Thứ Tư, 20 tháng 9, 2023

 BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG "THỰC CHẤT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ CHỦ NGHĨA DÂN TỘC"

Khi việc công khai phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dần đuối lý và tỏ ra kém hiệu quả, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại sử dụng một chiêu trò khác để chống phá cách mạng Việt Nam, đó là: dựa trên một số sự kiện lịch sử để đưa ra những xuyên tạc nhằm chứng minh rằng, “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”. Mục đích sâu xa của chúng là làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đây là luận điệu phi lý, cần kiên quyết bác bỏ.
Từ sự thừa nhận không thể phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta bằng cách điên cuồng phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh khi hệ thống tư tưởng, lý luận này đang ngày càng đúng với những diễn biến của thời đại, các thế lực chống phá lại dở nhiều chiêu trò khác. Một trong những thủ đoạn gần đây mà chúng thường sử dụng là đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; chúng dựa vào những sự kiện lịch sử rồi dùng thủ thuật quen thuộc là “đánh lộn sòng đen trắng” để hướng lái dư luận, rằng: tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc. Chẳng hạn như: vin vào sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Liên xô để gặp gỡ I.V. Stalin - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên xô và cuộc nói chuyện giữa hai vị lãnh tụ vĩ đại này vào cuối năm 1952 để đưa ra luận điệu rằng: “I.V. Stalin cáo buộc Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa dân tộc”; trắng trợn hơn, họ dựa vào sự kiện Quốc tế III chỉ thị đồng chí Nguyễn Ái Quốc về tại Cửu Long, Trung Quốc để hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng kết quả của Hội nghị là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) để rêu rao rằng: “Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930) đã chứng minh rằng tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc”. Tinh vi hơn, họ còn “giả vờ” công nhận công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam để hạ thấp, kích động tư tưởng bài trừ chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng việc Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động là không phù hợp, bởi vì đây là hai hệ tư tưởng hoàn toàn đối lập nhau, v.v. Tuy nhiên, thực tế lịch sử lại chứng minh điều ngược lại, trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Và tư tưởng của Người “là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”1; hoàn toàn không thể, không phải là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc như luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống phá.
Thứ nhất, động lực thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa yêu nước chứ không phải là chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước) là cảm xúc, tình cảm, tinh thần yêu thương, tích cực đối với quê hương, đất nước. Trong khi đó, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”2. Sự khác biệt cơ bản giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc thể hiện ở chỗ: người yêu nước tự hào về đất nước của mình vì những gì nó xứng đáng, còn người theo chủ nghĩa dân tộc tự hào về đất nước của mình bất kể thứ gì (kể cả việc gây tội ác với dân tộc khác), tức là sự tự hào một cách mù quáng và cực đoan. Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”3. Từ lòng yêu nước, thương nòi, Người đã yêu thương, đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, những lớp người dân lao động lầm than ở các nước chính quốc; đó là động lực để Người tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hiện thực hóa lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, nhân loại. Trả lời phóng viên của Tạp chí Thanh Niên (Canada, tháng 12/1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nói rằng lúc còn thanh niên, tôi theo “chủ nghĩa dân tộc”, có lẽ không đúng. Vì hồi đó tôi chỉ biết thương đồng bào tôi, chứ chưa biết “chủ nghĩa” gì cả. Khi đi sang châu Phi, tôi thấy nhân dân thuộc địa ở đây cũng cực khổ, cũng bị áp bức, bóc lột như nhân dân Đông Dương. Khi sang các nước châu Âu, tôi thấy ở đó cũng có một số người rất giàu, “ngồi mát ăn bát vàng”, và lớp người nhân dân lao động rất nghèo khổ. Tôi suy nghĩ nhiều lắm. Trong lúc đó thì Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thành công ở Nga. Lênin tổ chức Quốc tế Cộng sản. Rồi Lênin phát biểu Luận cương cách mạng thuộc địa. Những việc đó làm cho tôi thấy rằng: Nhân dân lao động Đông Dương, nhân dân các thuộc địa và nhân dân lao động muốn tự giải phóng thì phải đoàn kết lại và làm cách mạng. Vì vậy, tôi trở nên người theo Chủ nghĩa Mác - Lênin”4. Như vậy, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một chặng đường dài, vượt qua những chông gai thử thách, Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng rõ ràng, động lực chính là lòng yêu nước, thương dân, chứ không phải vì chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan như các thế lực phản động đang rêu rao.
Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân trong tiếp cận, giải quyết vấn đề dân tộc; là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, không chấp nhận chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa Sô vanh trong phong trào Cộng sản quốc tế. Xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc luôn gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vấn đề dân tộc được Người tiếp cận và giải quyết như động lực để thúc đẩy sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và là tiền đề cho cách mạng vô sản trên toàn thế giới; lý tưởng giải phóng dân tộc không thể tách rời với mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại. Trong thực tiễn hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh cũng luôn đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, Sô vanh nước lớn. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mátxcơva từ ngày 14 đến 16/11/1957, chính Hồ Chí Minh là người kiên quyết nhất trong đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”5. Chính vì vậy, cho rằng “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một luận điệu “đánh lộn sòng đen trắng” cố tình lấp liếm, bỏ qua lập trường, quan điểm giai cấp công nhân của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam, phủ nhận vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng của Người.
Thứ ba, Hồ Chí Minh là một trong những người tiên phong bảo vệ và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc trong mối quan hệ với nhân loại, vì mục tiêu chung là công bằng, tiến bộ và hòa bình. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa quan điểm về vai trò của quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, và khẩu hiệu hành động: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”, Hồ Chí Minh thấy rõ sự cần thiết và con đường tập hợp, đoàn kết các lực lượng của từng dân tộc và trên thế giới để sự nghiệp giải phóng dân tộc giành thắng lợi hoàn toàn, Người kêu gọi: “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại!”. Đồng thời, Người khẳng định: “Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”6. Đây không chỉ là một cống hiến rất quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận Mác - Lênin, mà còn cho thấy, Người luôn giải quyết hài hòa, đặt quyền lợi của dân tộc trong mối liên hệ với nhân loại, với giai cấp, với các dân tộc bị áp bức vì mục tiêu chung là xây dựng thế giới hòa bình, tiến bộ, phát triển. Tư tưởng đó đã vượt lên trên “chủ nghĩa dân tộc”, nó hoàn toàn trái ngược với mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, với mưu đồ chính trị đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc.
Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, “mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”7. Đó là tất yếu khách quan, sự lựa chọn của lịch sử mà không luận điệu, thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Luận điệu “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là vô căn cứ, thủ đoạn xảo trá, thấp hèn, dù có tô vẽ thế nào cũng không thể che mờ chân lý.

Thứ Ba, 19 tháng 9, 2023

DŨNG SĨ DIỆT MỸ VÀ MƠ ƯỚC ĐƯỢC HẶP BÁC HỒ


 9 tuổi, cô bé Thu đã là giao liên hoạt động tại Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam) chuyển tài liệu, thư từ cho cán bộ chiến sĩ trong vùng bí mật.

Một lần nọ, Thu thấy một chú bộ đội ta bị bắt, địch tra tấn dã man nhưng vẫn một mực không khai báo. Hình ảnh đó đã in sâu vào tâm trí của Thu. Không khai thác được lời nào từ người chiến sĩ đó, địch đem ra xử bắn. Trước khi chết, anh còn hô to “Bác Hồ muôn năm”! 

Về nhà, Thu hỏi những người thân trong gia đình: “Bác Hồ là ai?”. “Bác Hồ ở ngoài Bắc và rất yêu các cháu thiếu niên, nhi đồng. Con muốn được gặp Bác Hồ phải giúp các cô chú bộ đội đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng quê hương, đất nước” - mẹ Thu trả lời. Từ đó, ước mong gặp Bác Hồ đã thôi thúc cô.

11 tuổi, Thu xung phong vào đội xung kích bí mật của xã hoạt động tại vùng giáp danh giữa hai huyện Điện Bàn và Duy Xuyên, vận chuyển vũ khí tham gia chống càn trên mặt trận Quảng - Đà. Năm 1967, Thu được giao nhiệm vụ canh chừng các động tĩnh của đồn bốt địch để báo cáo. Thấy lính Mỹ - Ngụy đem rất nhiều súng ra lau chùi, cô cùng 3 bạn nhỏ bí mật nhặt sỏi, cát nhét vào các nòng súng. Tối đó, bộ đội ta tập kích đồn địch, đánh giáp lá cà, không có vũ khí chống trả, địch bị ép ra mép sông, bỏ chạy tán loạn, bỏ lại những khẩu súng toác nòng dính máu. Trận đánh đó ta thắng lớn mà không bị tổn thất. Riêng Thu, được phong tặng danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ khi mới 13 tuổi.

THẤY GÌ KHI TỔNG THỐNG HOA KỲ BIDEN THĂM VIỆT NAM - LẦN ĐẦU MỘT TỔNG THỐNG MỸ THĂM CHÍNH THỨC NƯỚC TA THEO LỜI MỜI CỦA TỔNG BÍ THƯ BCH TW ĐCSVN?

 Sau 8 năm kể từ chuyến thăm lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Mỹ, lần đầu tiên một Tổng thống Mỹ thăm Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư chứ không phải là lời mời của Chủ tịch nước hay Thủ tướng Chính phủ.Với góc nhìn của một người dân Việt Nam, xin luận giải đôi lời:

Việt Nam và Hoa Kỳ từng là cựu thù, tưởng chừng như bất cộng đái thiên, không thể dung hòa. Mặc dù Mỹ đã bỏ cấm vận nước ta từ năm 1995 và kể từ đó hai quốc gia có mối quan hệ ngày càng nồng ấm. Đặc biệt là từ năm 2013, Việt Nam - Hoa Kỳ thiết lập quan hệ đối tác toàn diện. Sự khác biệt về ý thức hệ giữa Việt Nam và Mỹ là vấn đề lớn nhất trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia trong thời gian rất dài. Hoa Kỳ vẫn luôn can thiệp vấn đề dân chủ, nhân quyền dù trong cam kết hợp tác có nêu rõ "không can thiệp vấn đề nội bộ của nhau".
Thời thế ngày mỗi khác, Việt Nam đang cho thấy sự bứt phá ngoạn mục trên các lĩnh vực, vị thế trên trường quốc tế ngày càng cao. Đặc biệt, Việt Nam có vị trí địa chính trị vô cùng quan trọng trong chính sách xoay trục về Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương của Hoa Kỳ. Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn! Người Mỹ ngày càng coi trọng Việt Nam, bất chấp khác biệt về chính trị. Cái mà Việt Nam, Hoa Kỳ cần là lợi ích quốc gia, tôn trọng thể chế chính trị của nhau để hợp tác cùng phát triển. Việc một Tổng thống Mỹ thăm Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư chứ không phải là lời mời của Chủ tịch nước hay Thủ tướng Chính phủ cho thấy sự coi trọng Việt Nam của Hoa Kỳ và sự già rơ của các chính trị gia nước ta.
Việc ông Biden thăm nước ta theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được xem là bước ngoặt mới trong quan hệ hai nước. Người Mỹ buộc phải chấp nhận sự thật không thể thay đổi là ở Việt Nam, Tổng Bí thư mới là người đứng đầu cả hệ thống chính trị của quốc gia. Đảng Cộng sản Việt Nam mới là tổ chức lãnh đạo toàn diện đất nước này. Điều này cũng đồng nghĩa với việc họ phải thừa nhận sự thật khách quan đó để hợp tác sâu rộng hơn, cùng phát triển.
Chuyến thăm Việt Nam lần này của ông Biden mở ra cơ hội hợp tác mới giữa hai nước trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động. Việt Nam cần Hoa Kỳ và Hoa Kỳ rất cần Việt Nam. Với chính sách "ngoạigiao cây tre", Việt Nam không chọn phê, chỉ chọn lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chúng ta vừa có thể hợp tác với Nga, Trung Quốc, đồng thời cũng có mối quan hệ tốt với Mỹ. Đó là chiến lược sáng suốt để tạo môi trường thuận lợi phát triển đất nước.
Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Biden đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm quan hệ Đối tác toàn diện và rất có thể mở rộng thành Đối tác Chiến lược, thậm chí là đối tác chiến lược toàn diện. Người Mỹ đã nhiều lần đề xuất nhưng Việt Nam đang xem xét, cân nhắc nâng tầm quan hệ. Cụ thể, ngày 20/4/2022, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc Knapper nhấn mạnh việc nâng cấp quan hệ với Việt Nam không chỉ là ưu tiên của cá nhân ông mà là ưu tiên của chính quyền Mỹ. Ông cho biết ưu tiên của Mỹ hiện nay là nâng cấp quan hệ với Việt Nam từ Đối tác toàn diện lên Đối tác chiến lược. "Đây là một trách nhiệm mà tôi đang đảm nhận" - ông nói. Ông cho biết việc nâng cấp quan hệ hai nước chắc chắn không chỉ ưu tiên cá nhân Đại sứ mà là ưu tiên của chính quyền Mỹ.
Đây không phải là lần đầu Hoa Kỳ muốn nâng cấp quan hệ với Việt Nam lên tầm cao mới, cách đây vài tháng, chính Phó Tổng thống Hoa Kỳ đã nhắc đến việc này. Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là mãi mãi trường tồn! Việt Nam - Hoa Kỳ đã xích lại gần nhau hơn, hợp tác trong nhiều lĩnh vực...tuy nhiên, muốn được trở thành Đối tác chiến lược thì các bạn phải lắng nghe, cầu thị. Chúng tôi quan ngại hết sức sâu sắc về tình hình nhân quyền của nước Mỹ. Sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử với người da đen và người vô gia cư hay việc xả súng bừa bãi, coi thường tính mạng nhân dân Mỹ. Các bạn cần cải thiện nhân quyền, không mang súng đạn đi xâm lược các quốc gia có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Không can thiệp chuyện nội bộ của Việt Nam chúng tôi. Dân Việt Nam hoan nghênh thiện chí của Mỹ, lãnh đạo đất nước tươi đẹp này sẽ xem xét, quyết định. Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Biden theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho thấy điều đó. Chào mừng Tổng thống Biden tới đất nước tươi đẹp của chúng tôi./.

XEM NHẸ LỊCH SỬ, HIỂM HOẠ KHÔN LƯỜNG!

 Sau khi Liên Xô sụp đổ vào một ngày mùa đông năm 1991, các học giả trên toàn thế giới đã phân tích nguyên nhân dẫn đến chuyện "hòn đá tảng của CNXH" bị vỡ vụn. Liên Xô vĩ đại mà Lênin và nhiều vị cách mạng tiền bối đã có công gầy dựng. Vậy nhưng, năm 1991, Đảng Cộng sản Liên Xô với 20 triệu đảng viên lại sụp đổ, không phải do kẻ thù bên ngoài, mà chính là do những mầm mống diễn biến, tự diễn biến tư tưởng bên trong nội bộ Đảng. Phi chính trị hóa quân đội, truyền thông, báo chí và cả xét lại lịch sử, sai lầm trong cải tổ kinh tế mà người đứng đầu là Mikhail Gorbachev - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Yakovlev, Trưởng Ban Tuyên Giáo Đảng Cộng sản Liên Xô.

Từ năm 1986 đến 1988, một loạt cán bộ chủ chốt của các tờ báo có ảnh hưởng lớn tại Liên Xô được thay thế bởi những người ủng hộ chủ trương “Tây hóa” của Gorbachev, từ đó các tờ báo này đã khuynh đảo dư luận, làm cho nhiều người dân ảo tưởng vào phương Tây và như thế “cả đàn sói đã chồm lên cắn vào lịch sử/ cào chiến công, xé xác những anh hùng”. Hàng loạt tướng lĩnh và đảng viên lão thành đều bị cho nghỉ hưu để nhường cho “lớp trẻ cấp tiến”, kinh tế chậm đổi mới, các vấn đề nội tại phát sinh cấp số nhân và ngày càng gay gắt…trào lưu xét lại lịch sử, xem nhẹ lịch sử và chiến công của các anh hùng Xô Viết, ca ngợi cái gọi là "dân chủ, văn minh phương Tây" đạt đến cao trào.
Điều gì đến đã phải đến, công lao mà Lê Nin và các thế hệ đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô trong phút chóc đã chìm xuống biển sâu! Đó là nỗi đau đoạn trường của những người Cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta. Lãnh tụ vĩ đại của chủ nghĩa Cộng Sản, Lê Nin đã từng cảnh báo “không có kẻ thù nào, dù chúng hùng mạnh và hung hãn nhất có thể đánh bại được chủ nghĩa Cộng sản, ngoại trừ những người Cộng sản tự tiêu diệt chính họ, bằng những lỗi lầm không kịp khắc phục”. Tiếc thay, ngay trên quê hương của Lê Nin vĩ đại, hòn đá tảng của chủ nghĩa Xã hội lại sụp đổ một cách nhanh chóng vì những nguyên nhân nội tại là chủ yếu mà trước đó Lê Nin đã cảnh báo.
Việt Nam nên lấy tấm gương tày liếp của Liên Xô để đánh bại những Yakolev mới. Xem nhẹ lịch sử, sớm muộn cũng phải trả giá đắt khi mà các thế hệ nối tiếp mù màu về lịch sử, là cơ hội để các thế lực thù địch xuyên tạc, xét lại. Sớm muộn thì lịch sử Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh sẽ bị đám Việt gian bắt tay với ngoại bang bôi nhọ, hạ bệ. Mong những người, những cơ quan có trách nhiệm hãy lên tiếng, không để tiểu nhân đắc chí. Hiểm họa khôn lường. Bài học Zelensky và Ukraine hiện ngay trước mắt chúng ta. Đừng để "nỏ thần vô ý sa tay giặc/nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu"./.

ẠI SAO LẠI DỪNG VIỆC CÚNG GIỖ VUA QUANG TRUNG Ở THỪA THIÊN - HUẾ???

 16 tháng 9 là ngày giỗ Anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi đã cho đào mồ, cuốc mả và hủy hoại thi thể của Thái Đức Nguyễn Nhạc và Vua Quang Trung. Nguyễn Ánh lấy hộp sọ của hai anh em nhà Tây Sơn xiềng xích. Những nhà nghiên cứu như Nguyễn Đình Hòe, Phan Thuận An, Đỗ Bang, Phan Quán… qua những công trình công bố từ 1975 - 1988 đã xác nhận tình hình “hoa cái” vua Quang Trung từ 1802 - 1885 ở Huế, bị triều Nguyễn giam vào ngục thất ở Vũ Khố, rồi di chuyển đến khám đường. Từ năm Nhâm Tuất (1802) lăng mộ vua Quang Trung và bà Tả cung họ Phạm ở nam sông Hương đã bị quật phá, quan tài bị kéo ra khỏi mộ, mở nắp lấy thi thể ra bêu đầu phơi xác ở các chợ thuộc kinh thành Phú Xuân. Khi thất thủ kinh đô Huế (1885), một số người dân yêu nước, mến tài đức của Vua Quang Trung đã bí mật mang về làng Dạ Lê Chánh, thành phố Huế để chôn cất, lập miếu thờ.

Hàng năm đã thành thông lệ , cứ đến ngày giỗ Vua Quang Trung, nhân dân ta ở khu vực này lại tổ chức thờ, cúng tế vị Anh hùng dân tộc. Thế nhưng năm nay, chẳng hiểu lý do gì mà người ta đòi bỏ giỗ Vua Quang Trung. Chẳng hiểu lý do gì mà Thừa Thiên - Huế lại tổ chức hội thảo, xét lại lịch sử, nghi kỵ và dẫn đến yêu cầu dừng giỗ Vua Quang Trung. Trong khi đó, kẻ bán nước, cổng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ như Nguyễn Ánh và con cháu ông ta như Tự Đức, Khải Định lại được đề xuất đặt tên đường. Nguyễn Ánh được dựng bia đá, đúc tượng đồng trong khi Vua Quang Trung lại bị người ta cấm giỗ.
Ông Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh người từng chủ trì đề xuất đặt tên đường vinh danh Nguyễn Ánh, Khải Định...và bây giờ lại đề xuất dừng để xác minh việc nhân dân thờ cúng Vua Quang Trung. Mặc dù nhân dân ở đây đã thờ phụng, cúng giỗ Vua Quang Trung từ hơn trăm năm nay. Không lý muốn rửa mặt cho Nguyễn Ánh, Khải Định và nhiều vị vua bán nước triều Nguyễn thì phải hạ bệ Anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ? Thừa Thiên - Huế cần phải trả lời dư luận câu hỏi: vì sao lại dừng việc cúng tế Vua Quang Trung mặc dù nhân dân đã làm việc này từ năm 1885 đến nay. Giả dụ khu vực miếu thờ này không có hộp sọ Vua Quang Trung, chỉ là miếu thờ hay mộ gió đi chăng nữa thì phong tục thờ cúng Anh hùng dân tộc là rất đáng quý. Thể hiện lòng biết ơn của nhân dân đối với Anh hùng dân tộc, người đã đặt nền móng thống nhất đất nước và đánh bại giặc ngoại xâm là quân Thanh, quân Xiêm. Vậy tại sao lại phải xét lại? Hay là sói đang chồm lên cắn vào lịch sử/cào chiến công và xé xác những anh hùng? Tại sao lại thế???

Tư tưởng Hồ Chí Minh ứng dụng trong quan hệ quốc tế

 Trên thế giới không có quốc gia nào vừa chơi được với Mỹ, EU; vừa chơi được với Nga, Trung Quốc như VN. Đó chính là tư tưởng dĩ bất biến, ứng vạn biến của Chủ tịch HCM!

PHAN THANH GIẢN, TRƯƠNG VĨNH KÝ BÁN NƯỚC, CẦU VINH NHƯNG HIỆN LẠI ĐƯỢC PHONG THẦN, BÁI THÁNH. LOẠN THẬT RỒI!

 Phan Thanh Giản ký với Pháp Hòa ước bất bình đẳng năm 1862 (Hòa ước Nhâm Tuất), chính thức dâng 3 tỉnh miền đông Nam Bộ cho Pháp cùng bồi thường chiến phí cho giặc. Năm 1867, Phan Thanh Giản mở thành Vĩnh Long đầu hàng Pháp, tiếp tục dâng thêm 3 tỉnh Tây Nam Bộ cho giặc. Sở dĩ Tự Đức không tru di tam tộc ông ta là vì lúc đó Pháp đã rất mạnh và người Pháp muốn vua tôi nhà Nguyễn "học tập" Phan Thanh Giản, bán nước cho Pháp. Trương Vĩnh Ký dùng cái tài của ông ta để phục vụ, cung phụng Pháp và Vatican, đàn áp phong trào Cần Vương chống Pháp của dân tộc ta. Dành cả đời để phục vụ cho mục đích xâm lược của Pháp, huân chương, mề đay đầy người, nhờ cố vấn cho Pháp đàn áp phong trào Cần Vương mà vinh thân phì gia...

Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký tội nghiệt chồng chất, cao hơn cả đỉnh Hoàng Liên Sơn, nhảy xuống biển Đông vạn lần cũng không gột rửa hết tội lỗi. Vinh danh giặc là sự bất công, tàn ác đối với lịch sử huy hoàng của dân tộc; cả ngày nay và muôn đời sau! Tội nghiệt chồng chất như thế nhưng hiện nay ở nhiều nơi trên đất nước ta vẫn lấy tên của những Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký... để đặt tên đường, trường, cúng tế linh đình bọn bán nước.
Chúng ta sẽ có lỗi với tiền nhân, những người oanh liệt chiến đấu, hy sinh để chống Pháp mà tiêu biểu là Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Trương Định, Nguyễn Trung Trực...Sinh thời họ có mối thù bất cộng đái thiên với Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Hoàng Cao Khải...vì người yêu nước thì không thể chung trời với những kẻ bán nước. Vinh danh Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký thì dưới cửu tuyền, anh hùng dân tộc Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Trương Định, Nguyễn Trung Trực...không thể nhắm mắt.
Chúng ta sẽ có lỗi với thế hệ mai sau vì đã mang những kẻ bán nước, làm chó săn, khuyển mã cho giặc và đặt chúng ngang tầm với các anh hùng dân tộc. Lấy lý do là "dâng thành đầu hàng để nhân dân bớt đổ máu" của Giản để ca ngợi hắn ta. Vậy xin hỏi những người có lương tâm, trách nhiệm sẽ trả lời thế nào với hàng triệu con người đã đứng lên đánh giặc và hy sinh để chống ngoại xâm cứu nước? Nếu giặc đến, ai cũng chọn giải pháp đầu hàng thì liệu đất nước này có còn giữ được độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ? Lấy cái sở học tài ba của Trương Vĩnh Ký, kẻ một đời cung phụng nước Pháp để vinh danh ông ta. Vậy nếu sau đất nước có chiến tranh, những người có trí tuệ ắt hẳn sẽ theo giặc và sau này con cháu họ chỉ cần bỏ ra ít tiền là có thể rửa mặt cho những kẻ theo giặc như gương của Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký bây giờ. Nếu điều đó xảy ra thì đất nước này sẽ về đâu?
Đừng nghe nhưng tay mang mác giáo sư nhưng trở cờ lòe bịp. Một khi còn giáo dục con cháu về lòng yêu nước, tự hào dân tộc thì phải xóa bỏ hẳn cái tên Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký. Không thể để “cả đàn sói chồm lên cắn vào lịch sử”. Cái đích ngắm xa hơn của đám xuyên tạc lịch sử, rửa mặt cho giặc chính là sẽ rửa mặt cho ngụy quân, ngụy quyền và bè lũ tay sai, bán nước. Nếu để chúng thành công thì cái họa mà Liên Xô gặp phải trước đây sẽ chẳng xa đâu. Người không biết lo xa, ắt họa đến gần. Hãy tỉnh táo và lý trí hơn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc./.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MẠNG XÃ HỘI VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÁC LỢI THẾ, TIỆN ÍCH CỦA MẠNG XÃ HỘI TRONG CÔNG TÁC THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN Ở VIỆT NAM

 

TCCS - Cách đây hơn 20 năm, khi lần đầu tiên kết nối internet, Việt Nam đã đặt những “dấu chân” đầu tiên trên một miền không gian hoàn toàn mới - không gian mạng. Từ đó đến nay, Việt Nam đã đi được một hành trình dài trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Giống như khai phá những “vùng đất” mới, không gian mạng được mở rộng, tạo ra không gian phát triển mới cho đất nước.

Xu hướng phát triển của mạng xã hội

Xu hướng con người sử dụng không gian mạng ngày càng gia tăng, tác động lớn tới không gian sống thực của con người. Không chỉ mang đến nguồn thông tin vô tận, không gian mạng còn là nơi kết nối xã hội loài người, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và gia tăng giá trị cuộc sống. Tuy nhiên, không gian mạng với đặc tính “ảo”, dễ ẩn danh, lan truyền nhanh đã trở thành môi trường thuận lợi cho hoạt động phát tán tin giả, thông tin xấu, độc.

Có thể nói, đại dịch COVID-19 đã bộc lộ cả mặt tích cực và tiêu cực của không gian mạng một cách rõ nét. Dịch COVID-19 vừa là chất xúc tác giúp Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số khi liên tiếp các ứng dụng hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh như Bluezone, PC-Covid,... và các nền tảng hỗ trợ làm việc tại nhà, học trực tuyến, giao hàng tận nơi... được ra đời, vừa trở thành cơ hội cho tin giả, thông tin xấu, độc trên mạng gia tăng đột biến.

Thực tế, tin giả, thông tin xấu, độc thường có xu hướng lan truyền nhanh hơn tin chính thống từ các phương tiện truyền thông. Đây là một thách thức không chỉ riêng với Việt Nam, mà còn với tất cả các quốc gia trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đang thuộc nhóm các quốc gia có tỷ lệ người dân sử dụng mạng xã hội cao trên thế giới và xu hướng đọc tin trên mạng xã hội ngày càng tăng. Các nền tảng mạng xã hội có lượng người sử dụng lớn như Facebook, Youtube, TikTok, Zalo... đang là môi trường phát tán tin giả, thông tin xấu, độc phổ biến nhất. Năm 2020, Google thống kê Việt Nam đứng tốp 10 các nước có số lượng thông tin vi phạm chính sách bị yêu cầu xử lý. Đặc biệt, việc các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, chống đối chính trị đã và đang triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội để thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, đặt công tác quản lý thông tin trên mạng, định hướng dư luận ở nước ta đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức. Do đó, việc quản lý hiệu quả không gian mạng nói chung và mạng xã hội nói riêng nhằm hạn chế tối đa những mặt trái, đồng thời phát huy mặt tích cực, khả năng ứng dụng các lợi thế, tiện ích của mạng xã hội đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta.

Trước tình hình đó, hoạt động tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm, ý thức tuân thủ pháp luật khi sử dụng mạng xã hội luôn được Bộ Thông tin và Truyền thông gắn chặt với việc thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 48-CT/TW, ngày 22-10-2010, của Bộ Chính trị khóa X, “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”, Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 12-5-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Về tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng hoạt động truyền thông, báo chí phục vụ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; kịp thời chấn chỉnh và xử lý các vi phạm trong hoạt động báo chí, truyền thông”, trong đó yêu cầu “đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền trên các nền tảng mạng xã hội, hệ thống thông tin cơ sở và các phương tiện truyền thông mới”; thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Đặc biệt, nhiệm vụ quan trọng được đề ra trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng là: “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại”, và “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet”, nhờ đó trang bị kiến thức cần thiết để người tham gia hoạt động trên mạng, sử dụng mạng xã hội nhận diện, cảnh giác trước tính chất nguy hại của những thông tin xấu, độc, qua đó, mỗi người có thể tự lựa chọn, tiếp nhận thông tin hữu ích, đồng thời biết sàng lọc, tạo “miễn dịch” trước những thông tin xấu, độc đang tràn lan trên mạng.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”.

Quán triệt sâu sắc tinh thần này, với vai trò là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với thông tin trên không gian mạng, mạng xã hội, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tích cực chủ động nghiên cứu, tìm hiểu để nhanh chóng “làm chủ” các tính năng, công cụ mới của internet và mạng xã hội phục vụ cho công tác quản lý, tuyên truyền, nắm bắt dư luận xã hội, thúc đẩy truyền thông chủ động. Qua thực tiễn triển khai, có thể thấy vấn đề thông tin tuyên truyền nói chung và tuyên truyền chính trị nói riêng trên mạng xã hội cần đáp ứng các tiêu chí về tính lan tỏa, tính thu hút, tính kịp thời và tính chính xác.

Trước đây, thông tin tuyên truyền chủ yếu là một chiều, vì thế nội dung thông tin thường theo lối mòn, chưa có sự tương tác với công chúng cũng như thời gian truyền tải tới công chúng chậm. Mạng xã hội xuất hiện đã làm cho việc tiếp cận thông tin không còn đơn điệu như trước. Thay vào đó, tất cả mọi người sử dụng mạng xã hội đều có thể tham gia tương tác, cung cấp, chia sẻ thông tin, tạo ra môi trường thông tin đa chiều với nhiều nội dung khác nhau. Chính vì thế, cần tăng cường lan tỏa thông tin tích cực lên không gian mạng, chuyển hướng sự tập trung chú ý của dư luận tại cùng thời điểm vào những thông tin tích cực, phân hóa và cô lập những nhóm thông tin tiêu cực, đây chính là “lấy xây để chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, tạo môi trường phát triển nội dung thông tin tốt nhằm bao trùm và lấn át nội dung thông tin tiêu cực trên không gian mạng.

ỨNG DỤNG CÁC LỢI THẾ, TIỆN ÍCH CỦA MẠNG XÃ HỘI TRONG CÔNG TÁC THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN

 Để công tác thông tin, tuyên truyền trên mạng xã hội hiệu quả, cần căn cứ vào đặc điểm tâm lý của cư dân mạng. Thị hiếu của cư dân mạng hiện nay là thích tin ngắn, bằng hình ảnh, ngại đọc những vấn đề lý luận cao siêu, trừu tượng. Vì vậy, muốn thu hút người dân quan tâm tới thông tin, tuyên truyền, thì không chỉ bằng luận chứng, luận cứ khoa học mà còn phải bằng lý lẽ đời thường, lập luận thuyết phục. Thông tin phải có sự chọn lọc, mang tính thiết thực, có lợi ích rõ ràng, thúc đẩy cái đẹp, cái tích cực, phê phán và đấu tranh với cái xấu, cái tiêu cực vì sự phát triển của cộng đồng và xã hội. Ngoài ra, nội dung, thông điệp truyền tải ngắn gọn, phù hợp với ngôn ngữ của cộng đồng mạng, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thể hiện và dễ lan tỏa bằng truyền thông đa phương tiện trên nền tảng của văn bản, hình ảnh, video,...

Một trong những điểm ưu việt của mạng xã hội so với báo chí truyền thống là đáp ứng được nhu cầu tiếp cận thông tin nhanh chóng của công chúng. Tuy nhiên, điều này cũng trở thành “con dao hai lưỡi” khi tạo điều kiện cho tin giả, thông tin xấu, độc lan truyền rộng rãi trong thời gian ngắn, nghiêm trọng hơn là khi các thế lực thù địch, phản động lợi dụng mạng xã hội xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước và chế độ, lôi kéo, kích động bạo loạn, biểu tình, gây rối trật tự công cộng,... Do đó, yêu cầu đặt ra đối với việc ứng dụng mạng xã hội trong công tác tuyên truyền là thông tin phải được cung cấp nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn phải bảo đảm tính chính xác, chất lượng với cách viết hấp dẫn, thu hút. Khi xuất hiện tin giả, thông tin xấu, độc, phải kịp thời “giải độc” thông tin nhanh chóng bằng nguồn tin xác thực, tin cậy giúp người dân nắm rõ bản chất vấn đề, không để những tin này ảnh hưởng xấu đến niềm tin của người dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đấu tranh, phản bác, đồng thời tuyên truyền và huy động người dân tham gia chia sẻ, lan tỏa nguồn thông tin chính thống thành dòng chủ lưu, chi phối trên mạng. Đối với các vấn đề, lĩnh vực quan trọng, nhạy cảm và phức tạp được dư luận quan tâm, phải dự báo được tình hình, xu hướng để chủ động chiếm lĩnh truyền thông trên mạng.

Những hình thức đang phổ biến trên mạng xã hội hiện nay có thể ứng dụng trong tuyên truyền chính trị, như: Kể chuyện (story telling) - người làm công tác tuyên truyền gửi gắm thông điệp thông qua những câu chuyện có ý nghĩa, chạm đến cảm xúc của độc giả nhằm thể hiện sự thấu hiểu và gắn kết; Video ngắn (short video/reel) - hình thức truyền thông qua các video ngắn 10s - 30s, đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay với sự tham gia của hầu hết các mạng xã hội lớn, như Facebook, Tiktok, Youtube, Instagram...; nội dung do người dùng tạo ra (UGC content), có thể ứng dụng trong các cuộc thi trực tuyến (online) với sự tham gia của công chúng mục tiêu; sử dụng người có sức ảnh hưởng (KOLs) để định hướng dư luận...

Với các kinh nghiệm đã đúc rút được, Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn để các bộ, ngành, địa phương xây dựng và vận hành hiệu quả một hệ thống truyền thông đa phương tiện, trong đó các cơ quan báo chí chính thống đóng vai trò nòng cốt; các trang thông tin điện tử, các tài khoản mạng xã hội, trang cộng đồng, các kênh video trên các mạng xã hội lớn như Facebook, Youtube, TikTok, Zalo (kết hợp cả chính danh và ẩn danh) làm công cụ lan tỏa thông tin chính thống, tích cực, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá theo hướng “bám sát thực tiễn, lập luận thuyết phục, ví dụ cụ thể”, để giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên internet và đã đạt được một số kết quả khả quan, Fanpage chính thức của Chính phủ trên Facebook ra đời năm 2015 với tên gọi “Thông tin Chính phủ” giúp người dân dễ dàng, nhanh chóng tiếp cận với các thông cáo báo chí, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ và một số hoạt động của Chính phủ. Để phát huy hơn nữa hiệu quả của Fanpage này, Bộ Thông tin và Truyền thông đã đồng hành, đề xuất một số giải pháp, ý tưởng và được nhóm điều hành trang đón nhận, tiếp thu. Trong hai năm gần đây, lượng người truy cập và theo dõi đã tăng gấp hơn 10 lần(1), trang “Thông tin Chính phủ” trở thành một trong những địa chỉ cung cấp thông tin uy tín nhất, hoạt động hiệu quả nhất trong số những fanpage chính thống của các cơ quan nhà nước. Fanpage còn là kênh thông tin hữu hiệu của người dân, doanh nghiệp và người Việt Nam ở nước ngoài.

Một số tính năng, công cụ mới của mạng xã hội đã được Bộ Thông tin và Truyền thông khai thác, sử dụng hiệu quả như: livestream (phát trực tuyến trên mạng xã hội); quảng cáo hướng đối tượng (chạy quảng cáo để phát các thông điệp cần tuyên truyền đến các nhóm đối tượng mong muốn); sáng tạo nội dung tuyên truyền phù hợp với thị hiếu và cách thức tiếp nhận thông tin của cộng đồng mạng (xây dựng và phát các video clip, hình ảnh hoặc nội dung tuyên truyền trên Facebook, Youtube, TikTok); thăm dò dư luận... Tiêu biểu là chương trình “Dân hỏi - Thành phố trả lời” do Bộ Thông tin và Truyền thông và Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện trong tháng 8-2021 và tháng 9-2021 theo hình thức livestream trên các nền tảng mạng xã hội(2). Khi Thành phố Hồ Chí Minh trải qua những đợt giãn cách xã hội để phòng, chống dịch bệnh COVID-19, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin sai sự thật, tin giả gây hoang mang cho người dân và ảnh hưởng tiêu cực đến công tác phòng, chống dịch của Thành phố. Thay vì ngăn chặn tin giả một cách thụ động, một phương thức mới đã được đề xuất, đó là “truyền thông chủ động trên chính nơi mà tin giả phát tán”. Hiệu quả của Chương trình được đánh giá dựa trên các tiêu chí như tính thời sự, tính thực tiễn và tính trực diện, sự tương tác. Chương trình đã cho thấy hướng đi đúng, hiệu quả khi nắm bắt được chính xác tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, hoạt động đúng thời điểm và đáp ứng nhu cầu của thực tiễn.

Trong bối cảnh dịch bệnh căng thẳng, nhiễu loạn thông tin về phòng, chống dịch, việc có kênh thông tin chính thống để người dân đối thoại trực tiếp với những người đứng đầu Thành phố đã giúp an dân. Chương trình đã mở ra một kênh mới để chính quyền tương tác với người dân. Việc sử dụng tính năng livestream trên mạng xã hội - vốn rất quen thuộc với người dân, góp phần thu nhỏ khoảng cách giữa cơ quan quản lý nhà nước và người dân. Chương trình đã nhận được nhiều phản hồi tích cực, làm tiền đề nhân rộng tại các tỉnh, thành phố khác trên cả nước. Lần đầu tiên, người dân nhận thấy ý kiến của họ không chỉ được lắng nghe mà còn được tiếp thu, thực hiện; lan tỏa thông điệp truyền thông tích cực để người dân vững tâm vượt qua đại dịch.

Cùng với việc đẩy mạnh lan tỏa thông tin chính thống, thông tin tích cực, để công tác thông tin, tuyên truyền đạt hiệu quả, Bộ Thông tin và Truyền thông đã quán triệt quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Trong đó, “xây” là giải pháp tập trung vào bên trong, nội tại, “chống” là giải pháp hướng vào việc ngăn chặn những tác động tiêu cực từ bên ngoài, phải được thực hiện quyết liệt, kiên trì. Để đạt được mục tiêu này, các đơn vị chức năng của Bộ Thông tin và Truyền thông thường xuyên rà quét, phát hiện thông tin xấu, độc và tổ chức nhiều đợt đấu tranh cứng rắn, quyết liệt với các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới, yêu cầu các nền tảng này kiểm soát, hạn chế, ngăn chặn, gỡ bỏ kịp thời tin giả, thông tin xấu, độc xuyên tạc chủ trương, đường lối, tư tưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam; thông tin lừa đảo, đánh bạc, quảng cáo không đúng sự thật, thông tin gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân; nội dung phản cảm, độc hại đối với trẻ em và các quảng cáo chính trị từ các fanpage, tài khoản của các thế lực thù địch, tổ chức phản động.

Song song với đó, việc nâng cao nhận thức cho người dân về nhận diện tin giả, thông tin xấu, độc trên không gian mạng cũng được Bộ Thông tin và Truyền thông chú trọng thực hiện. Năm 2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã thành lập Trung tâm xử lý tin giả Việt Nam (VAFC) để xác minh, công bố tin giả trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhiệm vụ chính của Trung tâm là tiếp nhận, phát hiện, thẩm định, gắn nhãn tin giả, công bố thông tin xác thực, tin giả, tin sai sự thật trên trang tingia.gov.vn. Đồng thời, chủ động phát hiện các xu hướng thông tin có lượng người chia sẻ, tương tác lớn để đánh giá, thẩm định, dán nhãn tin giả nếu có, cảnh báo người dân không chia sẻ và hướng dẫn cách nhận biết, phòng tránh, đối phó với tin giả. Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm đã tiếp nhận hơn 4.000 lượt báo cáo tin giả. Sau quá trình xác minh, Trung tâm đã công bố dán nhãn 49 tin giả, tin sai sự thật. Trong đó, nhiều nội dung liên quan đến tình hình dịch bệnh COVID-19 tại Việt Nam. 

Ngoài ra, Bộ Thông tin và Truyền thông luôn đặt công tác đào tạo cán bộ là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Bộ thường xuyên tổ chức hội nghị tập huấn cho các bộ, ngành, địa phương, nhằm bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về cách thức nhận biết, phát hiện tin giả, thông tin xấu, độc trên không gian mạng, kỹ năng tương tác và thực hành trên không gian mạng cho cán bộ, như kỹ năng thiết kế các ấn phẩm tuyên truyền, kỹ năng viết tin, bài; kỹ năng truyền thông, sử dụng mạng an toàn... Mạng xã hội đã và đang trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực trong cung cấp thông tin chính thống, định hướng kịp thời những vấn đề quan trọng, nhạy cảm và ngăn chặn, phản bác thông tin xấu, độc.

Trong thời gian tới, để quản lý hiệu quả thông tin trên không gian mạng, mạng xã hội, tiếp tục phát huy mặt tích cực của mạng xã hội, khả năng ứng dụng các lợi thế, tiện ích của mạng xã hội trong công tác thông tin, tuyên truyền, hạn chế tối đa tác động tiêu cực của mạng xã hội, Bộ Thông tin và Truyền thông duy trì thực hiện các biện pháp đã nêu, đồng thời chủ động nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quản lý của các nước trên thế giới để ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam nhằm đạt được mục tiêu đề ra./.

 

AN NINH CON NGƯỜI, ĐIỂM MỚI TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG

 

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1 trang 117: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.”. Trong những nội dung trên nội dung bảo đảm an ninh con người là một trong những nội dung mới được Đảng ta xác định.

          An ninh con người là trạng thái người dân được sống ổn định, an toàn, không bị đe dọa bởi các nguy cơ xâm hại; bảo vệ an ninh con người là bảo đảm và thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi người dân được sống ấm no, tự do, hạnh phúc trong một môi trường xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh. Để bảo đảm an ninh con người, Nhà nước cũng như xã hội phải tạo ra được môi trường chính trị, xã hội, kinh tế, quân sự, văn hóa, sinh thái... lành mạnh, phát triển. Các cơ chế đó phải đảm bảo được tiêu chí bảo vệ con người tránh khỏi những xâm lược từ bên ngoài và những mối đe dọa từ bên trong bởi tổ hợp của các nhân tố tiêu cực như đói nghèo, thiên tai, bệnh dịch, ô nhiễm môi trường, tội phạm, tệ nạn xã hội, sự mất an toàn trong cuộc sống, sự lo lắng trước những bất công, bạo lực… Đây cũng là mục tiêu quan trọng mà Đảng ta đang nỗ lực hướng đến để đạt được. Theo quan quan điểm của Đảng nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động, bảo vệ an ninh con người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội và xây dựng, phát triển đất nước trường tồn, thịnh vượng.

Như vậy một lần nữa Đảng ta lại tiếp tục khẳng định mọi đường lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng mục đích cuối cùng cũng là lợi ích của nhân dân, của con người, tất cả là vì sự phát triển tiến bộ của con người, vì hạnh phúc của nhân dân. Đây chính là bản chất tốt đẹp, thấm đẫm tính nhân văn, nhân đạo của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay, vì vậy mọi người dân Việt Nam cần hiểu, và nắm chắc chủ trương, đường lối của Đảng, tích cực chủ động trong lao động, học tập và công tác góp phần đưa Nghị quyết của Đảng đi vào thực tiễn cuộc sống, góp phần đập tan mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch hiện nay.

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG – VĂN HÓA

 

Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Chúng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên tất cả các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là mũi nhọn.  Diễn biến hòa bình là một chiến lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, là “thủ đoạn hòa bình để giành thắng lợi”. Nhiều chuyên gia và chính khách phương Tây còn gọi đây là phương pháp “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”, “cách mạng hòa bình” và gần đây là “cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”... Trong chiến lược này, hoạt động tư tưởng, văn hóa được coi là “mũi đột phá”, là “cây cầu dẫn vào trận địa”, là lĩnh vực hàng đầu làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra khoảng trống để dần dần đưa vào hệ tư tưởng tư sản, rồi cuối cùng xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa”.  Vì vậy, chúng ta phải nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có biện pháp phòng, chống hiệu quả, điều này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

          Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với nước ta trong những năm qua được thể hiện trên các thủ đoạn và nội dung chủ yếu như xuyên tạc bôi nhọ, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là truyền thống văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa - những giá trị tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ra sức truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta, đây là lối sống thực dụng, vụ lợi, cá nhân sùng bái đồng tiền, dâm ô trụy lạc… kích thích sự phục hồi phát triển lối sống mê tín dị đoan, tôn thờ chủ nghĩa hữu thần, tìm hiểu, móc nối, mua chuộc, kích động trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội... Tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ làm cho văn hóa, văn nghệ đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, chúng cũng ra sức phá vỡ, đẩy lùi lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, đời sống tinh thần của xã hội. Đồng thời, chúng tăng cường đả kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Chúng cho rằng con đường đó không còn phù hợp với quy luật của lịch sử, làm cho đất nước không thể phát triển và đòi Việt Nam từ bỏ con đường đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

          Ngoài ra, “diễn biến hòa bình” còn tác động xấu đến đạo đức, lối sống nhân dân ta, đó là sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân, ích kỉ, ham muốn làm giàu không chính đáng, ham muốn quyền lực cực đoan… đã và đang phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Khuynh hướng này hết sức nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta và về lâu dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

          Nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành tích cực, chủ động đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới một cách thường xuyên, liên tục và không khoan nhượng. Đây là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách và là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Việt Nam luôn ghi nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ

 

Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng liêng, cần thiết cho cuộc sống, là một biểu hiện cho tiến bộ và là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nhưng tự do chưa bao giờ và không bao giờ là tự do chung chung, tự do vô bờ bến. Điều này được thể hiện rõ nét trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Pháp luật Việt Nam chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Ví dụ, khoản 1, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc quy định chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng cũng phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Cụ thể là, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) đề cập cụ thể trong một số điều quy định về các quyền có thể chịu sự giới hạn (Điều 4, Điều 19).Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đưa ra các giới hạn đối với quyền tự do ngôn luận theo đúng định nghĩa của nó (Điều 4, Điều 10, Điều 11).

          Ở Việt Nam, hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành “phong trào” gây nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội nếu không được nhận diện và đấu tranh kịp thời.

          Các thế lực phản động, thù địch đã tiến hành nhiều hoạt động lợi dụng danh nghĩa dân chủ, phát động cái gọi là bất tuân dân sự để chống đối chính quyền, gây trở ngại cho hoạt động công quyền với nhiều hoạt động dưới nhiều dạng thức và hành động như lợi dụng việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng, dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước, các đối tượng phản động, thù địch đã kích động, lôi kéo người dân tham gia tuần hành, biểu tình, chống người thi hành công vụ, đập phá tài sản các trụ sở chính quyền, gây thiệt hại lớn về tài sản, kinh tế, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; vụ đình công phản đối Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 diễn ra tại một số tỉnh, thành phố; lợi dụng phản đối trạm BOT Cai Lậy ở tỉnh Tiền Giang năm 2017, trong đó một số lái xe quá khích đã đưa xe đến giữa trạm rồi bỏ đi; đốt phá Đông Đô Đại Phố ở tỉnh Bình Dương; lợi dụng sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại thềm lục địa Việt Nam tháng 5-2014 để kích động biểu tình, tuần hành, đập phá các doanh nghiệp ở 8 tỉnh, thành phố; khoét sâu, thêm tình tiết và thổi phồng các vấn đề nóng như sự cố môi trường, lũ lụt trên địa bàn một số tỉnh để kích động người dân gây mất an ninh, trật tự, đập phá tài sản; lợi dụng chống tiêu cực, tham nhũng, cưỡng chế đất đai, giải phóng mặt bằng để kích động hành vi bất tuân dân sự; lợi dụng tôn giáo để thực hiện mưu đồ xấu, công kích, chống phá... Các thế lực phản động, thù địch còn xuyên tạc trắng trợn rằng, việc xử lý những người vi phạm pháp luật là “đàn áp” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước, kêu gọi đưa vấn đề ra Liên hợp quốc và kêu gọi các tổ chức quốc tế vào cuộc; xuyên tạc trắng trợn rằng các đạo luật trên là vi hiến, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống người dân. Nham hiểm hơn, các thế lực phản động, thù địch còn kêu gọi người dân không chỉ dùng Facebook mà dùng nhiều mạng xã hội khác để “đấu tranh”...

          Chính sách, pháp luật, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo đảm sự tham gia của người dân vào các hoạt động của Nhà nước và xã hội, bảo đảm quyền giám sát, phản biện xã hội của các chủ thể. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các chủ thể, ủng hộ phản biện xã hội chân chính để hoàn thiện chính sách, pháp luật, xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật. Nhưng việc lợi dụng cái gọi là bất tuân dân sự để cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt động công quyền cần phải được ngăn chặn, đẩy lùi. Nhiều quan điểm trên thế giới cũng chỉ rõ tính trái pháp luật của hành vi bất tuân dân sự, phản bác việc lợi dụng bất tuân dân sự để kích động các hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại đến hoạt động công quyền

          Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, thiết yếu của các quyền tự do, dân chủ của người dân với ý nghĩa là một quyền thiết thân của con người, là động lực phát triển của đất nước. Tuy nhiên, không một quốc gia nào trên thế giới lại dung thứ các hành vi lợi dụng dân chủ, cổ xúy cho các hành vi vi phạm pháp luật, gây tổn hại đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và của người dân. Nhận diện các biểu hiện lợi dụng “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị để kích động, chống phá là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong điều kiện hiện nay, không chỉ góp phần thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị và của từng người dân mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó chủ động trong việc triển khai có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn./.

Những biểu hiện bệnh quan liêu, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”

 

Bệnh quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” là thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, làm suy yếu hệ thống chính trị. Đảng ta thể hiện quyết tâm chính trị rất cao, thực hiện các giải pháp mạnh mẽ nhằm đẩy lùi các căn bệnh này, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước.

          Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng chỉ rõ: “Trong Đảng có một bộ phận giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, dao động, mất lòng tin, trong đó một số chịu ảnh hưởng của khuynh hướng cơ hội, xét lại, muốn đưa đất nước đi theo con đường khác; thậm chí đã có người phản bội, đầu hàng. Không ít cán bộ, đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân, thực dụng cuốn hút, trở nên thoái hóa, hư hỏng..., ăn chơi vung phí tài sản của nhân dân rất nghiêm trọng và kéo dài”.

          Đại hội VIII của Đảng nhấn mạnh: “Bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể chậm được sắp xếp lại, tinh giản và nâng cao chất lượng; còn biểu hiện quan liêu... Điều đáng lo ngại là không ít cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa về phẩm chất, đạo đức...”. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”, chỉ rõ: “Trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng bộc lộ một số yếu kém: ... tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn”.

          Đại hội IX của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tình trạng lãng phí, quan liêu còn khá phổ biến”. Đại hội X của Đảng nhận định: Đáng lo ngại là “một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội” “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống ... trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi...”.

          Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về..., đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau”.

          Lợi ích nhóm đã xuất hiện trong các giai đoạn trước đây, song từ sau Đại hội VI của Đảng đã phát triển đến mức phức tạp, gây hậu quả rất nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội, xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị. Qua kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Đại hội XII nhận định: “Trên một số vấn đề, qua kiểm điểm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp từ Trung ương đến cơ sở vẫn chưa làm rõ thực chất, mức độ nghiêm trọng... như tình trạng chạy chức, chạy tội, tham nhũng, lợi ích nhóm”. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về đạo đức, lối sống...”, chỉ rõ một biểu hiện rất nguy hiểm của lợi ích nhóm: “... lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực”.

          Như vậy, quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi và có xu hướng nghiêm trọng ở nhiều nơi, ở các ngành, các cấp, lĩnh vực đời sống xã hội. Đây là vấn đề nhức nhối, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và trong nhân dân, cần kiên quyết đấu tranh với quyết tâm chính trị cao và với một  hệ thống giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ sau đây

          Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cấp ủy các cấp, đội ngũ đảng viên về chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái. Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên. Giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

          Quyết tâm thực hiện thắng lợi cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng các tổ chức đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, thực sự là nơi trực tiếp chống lại một cách có hiệu quả chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái.

          Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và hoạt động thanh tra, kiểm sát của các cơ quan chức năng của Nhà nước; xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, có lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái.

          Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã hội, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động của mặt trái kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân.

          Mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức trách nhiệm, trước hết, tự tu dưỡng rèn luyện để tự tránh sa vào những suy thoái nêu trên. Đề cao trách nhiệm và có các hình thức, phương pháp hiệu quả để tổ chức, động viên nhân dân tham gia chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái trong cán bộ, đảng viên, trước hết ở địa phương, cơ quan, đơn vị.

Đấu tranh với âm mưu lợi dụng vấn đề tham nhũng để chống phá Việt Nam

 

Trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, trong đó tham nhũng là vấn đề được chúng triệt để lợi dụng. Cả thế giới đã thừa nhận, tham nhũng là tệ nạn mang tính toàn cầu, tham nhũng xuất hiện và tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới, các nước dù đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa đều phải đối mặt với tệ nạn này, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng không phải do chế độ chính trị hay do đảng phái nào nắm quyền lãnh đạo đất nước... Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động lại ra sức rêu rao rằng: “Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng”; “do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng xảy ra...”; “tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu tư liệu sản xuất, chuyên chế độc đảng”... họ còn cho rằng: Tham nhũng chỉ xuất hiện ở những nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa,... Thực chất của giọng điệu ấy không gì khác là lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu hòng làm suy giảm uy tín tiến tới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những giọng điệu ấy không nhằm mục đích gì khác là xuyên tạc mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của cuộc đấu tranh này; bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; chia rẽ nội bộ ta, gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí, quyết tâm phòng chống tham nhũng và lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ.

Tuy nhiên, trong công tác phong chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước ta chỉ đạo rất quyết liệt, tạo được một bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Các cơ quan chức năng đã chủ động, công khai cung cấp thông tin, định hướng dư luận trong hoạt động phòng chống tham nhũng, phát huy vai trò tích cực của các cơ quan truyền thông, báo chí, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội và người dân trong phòng chống tham nhũng ngày càng được phát huy tốt hơn... Hoạt động hợp tác quốc tế về phòng chống tham nhũng được mở rộng. Kết quả công tác phòng chống tham nhũng của Việt Nam những năm gần đây đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận có nhiều chuyển biến tích cực. Theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch quốc tế, chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt Nam tăng liên tiếp trong nhiều năm.

Ngoài việc góp phần tạo ra bước phát triển về kinh tế-xã hội, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng góp phần tăng cường, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa. Kết quả của công tác này đã tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng... Những kết quả đó càng chứng tỏ những luận điệu của các thế lực phản động về cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Việt Nam là xuyên tạc, bịa đặt, vô căn cứ.

Những kết quả bước đầu đã để lại cho chúng ta những bài học quan trọng nhưng cũng cần phải thấy rằng những kết quả quan trọng đạt được mới chỉ là bước đầu. Tình hình tham nhũng, tiêu cực và tệ quan liêu, lãng phí vẫn còn nhiều, phổ biến trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh sự vào cuộc quyết liệt của nhiều cơ quan, tổ chức, lực lượng, đơn vị, địa phương thì ở đâu đó vẫn còn những biểu hiện thiếu kiên quyết, né tránh, tình trạng "trên nóng, dưới lạnh", "trên vội vã, dưới thư thả". Thực tế ấy đòi hỏi muốn làm sạch đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng, trong sạch đội ngũ cán bộ trong toàn bộ máy, Đảng ta phải có bản lĩnh và quyết tâm chính trị cao.

Thời gian tới đây, khi mà cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực càng được đẩy mạnh thì các thế lực thù địch, phản động cũng sẽ gia tăng sự chống phá. Dù cam go, phức tạp, dù khó khăn đến mấy cũng không ai có thể phủ nhận, xóa nhòa những thành công của chúng ta, không ai có thể làm nhụt ý chí, quyết tâm của chúng ta. Chúng ta cần phải đề cao cảnh giác, nhận diện rõ ràng về những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội để từ đó kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại, ngăn cản cuộc đấu tranh phòng chống tha những Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Ý NGHĨA THẮNG LỢI LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

 Kỷ niệm ngày Cách mạng Tháng 8 thành công, những người Việt Nam hôm nay, mặc dù không được tận hưởng không khí hào hùng của ngày mùa thu tháng 8 năm 1945, nhưng đều nhận thức được ý nghĩa to lớn của cuộc cách mạng ấy. Thành công của Cách mạng Tháng 8 năm 1945 không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với nước ta mà còn có ý nghĩa đối với thế giới.

Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Đánh giá về ý nghĩa lớn lao này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”. Thắng lợi này đã chính thức chấm dứt ách đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp đối với nước ta, mở kỷ nguyên độc lập, lần đầu tiên tên nước Việt Nam có tên bản đồ thế giới; đồng thời đã mở ra mối quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới với tư cách và vị thế của một quốc gia - dân tộc có độc lập, có chủ quyền.

Đối với tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đã góp phần đánh bại tàn dư của chế độ phong kiến và chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phát xít ở Việt Nam. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc và cũng là lần đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á, có một nhà nước với chế độ dân chủ cộng hòa, nhà nước do giai cấp công nông lãnh đạo và Nhân dân tự làm chủ vận mạng của mình.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam và là thắng lợi vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ thắng lợi to lớn đó, đã cổ vũ nhân dân ta kiên cường đấu tranh giành độc lập dân tộc, trước hai tên đế quốc sừng sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi là tấm gương, là nguồn cổ vũ cho các quốc gia - dân tộc đang mất độc lập tự do ở châu Á, châu Phi và Mỹ La-tinh, nhất là các nước láng giềng noi theo. Khẳng định vị thế, giá trị thời đại của  thắng lợi này, Chủ tich Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã làm cho chúng ta trở nên một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới. Cách mạng Tháng Tám có ảnh hưởng trực tiếp và rất to đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào. Cách mạng Tháng Tám thành công, nhân dân hai nước Miên, Lào cùng nổi lên chống đế quốc và đòi độc lập”.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã chứng minh một chân lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập, tự do; đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân và biết tranh thủ sức mạnh của thời đại thì dân tộc đó nhất định thắng lợi. Thắng lợi của cách mạng Tháng 8 năm 1945 cũng chứng minh luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc” là hoàn toàn đúng đắn.

Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại; giáng một đòn chí mạng vào nền móng của chủ nghĩa thực dân cũ ở vị trí xung yếu nhất; cùng với Liên Xô, các lực lượng tiến bộ trên thế giới và quân đồng minh đánh đổ chủ nghĩa thực phát xít, giữ vững hòa bình cho khu vực và trên thế giới. Tinh thần của chiến thắng lịch sử. Do đó, cũng là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, chiến thắng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Về vấn đề này, Hồ Chí Minh dẫn lại đánh giá của Báo Nhân dân Inđônêxia: “Chúng ta chỉ có thể bày tỏ sự kính trọng và lòng khâm phục cao nhất đối với nhân dân Việt Nam anh hùng... Với sự chiến đấu anh dũng của họ, nhân dân Việt Nam đã tự đặt mình lên vị trí vẻ vang nhất trên thế giới...”.

Thắng của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã chứng minh tính cách mạng, khoa học của học thuyết Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; là sự tiếp nối và là thắng lợi tất yếu sau thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại năm 1917: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã chứng minh sự đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa, đã chứng minh sự đúng đắn của con đường của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại đã vạch ra”.

Thời gian đã lùi xa nhưng tầm vóc ý nghĩa thắng lợi, bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám vẫn còn nguyên giá trị và ngày càng tỏa sáng. Đó là một trong những trang chói lọi nhất trong lịch sử của dân tộc ta, một dấu mốc lớn trên con đường phát triển trong suốt chiều dài mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”./.

Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất

 

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ 2021-2026, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: Trước yêu cầu công cuộc đổi mới ngày càng gay gắt, ngày càng phức tạp và ngày càng khó khăn, khi những cám dỗ vật chất, quyền lực ngày càng tinh vi, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng muốn gửi đến cán bộ, đảng viên lời nhắn nhủ nếu không vượt qua được chính mình, không giữ được danh dự, liêm sỉ thì không chỉ cá nhân đó mất hết mà sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

          Theo Tổng bí thư, muốn làm người đảng viên, muốn làm người cán bộ, trước hết phải là một con người chân chính, một con người biết trọng liêm sỉ, biết trọng danh dự tại rất nhiều hội nghị, Tổng bí thư nói nhiều về danh dự, danh dự thứ cao quý nhất trên đời. Danh dự là biểu hiện cao nhất của liêm sỉ, cũng yêu cầu trước hết cũng yêu cầu cuối cùng của cán bộ, đảng viên. Chúng ta giữ chức vụ to hay nhỏ, dù ở trung ương cơ sở, trước hết phải là người ngay ngắn, con người chân chính, như thế mới là lãnh đạo được, như thế mới thay mặt Đảng để làm công việc quản trị quốc gia, quản trị xã hội.

          Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Thanh sạch, liêm khiết ấy chính là Liêm vậy. Người liêm khiết thì bất luận gặp hoàn cảnh nào cũng không động lòng tham, cũng chẳng muốn ham hố vật chất. Hơn nữa, chính là tinh thần chí công vô tư, "dĩ công vi thượng" và biết quên mình mà làm chuyện ích lợi chung. Người Liêm khiết thì luôn giữ cho nhân cách mình được vẹn toàn, thanh danh mình được thơm tho, không lợi dụng địa vị mình để chiếm công vi tư, để nhũng nhiễu, bóc lột đồng loại. Một công bộc quốc gia liêm chính phải: có đức, có tài, biết kính trọng nghề nghiệp, vui vẻ với mọi người, công chính vô tư; biết lễ, phép, biết hay, dở, phải, trái. Chung quy một người liêm chính là người tài đức xứng với danh vị của mình, với chức tước, phận vị của mình.

          Liêm cũng lại là thấy của người, của quốc gia mà lòng không ham chiếm đoạt một cách phi pháp. Tức là biết xét nét, đâu là giới hạn giữa công và tư rồi không dám làm điều xấu, điều trái với quốc pháp và đạo lý luân thường. Nhất là không che đậy điều xấu, nghĩa là đức hạnh vẹn toàn. Nếu không Liêm thì của gì cũng cả gan lấy; không Sỉ thì việc gì cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế thì không chỉ rước họa "thân bại danh liệt" và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến? Huống chi lại là kẻ làm quan mà cái gì cũng rắp tâm mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn làm thì sao mà thiên hạ không loạn, quốc gia không mất cho được".

          Thông điệp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được nhắc lại với mong muốn của người đứng đầu Đảng ta đối với các cán bộ, đảng viên đã nỗ lực rồi thì phải nỗ lực hơn nữa để tu dưỡng, rèn luyện mình. Chặng đường trước mắt còn dài, khó khăn còn nhiều và có cả những cạm bẫy, cám dỗ. Vậy hãy làm sao để xứng đáng với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, giữ bằng được cho mình điều thiêng liêng nhất đó là danh dự.

          Thiết nghĩ, ở đời còn liêm, sỉ thì hiếu, đễ , trung, tín, lễ, nghĩa còn được, chớ liêm, sỉ đã mất, nhất là Sỉ thì còn gì là luân thường đạo lý và nương cậy vào đâu nữa. Con người mà đến vô Sỉ thì tuy mặc áo, đội ũ mà như con chim, con muông, còn cái gì là kiêng nể mà không dám làm.