệ lụy xấu” của mục tiêu rõ ràng và minh bạch nêu trên là cái gì? Cần được nhắc lại: nếu thỏa thuận đầu năm 2023, Tổng thống M.ỹ mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Mỹ vào cuối năm, nhưng nay lại vui vẻ đồng ý sẽ sang thăm Việt Nam trước, các ông giải thích ra sao khi có người cho rằng “Việt Nam quá vồ vập” với M.ỹ!? Chính ông đại sứ M.ỹ trong họp báo nói rằng, Việt Nam có lực lượng lao động cần thiết và thành công trong nền kinh tế toàn cầu thế kỷ 21… M.ỹ rất muốn được tham gia vào các nỗ lực xây dựng nền kinh tế dựa trên công nghệ cao của Việt Nam. Vậy là qua chuyến thăm, hai bên đều dựa trên nguyên tắc bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, không thể như các ông nói “nước M.ỹ là cường quốc số 1, còn “Việt Nam nhỏ xíu”. Nếu quả vậy thì cường quốc lớn chủ động đến thăm nước nhỏ xíu thì càng tôn vinh vị thế của dân tộc ta, sao lại cảnh báo là” hệ lụy xấu”?! Chung quy cũng vì cái tâm không sáng nên các ông lươn lẹo, lắt léo trong cách diễn đạt, không ngoài tâm địa xấu xa là gây sự phân tâm, hoài nghi trong các tầng lớp nhân dân!

Các ông chắc cố tình quên, các tờ báo quốc tế lớn đã đưa tin và nhận định rằng, tại thời điểm này, Việt Nam không chỉ nâng tầm quan hệ đối tác với M.ỹ, mà tiếp sau sẽ là với Australia và Singapore. Như vậy Việt Nam chủ trương xây dựng quan hệ đối tác chiến lược không chỉ với 5 cường quốc lớn đang là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc, mà cả với các nước có dân số trung bình, miễn là mang thành tâm hợp tác với Việt Nam để cả hai bên cùng có lợi. Điều đó chứng tỏ chủ trương đối ngoại của Việt Nam là “làm bạn với tất cả các nước” có chung lợi ích theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ quốc tế, đã thật sự được nhiều quốc gia đón nhận và hoan nghênh, trong đó có H.oa Kỳ. Hãy nghe lời cựu Thượng nghị sĩ Chuck Haghen, vốn là bạn và là đồng nghiệp của Tổng thống Biden tại Thượng viện trong nhiều năm qua cho rằng, Tổng thống Biden đã học hỏi những bài học về Việt Nam dù bản thân chưa từng trải qua cuộc chiến: “Tôi không nghĩ đó là hệ quy chiếu quan trọng, nhưng đó vốn là quy chiếu. Tất cả chúng ta đều học được từ lịch sử và chúng ta nên như vậy”. “Tổng thống Joe Biden đã rất chú trọng vào chính sách đối ngoại… Chắc chắn, ông sẽ sử dụng Việt Nam làm hệ quy chiếu và là những bài học kinh nghiệm”. Chính ông Biden đã từng nói với phóng viên khi tuyên bố chiến dịch tranh cử rằng, M.ỹ đáng lẽ nên rời khỏi Việt Nam nhiều năm trước đó (ý nói là cuộc chiến tranh ở Việt Nam trước năm 1975). Còn đây là ý kiến của nhà quan sát chính trị Lê Hồng Hiệp: “M.ỹ sẽ chỉ hợp tác với những quốc gia mà họ có sự thừa nhận về mặt ngoại giao và chính trị. Giữa Việt Nam và M.ỹ vẫn còn một số khác biệt về mặt ý thức hệ, nhưng khi người M.ỹ chấp nhận ngồi cùng bàn với Việt Nam và đã xem Việt Nam như một “đối tác chiến lược toàn diện” thì điều đó có hàm ý, M.ỹ thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đồng tình với ý kiến này, nhà báo chuyên về châu Á David Hutt của tờ The Diplomat nhấn mạnh: “Một Việt Nam ổn định sẽ có lợi cho M.ỹ”!

 Ấy thế mà các ông lại đưa tiếp nhận định: “chắc chắn có những người sẽ kinh ngạc trước thỏa thuận nâng cấp quan hệ này, coi đây là cách làm chính trị thực dụng chống lại Trung Quốc”. Rồi có người bình luận lố bịch “Việt Nam có gì đặc biệt mà M.ỹ thường xuyên ve vãn”; và dự đoán “quan hệ Việt – M.ỹ sắp tới có thể bao gồm việc M.ỹ tăng tường hợp tác quân sự và cung cấp vũ khí cho Việt Nam” (!) Xin thưa, bức tranh tương lai của các ông vẽ ra là dụng ý xấu độc nhằm chặn lại một xu thế tất yếu, đã được dư luận thừa nhận.

Đến đây, thiết nghĩ đã rõ mười mươi về thực chất và tương lai chuyến thăm, mong các ông đừng tiếp tục “tưởng tượng” ra cái gọi là “viễn cảnh xấu” để lung lạc những người nhẹ dạ cả tin. Hãy chấm dứt ngay thủ đoạn cũ rích “thọc gậy bánh xe”!
Yêu nước ST.

 NHỮNG CÂU NÓI BẤT HỦ CỦA BÁC HỒ VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG LUÔN VẸN NGUYÊN GIÁ TRỊ 🇻🇳


1. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa, thì không thành trời

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người.


2. Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.


3. Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.


4. Cần mà không Kiệm thì làm chừng nào xào chừng ấy. Cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.


5. Không có đạo đức cách mạng thì tài cũng vô dụng.


6. Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.


7. Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang.


8. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.


9. Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần - Kiệm - Liêm - Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.


10. Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác.


Sưu tầm



Đấu tranh với “tà đạo” trên địa bàn xứ chè

 Là trung tâm chính trị - kinh tế của vùng trung du miền núi Đông Bắc, cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ, Thái Nguyên cũng là địa bàn mà các phần tử xấu và thế lực thù địch tìm cách thâm nhập hoạt động, lôi kéo người dân tham gia tổ chức, hội nhóm tín ngưỡng, tôn giáo trái pháp luật.

Đâu phải hứa suông!

 

Mấy hôm nay dư luân lại nóng lên câu chuyện tiền lương cho giáo viên. Họ nói là đã từ lâu rồi, không ít giáo viên trông chờ vào lời hứa tăng lương. Vậy mà kết quả là nhiều giáo viên không còn niềm tin vào những lời hứa nữa, đành phải xin nghỉ việc, tìm nghề khác có thể sống được bằng lương.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THƯƠNG DÂN, DÂN LẬP ĐỀN THỜ - HẠI DÂN, DÂN ĐÁI NGẬP MỒ THỐI XƯƠNG!

         Nhắn gửi ông Phan Thanh Hải, GĐ Sở VH-TT Thừa Thiên - Huế: Lịch sử và Nhân dân luôn công bằng. Nhắc lại cho ông lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: 
"Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài,
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua giúp tính bài giải vây,
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si."

Về phía Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ, Bác Hồ lại viết:
"Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu có làm hung, 
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà."

Mấy trăm năm nay, sử sách và Nhân dân luôn oán trách, nguyền rủa Nguyễn Ánh và những tên vua quan hèn nhược của triều Nguyễn về tội lỗi tày trời bán nước, hại dân. Đồng thời luôn tự hào, biết ơn, lập đền thờ phụng Hoàng đế Quang Trung và triều Tây Sơn oai hùng. Bác Hồ viết ra những câu đó cũng là tóm lược, là nói lên nỗi lòng của Nhân dân mà thôi.

THƯƠNG DÂN,
DÂN LẬP ĐỀN THỜ
Trước sự trả thù hèn hạ, man rợ của Nguyễn Ánh, tất cả những ai liên quan đến nhà Tây Sơn đều bị giết hại dã man. Ấy vậy mà Nhân dân ta vẫn âm thầm, bí mật thờ phụng Hoàng đế Quang Trung và nhà Tây Sơn. Ngay quản ngục và lính canh 3 vò đựng xương sọ (Thường được cai ngục và nhân dân cung kính gọi là "Ông vò") cũng bí mật lập bàn thờ. Tương truyền, sau khi kinh thành Huế thất thủ năm 1885, với sự tôn kính, biết ơn đã lâu, lính canh ngục và nhân dân đã đem 3 "Ông vò" ra khỏi ngục thất và an táng chu đáo. Về sau nhân dân đã lập miếu thờ 3 "Ông vò" (Miếu Đôi)

Việc nhân dân lập miếu thờ các vị vua anh hùng của dân tộc (3 Ông vò) đã có từ hàng trăm năm nay. Sự tích dân gian và các bằng chứng, tư liệu lịch sử cũng đã được tổ chức, cá nhân có uy tín vào cuộc, tọa đàm... Rõ ràng chính nghĩa, chân lý của Nhân dân rành rành ra như vậy! Đáng lý ra với chức năng của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn, quý cơ quan cần có cách tiếp cận vấn đề trên nền tảng đạo lý, truyền thống của dân tộc, chủ trương, đường lối và lợi ích chính trị của Đảng, Nhà nước. Tại sao lại yêu cầu "xác minh việc dựng tượng" vua Thái Đức và vua Quang Trung... Tại sao việc thờ phụng những vị vua yêu nước nhà Tây Sơn lại làm nhảy dựng lên như vậy? Chưa thấy dư luận bức xúc vì thờ vua yêu nước đâu, nhưng có lẽ là đang bức xúc về việc dừng tổ chức lễ giỗ vua Quang Trung tại miếu Đôi đấy!

HẠI DÂN, DÂN ĐÁI NGẬP MỒ THỐI XƯƠNG!
Câu nói của nhân dân có phần chua chát, cay nghiệt nhưng nó thỏa đáng, phù hợp để dùng với những kẻ gian tà, bán nước hại dân. Tội lỗi cầu viện, rước ngoại bang vào giày xéo đất nước, rồi cắt đất cho ngoại bang... của Nguyễn Ánh và bè lũ vua quan hèn nhược của triều Nguyễn đã dành dành ra, mấy trăm năm qua cả sử sách và dân gian đều nguyền rủa! 
"Bảo Đại là cháu Gia Long
Là con Khải Định, là dòng Việt gian"

Vậy mà ông Phan Thanh Hải lại nói trong cuộc "tọa" của Nguyễn Phước tộc như sau: "vua Gia Long xứng đáng được tôn vinh ở địa phương và tầm quốc gia nhưng trước hết là ngay trên vùng đất Thừa Thiên Huế..". Ô hay, vậy là đi ngược lại Nhân dân, đi ngược lại tư tưởng của Bác Hồ hay sao? Nhân dân và Bác lên án Nguyễn Ánh là hèn nhược, là bán nước - Ông GĐ Sở VHTTDL TT-Huế lại bảo Nguyễn Ánh "xứng đáng được tôn vinh" ở tầm quốc gia! Ông GĐ to quá! Kinh quá! 

Nói cho ông Hải biết, truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc; lịch sử dân tộc; dư luận Nhân dân và cả chủ trương, đường lối và lợi ích chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ chấp nhận tôn vinh, biết ơn một kẻ mang xú danh BÁN NƯỚC, HẠI DÂN như Nguyễn Ánh - Gia long và bè lũ vua quan hèn nhược của triều Nguyễn đâu. Trăm năm bia đá cũng mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. Xưa nay phường tôn vinh bọn bán nước đều là bọn không tốt đẹp gì và sẽ chịu sự phán xét của dư luận, của lịch sử.

Muốn tôn vinh Nguyễn Ánh nhưng lại yêu cầu ngừng tổ chức lễ giỗ vua Quang Trung? Người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa mà lại công khai muốn tôn vinh kẻ mà Nhân dân nguyền rủa là bán nước! Những hiện tượng "ngược" theo chiều hướng "xét lại" như vậy lại càng ngày càng nhan nhản? Lộng giả thành chân! Liệu có một ngày tất cả những kẻ bán nước ác ôn đều được tôn vinh, như trùm phát xít Bandera bên A cù chẳn hạn và các anh hùng đều bị "xé xác" (tượng Lênin bị tân phát xít giật đổ)... Không lo sao được? Hay để đến lúc nó xảy ra, đất nước nát bét, đau khổ như Ukraine thì mới than khóc, hối đã muộn! Mong tiếng kêu của Nhân dân thấu tới chỗ cần tới, mong sớm có vị chủ soái dẹp loạn!
"Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,
Chúa xuân đâu hỏi có hay không?"
Ps: Nghe tên ông Phan Thanh Hải tôi lại nhớ đến cái tên Phan Thanh Giản, chắc là sự trùng hợp thôi!


Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA!

     Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp yêu cầu của lịch sử. 

Tuy vậy, các thế lực thù địch vẫn đưa ra các nội dung xấu độc, các luận điệu gây nghi ngờ, đầy sự kích động. Trước những luận điệu phi lý, xuyên tạc sự thật và phản động này, cần phải khẳng định rằng:

NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
Có thể nói, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại; là sự vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước; đồng thời được thực hiện xuyên suốt trong tiến trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà nước pháp quyền là phương thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật. Đó phải là một nhà nước tuân thủ nguyên tắc chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân, thực hiện phân quyền, pháp quyền, dân chủ, tôn trọng quyền con người và quyền công dân… Đó phải “là thể chế, là chế độ mà ở đó, mọi chủ thể như nhà nước, cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước, cá nhân hay mọi chủ thể khác trên lãnh thổ đều phải chấp hành, thực hiện, tuân thủ pháp luật đã được ban hành”(1). Song trên thực tế, không có các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền chung, áp dụng thống nhất cho mọi nhà nước nhà nước pháp quyền cụ thể, mà là tùy thuộc từng quốc gia sẽ tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền hay tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập… Vì thế, việc Việt Nam tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc phân quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản/Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chẳng có gì trái với nguyên tắc tổ chức của một Nhà nước pháp quyền, dù không thực hiện tam quyền phân lập.
Hơn nữa, để đảm bảo Nhà nước pháp quyền trước hết phải là một nhà nước hợp pháp, hợp hiến, không lâu sau khi khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được triển khai thực hiện thông qua việc tổ chức Tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, đoàn kết để bầu Quốc hội khóa I (6/1/1946); để Quốc hội trao quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ chính thức và thông qua Hiến pháp 1946. Theo đó, Điều 1, Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Đây chính là minh chứng cho quan điểm nhân dân là chủ thể tối cao, duy nhất của quyền lực Nhà nước. Cho nên, mọi luận điệu cho rằng, không thể có một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị của các thế lực thù địch đều là xuyên tạc, bôi đen sự thật.
Thực tế, từ bản chất Nhà nước của dân, do dân, vì dân, ở Việt Nam, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (29/11/1991); tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (1/1994) là “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”(2) cũng như trong các văn kiện khác của Đảng sau đó như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. Đặc biệt, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp (lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001)(3); đến Điều 2, Hiến pháp năm 2013 thì khẳng định rõ: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” và nhất là vấn đề “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(4) (một nội dung quan trọng của Đại hội XIII)… chính là những dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng, củng cố và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo. Đó đồng thời cũng là quá trình hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trên tinh thần dựa vào dân, lấy dân làm gốc; nhân dân là nguồn gốc và chủ thể của quyền lực Nhà nước; tất cả vì lợi ích của nhân dân: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức lên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(5).

NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA KHẲNG ĐỊNH VÀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ của công dân không chỉ được pháp luật thừa nhận, tôn trọng, mà còn được bảo đảm thực hiện, thúc đẩy trong khuôn khổ pháp luật; quyền con người, quyền công dân, sự bình đẳng của mọi cá nhân không chỉ được khẳng định mà còn được bảo vệ, tôn trọng trong việc thụ hưởng và phát triển, không có sự phân biệt đối xử. Những nguyên tắc này không chỉ được khẳng định trong các bản Hiến pháp, mà còn được bổ sung, điều chỉnh và ngày càng hoàn thiện, đảm bảo để mọi người dân đều được tôn trọng, thụ hưởng, bảo vệ ngày càng đầy đủ hơn. Cụ thể, Chương “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” đứng vị trí thứ hai trong Hiến pháp năm 1946; trong đó ghi rõ công dân Việt Nam có các nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật; công dân Việt Nam có quyền bình đẳng trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, nhất là mọi công dân đều có thể tham gia vào chính quyền và công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước…
Sau đó, lần đầu tiên thuật ngữ “quyền con người” được ghi nhận chính thức tại Điều 50, Hiến pháp năm 1992: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Quyền công dân ở Hiến pháp năm 1992 cũng được mở rộng hơn so với Hiến pháp 1946, 1959, 1980 rất nhiều; trong đó có nhiều quyền mới trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội lần đầu được ghi nhận như quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 57); quyền của cá nhân được suy đoán vô tội (Điều 72)…
Khoản 1 Điều 14 tại Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” của Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đặc biệt, khoản 2 Điều 14 bổ sung nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đây không chỉ là sự phát triển, ghi nhận quyền con người, quyền công dân so với các bản Hiến pháp trước, mà còn là điều kiện để bảo đảm sự cân bằng, minh bạch trong mối quan hệ giữa Nhà nước với con người, công dân phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên cũng như hạn chế tối đa sự lạm dụng, tùy tiện quyền con người, quyền công dân…
Vì thế, theo Hiến pháp Việt Nam, thì không có cá nhân hay tổ chức nào có ý kiến tâm huyết nhằm làm cho đất nước phát triển mà “bị Nhà nước vu khống, bắt giam”; đồng thời, cũng càng không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” bị giam giữ, mà chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng truy tố, xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Thực chất việc đột lốt dân chủ, giả danh đấu tranh cho dân chủ để vi phạm pháp luật khác về bản chất với những ý kiến tâm huyết, đóng góp vì sự phát triển cảu đất nước. “Tù nhân lương tâm” chỉ là sự đánh tráo khái niệm, là cách gọi của các phần tử cơ hội, phản động dành để gọi những người, bị kết án và phải chấp hành hình phạt tù. Đó chính là những người đã tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017). Đó cũng là những người lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo Điều 331, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).
Cho nên, cần phải khẳng định chắc chắn rằng, không phải trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì mọi ý kiến “phản biện”, “tâm huyết” để “phát triển đất nước”, để “giúp người dân được sống tự do, hạnh phúc” của những người “yêu nước” đều bị bỏ tù như luận điệu phản động của các thế lực thù địch, mà chỉ có những người vi phạm pháp luật như Phạm Thị Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Văn Túc, Huỳnh Trương Ca, Lê Đình Lượng, Bùi Hiếu Võ, Đoàn Khánh Vinh Quang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Văn Hoá... thì phải chịu sự xử lý nghiêm minh của luật pháp. Cho nên, không có việc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, mà là ở Việt Nam thì thượng tôn pháp chế xã hội chủ nghĩa là tất yếu!
Cuối cùng, phải khẳng định rằng: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(6). Vì thế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyện vọng và sự lựa chọn của nhân dân, phù hợp với xu hướng phát triển nhà nước trên thế giới, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cân nhắc, vận dụng và triển khai phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đó là sự thật và cũng là yêu cầu của lịch sử, chứ không phải là “nhà nước này không do dân chọn” mà là bị Đảng “nhét chữ vào miệng” như quy chụp; đồng thời cũng cho thấy nhận định “Nhà nước ở Việt Nam thời cộng sản không phải của dân, do dân và vì dân mà là “của Đảng, do Đảng và vì Đảng” của các thế lực thù địch là không khách quan, là bôi đen sự thật, là sự dối trá.
Thực tế, quá trình xây dựng và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được thực thi vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn “dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm”(7) và “đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(8) cũng như những kết quả đạt được về chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, thực hiện an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo; về đảm bảo và thực thi quyền con người, quyền công dân, bảo vệ công lý... của Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là minh chứng cho thấy luận điệu “nhân dân không bầu ra nhà nước này mà do Đảng tự lập ra để cai trị độc tài” của các thế lực thù địch là phản động, là nhằm mục đích kích động, phủ nhận bản chất “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên cần phải bác bỏ!




_____________________
(1) Báo cáo chuyên đề của Đề tài cấp Nhà nước “Thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo: Thực trạng, vấn đề đặt ra và giải pháp”, mã số KX.04.06/16-20
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t.53, tr.224-225
(3) Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa 10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr.174
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.6, tr.232 
(6) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.29
(7) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.28
(8) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.28.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGUY CƠ LỘ LỌT DỮ LIỆU CÁ NHÂN TỪ CÁC TIỆN ÍCH MỞ RỘNG TRÊN GOOGLE CHROME LÀ RẤT CAO

     Thông qua các tiện ích mở rộng (extension) trên Google Chrome, tin tặc (hacker) có thể truy cập vào dữ liệu cá nhân của người dùng, bao gồm số an sinh xã hội, mật khẩu và thông tin tài khoản ngân hàng.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ) vừa lên tiếng cảnh báo về nguy cơ lộ lọt dữ liệu cá nhân người dùng từ các tiện ích mở rộng dành cho trình duyệt Google Chrome.

Theo đó, tin tặc có thể thông qua những tiện ích mở rộng này để truy cập và đánh cắp dữ liệu cá nhân của người dùng như số an sinh xã hội, mật khẩu và thông tin tài khoản ngân hàng.

Các nhà nghiên cứu còn phát hiện những lỗ hổng liên quan đến mật khẩu được lưu trữ dưới dạng văn bản thuần túy trong mã nguồn HTML trên các trang web của một số tập đoàn lớn trên thế giới, bao gồm Google, Amazon, Citibank, Capital One và IRS.

Nguồn gốc của những lỗ hổng nói trên đến từ cách mà các tiện ích mở rộng truy cập mã nguồn trang web nội bộ.

Google hiện cung cấp hàng nghìn tiện ích mở rộng nhằm giúp người dùng sắp xếp các sự kiện theo lịch, quản lý mật khẩu, chặn quảng cáo, truy cập email, lưu dấu trang (bookmark), dịch thuật và các hoạt động tìm kiếm.

Theo ông Asmit Nayak, thành viên nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Wisconsin-Madison, mặc dù các tiện ích mở rộng giúp tăng cường khả năng của trình duyệt và khiến việc duyệt web trở nên dễ dàng hơn, song chúng cũng tiềm ẩn nguy cơ làm lộ lọt dữ liệu riêng tư người dùng trước sự xâm nhập của các tác nhân xấu.

“Nếu không có bất kỳ biện pháp bảo vệ nào, như trường hợp một số website IRS.gov, Capital One, USENIX, Google và Amazon, tất cả tiện ích mở rộng đang chạy trên trang web đều có thể ngay lập tức truy cập được các dữ liệu nhạy cảm như SSN và thông tin thẻ tín dụng. Điều này dẫn đến nguy cơ lớn về bảo mật”, ông Nayak nói.

Google đã đưa ra một số biện pháp bảo vệ trong năm nay nhằm giới hạn chặt chẽ hơn về những loại thông tin mà các tiện ích mở rộng được phép truy cập. Tuy nhiên, vẫn chưa có lớp bảo vệ giữa các trang web và các tiện ích mở rộng trên trình duyệt, vì vậy những tác nhân xấu vẫn có thể trốn tránh không bị phát hiện.

Các nhà nghiên cứu cũng cảnh báo nguy cơ lộ lọt mật khẩu được lưu trữ trong các tệp nguồn HTML văn bản thuần túy khi mà “một tỷ lệ đáng kể các tiện ích mở rộng được quyền khai thác những lỗ hổng này”. Nayak cho biết ông và đồng nghiệp đã xác định được 190 tiện ích mở rộng “truy cập trực tiếp vào các trường mật khẩu”.

Để xác minh mối nghi ngờ về lỗ hổng mật khẩu nói trên, các nhà nghiên cứu đã tải lên một tiện ích mở rộng có thể khai thác điểm yếu và đánh cắp mật khẩu lưu ở dạng văn bản thuần túy từ các trang HTML của website. Do không chứa mã độc nên tiện ích mở rộng này đã vượt qua quá trình sàng lọc bảo mật tại Cửa hàng Chrome trực tuyến của Google.

Nayak cho rằng, việc các nhà nghiên cứu có thể dễ dàng tải lên một tiện ích mở rộng có khả năng gây hại như vậy đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có “các biện pháp bảo mật mạnh mẽ hơn”.

Nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Wisconsin-Madison đề xuất 2 phương pháp, bao gồm thiết lập một tiện ích bổ sung (add-on) JavaScript cho tất cả các tiện ích mở rộng để tạo lớp bảo vệ vững chắc cho các trường dữ liệu nhạy cảm; bên cạnh đó là bổ sung một tính năng trình duyệt nhằm cảnh báo người dùng khi dữ liệu nhạy cảm có dấu hiệu bị truy cập trái phép./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGOẠI GIAO CÂY TRE CỦA VIỆT NAM!

     Có một chi tiết đặc biệt thú vị trong buổi hội đàm giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden, Tổng Bí thư đã mượn một câu thơ của thi sĩ William Butler Yeats để nói về quan hệ hữu nghị của Việt Nam - Hoa Kỳ như sau:
"Khi nghĩ về nơi khởi đầu và kết thúc của những vầng sáng đẹp, tôi nói rằng đó là nơi của những người bạn tôi".
("Think where man's glory most begins and ends, and say my glory was I had such friends".)

Điểm đặc biệt ở chỗ William Butler Yeats là một nhà thơ người Ai Len. Ngay sau đó, chính Tổng thống Biden cũng thừa nhận rằng thời ông còn làm ở Thượng viện, các đồng nghiệp của ông thường trêu chọc rằng ông rất hay dẫn thơ của của các nhà thơ Ai Len vì bản thân của Tổng thống Biden là một người gốc Ai Len.

Đưa chi tiết này ra đây để chúng mình thấy được hết sự sâu sắc, thâm thúy và đẳng cấp làm ngoại giao của ông Cụ./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: TRẦN ĐĂNG KHOA- NHÀ THƠ CÁCH MẠNG TRỞ THÀNH "NHÀ DÂN CHỦ CUỘI"!

     Này Trần Đăng Khoa! Thiên tai, lũ lụt xảy ra, đó là tai hoạ mà ông trời giáng xuống đầu người dân vô tội. Máu người luôn có màu đỏ dù có khác nhau về màu da, dân tộc, biên giới. Xâm chiếm biển, đảo của ta là tội lỗi của tập đoàn bành trướng Bắc Kinh chứ không phải là người dân Trung Quốc. Vậy tại sao ông lại hả hê khi họ gặp hoạn nạn. Không thể lấy cái sai để cổ súy cho cái sai. Không thể lấy cái ác để cổ súy cho cái ác! Nhìn ông và cái đám dân chủ cuội vui như hội khi chứng kiến sự khổ đau của nhân dân Trung Quốc, tôi thấy ông là kẻ có nhân phẩm thấp kém, nhận thức ấu trĩ, lý luận ngu xuẩn!

Động đất ư? Ông hết làm thơ lại chuyển sang trinh thám, quan toà và bây giờ lại có ý định làm "GIA CÁT DỰ" chăng? Động đất nếu có xảy ra ở Trung Quốc thì nhân dân họ phải chịu thiệt hại lớn, cả người và tài sản. Ông vui cái gì chứ? Nếu là con người có lương tri thì chẳng ai mong muốn điều đó xảy ra; riêng ông, ông đã ngấm cái máu "dân chủ" nên có tư tưởng bài tàu một cách cực đoan; bất chấp luân lý. Uổng cơm dân, áo Đảng. Không ngờ một nhà thơ, một đại tá quân đội, cuối đời lại bại não như Trần Đăng Khoa. Không còn gì để nói về loại người như ông. Đáng khinh lắm Khoa ơi./.
Yêu nước ST.

THẤY GÌ KHI TỔNG THỐNG HOA KỲ BIDEN THĂM VIỆT NAM - LẦN ĐẦU MỘT TỔNG THỐNG MỸ THĂM CHÍNH THỨC NƯỚC TA THEO LỜI MỜI CỦA TỔNG BÍ THƯ BCH TW ĐCSVN?

         Sau 8 năm kể từ chuyến thăm lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Mỹ, lần đầu tiên một Tổng thống Mỹ thăm Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư chứ không phải là lời mời của Chủ tịch nước hay Thủ tướng Chính phủ.Với góc nhìn của một người dân Việt Nam, xin luận giải đôi lời: 

Việt Nam và Hoa Kỳ từng là cựu thù, tưởng chừng như bất cộng đái thiên, không thể dung hòa. Mặc dù Mỹ đã bỏ cấm vận nước ta từ năm 1995 và kể từ đó hai quốc gia có mối quan hệ ngày càng nồng ấm. Đặc biệt là từ năm 2013, Việt Nam - Hoa Kỳ thiết lập quan hệ đối tác toàn diện. Sự khác biệt về ý thức hệ giữa Việt Nam và Mỹ là vấn đề lớn nhất trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia trong thời gian rất dài. Hoa Kỳ vẫn luôn can thiệp vấn đề dân chủ, nhân quyền dù trong cam kết hợp tác có nêu rõ "không can thiệp vấn đề nội bộ của nhau".

Thời thế ngày mỗi khác, Việt Nam đang cho thấy sự bứt phá ngoạn mục trên các lĩnh vực, vị thế trên trường quốc tế ngày càng cao. Đặc biệt, Việt Nam có vị trí địa chính trị vô cùng quan trọng trong chính sách xoay trục về Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương của Hoa Kỳ. Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn! Người Mỹ ngày càng coi trọng Việt Nam, bất chấp khác biệt về chính trị. Cái mà Việt Nam, Hoa Kỳ cần là lợi ích quốc gia, tôn trọng thể chế chính trị của nhau để hợp tác cùng phát triển. Việc một Tổng thống Mỹ thăm Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư chứ không phải là lời mời của Chủ tịch nước hay Thủ tướng Chính phủ cho thấy sự coi trọng Việt Nam của Hoa Kỳ và sự già rơ của các chính trị gia nước ta. 

Việc ông Biden thăm nước ta theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được xem là bước ngoặt mới trong quan hệ hai nước. Người Mỹ buộc phải chấp nhận sự thật không thể thay đổi là ở Việt Nam, Tổng Bí thư mới là người đứng đầu cả hệ thống chính trị của quốc gia. Đảng Cộng sản Việt Nam mới là tổ chức lãnh đạo toàn diện đất nước này. Điều này cũng đồng nghĩa với việc họ phải thừa nhận sự thật khách quan đó để hợp tác sâu rộng hơn, cùng phát triển. 

Chuyến thăm Việt Nam lần này của ông Biden mở ra cơ hội hợp tác mới giữa hai nước trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động. Việt Nam cần Hoa Kỳ và Hoa Kỳ rất cần Việt Nam. Với chính sách "ngoại giao cây tre", Việt Nam không chọn phê, chỉ chọn lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chúng ta vừa có thể hợp tác với Nga, Trung Quốc, đồng thời cũng có mối quan hệ tốt với Mỹ. Đó là chiến lược sáng suốt để tạo môi trường thuận lợi phát triển đất nước. 

Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Biden đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm quan hệ Đối tác toàn diện và rất có thể mở rộng thành Đối tác Chiến lược, thậm chí là đối tác chiến lược toàn diện. Người Mỹ đã nhiều lần đề xuất nhưng Việt Nam đang xem xét, cân nhắc nâng tầm quan hệ. Cụ thể, ngày 20/4/2022, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc Knapper nhấn mạnh việc nâng cấp quan hệ với Việt Nam không chỉ là ưu tiên của cá nhân ông mà là ưu tiên của chính quyền Mỹ. Ông cho biết ưu tiên của Mỹ hiện nay là nâng cấp quan hệ với Việt Nam từ Đối tác toàn diện lên Đối tác chiến lược. "Đây là một trách nhiệm mà tôi đang đảm nhận" - ông nói. Ông cho biết việc nâng cấp quan hệ hai nước chắc chắn không chỉ ưu tiên cá nhân Đại sứ mà là ưu tiên của chính quyền Mỹ. 

Đây không phải là lần đầu Hoa Kỳ muốn nâng cấp quan hệ với Việt Nam lên tầm cao mới, cách đây vài tháng, chính Phó Tổng thống Hoa Kỳ đã nhắc đến việc này. Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là mãi mãi trường tồn! Việt Nam - Hoa Kỳ đã xích lại gần nhau hơn, hợp tác trong nhiều lĩnh vực...tuy nhiên, muốn được trở thành Đối tác chiến lược thì các bạn phải lắng nghe, cầu thị. Chúng tôi quan ngại hết sức sâu sắc về tình hình nhân quyền của nước Mỹ. Sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử với người da đen và người vô gia cư hay việc xả súng bừa bãi, coi thường tính mạng nhân dân Mỹ. Các bạn cần cải thiện nhân quyền, không mang súng đạn đi xâm lược các quốc gia có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Không can thiệp chuyện nội bộ của Việt Nam chúng tôi. Dân Việt Nam hoan nghênh thiện chí của Mỹ, lãnh đạo đất nước tươi đẹp này sẽ xem xét, quyết định. Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Biden theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho thấy điều đó. Chào mừng Tổng thống Biden tới đất nước tươi đẹp của chúng tôi./.
Yêu nước ST.

TỪ KẺ THÙ ĐẾN ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN


69 năm trước từ lúc thế và lực còn yếu, Việt Nam phải khăn gói lên đường sang Geneve (1954) và Paris (1973), để đàm phán yêu cầu các nước công nhận quyền dân tộc cơ bản, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Trong cả 2 lần đó, Đế Quốc Mỹ và một số nước lớn trong khu vực vì lợi ích của mình đã chi phối, hòa hoãn, thỏa hiệp với nhau trên xương máu của dân tộc Việt Nam. 


“Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải dành độc lập tự do cho kỳ được” cả dân tộc Việt Nam đã đứng dậy, anh dũng, ngoan cường làm nên chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ 1954 và trận Điện Biên Phủ hiển hách trên không 1972. Sau 5 năm kiên trì đàm phán, trải qua 201 phiên công khai và 45 phiên không công khai, Việt Nam đã buộc Đế Quốc Mỹ khuất phục ký kết hiệp Paris. Chiến dịch Đại Thắng Mùa Xuân năm 1975, tên lính Mỹ cuối cùng nhục nhã cút khỏi Việt Nam, lá cờ Mỹ đã phải cuốn gói sau 10.000 ngày tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa đẫm máu. Với tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên tinh thần tôn trọng độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ, ngày 03/2/1994 Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố xoá bỏ hoàn toàn cấm vận với Việt Nam. Ngày 11/7/ 1995 Tổng thống Mỹ Bill Clinton bay sang Việt Nam tuyên bố bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ.


Gần 70 năm qua thế và lực đã thay đổi. Từ một nước khát khao, yêu chuộng hòa bình, Việt Nam phải lặn lộn sang các nước đàm phán tìm kiếm hòa bình bây giờ Việt Nam là nước có môi trường chính trị ổn định nhất thế giới, trở thành một đất nước hòa bình, là bạn, là đối tác tin cậy để các nước chọn làm nơi đàm đạo, kiến tạo hòa bình.


Cái bắt tay thân tình của Tổng Bí thư ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng với Tổng thống Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ Biden ngày 10/9/2023 là biểu tượng của sự hữu nghị, hợp tác mở ra một chương mới giữa 2 nước, đưa quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ phát triển lên tầm cao mới có tầm chiến lược ổn định và lâu dài, phù hợp nguyện vọng và lợi ích của hai bên, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và thế giới./.


Phan Trung Can