Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

Học thuyết giá trị thặng dư vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh mới!

Từ khi ra đời cho đến nay, học thuyết giá trị thặng dư bị các thế lực thù địch và những kẻ biện hộ cho sự bóc lột trong chủ nghĩa tư bản tập trung xuyên tạc, bóp méo nhiều nhất. Họ cho rằng, “học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác đã lỗi thời, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi bản chất, không còn là chế độ bóc lột nữa”, “học thuyết giá trị thặng dư không còn mang tính cách mạng và khoa học”...

Giá trị lý luận của học thuyết giá trị thặng dư

Học thuyết GTTD được hình thành trên cơ sở học thuyết giá trị - lao động mà trực tiếp là việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận, nó đem đến cho lý thuyết giá trị - lao động một cơ sở khoa học thực sự.

Trước C. Mác, ngay cả những nhà kinh tế học lỗi lạc của trường phái tư sản cổ điển, như A-đam Xmít và Đa-vít Ri-các-đô đã không giải thích nổi vì sao các nhà tư bản trao đổi hàng hóa đúng giá trị mà vẫn thu được GTTD. C. Mác đã khắc phục được những nhầm lẫn, hạn chế của trường phái cổ điển và làm cho học thuyết giá trị - lao động đạt tới sự hoàn bị. Sử dụng phương pháp đặc thù trong nghiên cứu kinh tế chính trị là trừu tượng hóa khoa học, C. Mác đã tách GTTD ra khỏi những hình thái đặc thù của nó, xây dựng nên học thuyết GTTD của mình.

Các nhà kinh tế trước C. Mác thấy được lao động tạo ra giá trị, nhưng không tách ra được lao động nào (cụ thể hay trừu tượng) tạo ra giá trị. C. Mác cho thấy, chỉ có lao động trừu tượng mới tạo ra giá trị của hàng hóa. Nhờ phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa cùng với một loạt những kết quả nghiên cứu khác: Về lượng giá trị, cấu thành lượng giá trị; nguồn gốc, bản chất, chức năng tiền tệ; quy luật giá trị và tác động của nó; mâu thuẫn công thức chung của tư bản và đặc biệt là nhờ phát hiện ra giá trị sử dụng đặc biệt của hàng hóa sức lao động có thuộc tính hết sức đặc biệt là sản sinh ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó và nhờ phân biệt được quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị (quá trình sản xuất GTTD), C. Mác đã vạch rõ bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN), thực chất của quá trình sản xuất GTTD. Qua đó, C. Mác làm rõ GTTD được tạo ra trong sản xuất chứ không phải là trong lĩnh vực lưu thông; lưu thông rất cần cho quá trình sản xuất và thực hiện GTTD.

Tất cả thành quả đó, tạo nên cơ sở khoa học vững chắc giúp C. Mác giải thích được nguồn gốc thực sự và quá trình vận động, biến tướng của GTTD thành lợi nhuận, lợi tức, địa tô trong sản xuất, lưu thông, phân phối; phân tích được bản chất của tư bản bất biến và tư bản khả biến... xây dựng nên học thuyết khoa học về GTTD, về tích lũy, về tái sản xuất và khủng hoảng kinh tế... Với học thuyết GTTD, C. Mác đã giải phẫu toàn bộ hệ thống kinh tế TBCN, bóc trần bản chất và nguồn gốc của cái gọi là hình thức “thu nhập” là lợi nhuận, lợi tức và địa tô.

Học thuyết GTTD cho thấy rõ bản chất và đặc điểm bóc lột của TBCN. Kinh tế hàng hóa TBCN là sự phát triển của kinh tế hàng hóa giản đơn. Nhưng, kinh tế hàng hóa TBCN khác với kinh tế hàng hóa giản đơn không chỉ về lượng (tức là không phải chỉ khác ở số lượng lớn sản phẩm bị thu hút vào chu chuyển hàng hóa và hình thái hàng hóa của sản phẩm trở thành hình thái thống trị) mà còn khác về chất. Trên vũ đài hàng hóa xuất hiện một loại hàng hóa mới là sức lao động, do đó, thị trường hàng hóa (nói chung) được bổ sung bằng một bộ phận đặc biệt là thị trường sức lao động. Tất nhiên, thị trường sức lao động không phải do C. Mác khám phá ra, vì ai cũng biết đến sự tồn tại của lao động làm thuê trong các xã hội trước TBCN. Nhưng điểm nhấn là ở chỗ, chỉ có C. Mác mới nhìn thấy lao động làm thuê (hàng hóa sức lao động và chỉ trên cơ sở sản xuất hàng hóa, lao động bị tách khỏi tư liệu sản xuất (TLSX) mới trở thành lao động làm thuê) là một nhân tố cơ bản làm cho tiền chuyển hóa thành tư bản và kinh tế hàng hóa giản đơn chuyển hóa thành kinh tế hàng hóa TBCN - thời đại mới của quá trình sản xuất xã hội, thời đại của tư bản công nghiệp.

Phương thức sản xuất TBCN được xây dựng trên cơ sở của một hình thức bóc lột đặc biệt, tức là hình thức chiếm đoạt lao động của người khác (lao động thặng dư) dưới hình thái GTTD. Khác với phạm trù “lợi nhuận” vốn được nhà tư bản yêu thích, GTTD biểu hiện một cách chính xác như sau: 1- Là giá trị, tức lao động vật hóa; 2- Là lao động thặng dư vật hóa, là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động và bị nhà tư bản chiếm dụng. Từ đó, đặc điểm bóc lột của CNTB không phải là ở sự tồn tại lao động thặng dư, mặc dù dưới sự thống trị của tư bản, trình độ bóc lột được nâng lên rất cao, mà đặc điểm của nó là lao động thặng dư đã hao phí mang hình thái GTTD, còn tỷ lệ giữa thời gian lao động thặng dư và thời gian lao động tất yếu thì mang hình thái tỷ lệ giữa GTTD và tư bản khả biến. Quan hệ bóc lột bị vật hóa, bị che lấp đằng sau quan hệ giữa vật với vật. Vì thế, sự bóc lột trong chủ nghĩa tư bản (CNTB) là rất tinh vi và không có giới hạn.

Như vậy, điểm mấu chốt của học thuyết GTTD là:

Thứ nhất, chỉ có lao động sống mới tạo ra giá trị của hàng hóa, tạo ra GTTD. Nguồn gốc tạo ra GTTD là sức lao động của công nhân làm thuê, chỉ có lao động sống (sức lao động đang hoạt động) mới tạo ra giá trị, trong đó có GTTD, nguồn gốc của GTTD là sự tiêu dùng sức lao động kéo dài ngoài thời gian tái sản xuất ra giá trị của nó;

Thứ hai, GTTD là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất TBCN, không có sản xuất GTTD thì không có CNTB, GTTD là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản, nội tại của xã hội tư bản (mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân), mâu thuẫn này ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu CNTB bằng một xã hội cao hơn.

Thứ ba, chừng nào còn chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX, còn hàng hóa sức lao động, chừng nào mà người lao động còn phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống mình một số thời gian lao động dôi ra để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu TLSX, chừng đó, học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác vẫn còn nguyên giá trị.

Học thuyết GTTD của C. Mác với những nội dung cốt lõi nêu trên, ngay từ khi mới ra đời đã vấp phải sự phủ nhận từ phía những người biện hộ và bảo vệ CNTB.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

          Trong công cuộc phát triển đất nước, Việt Nam đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa, hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Hiện nay, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đang được triển khai tích cực trong bối cảnh mới của thế giới có nhiều biến động. Do vậy, để phát triển đất nước trong bối cảnh mới của “toàn cầu hóa” và giai đoạn mới của “hội nhập quốc tế”, cần quan tâm một số vấn đề lớn sau:

Thứ nhất, nhận thức đúng về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế” để làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đặc biệt, cần thấy rõ bước phát triển mới của toàn cầu hóa trong những năm tới khi cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ; từ đó, tính toán sách lược, chiến lược trong tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Thứ hai, Việt Nam hiện tham gia các mặt đời sống chính trị - xã hội quốc tế, tức là đã hội nhập rộng vào chỉnh thể thế giới, nhưng mới chỉ dừng ở mức độ hội nhập tương đối sâu với vị trí, vai trò nhất định trong một số lĩnh vực. Tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đưa Việt Nam trở thành bộ phận cấu thành của chỉnh thể thế giới. Tới đây, cần xác định việc giành lấy vị trí, vai trò ngày càng đáng kể trong nền kinh tế thế giới, nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại là nội dung chủ yếu của tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Về kinh tế, cần phấn đấu giành chỗ đứng trong các chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; ưu tiên thúc đẩy phát triển nhanh các ngành kinh tế số và công nghiệp 4.0. Cơ hội đang mở ra cho Việt Nam ở thời hậu dịch bệnh COVID-19, không được bỏ lỡ. Muốn thế, cần ưu tiên phát triển các mạng kết nối Việt Nam với thế giới, cả “kết nối cứng” và “kết nối mềm”.

Về chính trị, tiếp tục nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn, nhất là các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong ASEAN. Chủ động tham gia xử lý các vấn đề quốc tế và khu vực. Thể hiện vai trò của Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Về văn hóa - xã hội, cần đẩy mạnh quảng bá lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam với thế giới; bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản thiên nhiên, công viên địa chất, công viên sinh thái, di sản văn hóa thế giới, cả vật thể lẫn phi vật thể; khẳng định các giá trị xã hội và truyền thống tốt đẹp của Việt Nam, bản sắc Việt Nam; tích cực tham gia sáng tạo các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, khoa học... có tầm ảnh hưởng quốc tế; tham gia xử lý các vấn đề nhân đạo trên trường quốc tế; tham gia đấu tranh với các hiện tượng, hoạt động phi văn hóa, phản văn hóa, chống lại nhân loại... Cần đặc biệt quan tâm việc nhân thêm và phát huy “sức mạnh mềm” của đất nước, cạnh tranh về “sức mạnh mềm” trên trường quốc tế. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các phương tiện truyền thông xã hội ngày càng có vai trò lớn trong quảng bá văn hóa và cả trong “xâm lăng” văn hóa, lan tỏa các giá trị xã hội và cả làm xói mòn các giá trị xã hội, phát huy “sức mạnh mềm” và cả hạn chế “sức mạnh mềm” của các quốc gia, phát triển ổn định xã hội và cả gây bất ổn xã hội... Phương tiện truyền thông xã hội trở thành một hiện tượng văn hóa, một kênh thông tin, một công cụ quản trị. Bên cạnh việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các phương tiện truyền thông xã hội, một số nước chủ động sử dụng và phát huy vai trò kênh thông tin, công cụ quản trị của các phương tiện truyền thông này. Việt Nam cần có cách tiếp cận mới đối với các phương tiện truyền thông xã hội, không chỉ dừng ở chỗ coi chúng là đối tượng quản lý.

Thứ ba, khi triển khai các hoạt động hội nhập quốc tế, luôn nảy sinh những vấn đề cần xử lý về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Đơn cử như, trong tiến trình hội nhập quốc tế, cần luôn điều chỉnh, sửa đổi hệ thống pháp luật trong nước, tuy nhiên, phải có lộ trình, bước đi cẩn trọng, để vừa củng cố độc lập, tự chủ, vừa hội nhập quốc tế thành công. Hay là vấn đề đối phó với nguy cơ lệ thuộc vào thị trường bên ngoài, lệ thuộc kinh tế dẫn đến lệ thuộc về chính trị...; hoặc vấn đề phải đối phó với sự xâm lăng văn hóa, xử lý hiện tượng giao thoa văn hóa trong hội nhập quốc tế, những mâu thuẫn trong xây dựng con người Việt Nam dưới tác động của trào lưu hình thành công dân toàn cầu, sự xâm nhập của các giá trị xã hội không phù hợp đối với nước ta...

Thứ tư, Việt Nam cần chủ động và tích cực tham gia vào việc đổi mới, cải tổ, cải cách hay thiết lập các định chế toàn cầu và khu vực; đóng góp nhiều hơn vào xây dựng “luật chơi”, coi đây là lợi ích quan trọng của quốc gia.

Thứ năm, trong quá trình hội nhập quốc tế, luôn nảy sinh ngày càng nhiều những tranh chấp. Ngoài những cơ chế quốc tế phổ biến, thế giới còn có những cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế mang tính khu biệt, chuyên ngành mà ta chưa có nhiều kinh nghiệm. Do đó, vấn đề cấp bách trong quá trình hội nhập là nâng cao năng lực phòng, chống, xử lý, giải quyết những tranh chấp quốc tế, gắn với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên sâu về các lĩnh vực này./.

TBQL 17

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM, QUỐC KHÁNH 2-9 ĐÃ MỞ RA KỶ NGUYÊN MỚI CHO DÂN TỘC VIỆT NAM

Cách đây 78 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta từ Bắc chí Nam nhất tề đứng lên tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền, chấm dứt kiếp nô lệ, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và đi lên CNXH.

Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945 không chỉ là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc mà còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc; nguồn cổ vũ, động viên, truyền cảm hứng đối với các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tâm khảm mỗi người dân, ngày Quốc khánh 2/9 trở thành bản hùng ca của dân tộc Việt Nam trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta phải liên tiếp đương đầu chống giặc ngoại xâm, tiến hành hàng chục cuộc kháng chiến để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ, hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng để giành lại độc lập dân tộc. Hoàn cảnh lịch sử đó đã hun đúc nên những giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc, đồng thời cho thấy ý nghĩa sống còn của các giá trị văn hóa giữ nước.

Nét đặc sắc của giá trị văn hóa giữ nước chính là xây dựng và phát triển đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, thực hiện “trong ấm, ngoài yên”, đặc biệt là giữ yên lòng dân; ngăn ngừa, đẩy lùi, triệt tiêu mọi nhân tố dẫn đến nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, giữ nước ngay khi đất nước đang thái bình.

Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ bờ cõi đất nước gắn với các tên tuổi lịch sử như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... là những bản anh hùng ca bất diệt. Thế kỷ XX, Đảng, Bác Hồ đã lãnh đạo nhân dân ta viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước.

Đã 78 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Thời gian càng lùi xa càng có thêm sự chiêm nghiệm, có thêm nhiều thông tin, càng thấy được ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đối với đất nước, dân tộc Việt Nam, đồng thời thể hiện ý nghĩa, tầm vóc lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới.

Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới vì độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc theo con đường CNXH. Không chỉ vậy, cuộc cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc ta đã trở thành một biểu tượng, một bài học kinh nghiệm quý giá, một sự khích lệ to lớn cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa.

Chính bởi ý nghĩa lịch sử đó cùng những thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, thế giới ngợi ca nhân dân của một đất nước Việt Nam anh hùng.

Đến hôm nay, sau 37 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, các phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo luôn được các tổ chức chính trị, xã hội và các tầng lớp nhân dân quan tâm, ủng hộ.

Việt Nam được bạn bè thế giới mến phục, coi là biểu tượng của hòa bình, ổn định chính trị, xã hội, sự thân thiện, mến khách, đồng thời là biểu hiện của sự nỗ lực, tinh thần chiến thắng đói nghèo trong thế kỷ XXI. Những thành tựu to lớn đã đạt được từ ngày thành lập nước đến nay chứng tỏ sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. (trích báo)

 

 

Trước hết phải tự phê bình!

Phát biểu tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở: Hết sức tránh tình trạng “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người” để cảnh báo, phòng ngừa "căn bệnh" rất đáng lo ngại này trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Đây vừa là một biểu hiện, đồng thời là một trong những nguyên nhân dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"...

1. Thời gian qua, cùng với những kết quả quan trọng của cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không ít cán bộ, đảng viên, có cả người đứng đầu các cấp bị kỷ luật, xử lý hình sự. Đáng nói là trong đó có một số cán bộ lúc đương chức nổi tiếng với những phát ngôn mạnh mẽ, quyết liệt trong chỉ đạo, răn dạy cấp dưới và quần chúng phải phấn đấu sống tốt, nỗ lực cống hiến, tránh bị cám dỗ, rơi vào chủ nghĩa cá nhân dẫn đến sai phạm, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

Thực tế, có không ít cán bộ khi chưa bị phát hiện sai phạm đã hùng hồn rao giảng: Cán bộ, đảng viên, công chức phải làm việc vì dân, không được tham nhũng, tiêu cực; phải tuân thủ các giá trị đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ; phải ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thông qua những việc làm thiết thực, cụ thể để nêu gương trước quần chúng...

Thế nhưng, sau đó không lâu, những cán bộ này bị pháp luật "sờ gáy" với hàng loạt sai phạm ở thời điểm trước khi phát ngôn hay ở ngay lúc đang hùng hồn phát biểu dạy dỗ cấp dưới.

Những cá nhân này đã thể hiện sự liêm chính giả tạo để lấp liếm, che giấu dư luận và tổ chức. Thậm chí, họ còn rốt ráo chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm cán bộ, nhân viên cấp dưới với những vi phạm mà chính mình cũng đang mắc phải theo kiểu “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người”.

2. Dư luận không khỏi bức xúc trước những người đầy rẫy thói hư tật xấu nhưng không tự sửa mình mà lại cứ săm soi, đánh giá, phán xét, giáo dục, lên lớp người khác. Theo Thiếu tướng, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thái, nguyên Phó cục trưởng Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Công an nhân dân:

“Nếu chân tay đã vấy bùn mà còn tiếp tục đi giáo dục người khác là anh không thể làm gương; che giấu khiếm khuyết của mình, dối trá để đi dạy người khác là không thể chấp nhận được. Cán bộ như thế mà “soi” người khác thì không thể hiệu quả, nhiều khi bị phản ứng trở lại”.

Đặc biệt, khi trong hàng ngũ có nhiều cán bộ rơi vào tình trạng như thế thì rất dễ dẫn đến gây mất niềm tin cho cấp dưới và quần chúng, vì người không tốt mà lại săm soi, phê bình, lên lớp người khác thực chất là “nói một đằng, làm một nẻo”, nói mà không làm hoặc nói đúng, nói hay nhưng làm sai, làm dở.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến "căn bệnh" này, nhưng nguyên nhân căn bản nhất xuất phát từ sự rèn luyện không thường xuyên, liên tục, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sinh ra những thói hư tật xấu, thiếu gương mẫu, làm ảnh hưởng đến đồng nghiệp, đồng đội và tập thể.

Cũng có người bị những cá nhân không trong sáng lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc... dẫn đến tha hóa, tìm cách hạ uy tín của người khác. Thực tế cũng có người chạy chức, chạy quyền, khi leo đến vị trí quyền lực thì ra oai bằng cách rao giảng, phán xét, áp đặt ý kiến chủ quan đối với cấp dưới và những người xung quanh, thậm chí lạm dụng quyền lực để hạ bệ người khác.

Nhiều trường hợp sự soi mói, phán xét áp đặt chủ quan lại xuất phát từ lòng đố kỵ, ghen tức nên tìm cách nâng mình, hạ người...

Những người mắc "căn bệnh" này sẵn sàng “bới lông tìm vết”, phê bình, nói xấu người khác theo kiểu “thầy bói xem voi”, xuyên tạc, suy diễn, thêu dệt đủ chuyện...

Hiện tượng tiêu cực trên gây ra hậu quả lớn cho các cá nhân, tổ chức. Những người “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người” khiến đồng chí, đồng nghiệp bất bình, bức xúc.

Tập thể cơ quan, đơn vị nào có cán bộ như vậy dễ sinh ra mất đoàn kết, nếu người đứng đầu có tính xấu như vậy sẽ làm triệt tiêu tính đấu tranh tự phê bình và phê bình, dẫn đến tình trạng cấp dưới chán nản, có tư tưởng tiêu cực, người tốt không được ghi nhận có thể dẫn đến bất mãn, "tự diễn biến"; tạo môi trường thuận lợi cho những “con lươn”, “con chạch”, những kẻ xu nịnh, bè phái, yếu năng lực nhưng giỏi "quan hệ” tác oai tác quái.

Hệ lụy nguy hiểm nhất là những cán bộ "nói một đằng, làm một nẻo", nói hay, làm dở khiến quần chúng nhân dân bức xúc, mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên; thậm chí tạo ra tâm lý nghi ngờ những phát ngôn mạnh mẽ, hành động quyết liệt của những người đứng đầu thực sự có phẩm chất, năng lực tốt.

3. “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người” được người xưa đúc kết nhằm phê phán thói xấu soi mói người khác trong khi chính mình có rất nhiều tật xấu mà không chịu sửa đổi; ngụ ý khuyên mọi người nên sửa mình trước, mình có thực sự tốt thì phê bình, nhắc nhở người khác mới hiệu quả. Ngược lại, nếu người không tốt mà lại lên lớp, phê bình người khác thì sẽ phản tác dụng.

Lịch sử đã chứng minh, quy luật tồn tại, phát triển và nguyên tắc sinh hoạt của Đảng là tự phê bình gắn với phê bình. Bất kỳ tổ chức nào, nếu chỉ có phê bình mà không có tự phê bình thì chắc chắn sẽ suy yếu, mất đoàn kết, tan rã. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn:

“Phê bình mình cũng như phê bình người, phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, thâm độc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người”. Người thường đặt mệnh đề “tự phê bình” lên trước, với hàm ý “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, bản thân phải gương mẫu mới nói được người khác.

Để không mắc bệnh “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người”, trước hết, các cấp ủy, tổ chức đảng phải tăng cường giáo dục, nhắc nhở, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức thật sâu sắc, đầy đủ hàm ý của lời răn dạy này; quán triệt, thực hiện đúng nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Đồng thời, phải duy trì thực hiện nghiêm túc các chế độ, nguyên tắc sinh hoạt đảng; có biện pháp nhắc nhở, định hướng, yêu cầu đảng viên nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình.

Đặc biệt, cấp ủy, thủ trưởng cấp trên phải thường xuyên quan tâm kiểm tra, giám sát, có biện pháp để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, yêu cầu cán bộ chủ trì, chủ chốt cấp dưới phải thực hiện đúng nguyên tắc tự phê bình gắn với phê bình, bảo đảm chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, thực sự nêu gương trước quần chúng. Việc thực hành nêu gương phải được đặc biệt chú trọng, bảo đảm nói đi đôi với làm, người đứng đầu làm trước, nêu gương trước. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, cán bộ không nêu gương, tung tin đồn xuyên tạc, nói xấu người khác hoặc gửi đơn thư tố cáo sai sự thật, nặc danh, mạo danh...

Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức cần quan tâm xây dựng môi trường làm việc, sinh hoạt văn hóa, văn minh, đoàn kết; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch những nội dung công việc, chế độ, chính sách theo đúng quy định để tạo sự đồng thuận, thông suốt về tư tưởng, không còn những "khoảng tối", mập mờ tạo cơ hội cho tính xấu nảy sinh.

Bác bỏ thông tin sai sự thật về người Khmer ở Việt Nam

Ngày 31/8, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc tổ chức Khmer Kampuchea Krom vu cáo bịa đặt về tình hình người Khmer ở Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Chúng tôi bác bỏ những thông tin không có cơ sở, sai sự thật về tình hình người Khmer ở Việt Nam".Theo đó, đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước.Bà Phạm Thu Hằng khẳng định: "Các dân tộc Việt Nam đều được đối xử bình đẳng. Nhà nước Việt Nam bảo đảm và tạo điều kiện phát triển về mọi mặt nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp, đóng góp củng cố khối đại đoàn kết dân tộc”.

Phân định quyền lực chính trị của Đảng với quyền lực công của Nhà nước trong phát huy dân chủ ở Việt Nam

 


Nghiên cửu phân định quyền lực chính trị của Đảng với quyền lực công của Nhà nước và quyền lực tối cao của nhân dân. Hiện nay, ngoài quyền lực công của Nhà nước đã được quy định khá cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực tối cao của nhân dân chỉ được quy đinh khá chung chung. Yêu cầu đặt ra phải xác định cụ thể, luật hóa nội dung, phạm vi, phương thức lãnh đạo của Đảng, vai trò làm chủ của nhân dân để mỗi chủ thể thực hiện đúng vai trò của mình theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

+ Tổng kết thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn để có thể nhân rộng những yếu tố hợp lý, điều chỉnh những quy định không phù hợp.

Hiện nay, cần tổng kết kinh nghiệm thực hiện dân chủ ở cơ sở để mở rộng phạm vi, mức độ ở cấp cao hơn, rộng hơn, nhất là trong thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân.

- Ban hành quy định, thí điểm tổ chức thực hiện bầu cử trực tiếp chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, phường tại một số địa phương nhiệm kỳ 2016-2020, sau đó tổng két rút kinh nghiệm.

- Hoàn thiện thể chế chính trị đáp ứng yêu cầu của xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong tình hình mới. Trước hết, phải xây dựng một bộ máy nhà nước đủ mạnh để vận hành có hiệu quả các chuẩn mực dân chủ đã được thể chế hóa; có một đội ngũ cán bộ ngang tầm đòi hỏi của một thể chế dân chủ, họ thực sự là những người gần dân, thân dân, vì dân.

Hoàn thiện thể chế bầu cử, bổ nhiệm, bãi miễn để phát huy dân chủ

 


Hoàn thiện thể chế bầu cử theo nguyên tắc dân chủ. Bầu cử là phương thức để quyền lực nhà nước được thiết lập bởi nhân dân và nhân dân tự thực hiện sự ủy quyền của mình. Bầu cử có liên hệ mật thiết với dân chủ, bầu cử tự do và công bằng là phương thức bảo đảm cho việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ. Trong một nền dân chủ, quyền lực nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của người dân. Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do, công bằng.

Trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, quyền bầu cử phải gắn chặt với quyền bãi miễn đại biểu khi không còn xứng đáng - đó là phương thức hữu hiệu để kiểm soát quyền lực nhà nước.

Phát huy dân chủ, thực hiện cạnh tranh trong bầu, bồ nhiệm cán bộ. Về nguyên tắc, ở Việt Nam không có sự cạnh tranh đảng phái, nhưng cần thiết có sự cạnh tranh giữa các đảng viên trong việc tranh cử vào các vị trí lãnh đạo của Đảng ở các cấp; cạnh tranh giữa đảng viên với người không phải đảng viên vào vị trí lãnh đạo một số cơ quan nhà nước các cấp. Cạnh tranh lả một hỉnh thức biểu hiện cụ thể, sinh động của dân chủ. Có quy định cạnh tranh công khai, minh bạch sẽ hạn chế tình trạng cạnh tranh không công khai, cạnh tranh ngầm trong lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ. Cạnh tranh là hỉnh thức phát hiện và phát huy nãng lực cán bộ tối ưu hơn sự phát hiện và giới thiệu của tổ chức. Bởi, khi tổ chức giới thiệu nhân sự, cá nhân được giới thiệu không hoàn thành nhiệm vụ nhưng cả cá nhân và tố chức không ai chịu trách nhiệm về sự giới thiệu. Còn khi có sự cạnh tranh, tự ứng cử, cá nhân ứng cử chịu trách nhiệm trước tố chức và cử tri về năng lực, hiệu quả hoạt động của mình. Mặt khác, nhờ thực hiện cạnh tranh, tổ chức đảng và nhân dân có cơ hội để kiểm tra, giám sát tính hiệu quả trong hoạt động của các vị trí trên. Đây có thể coi là hình thức mới của thực hiện dân chủ xã hội chù nghĩa ở Việt Nam.

Bởi vậy, không nên cho rằng, cạnh tranh sẽ dẫn đến mất đoàn két, thống nhất trong Đảng. Bởi để cạnh tranh, Đảng cũng phải ban hành các quy chế, điều kiện cạnh tranh. Cá nhân tham gia cạnh tranh phải tuân theo quy chế như điều lệ Đảng.

Hiện thực sinh động phản bác những trò xảo biện trong dịp Quốc khánh

Xuyên tạc, bôi lem về giá trị, ý nghĩa lịch sử Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 của dân tộc Việt Nam vốn là chiêu bài “truyền thống” của các thế lực xấu, cứ đến dịp lại khui lên kiểu “bình cũ, rượu mới”.

Song, có những luận điệu ngay từ cách đặt vấn đề đến lý giải cho thấy sự ngô nghê của người viết, dường như họ cố tình không nhìn thấy gì cả, không nghe thấy gì cả, cứ phết lên đó gam màu càng đen, càng xám là được, bất chấp sự thể ra làm sao.

Chẳng hạn, bài viết trên trang mạng của tổ chức Việt Tân đặt câu hỏi khôi hài “Ngày 2/9 nên gọi là ngày gì?”. Bằng việc đưa ra những hiện tượng tiêu cực trong xã hội rồi người viết đả kích rằng “dân chỉ là bầy cừu làm thuê mà không hề có một tổ chức nào bảo vệ”; “đừng nhìn dân như một bầy cá thể yếu ớt”! Trong một bài viết khác về suy ngẫm ngày 2/9, cũng bằng việc phân tích kiểu đánh tráo khái niệm, bản chất, dẫn dắt với những lý lẽ sai lệch, người viết đả kích “vậy sau khi giành được chính quyền, chính quyền đó có về tay nhân dân không?”! Thậm chí, bài viết này còn xuyên tạc rằng: “Đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam chẳng có một quyền gì”! Từ đó, đánh lái thành “cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân, hơn 70 năm qua vẫn chưa xong”…

Đọc những câu chữ trên cho thấy rõ tư duy của những người cố tình viết lấy được, nói lấy được, kiểu như đã nhận đặt bài của tổ chức, cá nhân nào đó, cầm “xèng” rồi thì phải “trả bài” sao cho càng lộng ngôn, càng xuyên tạc, miệt thị cay độc càng có tiền.

Cổ suý tư tưởng chống phá nói trên, một số mạng hải ngoại phân tích kiểu râu ông cắm cằm bà, tiếp cận các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực hiện nay trong bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước rồi phán rằng, hiện thực đất nước là “gam màu xám xịt”. Họ cho rằng, 77 năm sau Quốc khánh 2/9/1945, Việt Nam vẫn trì trệ, lạc hậu vì “sự bảo thủ của Đảng”, coi Việt Nam “cũng chẳng có vị thế gì” trên bản đồ quốc tế, thậm chí còn cho rằng, ngày nay các nước không muốn kết bạn với Việt Nam vì “sợ cộng sản”! Rõ ràng, với cái cách xảo biện như thế, một mặt cho thấy động cơ chống phá đến cùng của một số cá nhân, tổ chức, song cũng phơi bày sự thật là họ cũng đã “hết cách”, xoay đi xoay lại chỉ bài vở cũ, kiểu như “cứ rượu xong là chửi”!

Ở đây, cần thấy rằng:

Thứ nhất, về ý nghĩa, bản chất của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9, bất cứ nhìn từ góc độ nào cũng phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử và điều này đã được sử sách nước ta cũng như thế giới ghi nhận. Với Cách mạng Tháng Tám, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân của một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Từ đây, đất nước, xã hội và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Thứ hai, từ thành quả của Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam đã phấn đấu, đạt được những thành tựu hết sức to lớn. Hiện thực đó được thể hiện bằng bức tranh sống động trong giai đoạn đổi mới hiện nay, điều mặc nhiên ai cũng thấy rõ. Các quyền con người được khẳng định trong Hiến pháp và cụ thể hoá từ thực tiễn và chính người dân ghi nhận, hưởng thụ, không thể bôi lem, biến tấu kiểu “đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam chẳng có một quyền gì”!

Thứ ba, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế và quốc tế đánh giá, coi Việt Nam như thế nào, hãy để sự thật khách quan lên tiếng, không thể tẩy trắng kiểu “không có vị trí gì”!

Sự thực là, cũng trong những ngày đầu tháng 9 này, phái đoàn Việt Nam đang tham dự Hội nghị thượng đỉnh Cảnh sát Liên hợp quốc lần thứ ba (UNCOPS), diễn ra tại trụ sở Liên hợp quốc tại New York từ 30/8-3/9, gửi đi thông điệp Việt Nam sẵn sàng tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế. Tại khóa họp 50 Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc diễn ra tháng 6 vừa qua, Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines đã đồng tổ chức phiên thảo luận chuyên đề về đảm bảo quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đồng thời giới thiệu dự thảo Nghị quyết năm 2022 về biến đổi khí hậu và quyền con người, tập trung vào quyền lương thực và biến đổi khí hậu. Đó chỉ là hai trong rất nhiều hoạt động quốc tế mà Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục tham gia, thể hiện rõ nét Việt Nam là một đối tác tích cực, có trách nhiệm với các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.

Cũng trong dịp Quốc khánh này, các nước đã chúc mừng, đánh giá cao thành tựu, vị thế của Việt Nam. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres khẳng định, Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực. Theo người đứng đầu Liên hợp quốc, “Việt Nam cho thấy những cam kết mạnh mẽ của một quốc gia luôn tích cực nỗ lực xây dựng lòng tin và đối thoại, làm cầu nối tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột trên thế giới”. Đánh giá của Tổng Thư ký Liên hợp quốc phản ánh sự tin tưởng, kỳ vọng vào những đóng góp trách nhiệm của Việt Nam đối với hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, đồng thời cũng cho thấy vai trò và vị thế quốc tế ngày càng cao của Việt Nam.

Việc Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm kỳ ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2020-2021 là một trong những minh chứng điển hình. Việt Nam được đánh giá đã thể hiện vai trò chủ động, cân bằng, trách nhiệm khi đưa ra những đề xuất, đóng góp thiết thực vào hoạt động của Hội đồng Bảo an, chung tay giải quyết những thách thức toàn cầu. Nổi bật là việc khi đại dịch COVID-19 bùng phát và lây lan trên toàn cầu, Việt Nam chủ trì đề xuất, thương lượng và thúc đẩy để Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết thành lập Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh vào 27/12 hằng năm; cùng với Đức khởi xướng và trở thành nước sáng lập Nhóm Bạn bè của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, ra mắt cuối tháng 6/2021. Tại buổi lễ kỷ niệm 1 năm ngày thành lập Nhóm diễn ra ở New York tháng 6 vừa qua, đại diện nhiều nước đã hoan nghênh sáng kiến của Việt Nam cũng như các nước đồng sáng lập nhóm, góp phần đề ra cam kết của đông đảo thành viên Liên hợp quốc, các nước thành viên UNCLOS đối với Công ước vốn lâu nay được coi là “Hiến pháp của đại dương”.

Từ tháng 6/2014 đến tháng 8/2022, có 512 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp Việt Nam được cử đi làm nhiệm vụ ở phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei… Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc phụ trách các hoạt động hòa bình Jean-Pierre Lacroix đã cảm ơn Việt Nam về sự ủng hộ mạnh mẽ cũng như những đóng góp tích cực đối với các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Ông Lacroix đánh giá cao tính chuyên nghiệp, sự tận tụy, nỗ lực, hy sinh của các binh sĩ Việt Nam khi phải thực hiện nhiệm vụ trong những môi trường khó khăn; đặc biệt bệnh viện dã chiến cấp 2 của Việt Nam tại Nam Sudan đã đóng vai trò quan trọng trong thành công chung của phái bộ Liên hợp quốc tại quốc gia châu Phi này.

Chính sự sẵn sàng và tinh thần trách nhiệm khi tham gia đóng góp vào công việc chung của cộng đồng quốc tế đã giúp Việt Nam tạo dựng được lòng tin, liên tiếp được bầu vào nhiều tổ chức đa phương quan trọng như Hội đồng Chấp hành của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), Hội đồng Khai thác bưu chính của Liên minh Bưu chính thế giới (UPU), Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC)… Đây cũng là động lực để Việt Nam ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Điều này cũng thể hiện sự tự tin của Việt Nam trong việc gánh vác các trọng trách của quốc tế.

Tại khu vực, Việt Nam ngày càng khẳng định là một thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm, đóng góp hết mình vì sự phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Đánh giá về những thành tựu đối ngoại của Việt Nam, Đại sứ Philippines Kridelka, Trưởng phái đoàn thường trực Bỉ tại Liên hợp quốc khẳng định: “Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ và có được lòng tin của thế giới, nhất là ở châu Á, châu Phi và cả châu Âu cũng như Mỹ”. Trong các phát biểu khi tham dự lễ kỷ niệm 77 năm Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhiều đại diện chính phủ, tổ chức quốc tế đã đề cao vị thế và coi trọng hợp tác với Việt Nam.

Sự tham gia chủ động, tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam trên trường quốc tế đã cho thấy một Việt Nam tự tin, sẵn sàng gánh vác nhiều trọng trách quốc tế vì hòa bình và phát triển bền vững. Đó là hiện thực khách quan, do quốc tế ghi nhận, đánh giá chứ không phải tự mình nói về mình. Vậy mà vẫn có những thành phần viết, nói theo kiểu không nghe, không biết, không thấy thì đủ hiểu động cơ của họ như thế nào.

Xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân theo hướng “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”.

 


Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật làm công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng luật, pháp 1ệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể, tăng tính khả thi đề đưa nhanh vào cuộc sống. Tăng tính ổn định, bền vững của pháp luật.

Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Đây là biện pháp để hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền và là cơ sở khách quan yêu cầu phải có cơ chế, phương thức kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước. Kiểm soát, giám sát cả từ các nhánh quyền lực lẫn nhau, cả từ nhân dân và các tổ chức của nhân dân. Ở đây, nhân dân vừa ủy quyền, vừa kiểm soát, đánh giá hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện các quyền mà mình đã ủy thác. Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, áp dụng các hình thức thưởng phạt nghiêm minh đối với người được ủy quyền. Cán bộ, công chức cần được giáo dục tốt, nhận thức được đầy đủ quyền và nghĩa vụ; vinh dự với vị trí công tác của mình được nhân dân giao phó, lường trước được hậu quả bất lợi khi vi phạm lợi ích chính đáng của nhân dân... để họ có năng lực tự điều chỉnh hành vi, thực hiện đúng chức trách được giao, phục vụ lợi ích của nhân dân.

Xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo cơ sở kinh tế vững chắc cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 


 Thể chế hóa quan điểm của Đảng về phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp; bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản thuộc các hình thức sở hữu, loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế. Xây dựng hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các tài sản mới như sở hữu trí tuệ cồ phiếu, trái phiếu... quy định rõ, quyền trách nhiệm của các chủ sò hữu đối vói xã hội.

 Thể chế môi trường kinh doanh cũng như thể chế kinh tế nói chung chỉ phát huy tác dụng có hiệu quả khi tạo được sự đổi mới triệt để nhận thức đúng đắn của xã hội về vai trò quan trọng của thể chế, “...phấn đấu đến năm 2030 môi trường kinh doanh của Việt Nam được xếp vào nhóm 30 quốc gia hàng đầu” đồng thời xây dựng và hoàn thiện thể chế phải được tiến hành đồng bộ cả ba khâu: 1) Ban hành văn bản, quy định của thể chế 2) Xây dựng cơ chế vận hành, thực thi thể chế trong hoạt động kinh doanh cụ thể; 3) Hoàn thiện tổ chức bộ máy theo dõi, giám sát việc thi hành thể chế, xử lý vi phạm và tranh chấp trong thực thi thể chế. Trong khi triển khai đồng bộ thể chế môi trường kinh doanh phải tập trung cải cách hành chính, từ bộ máy hành chính đến thủ tục hành chính để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi đúng pháp luật.

Phát triển đồng bộ các yếu tố thi trường và các loại thị trường. Sớm hình thành việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh doanh phù hợp với Việt Nam. Trong điều kiện hiện nay, để hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh dân chủ, cần tập trung khắc phục thực trạng yếu kém của một số văn bản luật pháp. Đôi mới, hoàn thiện các quy định về giá, canh tranh, kiểm soát độc quyền, về ký kết, thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp. Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Phân biệt rõ và phù hợp giữa dân chủ XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH và dân chủ trong điều kiện CNXH đầy đủ (đích thực)

 


Trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn, cần phân biệt dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là chể độ dân chủ đầy đủ của chế độ xã hội chủ nghĩa đã phát triển tương đổi toàn điện với dân chủ trong giai đoạn thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là hai trình độ phát triển khác nhan của xã hội. với các đặc điềm kinh tế, chinh trị, văn hóa xã hội khác nhau. Do đó, đặc điểm, tính chất, hình thức thực hiện cũng khác nhau. Trong thời kỳ quá độ, Việt Nam tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, cơ cấu xã hội, quan hệ giai cẩp đa dạng, phức tạp; từ đó cũng dẫn đến sự đa dạng về nhu cầu dân chủ.

Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về dân chủ theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin

 


Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa; kinh nghiệm xây dựng nền dán chủ ở các quốc gia trên thể giới.

 Một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội chú nghĩa trong kho tàng chủ nghĩa Mác - Lênin; mặt khác, làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chú khác để kế thừa, học hỏi.

Cho đến nay việc làm sáng tỏ hai vấn đề nêu trên vẫn còn hạn chế, nhất là việc kế thừa những giá trị, học hỏi kinh nghiệm của nền dân chủ trên thế giới vẫn chưa thoát khỏi lối tư duy cũ; hoặc ca ngợi một chiều; hoặc phủ định sách trơn, làm cho sự khác biệt của các nền dân chủ càng doãng xa hơn. Do vậy một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ XHCN trong kho tàng chủ nghĩa mác- Lênin, chỉ ra những điểm còn nguyên giá trị, những điểm đã bị lịch sử vượt qua do bối cảnh lịch sử đã thay đổi; mặt khác làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chủ khác để kế thừa, học hỏi

Đánh giá khách quan thành tựu dân chủ tư sản, tính chất, trình độ dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là cơ sở khoa học để tiếp thu có chọn lọc các giả trị dân chủ của nhân loại được biểu hiện trong chủ nghĩa tư bản. Phải làm rõ sự phát triển trình độ dân chủ của văn minh nhân loại được biểu biện ở chủ nghĩa tư bản chứ không phải là sản phẩm riêng của chú nghĩa tư bản. Một số giá trị của dân chủ tư sản cần thiết cho thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Việt Nam không tiếp thu bản chất giai cấp của dân chủ tư sản, nhưng tiếp thu, học tập các hình thức thực hiện để đm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.

Những yếu tố thuận lợi tác động đến xây dựng nền dân chủ ở nước ta

 


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ra đời từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, là kết quả trực tiếp của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và phát triền trong những điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt. Bước vào xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam có những thuận lợi cơ bản sau:

Một là, học thuyết Mác-Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa là cơ sở lý luận và phương pháp luận để xây dựng nền dân chủ và thực hiện quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Hai là, kế tục những giá trị của dân chủ trong lịch sử Việt Nam đã được xây dựng ngay từ buổi đàu dựng nước và nâng lên một chất lượng mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện đất nước độc lập, thống nhất, nhân dân được tự do và trở thành người chủ đất nước, được tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình.

Ba là, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đã mang lại nhiều thuận lợi rất quan trọng trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Bỏ qua sự thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ người bóc lột người; bỏ qua sự thống trị cùa một nhóm người đối với đa số nhân dân lao động.

Bn là, nền dân chù xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xây dựng trong điều kiện có Đảng Cộng sản do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc.

Kế tục tưởng vi dân của Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước ta thừa nhận nhân dân là cội nguồn của quyền lực, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Hệ thống chính trị gồm: Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội được thiết lập từ Trung ương tới địa phương là cơ sở bảo đảm cho việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Năm là, cơ sở xã hội của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng là lực lượng đông đảo những người lao động được giải phóng đã vào vị trí người chủ của chế độ mới, nòng cốt là khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đây chính là những cơ sở quan trọng, những thuận lợi cơ bản trong việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

 

Quan niệm của Đại hội VIII, IX, X về dân chủ ở Việt Nam

 


Đại hôi VIII của Đảng (1996) nhấn mạnh việc phát huy vai trò làm chủ tập thể của nhân dân và chỉ rõ cần phải thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân: Làm chủ thông qua đại diện là các cơ quan dân cử và các đoàn thể; làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng các quy ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với luật pháp của nhà nước. Đảng và Nhfa nước tiếp tục đổi mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra quyết định và thực hiện các quyếtd định. Đại hội VIII đề ra mục tiêu của cách mạng là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Có nghĩa là, Đại hội VIII cũngchưa nhận thức đẩy đủ về vị trí, vai trò của dân chủ

Đại IX của Đảng (2001) đã tổng kết 15 năm đổi mới, rút ra bốn bài học chủ yếu, trong đó có bài học: đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo”. Đặc biệt Đại hội IX đã bổ sung nội dung “dân chủ” vào mục tiêu chung của cách mạng nước ta. Đây là một bước tiến về nhận thức “dân chủ”

Đại hội X của Đảng (2006) đã có bước phát triển mới nhận thức về dân chủ: 1) bổ sing “dân chủ” vào đặc trưng thức nhất của xã hội XHCN Việt Nam – đó là: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; 2) Điều chỉnh trong diễn đạt về đặc trưng thú hai- đó là: “ do nhân dân làm chủ”. Đây là bước tiến về mặt nhận thức khi khẳng định: “xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là do tất cả nhân dân làm chủ; 3) Đại hội X đã chỉ rõ: “ Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”; 4) Khẳng định: “dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhan dân.

Quan điểm của Đại hội VII về dân chủ

 


 

Đại hội VII của Đảng (1991) dã thống qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ XHCN (cương lĩnh năm 1991), trong đó đã rút ra bài học lớn “ sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Cương lĩnh năm 1991 đã pháp họa 6 đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng, trong đó đặc trưng đầu tiên là: Do nhân dân lao động làm chủ. Đặc biệt Cương lĩnh năm 1991 đã khẳng định “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nề dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ gắn lièn với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm”

Có thể khẳng định dại hội VII đã có bước tiến lớn trong nhận thức về dân chủ. Đảng ta không sử dụng khái niệm “làm chủ tập thể”, “chế độ làm chủ tập thể” từ đại hội này.

Quan điểm của Đại hội VI về dân chủ

 


Đại hội VI của Đảng (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, nhấn mạnh phát huy dan chủ để tạo ra một động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước. Đại hội khẳng định “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”, “bài học cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” bao giờ cũng quan trọng. Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng: ở đâu nhân dân lao động có ý thức làm chủ và được làm chủ thật sự, thì ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng”. Đại hội VI tiếp tục kế thừa khái niệm “làm chủ tập thể” của các dại hội IV, V và khẳng định “Đảng ta coi làm chủ tập thể XHCN là bản chất của chế độ dân chủ XHCN cần được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống”. Chúng ta xác dịnh mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chut, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong  quản lý toàn bộ xã hội”