Từ khi ra đời cho đến
nay, học thuyết giá trị thặng dư bị các thế lực thù địch và những kẻ biện hộ
cho sự bóc lột trong chủ nghĩa tư bản tập trung xuyên tạc, bóp méo nhiều nhất.
Họ cho rằng, “học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác đã lỗi thời, chủ nghĩa tư
bản hiện đại đã thay đổi bản chất, không còn là chế độ bóc lột nữa”, “học
thuyết giá trị thặng dư không còn mang tính cách mạng và khoa học”...
Giá trị lý luận của
học thuyết giá trị thặng dư
Học thuyết GTTD được
hình thành trên cơ sở học thuyết giá trị - lao động mà trực tiếp là việc phát
hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Việc phát hiện ra
tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có ý nghĩa to lớn về mặt lý
luận, nó đem đến cho lý thuyết giá trị - lao động một cơ sở khoa học thực sự.
Trước C. Mác, ngay cả
những nhà kinh tế học lỗi lạc của trường phái tư sản cổ điển, như A-đam Xmít và
Đa-vít Ri-các-đô đã không giải thích nổi vì sao các nhà tư bản trao đổi hàng
hóa đúng giá trị mà vẫn thu được GTTD. C. Mác đã khắc phục được những nhầm lẫn,
hạn chế của trường phái cổ điển và làm cho học thuyết giá trị - lao động đạt
tới sự hoàn bị. Sử dụng phương pháp đặc thù trong nghiên cứu kinh tế chính trị
là trừu tượng hóa khoa học, C. Mác đã tách GTTD ra khỏi những hình thái đặc thù
của nó, xây dựng nên học thuyết GTTD của mình.
Các nhà kinh tế trước
C. Mác thấy được lao động tạo ra giá trị, nhưng không tách ra được lao động nào
(cụ thể hay trừu tượng) tạo ra giá trị. C. Mác cho thấy, chỉ có lao động trừu
tượng mới tạo ra giá trị của hàng hóa. Nhờ phát hiện ra tính chất hai mặt của
lao động sản xuất hàng hóa cùng với một loạt những kết quả nghiên cứu khác: Về lượng
giá trị, cấu thành lượng giá trị; nguồn gốc, bản chất, chức năng tiền tệ; quy
luật giá trị và tác động của nó; mâu thuẫn công thức chung của tư bản và đặc
biệt là nhờ phát hiện ra giá trị sử dụng đặc biệt của hàng hóa sức lao động có
thuộc tính hết sức đặc biệt là sản sinh ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó
và nhờ phân biệt được quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị (quá
trình sản xuất GTTD), C. Mác đã vạch rõ bản chất của nền sản xuất tư bản chủ
nghĩa (TBCN), thực chất của quá trình sản xuất GTTD. Qua đó, C. Mác làm rõ GTTD
được tạo ra trong sản xuất chứ không phải là trong lĩnh vực lưu thông; lưu
thông rất cần cho quá trình sản xuất và thực hiện GTTD.
Tất cả thành quả đó,
tạo nên cơ sở khoa học vững chắc giúp C. Mác giải thích được nguồn gốc thực sự
và quá trình vận động, biến tướng của GTTD thành lợi nhuận, lợi tức, địa tô
trong sản xuất, lưu thông, phân phối; phân tích được bản chất của tư bản bất
biến và tư bản khả biến... xây dựng nên học thuyết khoa học về GTTD, về tích
lũy, về tái sản xuất và khủng hoảng kinh tế... Với học thuyết GTTD, C. Mác đã
giải phẫu toàn bộ hệ thống kinh tế TBCN, bóc trần bản chất và nguồn gốc của cái
gọi là hình thức “thu nhập” là lợi nhuận, lợi tức và địa tô.
Học thuyết GTTD cho
thấy rõ bản chất và đặc điểm bóc lột của TBCN. Kinh tế hàng hóa TBCN là sự phát
triển của kinh tế hàng hóa giản đơn. Nhưng, kinh tế hàng hóa TBCN khác với kinh
tế hàng hóa giản đơn không chỉ về lượng (tức là không phải chỉ khác ở số lượng
lớn sản phẩm bị thu hút vào chu chuyển hàng hóa và hình thái hàng hóa của sản
phẩm trở thành hình thái thống trị) mà còn khác về chất. Trên vũ đài hàng hóa
xuất hiện một loại hàng hóa mới là sức lao động, do đó, thị trường hàng hóa
(nói chung) được bổ sung bằng một bộ phận đặc biệt là thị trường sức lao động.
Tất nhiên, thị trường sức lao động không phải do C. Mác khám phá ra, vì ai cũng
biết đến sự tồn tại của lao động làm thuê trong các xã hội trước TBCN. Nhưng
điểm nhấn là ở chỗ, chỉ có C. Mác mới nhìn thấy lao động làm thuê (hàng hóa sức
lao động và chỉ trên cơ sở sản xuất hàng hóa, lao động bị tách khỏi tư liệu sản
xuất (TLSX) mới trở thành lao động làm thuê) là một nhân tố cơ bản làm cho tiền
chuyển hóa thành tư bản và kinh tế hàng hóa giản đơn chuyển hóa thành kinh tế
hàng hóa TBCN - thời đại mới của quá trình sản xuất xã hội, thời đại của tư bản
công nghiệp.
Phương thức sản xuất
TBCN được xây dựng trên cơ sở của một hình thức bóc lột đặc biệt, tức là hình
thức chiếm đoạt lao động của người khác (lao động thặng dư) dưới hình thái
GTTD. Khác với phạm trù “lợi nhuận” vốn được nhà tư bản yêu thích, GTTD biểu
hiện một cách chính xác như sau: 1- Là giá trị, tức lao động vật hóa; 2- Là lao
động thặng dư vật hóa, là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động và bị
nhà tư bản chiếm dụng. Từ đó, đặc điểm bóc lột của CNTB không phải là ở sự tồn
tại lao động thặng dư, mặc dù dưới sự thống trị của tư bản, trình độ bóc lột
được nâng lên rất cao, mà đặc điểm của nó là lao động thặng dư đã hao phí mang
hình thái GTTD, còn tỷ lệ giữa thời gian lao động thặng dư và thời gian lao
động tất yếu thì mang hình thái tỷ lệ giữa GTTD và tư bản khả biến. Quan hệ bóc
lột bị vật hóa, bị che lấp đằng sau quan hệ giữa vật với vật. Vì thế, sự bóc
lột trong chủ nghĩa tư bản (CNTB) là rất tinh vi và không có giới hạn.
Như vậy, điểm mấu chốt
của học thuyết GTTD là:
Thứ nhất, chỉ có lao
động sống mới tạo ra giá trị của hàng hóa, tạo ra GTTD. Nguồn gốc tạo ra GTTD
là sức lao động của công nhân làm thuê, chỉ có lao động sống (sức lao động đang
hoạt động) mới tạo ra giá trị, trong đó có GTTD, nguồn gốc của GTTD là sự tiêu
dùng sức lao động kéo dài ngoài thời gian tái sản xuất ra giá trị của nó;
Thứ hai, GTTD là quy
luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất TBCN, không có sản xuất GTTD
thì không có CNTB, GTTD là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản, nội tại của xã hội
tư bản (mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, giữa giai cấp tư sản và giai cấp
công nhân), mâu thuẫn này ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu CNTB
bằng một xã hội cao hơn.
Thứ ba, chừng nào còn
chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX, còn hàng hóa sức lao động, chừng nào mà người
lao động còn phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống mình một
số thời gian lao động dôi ra để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người
chiếm hữu TLSX, chừng đó, học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác vẫn còn nguyên
giá trị.
Học thuyết GTTD của C.
Mác với những nội dung cốt lõi nêu trên, ngay từ khi mới ra đời đã vấp phải sự
phủ nhận từ phía những người biện hộ và bảo vệ CNTB.