Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2023

VỢ QUÂN NHÂN

  Nếu bạn là vợ của một quân nhân, bạn sẽ hiểu được hoàn cảnh rằng: Bạn là người phụ nữ của anh ấy, nhưng anh ấy là tài sản của quốc gia, của đất nước

🇻🇳🇻🇳🇻🇳
Thật ra khi yêu một người lính, những cô gái đã có những suy nghĩ, rằng trong tương lai sẽ có nhiều lúc không có chồng bên cạnh. Những ngày bên cạnh vợ chỉ đếm trên đầu ngón tay, hay những lần nghỉ phép cũng chỉ là ngắn ngày, không đủ để các cặp vợ chồng hâm nóng tình yêu
Làm vợ của người lính là gần như người phụ nữ phải gánh vác luôn trách nhiệm của một người cha. Những lúc con ốm đau không có chồng bên cạnh, người vợ cũng chỉ một mình vất vả, ai may mắn thì còn có đôi bên họ hàng nội ngoại đỡ đần đôi chút.
Là vợ của quân nhân, không ai mà không cảm thấy tủi thân, vì đi đâu cũng chỉ có một mình.
-> Dưới đây là bộ tranh minh họa những chia sẻ, tâm tư của những người phụ nữ là vợ của quân nhân. Không quá cầu kì nhưng ý nghĩa của từng hình ảnh, lời văn trong bộ tranh đều phải khiến những người phụ nữ đang và sẽ là vợ của người lính phải cảm thấy hình như mình ở trong đó.
St

AI KHEN, AI CHÊ KHÔNG QUAN TRỌNG!

 Nếu bạn làm gì đó mà có niềm tin mãnh liệt vào bản thân. Ai chê, bạn càng có động lực để làm tiếp.

Ai khen, bạn cười trừ bỏ qua, tập trung vào điều đang làm. Vì mục tiêu phía trước mà tiến tới.
Ngược lại, đi mà thiếu niềm tin vào đôi chân của chính bạn, trước sau gì bạn cũng bị người khác lôi kéo, thu phục, bạn từ bỏ trong hoang mang, và trong đời bạn tiếp tục có thêm một lần thất bại mà chưa biết vì sao thất bại.
Hãy có niềm tin vào bản thân, hành trình nếu có thất bại bạn cũng sẽ chạm được giới hạn tối đa của thất bại, sẽ thấm thía vì sao thất bại, sẽ nhận ra rất nhiều vấn đề của bản thân mà trước đây bạn chưa biết hoặc chưa dám chấp nhận.
Bạn dừng lại giữa chừng khi mọi thứ còn quá mông lung, bạn mãi tiếp tục hành trình cuộc đời trong bóng tối.
Hãy đi về phía trước bằng năng lượng nóng bỏng nhất, tinh thần rực lửa nhất. Bạn sẽ chiến thắng mọi rào cản và chinh phục bản thân một cách ngoạn mục nhất.
Hãy dám thử một lần!
St

ĐỌC GIÙM BẠN: NỀN GIÁO DỤC NƯỚC NHÀ CÓ NHỮNG BIỂU HIỆN RẤT KHÔNG AN TÂM

 “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Đó là hai câu mở đầu trong bài Lịch sử Việt Nam của Bác Hồ sau khi từ nước ngoài về nước năm 1941 để cùng Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp xâm lược.

Vậy vì sao trong bối cảnh vừa mới về nước Chủ tịch Hồ Chí Minh phải viết và cho lưu hành tuyên truyền bài thơ như một bài Diễn ca Lịch sử nước nhà? Bởi vì Bác biết rằng muốn tập hợp quần chúng nhân dân, muốn giác ngộ họ, điều đầu tiên là phải khơi dậy lòng yêu nước, mà muốn có lòng yêu nước, lòng tự hào tự tôn dân tộc phải làm cho người dân đang bị bọn thực dân bần cùng hóa, ngu dốt hóa hiểu biết lịch sử nước nhà, phải tường gốc tích nước nhà Việt Nam, nhờ đó đã tập hợp được quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để làm nên sự tích thần kỳ, tiến hành Cách mạng tháng Tám thắng lợi, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vào ngày 2/9/1945, tiến hành cuộc trường chinh cứu nước, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược (1945-1975), giành lại độc lập, tự do, thống nhất, phát triển như ngày nay.
******
Giáo dục lịch sử là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với mọi quốc gia dân tộc, nếu muốn độc lập thật sự và phát huy sức mạnh nội sinh để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Một vấn đề không cần bàn cãi và không ai được phép hạ thấp việc học lịch sử, học nó là học cả đời để không bao giờ được tự nhục,tự ty , đớn hèn trước nước khác; học lịch sử là để tập họp quần chúng nhân dân cùng chung sức đồng lòng phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, học lịch sử để thế hệ nối tiếp nỗ lực đưa nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu bốn biển như Bác Hồ hằng mong ước.
Thế nhưng hơn chục năm trở lại đây, môn lịch sử trong giáo dục đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã liên tục tìm mọi cách hạ thấp và cố tình xóa bỏ môn lịch sử, trong bài viết trước, khi phê phán việc đưa môn lịch sử là môn tự chọn trong cấp phổ thông trung học. Ngày 8/5/2022, khi gặp Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tôi đã nói rõ, nếu tôi làm Thủ tướng tôi sẽ cách chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo khi đề xuất chủ trương bỏ môn sử để buộc Quốc hội phải ngồi lại bàn và đưa vào nghị quyết của Quốc hội là không được bỏ môn sử, và phải giữ môn lịch sử là môn độc lập trong Chương trình giáo dục phổ thông.
Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo từ chỗ tìm cách bỏ môn lịch sử không được lại ngang nhiên làm trái nghị quyết của Quốc hội, bỏ môn sử là môn độc lập từ lớp 1-9 và lên 10-12 thì tự chọn. Như vậy, sẽ có rất nhiều em học sinh không học môn lịch sử độc lập trong suốt Chương trình phổ thông , đó là chưa kể ngay sách giáo khoa phổ thông cũng sẽ có nhiều bộ sách lịch sử khác nhau và sẽ có cách viết khác nhau thậm chí đã có biểu hiện xuyên tạc lịch sử trong sách giáo khoa thì thử hỏi làm sao xây dựng tinh thần dân tộc, làm sao chúng sức chung lòng vì mục tiêu phát triển đất nước?
Đây rõ ràng là một sự việc không bình thường, cố tình hạ thấp vai trò giáo dục lịch sử, làm suy yếu lòng yêu nước , lòng tự hào tự tôn dân tộc …việc mà đáng lẽ nhiệm vụ chủ yếu của ngành giáo dục là bồi đắp phát triển lòng yêu nước, tạo nên thế trận lóng dân vững chắc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một công dân không có lòng yêu nước thì việc học các môn khoa học khác dù có tài giỏi đến đâu, rồi cuối cùng cũng chỉ đi bán rẻ tài năng của mình cho nước ngoài. Thực tiễn ta đã thấy đã và đang có một trào lưu một bộ phận trị thức Việt Nam bỏ ra nước ngoài làm việc, một hiện tượng chảy máu chất xám đáng báo động!
Trước hiện tượng hạ thấp, xét lại lịch sử, những người tâm huyết với nước nhà, tâm huyết với lịch sử đã gọi hiện tượng trên là lật sử, xét lại lịch sử! Còn đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, phải chăng đang cố tình làm cho dân ta mù sử, dốt sử, và khi đó nhóm xét lại lịch sử sẽ nhân danh là những nhà nghiến cứu lịch sử sẽ vẽ lại lịch sử nước nhà như đã từng diễn ra ở Liên Xô, Đông Âu và Ucraina gần đây?
Từ những phân tích trên, với tư cách là một cháu của Bà mẹ Việt Nam anh hùng, là con của hai liệt sĩ, là chiến sĩ giải phóng quân khi mới 14 tuổi, một Đảng viên cán bộ của Đảng, tôi đề nghị Quốc hội hãy vào cuộc, yêu cầu Chỉnh phủ chỉ đạo Bộ phải biên soạn một bộ sách giáo khoa lịch sử thống nhất cho giáo dục phổ thông từ lớp 1-12 và lịch sử phải là một môn thi bắt buộc trong các môn thi.
Xin hãy đặt đúng vị trí để có một nước Việt Nam thống nhất không chỉ về chủ quyền lãnh thổ, mà trước hết thống nhất về cội nguồn lịch sử của dân tộc. Xin hãy đừng nâng lên đặt xuống, xin hãy đừng chà xát vào lịch sử, xin hãy đừng bắn vào lịch sử, bởi vì lịch sử là cội nguồn dân tộc. Hãy nhìn sang Ucraina, chính vì họ đã bắn vào lịch sử nên giờ đây đã trả giá cho tội lỗi của mình.
Xin hãy nhớ lời của Bác Hồ “Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” làm trái lời Bác là trái ý Đảng, lòng Dân, mong Bộ GDĐT nên nhớ điều đó. Và cũng xin Quốc hội hãy ban hành một đạo luật hoặc một pháp lệnh nghiêm cấm xét lại xuyên tạc, đổi trắng thay đen lịch sử./.
St

TỪ NHỮNG LÁ THƯ KHÔNG ĐƯỢC HỒI ÂM ĐẾN MỐI QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN

 Có lẽ các bạn không biết rằng, trong Thế chiến thứ hai, những người Mỹ giúp Việt Minh để lại đánh lại quân đội Nhật Bản. Lực lượng Mỹ đã hỗ trợ huấn luyện, cung cấp một số trang thiết bị, cũng như đóng vai trò liên lạc và cung cấp thông tin cho chúng ta... Trong những ngày cuối tháng 9 và đầu tháng 10/1945, Thiếu tướng Philip Edward Gallagher đã đã đứng cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Quốc hội Việt Nam khóa đầu tiên để giải giáp quân Nhật về nước...

Sau đó, vì tin rằng cả hai đã cùng đánh bại một kẻ thù chung, đã góp sức vào hòa bình thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng rằng Việt Nam và Mỹ sẽ trở thành bạn bè. Việt Nam sẽ được Mỹ công nhận nền độc lập. Nhưng từ Tuyên Ngôn Độc Lập đến nhiều bức thư được gửi đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không được hồi âm. Cụ có nhờ một số mối quan hệ, dò hỏi phản ứng của chính quyền Hoa Kỳ về nền độc lập của Việt Nam. Dĩ nhiên, là vẫn chỉ là những tiếc thở dài và phớt lờ…Trước đó nhiều năm, Nguyễn Ái Quốc đã gửi Yêu sách của nhân dân An Nam đến cho Tổng thống Woodrow Wilson, nhưng cũng không hề nhận được câu trả lời.
Rồi hai quốc gia đối đầu gián tiếp nhau cho đến tận năm 1954. Đến đối đầu nhau trực tiếp đến tận 1973, một cuộc chiến mà đất nước Việt Nam đã được thống nhất, non sông về một mối. Một chiến thắng tuy là đối đầu trực diện, nhưng bản thân chúng ta phải dành lời cảm ơn đến những con người đã ủng hộ Việt Nam, lên án chiến tranh, đấu tranh cho phản chiến… Từ Norman Morrison đến Jane Fonda, từ Martin Luther King Jr đến Muhammad Ali...
Hai quốc gia vẫn không thể ngồi chung và nhìn chung một con đường cho đến tận năm 1994 do những bất đồng quan điểm và ngoại giao, sự khác biệt về thể chính trị. Hành trình từ năm 1994 ấy đến nay là một chặng đường không phải dài và cũng chẳng phải là ngắn, nhưng chắc chắn, đã phá tan đi một tấm màn chia cách.
Trên thế giới, có những quốc gia đã từng là đối thủ và đến giờ vẫn chả thể nhìn được mặt nhau. Dù tiếng súng giữa hai bên đã ngừng rất lâu. Cũng có những mối quan hệ mà chỉ là xã giao trong một giai đoạn rồi có thể bùng lên như một đám lửa lớn.
Có một câu nói mà mình vô đọc được trên Twitter: “Có lẽ chỉ có Việt Nam mới biến những tiếng súng thành những tiếng pháo bông”. Ngụ ý rằng, Việt Nam đã biến những mối quan hệ từng là thù địch trở thành hữu hảo, từ đối đầu sang đi song đôi...
Gần 80 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ những quan điểm gửi Tổng thống Truman rằng: “Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới” và bày tỏ mong muốn Hoa Kỳ công nhận nền độc lập non trẻ của Việt Nam. Năm 1969, Tổng thống Nixon gửi thư bày tỏ thiện chí đàm phán hòa bình Việt Nam và sau đó, Bác cũng gửi thư phản hồi, nói rằng: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi yêu chuộng hòa bình, mong muốn một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự…”. Sau khi gửi thư phản hồi được một tuần, Bác qua đời và mong muốn ấy không được thực hiện...
Với những gì đã diễn ra trong bao nhiêu năm qua, trên tinh thần gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, tôn trọng thể chế chính trị và giờ đây hai quốc gia đã bắt tay nhau cho một hành trình mới.
Dĩ nhiên, một mối quan hệ song phương thì cần sự vun đắp từ cả hai, chứ không phải chỉ là giáo điều và hình thức. Nếu đã là một mối quan hệ song phương thì không nên có thêm "một yếu tố thứ ba" xen vào. Đừng nên biến mối quan hệ chân thành thành một mối quan hệ vụ lợi. Hoa Kỳ cũng có bạn, Việt Nam cũng có bạn. Một đất nước có nghĩa khí sẽ không "tham bát bỏ mâm", có bạn này rồi bỏ bạn kia. Không thể nhờ có được một người bạn giàu mà bỏ đi những người bạn từ thuở hàn vi hay những người bạn hàng xóm dù có thi thoảng "cà khịa" nhau đi chăng nữa...
Cuối cùng, mong ước của Bác về một mối quan hệ chân thành giữa hai quốc gia đã trở thành hiện thực...
St

ĐẤU TRANH PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM: NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHỈ LÀ SỰ ÁP ĐẶT !

 Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, chống phá của các thế lực thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là yêu cầu cấp thiết của thực tiễn trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Đồng thời là nhiệm vụ và trách nhiệm thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên vì đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng Đảng, xây dựng xã hội trong sạch, vững mạnh, ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” với nhiều nội dung quan trọng. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng xác định: Thay đổi toàn diện về cơ cấu kinh tế, dứt khoát xóa bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện chính sách nhiều thành phần kinh tế, thực hiện lưu thông hàng hoá tự do, mở rộng hợp tác và đầu tư quốc tế. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đảng ta lần đầu tiên xác định: Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đến nay chính thức xác định nền kinh tế nước ta là tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đồng thời mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị xuyên tạc, phê phán, bóp méo. Các thế lực thù địch cho rằng: không có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ trương gắn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là không có cơ sở; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; Việt Nam xây dựng một nền kinh tế thị trường méo mó, không giống ai.
Chúng ta biết rằng mặc dù kinh tế thị trường vốn dĩ là nền kinh tế mà ở đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình sở hữu cùng tham gia, cùng vận động và phát triển trong một cơ chế cạnh tranh bình đẳng và ổn định. Theo Adam Smith, với lí thuyết “bàn tay vô hình" thì nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự điều tiết, vận động theo quy luật của thị trường, hầu như không có sự can thiệp của Nhà nước. Tuy nhiên ngày nay nền kinh tế thị trường hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình”, vừa có điều tiết bởi “bàn tay hữu hình”.Các quốc gia phát triển nền kinh tế thị trường đều có sự định hướng quản lý của nhà nước. Kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới là không hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung định hướng can thiệp của nhà nước.
Hơn nữa kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại, dù do quốc gia nào xây dựng trước đó cũng là giá trị của nhân loại, không phải là sản phẩm “riêng có” của chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là khái niệm mới và là mô hình mới, cách thức mới sự lựa chọn cần có trong xây dựng kinh tế cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước Việt Nam. Mô hình này là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Các quy luật của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn đối lập nhau, loại trừ nhau. Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nhà nước vận dụng quy luật giá trị thông qua việc tạo khung khổ pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và điều kiện thuận lợi cho quy luật giá trị vận động để phát huy mặt tích cực, đồng thời hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực.
Thực tiễn gần 40 năm đổi mới, phát triển nền kinh tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước xây dựng được cơ đồ vững chắc, có tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế to lớn như ngày nay. Việt Nam thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới; chất lượng tăng trưởng được cải thiện, là điểm sáng trên toàn cầu trong việc thực hiện thành công “mục tiêu kép”, vừa phòng, chống dịch, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân.
Trong những năm gần đây là một quốc gia bước ra từ trong chiến tranh, dựng xây đất nước từ sự quyết tâm của mỗi người dân. Việt Nam trên bản đồ thế giới là quốc gia có thể chế chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng tốt, văn hóa, giáo dục, đạo đức, môi trường, quan hệ quốc tế tốt là minh chứng thuyết phục, tự nó đanh thép phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta./.
St

BÀI HỌC RẤT QUÝ !

 Một là "dám nghĩ " điều hay

Đưa ra sáng kiến dựng xây nước nhà
Hai là "dám nói " thẳng ra
Phê bình góp ý đó là giúp nhau
"Dám làm" dẫn trước đi đầu
Nếu sai " dám chịu "chứ đâu đổ thừa
"Dám đổi mới " tốt hơn xưa
Bởi vì "sáng tạo " ví như đầu tàu
"Khó khăn, thử thách đương đầu "
"Dám hành động " kết quả mau trưởng thành
Phải luôn "gìn giữ thanh danh "
"Lấy dân làm gốc " thì cành mới xanh
"Luyện rèn cán bộ " có thành
"Tinh thần 7 dám " học hành mau thôi
"Dân vạn đại quan nhất thời"
Tiếng thơm lưu lại muôn đời vẻ vang.
St


 

Đâu phải hứa suông!

       Mấy hôm nay dư luận lại nóng lên câu chuyện tiền lương cho giáo viên. Họ nói là đã từ lâu rồi, không ít giáo viên trông chờ vào lời hứa tăng lương. Vậy mà kết quả là nhiều giáo viên không còn niềm tin vào những lời hứa nữa, đành phải xin nghỉ việc, tìm nghề khác có thể sống được bằng lương.

Cuối tuần, nhóm bạn hưu trí đàm đạo ở nhà ông Bình.

- Bây giờ người ta toàn hứa lấy lệ thôi các ông ạ. Hứa để cho người khác tin, rồi làm hay không cũng không ai biết, không ai hay. Thế có phải là “mị dân” không? - Ông Bình lên tiếng.

Ông Trung ngạc nhiên:

- Có chuyện gì mà ông nói sâu xa thế?

- Thì ông xem, mấy hôm nay dư luận lại nóng lên câu chuyện tiền lương cho giáo viên. Họ nói là đã từ lâu rồi, không ít giáo viên trông chờ vào lời hứa tăng lương. Vậy mà kết quả là nhiều giáo viên không còn niềm tin vào những lời hứa nữa, đành phải xin nghỉ việc, tìm nghề khác có thể sống được bằng lương.

- Vậy là “hứa suông”, “hứa cho có” à? Mà trên mạng xã hội còn có mấy diễn đàn đang bàn luận sôi nổi, thậm chí kêu gọi tập hợp ý kiến, nguyện vọng của giáo viên.

Ông Trung vừa nói vừa đưa điện thoại cho mọi người xem. Trên một số trang Facebook đăng tải thư ngỏ, thư hiến kế của một số giáo viên, hoặc những video clip thể hiện ý kiến về chuyện lương và phụ cấp, rồi so sánh chất lượng sống của giáo viên ở nước ta với nước này, nước kia...

Lúc này, ông Kiên là giáo viên nghỉ hưu mới lên tiếng:

- Các ông nói như vậy là hoàn toàn sai rồi. Tôi cũng đồng ý với hai ông là việc hứa mà không thực hiện thì không tốt. Nhưng nói đi thì cũng phải nghĩ lại cho thấu đáo. Ngành giáo dục có số lượng công chức, viên chức rất lớn. Chỉ một điều chỉnh nhỏ về bảng lương của giáo viên cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc bảo đảm của ngân sách. Mà tăng lương cho giáo viên đòi hỏi sự chuẩn bị, thảo luận kỹ của Quốc hội, Chính phủ. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ chuẩn bị các phương án, đề xuất, kiến nghị chứ không tự quyết được.

Thấy mọi người có vẻ trầm ngâm, ông Kiên tiếp lời:

- Các ông nói là nhiều người đứng đầu ngành khi nhậm chức hứa theo kiểu “mị dân”, “gieo niềm tin” là nói theo các trang mạng phản động, xuyên tạc. Các ông xem những ý kiến trang đó đăng tải là của giáo viên ở trường nào, hay của những kẻ tự xưng, những người bất mãn. Sao các ông không nhớ đến những ý kiến tâm huyết, mang tính xây dựng như tại cuộc gặp mặt trực tuyến giữa Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân viên ngành giáo dục mới đây? Đó sẽ là cơ sở để giải bài toán khó này. Khi “tư lệnh ngành” trăn trở, Chính phủ đang tìm cách tháo gỡ khó khăn, các ông không ủng hộ thì thôi, lại nghe lời xuyên tạc, rồi suy diễn, phát ngôn như vậy là vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá.

Nghe đến đấy, ông Trung gật gù đồng tình, còn ông Bình thì chân thành:

- Chúng tôi hiểu bản chất vấn đề rồi. Cũng mong sao không chỉ người đứng đầu mà ai cũng “nói lời phải giữ lấy lời” để không bị các phần tử phản động, bất mãn lợi dụng chống phá!

 “CÁN BỘ PHẢI ĐI ĐÚNG ĐƯỜNG LỐI QUẦN CHÚNG, DỰA VÀO NHÂN DÂN; TRƯỚC HẾT PHẢI TIN TƯỞNG LỰC LƯỢNG VÀ TRÍ TUỆ CỦA NHÂN DÂN LÀ VÔ CÙNG VÔ TẬN”


Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài nói chuyện tại “Hội nghị thủy lợi toàn miền Bắc”, ngày 14 tháng 9 năm 1959.

Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, qua thực tiễn hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh càng thấm sâu chân lý: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Quần chúng cách mạng chính là các tầng lớp nhân dân mà Hồ Chí Minh đã tìm thấy sức mạnh to lớn ở họ. Người cho rằng, nhân dân rất thông minh, sáng tạo; nhân dân là lực lượng đông đảo của toàn xã hội; nhân dân là người hiểu biết tất cả; nhân dân là nguồn sức mạnh vô tận ở mọi nơi, mọi lúc. Thực tiễn lịch sử đã minh chứng: Thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trong sự nghiệp đổi mới đất nước đều xuất phát từ đường lối “lấy dân làm gốc”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì vậy, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không phải chỉ là việc riêng của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, đảng viên, mà là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Thực hiện tốt phương châm này là nhằm phát huy vai trò của nhân dân lao động tham gia quản lý mọi hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, còn có tác động tích cực đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội vững mạnh. Hoạt động của quần chúng nhân dân theo phương châm đó, trước hết, là giúp cho các tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng và đề cao trách nhiệm trước nhân dân, tôn trọng ý kiến và nguyện vọng của nhân dân; qua đó, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ mình là “là người lãnh đạo; đồng thời là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; luôn biết trăn trở với những thắc mắc, những lo lắng của nhân dân; biết cầu thị và lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, vận động nhân dân chung sức, đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thấu triệt lời Bác dạy, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, thương yêu, tôn trọng bộ đội như “chân với tay”; luôn là hạt nhân đoàn kết, đã thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu, như óc”, như người thân trong gia đình; xây dựng tinh thần tự giác trong bộ đội, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”. Mối quan hệ cán - binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

 Bộ Quốc phòng thăm hỏi gia đình quân nhân gặp nạn trong vụ cháy chung cư mini ở Khương Hạ​

Ngày đăng: 14/09/2023
Sáng 14-9, Đoàn công tác của Bộ Quốc phòng do Trung tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam làm trưởng đoàn đã đến thăm hỏi, động viên, tặng quà các quân nhân và gia đình bị thiệt hại trong vụ cháy chung cư mini tại phố Khương Hạ, phường Khương Đình (quận Thanh Xuân, TP Hà Nội).

Đến thăm, gặp gỡ thân nhân các nạn nhân tử vong do vụ cháy nghiêm trọng xảy ra vào đêm 12-9, Trung tướng Lê Quang Minh chân thành chia sẻ với nỗi đau thương, mất mát của các gia đình; động viên và mong muốn các thân nhân sớm ổn định tâm lý, vượt qua khó khăn, mất mát, ổn định cuộc sống.

Thăm các quân nhân, người thân của các quân nhân bị thương nặng, đang điều trị tại các Bệnh viện Đa khoa Hà Đông và Bệnh viện Bạch Mai, đồng chí Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam động viên các nạn nhân và người thân yên tâm điều trị, vượt qua nỗi đau thể xác, tinh thần, sớm hồi phục sức khỏe và tâm lý. Trung tướng Lê Quang Minh bày tỏ cảm ơn đội ngũ các y, bác sĩ tại các bệnh viện trong những ngày qua đã tận tình, khẩn trương cứu chữa để các bệnh nhân phục hồi.


Trung tướng Lê Quang Minh động viên vợ của Thượng tá Đỗ Trọng Thanh, Chủ nhiệm Hậu cần, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không – Không quân, cùng 2 con tử vong trong vụ cháy.


Trung tướng Lê Quang Minh động viên, thăm hỏi anh Nguyễn Hoàng (bị thương nặng) là chồng của Trung tá QNCN Nguyễn Thị Hường, Nhà máy Z176, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng (tử vong cùng con gái trong vụ cháy).


Trung tướng Lê Quang Minh động viên con trai của vợ chồng Trung tá QNCN Nguyễn Thị Hường.


Trung tướng Lê Quang Minh động viên con trai của vợ chồng Trung tá QNCN Nguyễn Thị Hường.


Trung tướng Lê Quang Minh động viên thăm hỏi thân nhân các gia đình quân nhân bị thiệt hại sau vụ cháy.


Trung tướng Lê Quang Minh thăm hỏi Thiếu tá Nguyễn Văn Chương, Lữ đoàn Thông tin 21, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng bị thương nặng đang điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai.


Trung tướng Lê Quang Minh thăm hỏi Thiếu tá Nguyễn Văn Chương, Lữ đoàn Thông tin 21, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng bị thương nặng đang điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai. Vợ và hai con đồng chí Chương tử vong trong vụ cháy.


Đại diện Ban Phụ nữ Quân đội trao quà tặng thân nhân các nạn nhân trong vụ cháy.

Chia sẻ với những thiệt hại do vụ hỏa hoạn gây ra, Trung tướng Lê Quang Minh đã trao quà của Bộ Quốc phòng động viên các quân nhân và thân nhân các gia đình; đồng thời khẳng định, Bộ Quốc phòng và các cơ quan đơn vị luôn chia sẻ, đồng hành cùng thân nhân các gia đình gặp nạn sớm vượt qua khó khăn. Trung tướng Lê Quang Minh đề nghị các cơ quan, đơn vị nơi các quân nhân đang công tác tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện về tinh thần, vật chất để các bệnh nhân được chăm sóc tốt nhất; đồng thời động viên, hỗ trợ giúp đỡ khi trở lại công tác. Dịp này, Ban Công đoàn Quốc phòng, Ban Phụ nữ Quân đội và các cơ quan, đơn vị nơi các quân nhân công tác cũng đã tặng quà cho các đoàn viên công đoàn, hội viên phụ nữ và quân nhân tại đơn vị mình.

Trước đó, như Báo Quân đội nhân dân đã đưa tin, vào lúc đêm ngày 12-9, xảy ra vụ cháy chung cư mini tại số nhà 37, ngách 29/70, phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội, gây thiệt hại rất nghiêm trọng về người và tài sản của khoảng 45 hộ gia đình và sinh viên đang sinh sống tại đây, trong đó có các quân nhân, công nhân viên, lao động hợp đồng và gia đình; cụ thể, vụ cháy làm chết 9 người (trong đó có 2 quân nhân và 7 người nhà); làm bị thương 3 người (1 quân nhân và 2 người nhà).

 Khu danh thắng thác Bản Giốc mở cửa tự do, không cần visa cho du khách Việt Nam, Trung Quốc từ hôm nay (15/9), trong chương trình thí điểm một năm.



Sáng 15/9, Việt Nam và Trung Quốc tổ chức vận hành thí điểm cho du khách hai nước tự do du lịch Khu cảnh quan thác Bản Giốc, tên Trung Quốc là thác Đức Thiên.

Việt Nam - Trung Quốc khai thác chung thác Bản Giốc từ hôm nay ảnh 1
Nghi lễ vận hành thí điểm cho du khách qua lại cảnh quan thác Bản Giốc.

Đây là kết quả từ Hiệp định Hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc (Đức Thiên) mà Chính phủ Việt Nam - Trung Quốc ký kết năm 2016, cùng kế hoạch triển khai phía Việt Nam được Thủ tướng phê duyệt năm 2017.

 TỰ CHỦ, GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO

 Đã qua nhiều thế hệ, bao nhiêu công sức và sự hy sinh nhằm gìn giữ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, Việt Nam là quốc gia độc lập, có đường lối ngoại giao độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào khác, ngoại giao của Việt Nam luôn lấy độc lập dân tộc, lợi ích dân tộc là cái bất biến, để dĩ vạn biến, linh hoạt, quyết đoán.
Gần đây, Trung Quốc thông báo thành lập cái gọi là “quận Tây Sa” (tức quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) và “quận Nam Sa” (tức quần đảo Trường Sa của Việt Nam) tại “thành phố Tam Sa. Ngày 19/4 Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng, phát biểu: "Việt Nam đã nhiều lần mạnh mẽ khẳng định Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lập trường nhất quán của Việt Nam là phản đối mạnh mẽ việc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” và các hành vi có liên quan vì đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, không có giá trị và không được công nhận, không có lợi cho quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia và gây thêm phức tạp tình hình Biển Đông, khu vực và thế giới. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, hủy bỏ các quyết định sai trái liên quan đến những việc làm đó và không có những việc làm tương tự trong tương lai".
Bộ Ngoại giao Mỹ đã có các tuyên bố về các hành động phi pháp của Trung Quốc tại Biển Đông, trong đó phía Mỹ nhắc đến hai trường hợp, một là trường hợp tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam, hai là trường hợp Trung Quốc đặt trạm nghiên cứu trái phép tại Hoàng Sa. Một số người đã đưa ra quan điểm rằng: “Kẻ thù của kẻ thù là bạn”, ở đây, trong góc nhìn của một số người Việt, Mỹ coi Trung Quốc là kẻ thù và ngược lại, nếu theo lý thuyết trên, Mỹ hoàn toàn có thể là một người bạn của Việt Nam trong cuộc chiến đấu đòi lại chủ quyền lãnh thổ. Thực tế, phía Mỹ đưa ra tuyên bố như vậy, không hề khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, phía Mỹ đã lồng ghép khéo léo yếu tố “gây bất lợi cho các nước Đông Nam Á”, có mục đích ngầm khẳng định rằng đây là vùng biển “tranh chấp quốc tế”, tuyên bố như vậy tức là đã phủ quyết chủ quyền hợp pháp của Việt Nam tại hai quần đảo này.
Chúng ta, cần phải hiểu biết sâu sắc rằng, chỉ có bằng thực lực của chính chúng ta, đấu tranh trên mọi lĩnh vực, nhất là đấu tranh ngoại giao và tranh thủ sự ủng hộ của các nước trên thế giới, linh hoạt, không phụ thuộc vào bất kỳ nước lớn nào, đó là quan điểm giữ vững mục tiêu chủ quyền của chúng ta ở biển đông.



 LẠI TÁI HIỆN TRÒ BÔI VẼ BẨN THỈU.

Trong bối cảnh Việt Nam - Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác Chiến lược toàn diện, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, các thế lực chống phá lại tiếp tục tung ra những luận điệu sai trái, cố tình tạo ra những cái nhìn meo mó về quan hệ hai nước.
Vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm cấp nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10-11/9 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của Tổng thống Joe Biden kể từ khi ông nhậm chức đầu năm 2021. Sự kiện diễn ra vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện.
Chuyến thăm Việt Nam lần này là một dấu mốc quan trọng trong việc tăng cường quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Việc các Tổng thống Hoa Kỳ đều có chuyến thăm tới Việt Nam (kể từ chuyến thăm của Tổng thống Bill Clinton vào tháng 11/2000) đã phản ánh vai trò quan trọng của Việt Nam trong mạng lưới đối tác của Hoa Kỳ ở khu vực.

Nhiều hãng truyền thông lớn trên thế giới đã đăng tải những thông điệp tích cực của chuyến thăm, khẳng định Việt Nam tiếp tục cho cả thế giới biết và hiểu hơn về đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Việc nâng mức quan hệ ngoại giao từ Đối tác toàn diện lên Đối tác Chiến lược toàn diện tiếp tục khẳng định mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ ở tầm cao mới, đó là Đối tác Chiến lược toàn diện, vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.

Ngay sau chuyến thăm, Tổng thống Joe Biden đăng tải trên mạng xã hội video chia sẻ những khoảnh khắc quan trọng với hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì lễ đón chính thức tại Phủ Chủ tịch, cuộc hội đàm giữa hai nhà lãnh đạo và các cuộc hội kiến của Tổng thống Hoa Kỳ với Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ. Tổng thống Joe Biden viết trên trang cá nhân: “Sau 50 năm tiến triển trong mối quan hệ giữa hai nước, từ xung đột đến bình thường hóa, tôi tự hào đã tăng cường hơn nữa mối quan hệ với Việt Nam – một đối tác quan trọng ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”… Những tình cảm đó cho thấy cá nhân Tổng thống Joe Biden nói riêng, Hoa Kỳ nói chung rất coi trọng mối quan hệ hợp tác với Việt Nam.

Ngược lại với thực tế đó, những phần tử phản động lưu vong ở hải ngoại lại tỏ ra lo lắng, tìm cách bôi nhọ, xuyên tạc về chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ đến Việt Nam và việc nâng tầm mối quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược toàn diện. Các đối tượng tăng cường phát tán nhiều bài viết có nội dung sai trái, xấu độc để chống phá Đảng, Nhà nước; xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ cũng như quan hệ của Việt Nam với nhiều nước khác… Có trường hợp khi không thể ngăn cản chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden thì quay sang miệt thị các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chính sách ngoại giao “bốn không” của Việt Nam…

Những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, đối lập với chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Trong phát biểu trước báo chí tối 10/9, Tổng thống Joe Biden đã nhắc lại quá khứ quan hệ 2 nước trước năm 1975 với sự can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam, tiếp đó đến mãi năm 1995, hai nước mới bắt tay hòa giải quan hệ ngoại giao.

Trải qua 28 năm, nay đã nâng đến mức độ cao nhất cho thấy sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau của cả hai nước. Tổng thống Joe Biden chia sẻ rằng, trước đây khi trở thành nghị sĩ, ông đã bỏ phiếu phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, yêu cầu Chính phủ, Quốc hội Mỹ phải rút quân về nước. Ngay trong chuyến thăm Việt Nam lần này, ông Biden nhắc đến cố Thượng nghị sỹ John McCain, nghị sĩ Kerry - người bắc cầu cho quan hệ Việt - Mỹ.

Phải khẳng định rằng, việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là phù hợp với thực tiễn của quan hệ ngoại giao hai nước, đáp ứng sự mong mỏi và tình cảm của các nhà lãnh đạo, nhân dân hai nước. Như Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E.Knapper đã nhấn mạnh trong cuộc gặp gỡ với báo chí trưa 13/9 rằng, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển tốt đều mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia và Hoa Kỳ muốn trở thành một phần trong quá trình Việt Nam nỗ lực để trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2050. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ cựu thù trở thành đối tác và Đối tác Chiến lược toàn diện đã được nhiều nhà ngoại giao thế giới gọi là hình mẫu trong quan hệ quốc tế, là tấm gương để các quốc gia khác noi theo, học tập.

Nghĩa là không chỉ hai quốc gia Việt Nam - Hoa Kỳ mà cả cộng đồng thế giới đều ghi nhận, trân trọng những nỗ lực trong bước tiến vượt bậc về quan hệ ngoại giao giữa hai bên bởi điều này còn có sự ảnh hưởng tích cực lớn đến an ninh, hòa bình, sự đoàn kết, thịnh vượng của khu vực và trên thế giới.

Cho nên, những lời lẽ kiểu hậm hực rằng, Hoa Kỳ đừng nên quan hệ với Việt Nam, rằng Hoa Kỳ cần đưa ra yêu sách buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chế độ mới nâng cấp quan hệ hoặc châm chọc rằng, Việt Nam nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ là “theo phe này, chống phe kia”… là không đúng với thực tiễn.

Thêm một luận điệu cũ mòn nữa là các đối tượng chống đối liên tục ca thán “bày tỏ mối quan ngại sâu sắc” về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Cụ thể, một số tổ chức phi chính phủ đã viết thư chung gửi Tổng thống Hoa Kỳ, đề nghị ông Joe Biden khi sang thăm Việt Nam, trong các cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Việt Nam cần gây áp lực, can thiệp phải sửa đổi các điều luật mà các đối tượng cho rằng “mang tính chất đàn áp”, bao gồm các Điều 117 và 331, Bộ luật Hình sự và đòi bỏ Luật An ninh mạng. Họ rêu rao “chấm dứt hành vi đàn áp xuyên quốc gia và trả tự do cho tất cả tù nhân của lương tâm”; “thả tự do cho tất cả 41 nhà báo bị giam giữ”; “gặp gỡ gia đình các tù nhân chính trị để nghe những lời trần tình của họ về tình hình nhân quyền ở Việt Nam”…

Rõ là những lời bịa đặt, vu khống cũ mòn về nhân quyền ở Việt Nam. Thực tiễn, ngoài những thành tựu đạt được về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chính sách cho đồng bào dân tộc và đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người khuyết tật..., những nỗ lực trong việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam luôn được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Trưởng Đại diện của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam, bà Ramla Khalidi mới đây còn nhấn mạnh: "Việt Nam là một hình mẫu về giảm nghèo, nhất là trong một khoảng thời gian đặc biệt ngắn. Tôi nghĩ rằng nhiều quốc gia sẽ nhìn vào Việt Nam để học hỏi những bài học đó". Trong khi đó, Phó Trưởng đại diện thường trú của UNDP, ông Patrick Haverman lại đặc biệt ấn tượng với những nỗ lực không ngừng nghỉ của Việt Nam nhằm đem lại cuộc sống ấm no và công bằng cho người dân, phản ánh rõ nét trong thời kỳ đại dịch COVID-19.

Theo ông Patrick Haverman, điều này được phản ánh rõ nét trong bối cảnh đại dịch COVID-19, khi mà Việt Nam đã rất nỗ lực để bảo đảm an toàn, an ninh cho người dân và Việt Nam trở thành một trong các nước đi đầu triển khai nhanh chóng vaccine COVID-19 cho toàn dân. Rồi cũng chính Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á mở cửa biên giới, dỡ bỏ các hạn chế nhập cảnh, kích hoạt lại các hoạt động kinh tế.

Tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 54 của Hội đồng Nhân quyền diễn ra ở Geneva Thụy Sĩ, trong bài phát biểu ngày 13/9/2023, Đại sứ Lê Thị Tuyết Mai - Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva cũng đã nêu rõ chủ trương của Việt Nam về thúc đẩy và bảo vệ việc thụ hưởng quyền con người của mọi người dân, trong đó đề cao chính sách phát triển của Việt Nam lấy con người làm trung tâm, coi con người là chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển, hướng đến đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

KHẮC PHỤC BỆNH GIÁO ĐIỀU TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ NHÂN DÂN


Muốn chống được giáo điều phải hết sức chú trọng giáo dục tư duy khoa học, tư duy lý luận, thấm nhuần để thực hành phép biện chứng duy vật, thống nhất hữu cơ với quan điểm duy vật biện chứng.
1. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh trong chủ đề Đại hội, tiếp tục đổi mới sáng tạo, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc để dân tộc cường thịnh, trường tồn. Nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hướng tới mục tiêu đến năm 2045, vào giữa thế kỷ XXI, Việt Nam phải trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.
Muốn đổi mới sáng tạo, muốn đạt tới mục tiêu tổng quát nêu trên, trước hết phải khắc phục triệt để bệnh giáo điều, từ nhận thức đến hành động, từ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cấp, các ngành, ở trung ương, địa phương và cơ sở đến các cộng đồng dân cư trong xã hội, đến từng người. Bệnh giáo điều là một căn bệnh đã có từ lâu, tồn tại dai dẳng, bám sâu vào tư duy, vào cách ứng xử, vào các thói quen xấu trong nếp nghĩ, thâm nhập vào trong lối sống hằng ngày, vào các mối quan hệ: với mình, với người, với công việc và tổ chức bộ máy. Cùng với các bệnh khác, bệnh giáo điều gây ra những hậu quả tiêu cực, những hệ lụy xã hội phức tạp, thực sự là một lực cản xã hội ngăn trở chúng ta phát triển tới trình độ hiện đại.
Giáo điều là bệnh thuộc về tư duy, ý thức, nhận thức. Đó là lối suy nghĩ cứng nhắc, máy móc, rập khuôn theo những công thức đã có sẵn, không thích ứng với biến đổi mau lẹ trong thực tiễn cuộc sống, thoát ly khỏi những điều kiện lịch sử cụ thể. Do nhận thức giáo điều, dựa trên những phạm trù tĩnh nên hành động và ứng xử thường cứng nhắc, lệ thuộc vào những kết luận có sẵn trong sách vở, coi nó như một cái tuyệt đối, không thay đổi. Người mang bệnh giáo điều không thể linh hoạt, cản trở sự tìm tòi sáng tạo, không thích ứng với cái mới, ngại đổi mới thậm chí còn cố níu kéo cái cũ, dù đã tỏ ra lỗi thời, bị thực tiễn cuộc sống vượt qua từ lâu, sinh ra trì trệ, bảo thủ, chống lại cái mới và sự đổi mới, dù là không tự giác.
Bệnh giáo điều thường đi liền với bệnh giản đơn, hình thức, chủ nghĩa kinh nghiệm thực dụng, tư duy siêu hình.
Giáo đều có nguồn gốc nhận thức từ thế giới quan duy tâm chủ quan, duy ý chí và phương pháp tư duy siêu hình. Biểu hiện về mặt nhận thức là tách rời lý luận với thực tiễn, rơi vào “bệnh sách vở” mà thực chất là yếu kém về lý luận nhưng lại coi thường (“coi khinh” - chữ dùng của Hồ Chí Minh) lý luận, thường tuyệt đối hóa kinh nghiệm và bị chủ nghĩa kinh nghiệm trói buộc. Trong mối quan hệ giữa cái phổ biến và cái đặc thù, người mắc bệnh giáo điều thường tuyệt đối hóa cái phổ biến, phủ nhận cái đặc thù. Ngược lại thì rơi vào chủ nghĩa xét lại như Hồ Chí Minh giải thích.
Tóm lại, đã giáo điều thì tất sẽ chủ quan, phiến diện và siêu hình. Nó xa lạ với tư duy biện chứng, phép biện chứng duy vật vốn là khoa học về phát triển, xử lý một cách biện chứng, khách quan, khoa học giữa cái khách quan và cái chủ quan. Biểu hiện trong thực tiễn, nhất là qua thái độ và sự ứng xử, người giáo điều, nhất là giáo điều tới mức cực đoan thì thường hay phản đối một cách cảm tính những ai có tư duy độc lập sáng tạo, hay quy kết, chụp mũ về lập trường quan điểm, hay “đao to búa lớn”, “đại ngôn”, từ những khác biệt trong nhận thức, mà họ không có khả năng thuyết phục người khác về mặt lý luận, khoa học thì chuyển ngay sang những nhận định, đánh giá, phê phán về lập trường, quan điểm, rất có hại cả về nhận thức khoa học và hành động chính trị.
Người giáo điều rất hay có thói quen “chính trị hóa” mọi vấn đề, kể cả trong khoa học, dị ứng với những phê phán khoa học, hay định kiến đối với những ai và những gì khác mình. Cách nghĩ và hành xử như vậy là ở bên ngoài chân lý khoa học, ở bên ngoài dân chủ, xa lạ với văn hóa, bởi “văn hóa là biết lắng nghe”, bởi “văn hóa là thống nhất trong đa dạng, thống nhất bao hàm những khác biệt”, “văn hóa trong bản chất của nó là khoan dung”, (chấp nhận, thừa nhận cái khác mình, không tự lấy mình làm chuẩn để áp đặt người khác…)
Xét về mặt văn hóa dân chủ, người giáo điều thường hành động xa lạ với dân chủ (không quen đối thoại, thảo luận, tranh luận, phản biện) để cùng tìm tòi chân lý.
Xét về mặt đạo đức, người giáo điều dễ rơi vào hẹp hòi, đố kỵ, nhất là khi người đó lại có quyền hành và quyền uy, nếu mất bình tĩnh sáng suốt, thiếu tinh thần khách quan, tôn trọng khoa học và thực tiễn thì họ rất dễ mắc sai lầm về việc đàn áp tư tưởng, nhất là với giới trí thức sáng tạo. Xét về lãnh đạo của Đảng đối với trí thức, văn nghệ sĩ, lãnh đạo phải hiểu trí thức, nhất là với trí thức khoa học và nghệ thuật vì họ có cá tính mạnh, có nhu cầu lớn về tự do và sáng tạo, coi trọng khẳng định cái tôi - bản ngã độc lập nên khi dân chủ bị vi phạm, trí thức rất dễ tổn thương về tinh thần và các giá trị tinh thần. Lãnh đạo trí thức mà không dân chủ, không đủ sức thuyết phục họ về học thuật, tư tưởng và đạo đức thì tự nó tạo ra rào cản, thiếu sự đồng cảm, hợp tác và tin cậy lẫn nhau, khoa học thì thiếu động lực để phát triển và chính trị cũng không tiếp nhận được xung lực từ khoa học để “khoa học hóa” chính mình.
Bệnh giáo điều giản đơn thường đồng nhất hóa nhiều vấn đề, nhiều sự kiện, hiện tượng vốn chỉ thống nhất (bao hàm khác biệt) chứ không đồng nhất.
Trong đời sống, giải quyết mối quan hệ giữa khoa học và chính trị, giữa chân lý và quyền uy (quyền lực chính trị), giữa nhà khoa học và nhà chính trị, “con người khoa học” và “con người chính trị” vốn không đơn giản. Mối quan hệ phức tạp này sẽ được giải quyết bằng văn hóa, bằng ứng xử văn hóa tinh tế, bao dung của các nhà lãnh đạo mà Mác, Ăng ghen, Lênin, Hồ Chí Minh là những mẫu mực. Các ông là các nhà tư tưởng, đồng thời là những nhà bác học, nhuần nhuyễn giữa quan điểm duy vật và phương pháp biện chứng, sáng tạo chứ không giáo điều, linh hoạt uyển chuyển chứ không cứng nhắc, biết lắng nghe, biết đối thoại, biết thuyết phục. Hồ Chí Minh còn là bậc thầy về sự cảm hóa, thu phục nhân tâm, trọng dụng nhân tài, trọng đãi hiền tài một cách biện chứng chứ không siêu hình, một cách chân thành, tin cậy.
Một trong những tác hại của bệnh giáo điều, ở những người giáo điều là, dù không tự giác, không cố ý, họ cũng rơi vào sự kìm hãm dân chủ và tự do tư tưởng, có nguy cơ trở thành độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ và làm phương hại tới sự trong sạch, trong sáng của môi trường đạo đức, văn hóa đạo đức. Hệ lụy của nó là tạo ra những kẻ hở, những mảnh đất dung dưỡng cho thói dân chủ hình thức, đoàn kết hình thức, “giả đạo đức” và “giả khoa học”, “giả chính trị”, “giả cách mạng”. Kẻ cơ hội và chủ nghĩa cơ hội sẽ lợi dụng triệt để tình trạng này để thực hiện những ý đồ, những hành vi bất minh, bất chính để vụ lợi và trục lợi.
Đủ thấy vấn đề đặt ra phức tạp như thế nào và phải tìm tòi như thế nào để có một hệ giải pháp đồng bộ nhằm thanh toán triệt để bệnh giáo điều, từ nhận thức đến hành động trong cán bộ đảng viên và nhân dân.
2. Một cách cụ thể và trực tiếp, muốn chống được giáo điều phải hết sức chú trọng giáo dục tư duy khoa học, tư duy lý luận, thấm nhuần để thực hành phép biện chứng duy vật, thống nhất hữu cơ với quan điểm duy vật biện chứng. Đây là giải pháp cơ bản, hàng đầu. Nói một cách khác, phải khắc phục thế giới quan duy tâm (cả chủ quan lẫn khách quan) cùng với phép siêu hình. Phải trau dồi năng lực tư duy triết học - ở đây cái cốt lõi là triết học Mác-Lênin đồng thời với trang bị hệ thống tri thức về lịch sử tư tưởng triết học. Các tri thức triết học và tư tưởng trong lịch sử triết học phải được dạy và học trên tinh thần và phương pháp khoa học như những môn khoa học cơ bản nghiêm túc nhất. Đang có một mâu thuẫn giữa tinh giản chương trình, thu hẹp hay lồng ghép các loại hình tri thức với khuynh hướng giản lược hóa các tri thức mà người học phải được lĩnh hội. Phải khắc phục tình trạng người học “dường như cái gì cũng biết” nhưng trên thực tế thì không biết thấu đáo, ngọn ngành tri thức nào. Hiểu biết hời hợt là đồng minh của giáo điều. Cần làm cho người học, nhất là sinh viên chuyên ngành có ý thức và nhu cầu tự trau dồi trí thức triết học, không chỉ tồn tại ở các nguyên lý như cái kết luận được thừa nhận mà phải biết, phải hiểu “cái lịch sử” để nắm vững thực chất của “cái lô gích”. Phải khắc phục định kiến của không ít người trong chúng ta về “tri thức hàn lâm”, do đó dẫn đến sự hiểu biết hời hợt, thậm chí tầm thường hóa thực tiễn ứng dụng, tách rời thực tiễn với lý luận. Không hiểu lý luận, không trọng lý luận thì không thể tiếp cận thực tiễn một cách khoa học, không phải là mô tả cái bề ngoài của thực tiễn mà cái chính là đem lý luận soi sáng cho thực tiễn, là “lý luận hóa” chứ không phải “kinh nghiệm hóa” nó.
Giáo điều tất yếu sẽ biệt phái, chỉ thấy “cái một” - cái duy nhất mà không thấy sự muôn vẻ, sự đa dạng của trí thức, khoa học là phản ánh tính đa dạng của thực tiễn được khái quát hóa, lý luận hóa kinh nghiệm thực tiễn để vượt lên chủ nghĩa kinh nghiệm, tự giải phóng mình khỏi tình trạng biệt phái, giáo điều.
Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng biện chứng của các nhà kinh điển và thực hành xuất sắc phép biện chứng đó. Người không chỉ giác ngộ và tin theo chủ nghĩa Mác-Lênin, trung thành một cách sáng tạo bằng cách phát triển sáng tạo chủ nghĩa, học thuyết đó. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin là quan trọng và quyết định nhất trong ý thức hệ của mình, nhưng Người không xem đó là cái duy nhất. Người tiếp thu nhiều nguồn tri thức khác của văn hóa phương Đông và phương Tây, nhờ đó mà càng hiểu biết sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác-Lênin, thấy ở đó cả tinh thần và phương pháp, hiểu thực chất để thực hành sáng tạo, kết hợp nhuần nhuyễn khoa học với chính trị và đạo đức, tổng hợp lại đó là văn hóa. Ta phải học và làm theo Người cả về quan điểm và phương pháp là vì vậy. Để chống giáo điều biệt phái, kinh nghiệm và siêu hình, cần ghi nhớ và thực hành chỉ dẫn của Người qua các luận điểm điển hình:
+ “Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là bản chất, là nguyên tắc tối cao của chủ nghĩa Mác-Lênin”.
+ “Thực hành sinh ra hiểu biết
Hiểu biết tiến lên lý luận
Lý luận lãnh đạo thực hành”.
+ Nghiên cứu, học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là thuộc lòng từng câu từng chữ như một con vẹt mà phải nắm lấy thực chất, tiếp thu tinh thần và phương pháp Mác-Lênin để độc lập sáng tạo giải quyết những vấn đề đặt ra, để ứng xử với con người và công việc cho đúng.
+ Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ là khoa học mà còn là đạo đức. Đọc hàng trăm hàng nghìn quyển sách Mác-Lênin mà ăn ở với nhau không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu Mác-Lênin được.
+ Phương Tây có gì hay cũng học. Phương Đông có gì hay cũng học. Học để làm phong phú chính mình. Học để biết, để hành cho đúng, cho sáng tạo. Tiếp thu có chọn lọc với tinh thần phê phán, không bắt chước, không sao chép máy móc… Ta và Liên Xô rất khác nhau... Ta có thể đi con đường khác với Liên Xô để tiến tới chủ nghĩa xã hội… Phải thấy đặc điểm to nhất của nước ta là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từng bước quá độ tới chủ nghĩa xã hội…
Đó là những chỉ dẫn quý báu của Người, cần hiểu đúng, làm đúng.
Thứ hai, phải hiểu đúng “bệnh sách vở” và xử lý đúng căn bệnh sinh ra giáo điều này và vượt qua nó. Bệnh sách vở như chúng ta thường gọi có biểu hiện là lệ thuộc hoàn toàn vào sách, nhất nhất tuân theo như những giáo điều. những tín điều, sinh ra mù quáng, không có khả năng phê phán, tiếp thu cái gì, sàng lọc và từ bỏ cái gì (cái sai, cái lỗi thời) và phải đối xử với sách, với tri thức sao cho đúng, không rơi vào tư biện, không “coi khinh lý luận”, không “lý luận suông”. Bệnh sách vở thật ra là bệnh ở những người “đọc sách mà không hiểu sách”, thành con mọt sách đọc quá ít sách nên tri thức hạn hẹp, hời hợt, không có khả năng phân tích, phê phán để vận dụng cho đúng. Để chống bệnh sách vở mà thực chất là chống giáo điều thì không phải máy móc phê phán sách, coi thường sách, vứt bỏ sách mà trái lại phải quý trọng sách vở, đọc nhiều sách hơn, tích lũy nhiều trí thức hơn, “không có sách thì không có tri thức. Không có tri thức thì không có chủ nghĩa cộng sản”, “không làm giàu tri thức của mình bằng tất cả kho tàng tri thức nhân loại, thì chủ nghĩa cộng sản chỉ dừng lại là nguyện vọng mà thôi” .
Điều quan trọng là đọc sách, tiếp thu tri thức sách vở bằng phương pháp khoa học, có mục đích đúng khi đọc sách, tránh bệnh hình thức, phô trương, “đọc dăm ba quyển sách, biết được dăm ba điều để khoe khoang, để loè thiên hạ”. Không để sách vở che lấp cuộc sống, rơi vào chủ quan, tư biện, thoát ly thực tiễn.
Thứ ba, phải có tinh thần dân chủ, khiêm tốn, thực sự cầu thị, rèn luyện, tu dưỡng thường xuyên cả về tri thức (học vấn, chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ), về tình cảm và đạo đức cách mạng, bồi dưỡng niềm tin khoa học, kỹ năng thực hành và văn hóa giao tiếp ứng xử. Theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, phải ra sức “phê bình và sửa chữa” bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi và thói ba hoa được nêu trong “Sửa đổi lối làm việc” . Thói “coi khinh lý luận” lại “coi khinh dân vận” mà cán bộ đảng viên mắc phải là do cái bệnh này gây ra, phải ra sức sửa chữa. Biết lắng nghe, biết thảo luận, tranh luận, biết phân biệt đúng - sai, thật - giả, xấu - tốt, biết học hỏi từ trong sách vở nhà trường đến cuộc sống, học dân, hỏi dân, học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tiễn, nêu cao đức trung thực trong tự phê bình và phê bình, tự học, tự đào tạo suốt đời… Đó là những phẩm chất cần có của những người giác ngộ, những người cộng sản có trí tuệ, khác với người cộng sản tuy nhiệt thành nhưng thiếu hiểu biết, không đáp ứng được đòi hỏi ngày một cao của tình hình, nhiệm vụ mới. Lênin đã từng cảnh báo “nhiệt tình mà không có hiểu biết, rốt cuộc có thể dẫn đến phá hoại một cách vô ý thức”. Lênin cũng đòi hỏi học “Học nữa, học mãi” và Hồ Chí Minh nhấn mạnh “đường đời là một chiếc thang không có nước chót, học tập là một quyển vở không có trang cuối cùng”.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới sáng tạo, nuôi dưỡng tinh thần cống hiến, để thực hiện khát vọng phát triển bằng ý chí và hành động sáng tạo thực sự có hiệu quả thì phải tiếp tục đề cao, coi trọng “đổi mới tư duy”. Phải đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý và quản trị sao cho phù hợp với yêu cầu đặt ra của thời đại đang bùng nổ thông tin, xã hội đang chuyển đổi mạnh mẽ sang “xã hội số”, “kinh tế số”, “chính phủ điện tử”, “trí tuệ nhân tạo”, “thế giới phẳng” và “công dân toàn cầu” ... với không ít điều mới lạ, tác động tới tâm lý, ý thức, lối sống, lựa chọn giá trị mới…Xã hội hiện đại mà chúng ta đang sống, đang vươn tới vừa đòi hỏi phải khắc phục căn bản lối tư duy giáo điều, trì trệ, bảo thủ… lại vừa tạo ra tiền đề, điều kiện và môi trường để thanh toán giáo điều, định hình cả trình độ, phương pháp và phong cách của tư duy hiện đại. Khi Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành nước công nghiệp hiện đại thì môi trường xã hội ấy, cái cốt vật chất kỹ thuật - công nghệ hiện đại ấy sẽ dọn sạch mảnh đất sinh ra và nuôi dưỡng giáo điều, kinh nghiệm, siêu hình, biệt phái như đã nói.
Thứ năm, phải đổi mới thật sự triệt để, toàn diện, đồng bộ mọi lĩnh vực công tác và hoạt động của ngành Tuyên giáo, giáo dục và văn hóa, thông tin truyền thông. Đây là lĩnh vực cần có những cải biến cách mạng sâu sắc, mang tầm vóc một cuộc cách mạng trong lĩnh vực ý thức, tinh thần. Từ quan niệm đến nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo - tuyên truyền đến phong cách, đến đội ngũ cán bộ, đào tạo chuyên gia, tạo hiệu ứng xã hội rộng lớn, có sức truyền cảm hứng mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn dân. Hồ Chí Minh là bậc thầy trong lĩnh vực này mà ta cần học tập, làm theo. Càng không thể quên lời cảnh báo phê phán nghiêm khắc của Lênin về công tác này. Ông nói tới tác hại của giáo điều, sự xuyên tạc làm mất tín nhiệm của chủ nghĩa Mác cần phải thanh toán. Trong việc gây ra tội ác này, “những người Mác xít có môn bài” phải chịu phần trách nhiệm và ra sức sửa chữa./.
GS. TS. HOÀNG CHÍ BẢO
Chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương
Có thể là hình ảnh về văn bản