Thứ Ba, 19 tháng 9, 2023

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 Trong chiến lược chống phá Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tập trung vào chống phá Đảng, chế độ và hệ tư tưởng. Trong đó, tự do ngôn luận, báo chí đang là một mục tiêu xuyên tạc, bôi nhọ của chúng.

Gần đây, nhiều hãng thông tấn, báo chí nước ngoài và không ít trang web trong và ngoài nước rêu rao rằng: ở Việt Nam “Không có tự do ngôn luận, tự do báo chí”; “Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do internet”; Hà Nội “bắt bớ nhiều blogger”... Điển hình như: Báo cáo nhân quyền thế giới hàng năm của Anh, Úc; Nghị quyết của Nghị viện EU; Báo cáo thường niên, thông cáo báo chí của các tổ chức quốc tế; Báo cáo của tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), của tổ chức Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ)... Trong báo cáo năm nay, mặc dù không thể không thừa nhận Việt Nam đã có “tiến bộ về dân chủ, nhân quyền”, nhưng vẫn xuyên tạc tình hình, vu cáo Nhà nước vi phạm “tự do báo chí”, “đàn áp, bắt giữ trái phép các blogger”... Họ cố tình đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tự do báo chí để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền hòng hạ thấp uy tín nước ta trên trường quốc tế.
Những thủ đoạn, mưu đồ chống phá của chúng, trước hết là xuyên tạc khái niệm tự do báo chí; viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về tự do báo chí, nhưng cố tình lờ đi những quy định và điều khoản nghĩa vụ kèm theo rồi tán phát qua internet, mạng xã hội làm cho nhiều người hiểu lầm rằng “tự do báo chí” là một quyền tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế nào. Bằng nhiều hình thức khác nhau, các đối tượng còn tác động đến Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo thường niên,... với nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí”. Một số phần tử còn tác động vào các chính khách cực đoan trong Quốc hội Mỹ, Anh, Canađa,… tổ chức điều trần, hội thảo, xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam nhằm tác động Liên hợp quốc ra nghị quyết bất lợi đối với nước ta. Trên lĩnh vực báo chí, một số đối tượng còn thành lập các câu lạc bộ, các diễn đàn trên mạng dưới chiêu bài “tự do ngôn luận, tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Về khái niệm tự do báo chí, xin được khẳng định lại quan điểm của cộng đồng Quốc tế, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966. Điều 19 quy định như sau:
1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp.
2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ.
3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định. Tuy nhiên, những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để:
a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác,
b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng.”
Như vậy, bên cạnh quyền tự do báo chí, ngôn luận, còn bị hạn chế bởi quy định là: không được vi phạm “quyền, uy tín cá nhân” (người khác); không được làm tổn hại đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng. Chẳng hạn, một kẻ đưa tin một ai đó có hành vi tham nhũng nhưng không có bằng chứng là vi phạm quyền và uy tín cá nhân; một kẻ đưa tin về một lực lượng quân sự nào đó vi phạm chủ quyền quốc gia, nhưng không có sự thật, làm tổn thương đến quan hệ quốc tế, là vi phạm an ninh quốc gia đó; hoặc có kẻ đưa những hình ảnh về tệ nạn xã hội có thể làm hại đến môi trường văn hóa của một đất nước... Như vậy, cần phải hiểu đầy đủ khái niệm tự do ngôn luận, tự do báo chí cả về nội dung tư tưởng, chính trị và văn hóa.
Cho đến nay, hành lang pháp luật về báo chí của Nhà nước ta đã đầy đủ với tư duy mới về quyền con người, bảo đảm đầy đủ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, bao gồm cả tự do internet, mạng xã hội.
Luật Báo chí của Việt Nam (2016) quy định: Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; có nhiệm vụ, quyền hạn: tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân. Luật báo chí cũng có những quy định cấm báo chí không được đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền, lực lượng vũ trang; gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế; đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, v.v.
Nghị định số 13/2118/NĐ-CP, ngày 23-01-2018 của Chính phủ quy định về chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin; trong đó, Điều 4 quy định như sau: Cơ quan nhà nước có trách nhiệm "Cung cấp thông tin theo yêu cầu cho công dân thông qua tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục nhất định. Trong điều kiện internet, mạng điện tử như hiện nay, Nghị định yêu cầu bảo đảm đảm quyền tiếp cận thông tin qua các cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của các cơ quan Đảng và Nhà nước. Trừ những thông tin mật, người dân có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin cho mình, không có bất cứ điều kiện nào.
Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hệ thống các cơ quan báo chí (bao gồm báo viết, báo nói, báo hình) của Việt Nam đến nay phát triển khá đồng bộ. Theo thống kê, tính đến năm 2016, cả nước có 857 cơ quan báo chí, gồm: 199 cơ quan báo chí in, 658 tạp chí (trong đó có 105 báo, tạp chí điện tử); 01 hãng thông tấn quốc gia; 67 cơ quan phát thanh truyền hình. Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị, xã hội đều có báo, tạp chí hoặc trang thông tin, báo điện tử. Báo chí thực sự trở thành cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; một kênh thông tin quan trọng tạo ra sự đồng thuận xã hội, thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Hơn thế nữa, báo chí còn là phương tiện để người dân kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật và đóng góp ý kiến phản biện đối với các chính sách, pháp luật của Nhà nước; là công cụ bảo vệ lợi ích xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Đó là minh chứng sinh động cho việc bảo đảm quyền tự do báo chí ở Việt Nam, phản bác luận điệu vu cáo Nhà nước Việt Nam “bóp nghẹt” quyền tự do báo chí của nhân dân. Trong khi đó, quyền tự do ngôn luận báo chí ở các nước nói chung, ở Hoa Kỳ nói riêng cũng bị hạn chế, báo chí không được “vu cáo, nhục mạ, tục tằn và vô đạo đức”; “không được tuyên truyền và xúi giục bạo động gây xáo trộn sự an bình xã hội, nhất là những ngôn ngữ đó có phương hại đến nền an ninh quốc gia”.
Ở Việt Nam, thời gian qua, bên cạnh việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam đã tập trung xử lý các đối tượng lợi dụng phương tiện này để phục vụ cho mưu đồ chống phá, vi phạm quyền và lợi ích của Nhà nước và công dân theo pháp luật Việt Nam, điều này hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế.
Đối với nhiệm vụ chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta luôn xem báo chí là một lực lượng chính trị quan trọng. Thông qua báo chí, đấu tranh với tệ tham nhũng, đưa ra công luận những vụ việc, cán bộ có hành vi tham nhũng. Đồng thời, phân tích làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, những nguyên nhân từ các quy định trong chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần diệt trừ tận gốc tệ nạn này.
Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, chúng ta cần:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí, truyền thông và công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí chống phá Việt Nam. Đồng thời, giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với cả hệ thống chính trị, trong đó có các cơ quan báo chí, truyền thông, ở cả bốn khâu: Định hướng phát triển; định hướng nội dung; công tác cán bộ; công tác kiểm tra, kiểm soát. Đặc biệt coi trọng công tác rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý báo chí; thực hiện nghiêm các quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, lãnh đạo các cơ quan báo chí, truyền thông.
Hai là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về báo chí, truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội; tăng cường cơ chế phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng trong công tác chỉ đạo, quản lý trên lĩnh vực này. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định đạo đức nghề nghiệp; các chế tài xử lý vi phạm đủ mạnh để ngăn ngừa, răn đe những biểu hiện vi phạm. Hiện nay, mạng xã hội đang có tác động lớn đến xã hội, nhất là mạng YouTube (của Google). Được biết các cơ quan chức năng của Việt Nam đã nhiều lần làm việc với đại diện của Google, yêu cầu bóc những tin bài sai sự thật, nhưng hiệu quả vẫn còn thấp, còn nhiều tin bài xấu, không phản ánh trung thực tình hình Việt Nam. Biện pháp căn bản là quán triệt, tuyên truyền từ người xem, người nghe, người đọc, nhẹ dạ cả tin, không nghe, không tin những tin bài đó.
Ba là, cán bộ làm công tác báo chí phải làm tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ðể làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”. Do đó, mỗi nhà báo cần không ngừng học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức cách mạng, thực hiện tốt Luật Báo chí và các quy định của pháp luật trên lĩnh vực báo chí; hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích vì lợi ích của đất nước, của nhân dân, góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Hiện nay, đã và đang xuất hiện tình trạng báo chí viết bài không để chuyển tải nội dung tư tưởng, chính trị, văn hóa chính thống, mà vì “câu view” “câu like” và mong muốn có nhiều người đọc, nhiều like, được nhiều view. Bởi vậy, báo chí không chỉ phòng ngừa xu hướng này mà còn đưa ra những giải pháp kỹ thuật ngăn chặn.
Bốn là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực báo chí, truyền thông. Qua đó, chủ động phát hiện những hành vi sai phạm, xu hướng lệch lạc ở các cơ quan báo chí và đội ngũ phóng viên, nhà báo để có các biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh. Đặc biệt, qua công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi vị trí lãnh đạo, quản lý đối với những người không đủ bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam; kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và đối ngoại, qua nhiều kênh và nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú làm cho cộng đồng quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Qua đó, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, góp phần đấu tranh hiệu quả các luận điệu vu cáo, xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam.
Tự do ngôn luận báo chí đối với các chế độ xã hội và nhà nước là một điều kiện bảo đảm quyền con người. Hơn thế nữa còn là một điều kiện quan trọng để phát triển xã hội về các mặt, từ tư tưởng, chính trị đến kinh tế, xã hội và văn hóa. Một xã hội không có tự do ngôn luận, báo chí, như có người nói - đó là “một xã hội đã chết lâm sàng”. Tự do ngôn luận, báo chí của người dân Việt Nam đã được hiến định bảo đảm bằng một hệ thống pháp luật minh bạch. Mọi luận điệu xuyên tạc quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam cần phải bị bác bỏ, lên án./.
St

CẢNH BÁO SẬP BẪY LỪA QUA THỦ ĐOẠN "QUÀ TRI ÂN NHÂN TẾT TRUNG THU"

 Các đối tượng sẽ yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ với số tiền tăng dần theo cấp độ để được nhận quà hoặc tăng phúc lợi. Nếu nạn nhân phát hiện ra mánh khóe và không chuyển tiền nữa, họ sẽ lập tức bị chặn khỏi nhóm và xóa hết các tin nhắn.

Sáng 18/9, Công an tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết, vừa phát đi thông tin cảnh báo trên hệ thống mạng xã hội đến người dân trên địa bàn toàn tỉnh về việc các đối tượng xấu lợi dụng dịp tết Trung thu để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.
Mới đây, 1 công nhân đang làm việc tại 1 nhà máy ở Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô (đóng tại huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế) nhận được cuộc điện thoại từ số lạ, thông báo về việc nhận được quà tri ân nhân dịp tết Trung thu và dự kiến, ngày 20/9, quà sẽ được chuyển về nhà. Sau đó, người gọi điện yêu cầu người công nhân đồng ý kết bạn qua zalo để họ hướng dẫn thực hiện các thủ tục nhận quà.
Do không thành thạo công nghệ thông tin nên nữ công nhân này yêu cầu một đồng nghiệp nhờ đồng ý kết bạn để làm các thủ tục nhận quà. Lúc này, nữ công nhân được các đồng nghiệp cho rằng, đây là chiêu trò lừa đảo của các đối tượng xấu, chứ bản thân nữ công nhân chưa bao giờ mua hàng hóa gì qua mạng thì làm gì có chuyện nhận được quà tri ân nhân dịp tết Trung thu… nên nữ công nhân đã không kết bạn với người gọi điện.
Theo Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, với thủ đoạn “Đề nghị làm nhiệm vụ để nhận quà tri ân”, các đối tượng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người dân. Cụ thể, các đối tượng gọi điện thoại thông báo nạn nhân được nhận quà tri ân nhân dịp tết Trung thu. Sau đó, yêu cầu nạn nhân kết bạn qua mạng xã hội (Zalo, Facebook, Telegram...) để được hướng dẫn thực hiện các thủ tục nhận quà.
Sau khi nạn nhân đồng ý kết bạn, các đối tượng tiếp tục mời tham gia vào các nhóm mạng xã hội để thực hiện các nhiệm vụ. Đồng thời, đề nghị nạn nhân nộp, chuyển tiền vào các tài khoản ngân hàng do đối tượng cung cấp để chiếm đoạt tài sản.
Các đối tượng sẽ yêu cầu nạn nhân thực hiện các nhiệm vụ với số tiền tăng dần theo cấp độ để được nhận quà hoặc tăng phúc lợi. Nếu nạn nhân phát hiện ra mánh khóe và không chuyển tiền nữa, họ sẽ lập tức bị chặn khỏi nhóm và xóa hết các tin nhắn.
Công an tỉnh Thừa Thiên Huế lưu ý, để phòng, tránh thủ đoạn lừa đảo trên, người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước các hoạt động yêu cầu làm nhiệm vụ để được nhận quà hoặc tăng phúc lợi. Người dân tuyệt đối không chuyển tiền với mọi lý do cho những người không quen biết hoặc chỉ quen biết qua mạng xã hội. Đồng thời, trình báo cơ quan Công an nơi gần nhất khi phát hiện hoạt động có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra./.
St

CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG “4 KHÔNG” CỦA VIỆT NAM KHIẾN CÁC NƯỚC ĐAU ĐẦU GIẢI MÃ?

 Trên trang “Dân Luận” của anh chị em dân chủ đang bàn nhau câu chuyện liệu Việt Nam có nên từ bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để hướng đến tương lai rực rỡ hơn không, nhưng cần nhìn nhận rằng:

Trong buổi họp báo với phái đoàn Tổng thống Mỹ Joe Biden thăm Việt Nam để nâng cấp quan hệ ngoại giao, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có nhắc lại chính sách quốc phòng “4 không” để thế giới hiểu hơn quan điểm của Việt Nam. Đây là lý do nhiều năm qua phương Tây, Mỹ và các nước lớn khác đang cố tiếp cận giải mã tạo ảnh hưởng tại Việt Nam.
Chính sách 4 không gồm: 1. Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; 2. Việt Nam không tham gia liên minh quân sự; 3. Không liên kết với nước này để chống nước kia; 4. Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam được cho là khéo léo khi nằm kẹp giữa ảnh hưởng của các nước lớn như Mỹ - Trung, Mỹ, Hàn, Nhật – Nga tại khu vực đầy tính năng động Châu Á - Thái Bình Dương. Việc Việt Nam thể hiện cam kết với chính sách quốc phòng 4 không duy trì từ sau chiến tranh với địch thủ Mỹ 1975 cho thấy rằng muốn tiếp cận với Việt Nam các nước cần có thái độ tôn trọng chủ quyền, độc lập, lợi ích hài hòa, khó khăn cùng chia sẻ.
Xét trên khía cạnh ngoại giao quốc phòng, Việt Nam đang cân bằng chiến lược với các nước lớn như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc để đối trọng với sự quyết đoán ngày càng gia tăng của Trung Quốc trên Biển Đông. Việt Nam từ chối cho Nga thuê lại quân cảng Cam Ranh dù Nga với Liên Xô trước đây là hai thực thể tiếp nối nhau có ơn nghĩa đối với Việt Nam, Việt Nam vẫn ưu tiên sử dụng cảng Cam Ranh như một cửa ngõ để thực hiện tiếp tế hậu cần cho tàu thuyền tất cả các nước trên thế giới.
Việc các nước lớn đang mong muốn Việt Nam ngả theo bên nào cũng để phục vụ lợi ích của những nước đó. Việt Nam lựa chọn chiến lược độc lập, chủ quyền nhưng hài hòa lợi ích được xem là “đối thủ” khó chịu khi tiếp cận cho các nước khác.
Việc duy trì chính sách nhất quán là điều Việt Nam cần làm hơn là nghe theo những lời “kích bác” của số anh em dân chủ để mong Việt Nam đổ vỡ./.
St


TÊN ĐẶNG HỮU NAM LẠI TIẾP TỤC LÊN SÓNG BÔI NHỌ ĐẢNG VÀ CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC!

     Dù đã có không ít lần bị chỉ mặt, điểm tên trên truyền hình, các mặt báo về những hoạt động đi ngược lại với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương, kích động, cổ vũ giáo dân gây ra các hành vi gây rối trật tự công cộng và thậm chí Giáo hội, Giáo phận Vinh cũng đã có hình thức xử phạt “treo chén, vạ tuyệt thông" nhưng dường như không hề hấn gì với bộ mặt trơ trẽn của tên linh k.ẩu Đặng Hữu Nam này. Hắn vẫn tiếp tục ngang nhiên thách thức chính quyền, pháp luật và giáo hội. 

Trên facebook cá nhân, Đặng Hữu Nam liên tục chia sẻ nhiều bài viết có nội dung kích động, chia rẽ đoàn kết lương giáo, xúc phạm Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương với những lời lẽ xuyên tạc, vu khống một cách trắng trợn của tên linh k.ẩu này. 
 Đây là những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc quen thuộc của hắn trong thời gian qua, đặc biệt là kể từ khi bị đấng bề trên Giáo hội xử phạt hình phạt “treo chén” thì hắn càng ra sức chống đối chính quyền nhiều hơn. 
Kính mong các chức sắc giáo hội và cơ quan chính quyền lôi cổ thằng linh k.ẩu này ra trước vành móng ngựa để xử lý chứ không thể cho hắn hoành hành như thế này mãi được, làm ảnh hưởng đến niềm tin của giáo dân đối với đảng và nhà nước, cần phải mạnh tay với tên link k.ẩu này để làm gương cho những k.ẩu khác noi theo./.

Yêu nước ST.

DANH TƯỚNG NÀO MÀI GƯƠM DƯỚI BÓNG TRĂNG ĐÁNH ĐUỔI GIẶC MINH?

 Ông là danh tướng tham gia đánh đuổi giặc ngoại xâm, gắn với giai thoại “gươm mài bóng nguyệt” đi vào thi ca.

Đặng Dung (1373-1414) là vị tướng nổi tiếng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, tham gia đánh giặc Minh xâm lược. Dù sự nghiệp không thành, Đặng Dung đã để lại tấm gương sáng về tinh thần chống ngoại xâm của dân tộc ta.
Đặng Dung là danh tướng của nhà Hậu Trần. Nhà Hậu Trần tồn tại từ năm 1407 đến năm 1413, trải qua hai đời vua là Trùng Quang Đế và Giản Định Đế.
Đặng Dung là con trai Đặng Tất – tướng hàng đầu của nhà Hậu Trần, có nhiều công lao trong kháng chiến chống quân Minh, nhưng cuối cùng bị Giản Định Đế giết oan năm 1409.
Đặng Dung là tướng của Trần Quý Khoáng. Sau khi cha là Đặng Tất bị giết hại, Đặng Dung vào Thanh Hóa, lập Trần Quý Khoáng làm vua, lấy hiệu là Trùng Quang Đế.
Tháng 9/1413, quân của Trương Phụ vào đến Thuận châu, Nguyễn Súy và Đặng Dung giữ sông Thái Gia, đặt phục binh, nhân đêm đánh úp dinh Trương Phụ. Đặng Dung nhảy lên thuyền Trương Phụ toan bắt sống, nhưng không biết mặt. Trương Phụ nhảy xuống sông lấy thuyền nhỏ chạy thoát.
Theo Khâm định việt sử thông giám cương mục, Đặng Tất và Đặng Dung người làng Tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, Nghệ An, nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Từ cuối năm 1413, quân Hậu Trần ngày càng suy yếu, không thể chống lại quân Minh, Đặng Dung rơi vào tay giặc. Trên đường bị chúng giải về Trung Quốc, ông đã tuẫn tiết. Trước khi qua đời, ông để lại bài thơ Thuật hoài được khắc trên mạn thuyền, sau được nhiều người truyền tụng, trong đó có 2 câu cuối: Thù trả chưa xong đầu đã bạc/ Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Đó là lời nhận xét của Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Tuy thất bại, cũng vẫn vinh quang. Trong khoảng 5 năm, kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng, khí thế càng hăng, đến kiệt sức mới chịu thôi. Lòng trung vì nước của người bề tôi, dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được!”./.
St


BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG “THỰC CHẤT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ CHỦ NGHĨA DÂN TỘC”

 Khi việc công khai phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dần đuối lý và tỏ ra kém hiệu quả, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại sử dụng một chiêu trò khác để chống phá cách mạng Việt Nam, đó là: dựa trên một số sự kiện lịch sử để đưa ra những xuyên tạc nhằm chứng minh rằng, “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”. Mục đích sâu xa của chúng là làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đây là luận điệu phi lý, cần kiên quyết bác bỏ.

Từ sự thừa nhận không thể phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta bằng cách điên cuồng phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh khi hệ thống tư tưởng, lý luận này đang ngày càng đúng với những diễn biến của thời đại, các thế lực chống phá lại dở nhiều chiêu trò khác. Một trong những thủ đoạn gần đây mà chúng thường sử dụng là đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; chúng dựa vào những sự kiện lịch sử rồi dùng thủ thuật quen thuộc là “đánh lộn sòng đen trắng” để hướng lái dư luận, rằng: tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc. Chẳng hạn như: vin vào sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Liên xô để gặp gỡ I.V. Stalin - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên xô và cuộc nói chuyện giữa hai vị lãnh tụ vĩ đại này vào cuối năm 1952 để đưa ra luận điệu rằng: “I.V. Stalin cáo buộc Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa dân tộc”; trắng trợn hơn, họ dựa vào sự kiện Quốc tế III chỉ thị đồng chí Nguyễn Ái Quốc về tại Cửu Long, Trung Quốc để hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng kết quả của Hội nghị là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) để rêu rao rằng: “Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930) đã chứng minh rằng tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc”. Tinh vi hơn, họ còn “giả vờ” công nhận công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam để hạ thấp, kích động tư tưởng bài trừ chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng việc Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động là không phù hợp, bởi vì đây là hai hệ tư tưởng hoàn toàn đối lập nhau, v.v. Tuy nhiên, thực tế lịch sử lại chứng minh điều ngược lại, trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Và tư tưởng của Người “là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”1; hoàn toàn không thể, không phải là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc như luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống phá.

Thứ nhất, động lực thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa yêu nước chứ không phải là chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước) là cảm xúc, tình cảm, tinh thần yêu thương, tích cực đối với quê hương, đất nước. Trong khi đó, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”2. Sự khác biệt cơ bản giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc thể hiện ở chỗ: người yêu nước tự hào về đất nước của mình vì những gì nó xứng đáng, còn người theo chủ nghĩa dân tộc tự hào về đất nước của mình bất kể thứ gì (kể cả việc gây tội ác với dân tộc khác), tức là sự tự hào một cách mù quáng và cực đoan. Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”3. Từ lòng yêu nước, thương nòi, Người đã yêu thương, đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, những lớp người dân lao động lầm than ở các nước chính quốc; đó là động lực để Người tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hiện thực hóa lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, nhân loại. Trả lời phóng viên của Tạp chí Thanh Niên (Canada, tháng 12/1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nói rằng lúc còn thanh niên, tôi theo “chủ nghĩa dân tộc”, có lẽ không đúng. Vì hồi đó tôi chỉ biết thương đồng bào tôi, chứ chưa biết “chủ nghĩa” gì cả. Khi đi sang châu Phi, tôi thấy nhân dân thuộc địa ở đây cũng cực khổ, cũng bị áp bức, bóc lột như nhân dân Đông Dương. Khi sang các nước châu Âu, tôi thấy ở đó cũng có một số người rất giàu, “ngồi mát ăn bát vàng”, và lớp người nhân dân lao động rất nghèo khổ. Tôi suy nghĩ nhiều lắm. Trong lúc đó thì Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thành công ở Nga. Lênin tổ chức Quốc tế Cộng sản. Rồi Lênin phát biểu Luận cương cách mạng thuộc địa. Những việc đó làm cho tôi thấy rằng: Nhân dân lao động Đông Dương, nhân dân các thuộc địa và nhân dân lao động muốn tự giải phóng thì phải đoàn kết lại và làm cách mạng. Vì vậy, tôi trở nên người theo Chủ nghĩa Mác - Lênin”4. Như vậy, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một chặng đường dài, vượt qua những chông gai thử thách, Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng rõ ràng, động lực chính là lòng yêu nước, thương dân, chứ không phải vì chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan như các thế lực phản động đang rêu rao.

Thứ haiHồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân trong tiếp cận, giải quyết vấn đề dân tộc; là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, không chấp nhận chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa Sô vanh trong phong trào Cộng sản quốc tế. Xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc luôn gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vấn đề dân tộc được Người tiếp cận và giải quyết như động lực để thúc đẩy sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và là tiền đề cho cách mạng vô sản trên toàn thế giới; lý tưởng giải phóng dân tộc không thể tách rời với mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại. Trong thực tiễn hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh cũng luôn đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, Sô vanh nước lớn. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mátxcơva từ ngày 14 đến 16/11/1957, chính Hồ Chí Minh là người kiên quyết nhất trong đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”5. Chính vì vậy, cho rằng “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một luận điệu “đánh lộn sòng đen trắng” cố tình lấp liếm, bỏ qua lập trường, quan điểm giai cấp công nhân của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam, phủ nhận vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng của Người.

Thứ baHồ Chí Minh là một trong những người tiên phong bảo vệ và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc trong mối quan hệ với nhân loại, vì mục tiêu chung là công bằng, tiến bộ và hòa bình. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa quan điểm về vai trò của quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, và khẩu hiệu hành động: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”, Hồ Chí Minh thấy rõ sự cần thiết và con đường tập hợp, đoàn kết các lực lượng của từng dân tộc và trên thế giới để sự nghiệp giải phóng dân tộc giành thắng lợi hoàn toàn, Người kêu gọi: “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại!”. Đồng thời, Người khẳng định: “Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”6. Đây không chỉ là một cống hiến rất quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận Mác - Lênin, mà còn cho thấy, Người luôn giải quyết hài hòa, đặt quyền lợi của dân tộc trong mối liên hệ với nhân loại, với giai cấp, với các dân tộc bị áp bức vì mục tiêu chung là xây dựng thế giới hòa bình, tiến bộ, phát triển. Tư tưởng đó đã vượt lên trên “chủ nghĩa dân tộc”, nó hoàn toàn trái ngược với mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, với mưu đồ chính trị đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc.

Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, “mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”7. Đó là tất yếu khách quan, sự lựa chọn của lịch sử mà không luận điệu, thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Luận điệu “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là vô căn cứ, thủ đoạn xảo trá, thấp hèn, dù có tô vẽ thế nào cũng không thể che mờ chân lý./.

St

NĂM MƯƠI NĂM CHUYẾN THĂM LỊCH SỬ CỦA CHỦ TỊCH CUBA FILDEL CASTRO ĐẾN VÙNG ĐẤT LỬA QUẢNG TRỊ

 Trong suốt 50 năm qua, ký ức của người dân Việt Nam, đặc biệt là những người dân vùng đất lửa Quảng Trị năm xưa, vẫn vẹn nguyên hình ảnh vị lãnh tụ Cuba Fidel Castro, nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên và duy nhất, giữa mưa bom bão đạn đến thăm chiến trường Quảng Trị ngày 15-9-1973, phất cao lá cờ bách chiến bách thắng của Việt Nam. Đây là biểu tượng của ý chí, tình đoàn kết quốc tế cao cả, ghi dấu “mối quan hệ hiếm có, đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba”

Mối quan hệ hữu nghị, thủy chung, trong sáng, mẫu mực, cao cả

Ngày 2-12-1960, Việt Nam và Cuba chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mở đầu cho mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước ở cách xa nhau nửa vòng Trái đất. Mối quan hệ tốt đẹp này đã được các lãnh tụ cách mạng tiền bối José Martí, Hồ Chí Minh, Fidel Castro, các thế hệ lãnh đạo cũng như nhân dân Việt Nam và Cuba dày công vun đắp, củng cố và phát triển lên tầm cao mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Việt Nam và Cuba cách xa nhau hàng vạn dặm, nhưng lòng nhân dân hai nước chúng ta thì rất gần gũi nhau như anh em một nhà”(1).

Nhìn lại chặng đường lịch sử, tình đoàn kết chiến đấu, sự ủng hộ mạnh mẽ của Cuba đối với cuộc cách mạng chính nghĩa của nhân dân Việt Nam được thể hiện không chỉ bằng những tuyên bố, những lời nói, mà còn qua những hành động cụ thể, thiết thực, cả về tinh thần và vật chất, “có một không hai trong lịch sử, là hình mẫu cao đẹp cần được xây dựng trong quan hệ quốc tế hiện đại”. Cuba là nước đi tiên phong và mạnh mẽ nhất trong phong trào thế giới ủng hộ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ với câu nói bất hủ đã đi vào lịch sử, thể hiện tình cảm ruột thịt, sự sẵn sàng hy sinh, sẻ chia với người đồng chí, anh em Việt Nam: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình!” trong cuộc mít-tinh tại Quảng trường cách mạng José Martí ở La Habana ngày 2-1-1966, nhân kỷ niệm ngày Cách mạng Cuba thành công và chào mừng Hội nghị Đoàn kết Á - Phi - Mỹ La-tinh.

Trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam vô cùng khó khăn, gian khổ, nhà lãnh đạo cao nhất của Cuba Fidel Castro đã biến những chuyến công du nước ngoài thành cơ hội vận động chính phủ và nhân dân các nước đoàn kết, ủng hộ Việt Nam. Hơn thế, trong những cuộc tuần hành quần chúng ở Cuba thể hiện tình đoàn kết với Việt Nam luôn có sự xuất hiện, đồng hành của ông. Cuba đã phát động nhiều phong trào quần chúng rộng rãi ủng hộ Việt Nam thông qua các cuộc mít-tinh, hội thảo, nói chuyện, thi tìm hiểu về Việt Nam; lập các tổ nghiên cứu chuyên đề về Việt Nam tại các trường đại học, cơ quan, xí nghiệp, đơn vị quân đội... Hằng ngày, Đài Tiếng nói Cuba dành 6 tiếng phát thanh bằng tiếng Anh để nhân dân Mỹ hiểu rõ về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam. Nhiều đường phố, trường học, nhà máy, công viên, khu phố, cơ sở… ở Cuba mang tên Việt Nam, như: Trường Tiểu học Tio Hồ (Trường Tiểu học Bác Hồ), Trường Tiểu học Võ Thị Thắng, đường Nguyễn Văn Trỗi (ở La Habana), làng Bến Tre (tỉnh Artemisa), sân vận động Nguyễn Văn Trỗi (tỉnh Guantánamo)...; ngay cả một số người dân Cuba cũng có tên tiếng Việt là Hà Nội... Cuba trở thành biểu tượng và đi đầu trong phong trào nhân dân thế giới đoàn kết, ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam, giành thắng lợi hoàn toàn, thống nhất đất nước.

Về chính trị, Cuba là nước Mỹ La-tinh đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là nước đầu tiên trên thế giới công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (tháng 12-1961) và thành lập Ủy ban toàn quốc đoàn kết với nhân dân miền Nam Việt Nam (tháng 9-1963) với hệ thống tổ chức từ Trung ương tới cơ sở - tiền thân của Hội Hữu nghị Cuba - Việt Nam sau này. Cuba cũng là một trong những nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, đồng thời đặt Đại sứ quán trong vùng giải phóng miền Nam Việt Nam tại tỉnh Tây Ninh (tháng 7-1967); tạo điều kiện để Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập Cơ quan đại diện ở La Habana với quy chế ngoại giao, cung cấp mọi phương tiện cho hoạt động của Cơ quan đại diện (trụ sở, xe cộ, kinh phí hoạt động và nhân sự).

Tuy vẫn phải đối mặt với vô vàn khó khăn, nhưng Cuba đã dành cho Việt Nam sự giúp đỡ quý báu, hiệu quả thông qua giáo dục, đào tạo nhân lực, viện trợ đường, thuốc men, phương tiện y tế, vật tư, một số thiết bị quân sự đặc chủng và 10 công trình xây dựng ở miền Bắc, nâng cấp đường Trường Sơn, khu vực Quảng Trị - Thừa Thiên Huế, phục vụ vận chuyển vũ khí, khí tài nặng cho chiến trường miền Nam… Điển hình, năm 1972, Cuba đã cử một đội y tế sang giúp Việt Nam; hai con tàu El Jigue và Imias đã mang hàng viện trợ cho Việt Nam tại cảng Hải Phòng. Hơn 1.000 kỹ sư, kỹ thuật viên, công nhân Cuba cùng toàn bộ trang thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu cần thiết đã sát cánh cùng công nhân Việt Nam xây dựng 5 công trình. Sau chuyến thăm lịch sử của nhà lãnh đạo Cuba Fidel Castro đến Quảng Trị, năm 1974, Cuba đã giúp Việt Nam xây dựng Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba tại Đồng Hới. Chính phủ Cuba đã tặng bộ đội Trường Sơn một dàn xe, máy làm đường hiện đại, đồng bộ với tổng giá trị 6 triệu USD; đồng thời cử một lực lượng kỹ sư, công nhân kỹ thuật bậc cao sang giúp ta làm đường, đưa cán bộ kỹ thuật của ta sang Cuba đào tạo. Những cán bộ này trở thành lực lượng hạt nhân của các đơn vị thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn triển khai xây dựng đường cơ bản Đông Trường Sơn… Ngày 30-4-1975, ngay sau khi nghe tin Việt Nam hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Chủ tịch Cuba Fidel Castro đã đến Đại sứ quán Việt Nam tại La Habana để chúc mừng. Ông đặc biệt vui mừng và khẳng định đây không chỉ là thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam, mà còn là thắng lợi của nhân dân Cuba và toàn thế giới. Cuộc diễu hành ngày 1-5-1975 do Chủ tịch Cuba Fidel Castro dẫn đầu tại Quảng trường cách mạng José Martí đã trở thành cuộc diễu hành khổng lồ chào mừng thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Sau năm 1975, đúng như tuyên bố của Chủ tịch Cuba Fidel Castro: “Trong hòa bình, Cuba sẵn sàng đổ mồ hôi để góp phần xây dựng lại Việt Nam mười lần to đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn”(2), Cuba tiếp tục duy trì hợp tác giúp đỡ Việt Nam về khoa học - công nghệ; viện trợ xây dựng Nhà máy đường Tây Ninh, cung cấp các giống cây trồng và tham gia việc thẩm định nhiều công trình xây dựng, phát triển ở Việt Nam… Trong những thời điểm tình hình quốc tế, khu vực phức tạp, Cuba kiên định lập trường nguyên tắc cách mạng, ủng hộ Việt Nam tự vệ chống xâm lược. Tình đoàn kết và sự ủng hộ quý báu của những người đồng chí, anh em Cuba đã góp phần to lớn trong việc tăng cường thế và lực cho cách mạng Việt Nam vào thời điểm quyết định trên cả ba mặt trận kinh tế, chính trị và ngoại giao; là nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với Việt Nam trong cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc. Trong suốt những năm 80 của thế kỷ XX, Cuba cùng Việt Nam chống chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ… Trong nhiều năm, Cuba tặng Việt Nam 1 vạn tấn đường mỗi năm, tài trợ toàn bộ chi phí đối với rất nhiều hoạt động của ta, như tất cả các đoàn Việt Nam sang thăm Cuba, các cuộc gặp gỡ ở Cuba của ta với thanh niên, sinh viên Mỹ... Trong đại dịch COVID-19 vừa qua, Cuba đã cử chuyên gia y tế sang giúp Việt Nam, cung cấp hàng nghìn liều vaccine phòng, chống dịch bệnh COVID-19 và sẵn sàng hợp tác sản xuất vaccine Abdala với Việt Nam.

Có thể nói, tình đoàn kết chiến đấu, sự ủng hộ và giúp đỡ hết lòng của Chủ tịch Cuba Fidel Castro cũng như nhân dân Cuba đối với Việt Nam có một không hai trong lịch sử, là hình mẫu cao đẹp trong quan hệ quốc tế hiện đại.

Về phía Việt Nam, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn coi việc đoàn kết, giúp đỡ Cuba là tình cảm, trách nhiệm và nghĩa vụ quốc tế xuất phát từ truyền thống, đạo lý của dân tộc và là sự tri ân sâu sắc trước những ủng hộ, giúp đỡ trong sáng, vô bờ mà Cuba đã dành cho Việt Nam. Theo đó, Việt Nam đã chia sẻ kinh nghiệm thắng lợi của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc chống xâm lược; hỗ trợ phần nào giúp Cuba vượt qua những thời điểm khó khăn nhất, chia sẻ kinh nghiệm về xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế; hợp tác giúp Cuba sản xuất lúa, gạo và phát triển lương thực (Dự án lúa gạo hộ gia đình, Chương trình hợp tác phát triển sản xuất lương thực giai đoạn 2010 - 2015 và giai đoạn 2018 - 2022, Dự án hợp tác phát triển sản xuất lúa gạo giai đoạn 2019 - 2023). Điều quan trọng hơn, các dự án này đã giúp nông dân Cuba tiếp thu và làm chủ được kỹ thuật canh tác lúa nước nhằm đạt được mục tiêu của Cuba là tự cung, tự cấp lương thực… Việt Nam cũng cung cấp gạo cho Cuba từ 300.000 - 400.000 tấn/năm. Ngoài ra, Việt Nam thúc đẩy hợp tác với Cuba trong lĩnh vực thương mại, dầu khí, viễn thông và nhiều lĩnh vực đầu tư khác.

Về chính trị, hai nước thường xuyên trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao lẫn nhau. Nổi bật là các chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Raul Castro (tháng 7-2012), Chủ tịch Quốc hội Esteban Lazo (tháng 6-2017); chuyến thăm và dự các hoạt động kỷ niệm 45 năm lãnh tụ Fidel Castro thăm Việt Nam và tỉnh Quảng Trị của Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Salvador Valdes Mesa (tháng 9-2018); chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Miguel Mario Diaz Canel Bermudez (tháng 11-2018)… Về phía Việt Nam có các chuyến thăm Cuba của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (tháng 4-2012); Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (tháng 3-2014); Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (tháng 9-2015); Chủ tịch nước Trần Đại Quang (tháng 10-2016); chuyến thăm để dự lễ tang lãnh tụ Cuba Fidel Castro của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân (tháng 11-2016); chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (tháng 3-2018)…; gần đây nhất là chuyến thăm Cuba của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ (tháng 4-2023).

Cuối năm 2017, Việt Nam đã quyết định xóa toàn bộ các khoản nợ chính phủ của Cuba với Việt Nam (trị giá 143,7 triệu USD), nhân chuyến thăm Cuba cấp Nhà nước của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (tháng 3-2018). Trong chuyến thăm, Việt Nam đã tặng Cuba 5.000 tấn gạo, phê duyệt dự án hỗ trợ Cuba sản xuất lúa, gạo giai đoạn 2018 - 2022. Hai bên ra Tuyên bố chung và ký kết 23 văn kiện, trong đó có 4 hợp đồng kinh tế. Ngày 1-4-2020, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Cuba chính thức có hiệu lực. Tháng 9-2021, hai nước đã ký kết các văn kiện hợp tác giữa các bộ, ngành, bao gồm: Kế hoạch hành động triển khai Chương trình nghị sự kinh tế trung hạn giai đoạn 2021 - 2025; Bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực y tế; Kế hoạch thực hiện dự án hỗ trợ ngành nuôi trồng thủy sản Cuba giai đoạn III; Chương trình hợp tác giai đoạn 2022 - 2023 giữa hai Bộ Tư pháp; Bản ghi nhớ về kế hoạch hợp tác trong lĩnh vực an ninh mạng và một số thỏa thuận, bản ghi nhớ của doanh nghiệp hai nước trong lĩnh vực năng lượng và du lịch. Hiện nay, Việt Nam là nước đầu tư lớn nhất khu vực châu Á - châu Đại Dương tại Cuba.

Tình cảm đoàn kết và sự ủng hộ của Việt Nam đối với Cuba luôn được thể hiện nhất quán và mạnh mẽ thông qua phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cũng như lập trường của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế. Mới đây nhất, chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ (tháng 4-2023), sau khi Cuba tổ chức Tổng tuyển cử thành công Quốc hội khóa X, nhiệm kỳ 2023 - 2028 và hoàn tất quá trình kiện toàn Ban lãnh đạo Nhà nước và Chính phủ mới, đã thể hiện tình cảm, sự quan tâm đặc biệt và sự cổ vũ lớn của Việt Nam đối với đất nước anh em Cuba. Trong khuôn khổ chuyến thăm, ngày 22-4-2023, tại trụ sở chính quyền tỉnh Santiago De Cuba, hai bên đã ký kết Bản ghi nhớ về việc thiết lập quan hệ hữu nghị giữa hai tỉnh Quảng Trị và Holguín, mở ra hướng hợp tác mới trên các lĩnh vực mà hai tỉnh cùng quan tâm và có lợi thế. Trước đó, tại Kỳ họp thứ 37 của Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam - Cuba năm 2019, Thứ trưởng Bộ Y tế Cuba Marcia Cobas Ruiz và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị Hoàng Nam đã ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác về lĩnh vực y tế giữa tỉnh Quảng Trị và nước Cộng hòa Cuba nhằm thiết lập chiến lược hợp tác toàn diện trong lĩnh vực y tế giữa hai nước Việt Nam - Cuba cũng như giữa tỉnh Quảng Trị với Cuba.

Trong lĩnh vực quốc phòng, hoạt động đối ngoại quốc phòng được hai nước đẩy mạnh với những nội dung, phương thức hợp tác phù hợp, thực chất, hiệu quả hơn thông qua chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo quân đội hai nước. Theo đó, hai nước tích cực triển khai Thỏa thuận phát triển hợp tác quốc phòng, Kế hoạch hợp tác quốc phòng giai đoạn 2014 - 2016 và giai đoạn 2017 - 2019, xây dựng hồ sơ về 60 năm lịch sử quan hệ quốc phòng Việt Nam - Cuba. Bên cạnh đó, hai nước duy trì trao đổi đoàn các cấp nhằm chia sẻ kinh nghiệm trên các lĩnh vực, nhất là xây dựng quân đội vững mạnh, tăng cường hợp tác công nghiệp quốc phòng, đưa lĩnh vực này trở thành trụ cột trong quan hệ quốc phòng song phương; trao đổi kinh nghiệm bảo quản vũ khí, trang bị, phục hồi nhiên liệu cho các loại tên lửa phòng không, sử dụng nhiên liệu cho máy bay, chế tạo và sử dụng máy bay không người lái, quản lý vùng trời, chỉ huy tác chiến phòng không, phòng thủ, bảo vệ biển, đảo…

Trong lĩnh vực ngoại giao đa phương, hai nước duy trì quan hệ hợp tác và ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên hợp quốc và Phong trào Không liên kết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, nâng cao uy tín và vị thế của mỗi nước; đồng thời, đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở hai khu vực và trên thế giới. Việt Nam ủng hộ Cuba ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2021 - 2023, tích cực hỗ trợ Cuba ký kết Hiệp ước thân thiện và hợp tác với Đông Nam Á (tháng 11-2020), nhất quán ủng hộ việc chấm dứt bao vây, cấm vận chống Cuba. Cuba ủng hộ Việt Nam ứng cử vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021.

Tròn nửa thế kỷ qua, chuyến thăm vùng giải phóng Quảng Trị của Chủ tịch Cuba Fidel Castro ngày 15-9-1973 vẫn vẹn nguyên những dấu ấn sâu đậm không chỉ trên lĩnh vực ngoại giao, mà còn cả trong cuộc sống của nhiều người dân Việt Nam. Trong trái tim của người dân Việt Nam, Chủ tịch Cuba Fidel Castro là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần quật khởi và khát vọng vươn tới tự do, hạnh phúc, là biểu tượng của tình cảm gắn bó thân thiết với nhân dân Việt Nam. Bất chấp hiểm nguy, sự có mặt của Chủ tịch Cuba Fidel Castro tại vùng đất lửa Quảng Trị đã mang đến cho nhân dân Việt Nam tình đoàn kết, sự ủng hộ quý báu của đất nước và nhân dân Cuba - biểu tượng cao cả của tình đoàn kết quốc tế thủy chung, trong sáng, sự cổ vũ, động viên to lớn đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa vô cùng gian khổ, ác liệt của nhân dân Việt Nam.

Ngày 15-9-1973, tại Cứ điểm 241 ở Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị diễn ra cuộc mít-tinh với sự có mặt của một “vị khách đặc biệt”: lãnh tụ Cuba Fidel Castro. Cuộc mít-tinh diễn ra trong một hoàn cảnh đặc biệt. Tại Cứ điểm 241 (còn gọi “căn cứ Carol”), nơi từng là trận địa pháo còn ngổn ngang xác xe tăng, đạn pháo và nồng mùi thuốc súng, Chủ tịch Cuba Fidel Castro phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, lá cờ bách chiến bách thắng lấp lánh huân chương của đoàn Khe Sanh, Quân giải phóng Trị Thiên Huế, dõng dạc hô vang: “Các đồng chí hãy mang lá cờ bách chiến bách thắng này cắm giữa Sài Gòn”. Câu nói ấy đã đi vào lịch sử, là nguồn động viên, cổ vũ to lớn, tạo thêm động lực, sức mạnh cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giành độc lập dân tộc, thống nhất nước nhà của nhân dân Việt Nam.

Không chỉ vậy, nhắc đến chuyến thăm Quảng Trị của Chủ tịch Cuba Fidel Castro, không thể không nhắc đến những hành động, nghĩa cử cao đẹp của Chủ tịch Cuba Fidel Castro đã đi vào trái tim, tâm hồn người dân Việt Nam, đặc biệt người dân vùng đất lửa Quảng Trị. Trong chuyến thăm Quảng Trị, Chủ tịch Cuba Fidel Castro vượt qua Dốc Miếu, nơi có hàng rào điện tử McNamara để đến thăm Đông Hà, rồi ngược lên Đường 9 và đến Khu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở huyện Cam Lộ, nơi chỉ cách căn cứ quân sự của Mỹ hơn 10 cây số. Đến gần cầu Đông Hà, đoàn xe dừng lại, Chủ tịch Cuba Fidel Castro xuống xe, đi bộ để chào, bắt tay người dân Việt Nam bằng những cử chỉ thân thương, gần gũi. Cho đến bây giờ, rất nhiều nhân chứng lịch sử của ngày ấy may mắn được đón tiếp, được gặp mặt Chủ tịch Cuba Fidel Castro, được gặp “ông Tây phe Ta” vẫn không quên được khoảnh khắc vui mừng lúc ấy.

Di tích quốc gia Cứ điểm 241 ngày ấy nay là thôn Tân Phú, xã Cam Thành đã được phủ xanh bằng những cây cao su, tràm, hồ tiêu. Con đường từ Đường 9 dẫn đến Cứ điểm 241 cũng đã mở rộng; hai bên đường nhà dân san sát, xây dựng khang trang. Một vùng đất từng bị hoang tàn bởi chiến tranh nay đã có nhiều đổi thay tươi đẹp. Bệnh viện đa khoa Đồng Hới được xây dựng năm 1974, ngay sau chuyến thăm, vẫn đang hằng ngày chữa bệnh cho người dân Quảng Trị như một cột mốc tin yêu của mối tình hữu nghị đặc biệt giữa hai quốc gia. Khách sạn Thắng Lợi, đường Trường Sơn, cầu Đakrông… và nhiều công trình khác như những dấu ấn Cuba trên đất nước Việt Nam, dấu ấn của một tình hữu nghị, thủy chung, trong sáng, vô tư và vô cùng cao cả. Tại trung tâm thành phố Đông Hà ngày nay, Công viên Fidel Castro đã được xây dựng, trở thành công trình văn hóa mang ý nghĩa lịch sử, là tình cảm đặc biệt của người dân Quảng Trị tri ân sự ủng hộ của Chủ tịch Cuba Fidel Castro đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Chuyến thăm lịch sử của Chủ tịch Cuba Fidel Castro tới Việt Nam cách đây vừa tròn 50 năm tại đất lửa Quảng Trị đã trở thành sự kiện có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Tình cảm sâu sắc của Chủ tịch Cuba Fidel Castro đối với Việt Nam không chỉ thể hiện qua gần một trăm bài phát biểu trước công chúng, mà còn được thể hiện qua những gì ông đã bày tỏ trong các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo và nhân dân Việt Nam. Hình ảnh của Chủ tịch Cuba Fidel Castro trong bộ quân phục màu xanh ô liu giữa các chiến sĩ quân giải phóng trên Cứ điểm 241, phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng với câu nói bất hủ “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” đã đi vào lịch sử của hai dân tộc Việt Nam - Cuba, trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tình đoàn kết Việt Nam - Cuba thủy chung, trong sáng, của phong trào quốc tế đoàn kết và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Sự ủng hộ, sẻ chia của Cuba cũng như của bạn bè quốc tế luôn là động lực quan trọng với mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cho đến nay, quan hệ đoàn kết, hữu nghị và hợp tác đó vẫn không hề thay đổi, là một mối quan hệ đặc biệt, không có tiền lệ, là hình mẫu của quan hệ quốc tế.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn kề vai sát cánh cùng Cuba, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Lý tưởng của chúng ta đã hòa quyện vào nhau và trái tim của chúng ta đã đập cùng một nhịp”(3). “Hai dân tộc đã luôn kề vai sát cánh trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và ngày nay luôn sát cánh bên nhau vững bước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước. Đây thực sự là mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết anh em, trước sau như một, mối quan hệ đã trở thành biểu tượng của thời đại, là tài sản vô giá mà hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba luôn giữ gìn, bảo vệ, vun đắp và truyền tiếp cho các thế hệ mai sau”./.

St

 GÁC LẠI CÙNG HỢP TÁC NHƯNG KHÔNG LÃNG QUÊN

Có ai đó đã nói rằng: “Nếu muốn biết chiến tranh đáng sợ như thế nào, hãy hỏi những người Việt Nam. Nếu muốn tìm đến một quốc gia trân trọng hòa bình đến cỡ nào, hãy đến Việt Nam”.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc chiến tranh. Trong thời phong kiến, sau mỗi cuộc chiến với người hàng xóm phương Bắc thì triều đình nước ta đều cử sứ thần sang triều cống, thiết lập lại mối quan hệ bình thường, mong cho người dân hai nước sống trong hòa bình, thịnh vượng và phát triển. Các cụ có câu: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Nhưng, không có nghĩa là những cuộc chiến ấy bị lãng quên.

Trong mối quan hệ với Hoa Kỳ, Việt Nam cũng giữ vững tinh thần ấy, một tinh thần gác lại lịch sử để cùng hợp tác, nhưng không lãng quên.

Bên lề những thông tin Việt Nam - Hoa Kỳ hợp tác về nhiều mặt như kinh tế, năng lượng, biến đổi khí hậu, chính sách công… thì Việt Nam vẫn khéo lẽo nhắc lại những biến cố lịch sử đã qua của hai quốc gia. Nhắc lại để làm gì? Để 2 quốc gia cùng rút ra bài học rằng, dù đã từng đối đầu nhưng không có nghĩa là mãi mãi đối đầu, dù từng uýnh nhau “sứt đầu mẻ trán” nhưng không có nghĩa là vĩnh viễn không thể làm bạn.

Ví dụ như khởi đầu chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính, Thông tin Chính phủ nhắc lại một sự kiện đã diễn ra cách đây 77 năm, đó là sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Tổng thống Harry Truman vào ngày 16/02/1946 bày tỏ mong muốn độc lập dân tộc và sẵn sàng cho việc hai quốc gia thiết lập quan hệ toàn diện. Mong muốn hòa hợp, hòa bình của Việt Nam đã có từ rất lâu rồi chứ không phải là mới đây. Việt Nam tiếp tục củng cố mong muốn ấy một lần nữa khi Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm tượng đài Tổng thống Thomas Jefferson - tác giả của bản “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ, một tư liệu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn nguồn trong “Tuyên ngôn độc lập” đọc tại Quảng trường Ba Đình vào 02/09/1945.

Một thông tin khác cùng thời điểm chuyến đi trên, đó là thông tin các lãnh đạo cấp cao Việt Nam tham gia khánh thành nghĩa trang Hàng Keo và thăm nghĩa trang Hàng Dương ở Côn Đảo. Bất cứ một người Việt Nam yêu lịch sử nào cũng biết về “địa ngục trần gian” Côn Đảo - nơi có hàng ngàn liệt sĩ Việt Nam đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến. Không rõ là vô tình hay cố ý, nhưng có thể là một thông điệp ngoại giao đầy khéo léo, nhắc lại những bi thương trong quá khứ, khẳng định tinh thần đấu tranh hết mình vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Chưa hết, Thông tin Chính phủ đăng bài viết cho biết Việt Nam còn 200 ngàn liệt sĩ chưa tìm được hài cốt, phía Hoa Kỳ cũng còn nhiều quân nhân mất tích. Và hai quốc gia đang hợp tác từng giây phút, từng ngày tháng, cùng chia sẻ thông tin và cùng tìm kiếm. Đây là một nỗ lực cùng nhau giải quyết hậu quả chiến tranh, thể hiện tinh thần nhân đạo của cả hai quốc gia. Cuối dòng thông tin này, là lời đề nghị Hoa Kỳ giải quyết hậu quả chiến tranh với 3 triệu người dân Việt Nam bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam, rà phá bom mìn, tẩy sạch chất độc. Hãy chú ý vào cụm từ “đề nghị” chứ không phải là “mong muốn” hoặc “đề xuất” - cụm từ “đề nghị” mang một tâm thế ngang bằng, sòng phẳng. Thông tin trên là một lời nhắc về những hậu quả chiến tranh mà Hoa Kỳ đã gây ra với người dân Việt Nam. Và dĩ nhiên, hai quốc gia đã, đang và sẽ cùng khắc phục, cùng hợp tác, cùng xóa đi đau thương chứ không phải chỉ là trách từ một bên. Muốn đi nhanh hãy đi một mình muốn đi xa hãy đi cùng nhau…!

Lịch sử giữa 2 quốc gia từng là đau thương, là mất mát, là tàn phá, là hy sinh, là mâu thuẫn. Và Việt Nam cũng muốn thể hiện rằng, lịch sử cũng có thể là hòa hợp, hợp tác, từ những gì đã qua, phải ghi nhớ và cùng rút ra bài học.

Nếu muốn biết rằng có một quốc gia sẵn sàng gác lại những mâu thuẫn để cùng phát triển, đáp án là Việt Nam.

tifosi

Có thể là hình ảnh về 2 người và mọi người đang đứng

 

149149

4 bình luận

3 lượt chia sẻ

Thích

Bình luận

Chia sẻ

 

  NGẠI PHÊ BÌNH, GÓP Ý - KHÔNG CHỈ LÀ SUY THOÁI...

 

Thời gian qua, khá nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật và pháp luật, phải xử lý nghiêm khắc. Điều rất đáng báo động là, đa số những người này có vi phạm kéo dài, thậm chí suốt vài năm và với nhiều hành vi, thế nhưng cấp ủy, chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác lại “không biết”, hoặc biết rõ nhưng...“mũ ni che tai”!

 

1. “Ông ấy bây giờ mới bị xử lý là quá muộn”; “Vi phạm lâu rồi, bây giờ cấp trên mới biết thôi”; “Nhiều người trong cơ quan biết sếp vi phạm nhưng sợ “đấu tranh, tránh đâu”...

 

Không ít lần tôi được nghe như thế khi hỏi chuyện những người quen ở cơ quan, đơn vị, địa phương có cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, pháp luật.

 

Ví dụ thì rất nhiều và có lẽ cũng chẳng cần nêu ra. Chỉ riêng những kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay đã cho thấy, nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm nghiêm trọng từ lâu, chủ yếu là: Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát dẫn đến gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước; suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; mất đoàn kết nội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; vi phạm các quy định trong công tác cán bộ, quản lý đầu tư, xây dựng, sử dụng đất đai, tài chính, tài sản; tham nhũng... Những vi phạm này, không thể nói là các đồng chí trong cấp ủy, ban lãnh đạo và chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác với cán bộ, đảng viên đó đều... không biết!

 

Bên cạnh những vi phạm nghiêm trọng, khá nhiều cán bộ, đảng viên có những khuyết điểm, như: Độc đoán, gia trưởng, tham gia tệ nạn xã hội, vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương đối với cán bộ, đảng viên, người đứng đầu... Đồng chí, đồng đội, nhân viên là những người trực tiếp chịu tác động hoặc được chứng kiến, nhưng vẫn không mạnh dạn góp ý, phê bình!

 

Chính vì không được thẳng thắn góp ý, phê phán nên những cán bộ, đảng viên đó càng “tự tung tự tác”, “cái sảy nảy cái ung”, vi phạm tăng thêm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

 

Ngoài những nguyên nhân dẫn đến tình trạng không phê bình, ngại góp ý với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp, nhất là với cấp trên, như: Sợ mất lòng, sợ bị trù dập, quy chụp là gây mất đoàn kết; vì cùng có chung lợi ích; hoặc đơn giản là tâm lý “an phận thủ thường”, sợ bị hiểu sai... thì lâu nay, không ít cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có quan điểm “việc ai nấy làm”, không tham gia vào công việc và cuộc sống của người khác. Sự thờ ơ, vô cảm trước những việc sai trái, biết rõ những sai phạm, khuyết điểm của đồng nghiệp, đồng chí, đồng đội mà không thẳng thắn góp ý, phê bình đã dẫn đến nhiều hệ lụy: Cán bộ, đảng viên tiếp tục vi phạm, làm suy yếu tổ chức, ảnh hưởng sự trong sạch vững mạnh và uy tín của Đảng.  

 

2. “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau...” và “đoàn kết xuôi chiều” là một trong những biểu hiện của sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ.

 

Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) của Đảng thẳng thắn đánh giá: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm...

 

Để thực hiện mục tiêu kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã xác định nhiệm vụ và giải pháp đầu tiên là: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; trong đó nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị-xã hội, nhất là cấp ủy, thường vụ cấp ủy, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, "dĩ hòa vi quý". Kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Bên cạnh đó, chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn.

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng với rất nhiều giải pháp, nhưng quan trọng nhất, theo Người, trước hết là phải “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (bài báo Người viết nhân dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng). Muốn thực hiện được điều này, Người chỉ rõ: “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Ðảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”...

 

Bác Hồ nhấn mạnh “Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc” vì tất cả hoạt động của chi bộ chủ yếu được thông qua sinh hoạt với 3 hình thức: Sinh hoạt lãnh đạo; sinh hoạt học tập; sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Mỗi hình thức sinh hoạt có yêu cầu riêng, nhưng đều phải có tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu, trên cơ sở thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đó là: Tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình.

 

Thế nhưng, tình trạng ngại phê bình, “ngại nói thật” trong sinh hoạt chi bộ và cả sinh hoạt cấp ủy, đảng bộ vẫn khá phổ biến. Đây là nguyên nhân cơ bản làm mất tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng, dẫn đến không kịp thời ngăn ngừa những vi phạm của cán bộ, đảng viên, để xảy ra sai phạm kéo dài và nghiêm trọng. Thậm chí, không ít cán bộ, đảng viên có sai phạm mà vẫn được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ và đề nghị khen thưởng, bổ nhiệm.

 

Thật đáng buồn khi hầu hết các vụ việc cán bộ, đảng viên vi phạm về đạo đức, lối sống, kỷ luật, pháp luật, nhất là tham nhũng... đều do quần chúng nhân dân, báo chí hoặc cơ quan chức năng cấp trên phát hiện. Trong khi đó, chi bộ, cấp ủy là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện và tiến hành kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ, đảng viên; người cùng chi bộ, cùng cơ quan thường xuyên gần gũi, công tác, hiểu hết tính cách cũng như những việc làm của nhau-như “cùng nằm trong chăn mà lại... không biết chăn có rận”!?

 

Rõ ràng, việc cần làm ngay là phải quy trách nhiệm, xử lý kỷ luật nghiêm đối với những cán bộ, đảng viên cùng sinh hoạt trong cấp ủy, chi bộ mà không phê bình, góp ý, để đồng chí, đồng đội vi phạm pháp luật, kỷ luật, nhất là với những vi phạm nghiêm trọng, kéo dài (như Bộ luật Hình sự đã quy định tội danh “không tố giác tội phạm” và “che giấu tội phạm”). Bên cạnh đó, cần ban hành quy định bình xét cán bộ, đảng viên theo thang điểm 10 trên từng nội dung, trong đó có tinh thần tự phê bình và phê bình...; đồng thời xếp loại cán bộ, đảng viên trong từng chi bộ theo số thứ tự (từ tốt nhất đến yếu nhất) để tăng tính đấu tranh phê bình trong sinh hoạt đảng, bảo đảm kết quả bình xét thực chất hơn, tránh tình trạng "tạo điều kiện cho nhau cùng ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ”. Có như vậy mới khắc phục được tình trạng “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh, thấy sai không đấu tranh.

 

3. “Tôi vô cùng cảm ơn anh đã rất kiên trì, dũng cảm, chân thành góp ý, giúp tôi sửa được tính nóng nảy, gia trưởng, đồng thời biết tôn trọng, lắng nghe cấp dưới. Nếu không, sai lầm của tôi không chỉ dẫn tới hậu quả nghiêm trọng mà tôi còn mất hết tình cảm đồng đội, bạn bè”.

 

Hầu như lần nào làm nhiệm vụ lái xe “tháp tùng” bố đi dự gặp mặt hội truyền thống của đơn vị cũ, tôi cũng được nghe một bác nguyên là trung đoàn trưởng nói với bố tôi như vậy.

 

Chuyện là, thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, bố tôi là trợ lý tác chiến trung đoàn. Thấy đồng chí trung đoàn trưởng nóng tính, “quân phiệt miệng”, thường xuyên quát mắng cấp dưới khiến anh em vừa sợ vừa không hài lòng nên trong các cuộc họp chẳng ai ý kiến gì, nhưng khi ra ngoài thì xì xào với nhau; sau hai lần chân thành góp ý nhưng bị trung đoàn trưởng gạt phăng, bố tôi đã định “mặc kệ”. Nhưng một hôm, nghe các tiểu đoàn trưởng và sĩ quan tham mưu bàn tán rằng phương án tác chiến do trung đoàn trưởng quyết định không hợp lý, dễ bị thất bại, bố tôi cũng thấy như vậy nên quyết định phải ý kiến với thủ trưởng.

“Được nhận” những lời khó nghe, bố tôi ức chảy nước mắt, chạy về hầm. Không thể để một quyết định nặng tính chủ quan, sai lầm có thể dẫn đến “nướng quân”, bố tôi quyết tâm viết thư gửi trung đoàn trưởng. Lá thư đó rất dài, ngoài nêu những bất hợp lý của phương án tác chiến còn góp ý riêng với thủ trưởng cần bỏ tính gia trưởng, “quân phiệt miệng” khiến cấp dưới ức chế và không thể phát huy dân chủ trong đơn vị, thậm chí cán bộ, chiến sĩ chán nản... Cuối thư, bố tôi mạnh dạn viết: Nếu trung đoàn trưởng không tiếp thu phê bình và chỉnh sửa thì tôi sẽ viết thư gửi chỉ huy sư đoàn. Còn nếu tôi sai thì tôi xin hoàn toàn chịu kỷ luật!

Thật may, lá thư này đã khiến đồng chí trung đoàn trưởng thay đổi. Ông gọi bố tôi lên nói lời cảm ơn...

 

“Phê bình cho đúng để trị bệnh cứu người” là tư tưởng có tính nhân văn rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người chỉ rõ: Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình giống như uống thuốc. Nếu sợ phê bình thì cũng khác nào có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Như vậy thì bệnh tình lại càng nặng thêm. Do vậy, đối với đảng viên, cán bộ mà nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc thì khác nào thấy đồng chí mình ốm mà không chữa cho họ... Biết người ta sai mà không nói cho người ta sửa tức là hại người. Tự phê bình và phê bình phải xuất phát từ tình đồng chí, thương yêu lẫn nhau. Càng yêu thương thì càng phải thẳng thắn phê bình, có như vậy mới thực sự giúp nhau tiến bộ.

 

Cổ nhân cũng đã đúc rút: Những người chân thành, mạnh dạn phê bình bạn chính là người bạn tốt và điều gì xuất phát từ trái tim sẽ đi tới được trái tim. Ngược lại, những ai biết rõ bạn đang làm sai mà không khuyên can thì đó chính là người xấu.

 

Có thể khẳng định, việc chân thành, thẳng thắn phê bình, góp ý không chỉ là yêu cầu có tính nguyên tắc trong sinh hoạt đảng và các tổ chức thuộc hệ thống chính trị mà còn thể hiện tình người sâu sắc, nhân văn. Việc biết đồng chí, đồng đội đang mắc khuyết điểm, lầm đường lạc lối mà vẫn “mũ ni che tai” chính là làm hại tổ chức và đồng chí, đồng đội. “Tội” này cần phải kiên quyết đấu tranh, phê phán, cả trong công tác và trong cuộc sống đời thường.