Nguyễn Ngọc Ngạn hỏi: "Nếu trong nước có
ngoại xâm, chẳng hạn như Trung Quốc xâm lược Việt Nam, thì thử hỏi một mình
Đảng Cộng sản Việt Nam có đánh nổi không?"
Xin thưa: Việt Nam chúng tôi đã từng trải qua
bao năm tháng chiến tranh loạn lạc khói lửa, hy sinh đánh giặc quen rồi, nếu
lịch sử tái hiện, dù bất cứ quân xâm lược nào, không riêng gì Trung Quốc... vẫn
đánh tốt, thậm chí đánh thắng! Lịch sử đã chứng minh điều đó! Có lẽ nào ông
biết!?
Nếu ở xứ người lâu quá quên hết lịch sử dân
tộc thì tôi nhắc cho ông nhớ:
- Trong lúc các cuộc khởi nghĩa của nhân dân,
các phong trào yêu nước đầu thế kỷ 19 bị thực dân Pháp dìm trong biển máu, các
cuộc khởi nghĩa của Trương Định, khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy, Yên Thế, phong
Trào Cần Vương, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa thục đều đi đến bế tắc và bị dập tắt
thì chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo Nhân dân từng bước
giành lại chính quyền, từng bước đánh đuổi thực dân Pháp - với chiến thắng vang
dội lừng lẫy 5 châu, chấn động địa cầu Điện Biên Phủ!
- Trong lúc Pháp đầu hàng Nhật, Nhật đảo chính
Pháp làm chủ Đông Dương, lập ra Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, trong lúc bọn
Việt gian đu theo Nhật, đu theo Pháp, người Việt Nam 1 cổ 2 tròng... thì cũng
chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhân dân, chớp lấy thời cơ, giành lại
chính quyền, đánh đổ chính quyền phát xít Nhật, lập nên nước Việt Nam Dân chủ
cộng hòa.
- Trong lúc 2 triệu người Việt Nam chết đói,
không có cộng đồng hải ngoại bên Mỹ nào, càng không có cộng đồng quốc tế nào
cứu giúp, chỉ có Đảng Cộng sản. Từ trong cái đói mà khẩu hiệu "Một nắm khi
đói bằng một gói khi no" vang lên, nhà nhà 10 ngày nhịn ăn 1 bữa, đem gạo
ấy mà cứu dân đói, đến Chủ tịch nước cũng nhịn như vậy, giặc đói bị những người
Cộng sản đẩy lùi!
- Pháp hàng, Nhật cút, Mỹ nhảy vào, chia đôi
đất nước, dựng nên Ngụy quyền bù nhìn, tàn hại đồng bào. 20 năm ròng rã những
người Cộng sản ra sức thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối, đánh cho
Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, đánh cho bọn hèn hạ phải đu càng vượt biển. Cả nước
thống nhất chung một sắc cờ. Những điều vĩ đại đó chẳng phải là do những người
Cộng sản, Đảng Cộng sản làm được hay sao?
- Hết chiến tranh chống Mỹ, Trung Quốc, Mỹ,
ASEAN ra sức hà hơi cho Polpot vùng dậy, chúng giết hại dã man đồng bào, tàn
hại người Việt Nam, khi ấy "cái cộng đồng hải ngoại của Ngạn" cũng
ủng hộ bọn diệt chủng. Chỉ có những người Cộng sản nghe tiếng kêu cứu của nước
bạn mà xuất quân, hồi sinh Campuchia từ trong biển máu.
- Năm 1979, Trung Quốc phát động chiến tranh
Biên giới phía Bắc, xâm lược 6 tỉnh biên giới của Việt Nam, nhưng rồi bầy giặc
dữ phương Bắc cũng bị đánh tan tác, rút chạy về nước.
Đó chẳng phải là những người Cộng sản, Đảng
Cộng sản làm được hay sao?
Cộng Sản Việt Nam là những ai? Là NHÂN DÂN Việt Nam, từ dân mà
ra.
- Lúc đất nước bị cấm vận, khó khăn, nghèo
đói, người người ở lại lo chung tay khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng lại
đất nước ngày càng phát triển. Còn các ông vì lo cho bản thân mà quay lưng với
quê hương, tìm đến xứ người để tìm chút bơ thừa sữa cặn.
Có vì lý do kinh tế hay "tị nạn chính
trị" thì các ông cũng chỉ là NHỮNG KẺ THẤT BẠI, HÈN NHÁT mà thôi. Vậy mà
vẫn không biết nhục, còn cao giọng dạy người Việt Nam "CÁCH YÊU
NƯỚC"? Vây mà không biết liêm sỉ còn hỏi câu "liệu một mình Đảng Cộng
Sản Việt Nam có đánh nổi không?” Quá trơ trẽn! Ngạn à! Loại điếm bút như ông...
chỉ thích hợp để viết truyện ma hù dọa thiên hạ mà thôi
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết, cải cách chính sách tiền lương một cách căn bản trong năm 2024 cũng là một cú hích, nếu không có gì thay đổi, thời điểm có thể áp dụng là từ 1/7/2024!
Chiều 19/9, phát biểu bế mạc diễn đàn Kinh tế -Xã hội Việt Nam 2023, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết, các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội nửa nhiệm kỳ vừa qua đã đạt được những thành tựu không nhỏ, từng bước phát huy hiệu quả, góp phần củng cố tâm lý thị trường, doanh nghiệp, nhà đầu tư, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách.
Tuy nhiên, bối cảnh thế giới hiện nay ngày càng phức tạp và khó lường, điều này đặt ra vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện, điều chỉnh và nâng cao năng lực trong quá trình tổ chức, thực thi và thực hiện tốt công tác truyền thông chính sách, nhằm đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả với sức lan tỏa lớn.
“Các đại biểu cho rằng, bài toán phát huy nội lực, nâng cao năng lực nội sinh của doanh nghiệp, của nền kinh tế, đồng thời vận dụng hiệu quả các yếu tố “ngoại lực” và kiến tạo các động lực mới cho tăng trưởng là yếu tố mấu chốt, đem lại sức mạnh cộng hưởng nhằm hướng tới phục hồi và phát triển nền kinh tế nhanh và bền vững”, ông Vương Đình Huệ nêu.
Theo Chủ tịch Quốc hội, nguồn nhân lực được coi là động lực nội sinh cốt lõi của nền kinh tế. Ngân hàng Thế giới cho rằng giải pháp chủ yếu để đạt được tốc độ tăng trưởng năng suất cao hơn nằm ở việc cải thiện các đặc điểm của lực lượng lao động trẻ hiện nay.
Trên cơ sở đó, cần mở rộng độ bao phủ, phổ cập giáo dục và nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao (chú trọng kỹ năng, đạo đức kinh doanh...), tăng cường đào tạo kỹ năng nghề, chú trọng đầu tư, chuẩn bị trước một bước nguồn nhân lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong tương lai...
Đáng lưu ý, Chủ tịch Quốc hội cũng nhấn mạnh đến việc sớm thực hiện cải cách chính sách tiền lương một cách căn bản trong năm 2024. Đây cũng là một cú hích cho thị trường lao động, góp phần kích cầu tiêu dùng nội địa. “Đây là cải cách chứ không phải tăng lương bình thường. Nếu không có gì thay đổi, thời điểm chúng ta có thể áp dụng là từ 1/7/2024”, Chủ tịch Quốc hội nói.
Về vận dụng, khai thác hiệu quả “ngoại lực”, lãnh đạo Quốc hội cho rằng, cần phát huy các động lực từ thu hút hiệu quả đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh xuất khẩu, hướng tới bền vững. Đây là những động lực tăng trưởng truyền thống của Việt Nam, tuy nhiên đến nay đang có dấu hiệu suy giảm hoặc chậm lại.
Về kiến tạo các động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế, theo Chủ tịch Quốc hội, các đại biểu đã đưa ra rất nhiều gợi ý chính sách. Trong đó tập trung vào 5 động lực chủ yếu là: thúc đẩy liên kết vùng, phục hồi và tăng trưởng của các đầu tàu nền kinh tế; phát triển khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nội địa; đẩy mạnh kinh tế số, kinh tế xanh; hoàn thiện và nâng cao chất lượng thể chế kinh tế; và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu./.
Ai có may mắn được gặp Bác Hồ dù chỉ một lần trong đời cũng để lại kỷ niệm quá đỗi thiêng liêng, không thể nào quên. Với bà Hồ Thị Thu- nữ dũng sỹ diệt Mỹ, vinh dự 3 lần gặp Bác, được nghe những lời căn dặn và động viên của Người mãi là hành trang để bà luôn cố gắng vươn lên trong cuộc sống và công tác sau này.
Sinh ra trong thời chiến, hằng ngày thấy cảnh trên trời máy bay gầm rú, dưới đất súng nổ, cô gái nhỏ Hồ Thị Thu (sinh năm 1947) ở xã Xuyên Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam đã sớm giác ngộ cách mạng. Khi mới 12 tuổi, từ một em bé liên lạc, đưa thư từ, tài liệu vào các cơ sở trong vùng địch, rồi trở thành dũng sỹ du kích bí mật dũng cảm, ngoan cường khi ở độ tuổi 14. Quê hương Thu những năm 1965-1966, nơi có một đại đội Mỹ đóng chốt, từng chứng kiến bao cảnh chiến tranh tàn khốc: Mỹ đốt nhà, giết hại hơn 70 người dân vô tội. Với lòng căm thù giặc sâu sắc, lợi dụng sự sơ hở của địch, Thu đã đột kích vào đồn địch lấy 5 khẩu súng giao cho du kích. Đồng thời cùng các em nhỏ bỏ cát vào nòng 13 khẩu súng của giặc trước khi báo cho du kích và bộ đội địa phương đánh vào đồn của Mỹ. Nhờ trí thông minh và sự nhanh nhẹn của Thu mà trận đó ta đã thắng lớn. Cuối năm 1967, Hồ Thị Thu được cử đi dự Đại hội Nông dân quyết thắng. Tại Đại hội, Hồ Thị Thu được tặng 2 quả thuốc pháo. Trở về, em nhờ các chú bộ binh cải tiến thành mìn tự tạo và hướng dẫn cho cách đánh. Kết quả, Thu cùng một số em phục kích lính Mỹ đi tuần, giật mìn nổ giết được 15 tên.... Chiến công nối tiếp chiến công, Hồ Thị Thu được trao tặng danh hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ. Sau trận đó, chị bị thương nặng được ra Bắc điều trị và học tập, vinh dự 3 lần được gặp Bác Hồ.
Gặp chúng tôi, niềm vui về ba lần gặp Bác được bà tái hiện lại như mới hôm qua. Bà bảo: Bức ảnh này, ghi dấu lần lần đầu tiên tôi được gặp Bác. Đó là vào một ngày hè năm 1968, tôi được báo tin: “Bác Hồ muốn gặp các cháu thiếu nhi dũng sỹ miền Nam”. Mấy hôm sau, 7 anh em tôi được xe tới đón, đưa vào Phủ Chủ tịch gặp Bác. Khi xe vừa tới cổng, các dũng sỹ nhỏ tuổi đã nhìn thấy Bác Hồ và Bác Tôn ngồi chờ nơi ghế đá. Niềm mong ước gặp Bác Hồ của các dũng sỹ miền Nam đã trở thành hiện thực, cả đoàn không ai bảo ai, đều reo to: “Bác! Bác! Bác!...” rồi chạy tới ôm chầm Bác Hồ và Bác Tôn.
Trong đoàn, có Võ Phổ (ở Quảng Đà), Ngô Văn Nết (Quảng Ngãi), Võ Hường (Quảng Nam), Hồ Văn Mên (Thủ dầu Một), Nguyễn Văn Hoà (Thừa thiên Huế), Đoàn Văn Luyện (Quảng Ngãi) và tôi. Bà cười bảo: Tôi là con gái, nhỏ tuổi nhất nên được ngồi giữa Bác Hồ và Bác Tôn!
Cùng tiếp các dũng sỹ hôm ấy, còn có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà thơ Tố Hữu và đồng chí Vũ Kỳ. Sau khi được nhà thơ giới thiệu lần lượt tên, tuổi, thành tích, Bác đã âu yếm xoa đầu từng cháu. Đến lượt Hồ Thị Thu, Bác hỏi: “Cháu có phải là Thu không, cháu học hết lớp mấy rồi ?”. “Thưa Bác, ba cháu mất sớm, gia đình cháu nghèo lại đông anh em, nên không có điều kiện đi học, cháu chưa biết chữ ạ”- Chị Thu đáp.
Chợt chị thấy trên khóe mắt Bác cũng ngấn lệ, Bác bảo: “Cháu sẽ được đi học”. Rồi chị kể chuyện chiến đấu, chuyện lấy súng của địch, cách đánh Mỹ và thành tích cho Bác nghe. Chị kể đến đây, Bác Hồ và Bác Tôn đều gật đầu vui lòng.
Qua câu trả lời của các dũng sỹ nhỏ tuổi và ước nguyện đánh thắng kẻ thù để sớm đón Bác vào thăm, thể hiện tình cảm và mong ước của đồng bào miền Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác hỏi tiếp: “Đồng bào miền Nam sống, chiến đấu thế nào?”. Thu thưa với Bác: “Bà con quê cháu không sợ hy sinh gian khổ, chỉ sợ sau này nước nhà thống nhất, mắt bị mù không nhìn thấy Bác”. Nghe chị thưa, Bác đã khóc, cả đoàn cũng xúc động khóc theo.
Hôm đó, đoàn dũng sỹ được Bác mời ở lại ăn cơm. Trong bữa cơm, Hồ Thị Thu và Ngô Văn Nết được Bác cho ngồi bên cạnh. Bác gắp thức ăn bỏ vào bát cho từng cháu, động viên các cháu cố gắng ăn uống, rèn luyện sức khỏe. Sau đó, Bác tặng cho mỗi cháu 3 cuốn sách “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, riêng Thu được Bác tặng thêm một bông hồng, kèm theo lời dặn: “Cháu về học, nhớ viết thư cho Bác...”.
Lần thứ hai, Hồ Thị Thu được gặp Bác ngày 20/12/1968, chị cùng các cán bộ và chiến sỹ đặc công từ miền Nam ra báo cáo thành tích tại Hội trường Ba Đình. Bác vẫy các cháu dũng sỹ lên sân khấu, xoa đầu từng cháu và hỏi thăm sức khoẻ, sinh hoạt của các cháu khi ra miền Bắc.
Sau đó gần hai tháng, dịp Tết Kỷ Dậu năm 1969, Hồ Thị Thu trong đoàn thiếu niên dũng sỹ miền Nam ra thăm miền Bắc vào chúc Tết Bác, Người mời ăn cơm và bánh kẹo. Vinh dự hơn, các dũng sỹ còn được Bác cho phép cùng Người tiếp Đoàn đại biểu Cu Ba sang thăm và làm việc tại Việt Nam.
Thời gian ở miền Bắc, khi biết chị đang điều trị tại Bệnh viện Quân y 108, Bác đã điện cho các bác sỹ chăm sóc trực tiếp, hàng ngày phải thông báo cho Người biết về tình hình sức khoẻ của chị. Mặc dù bận trăm công ngàn việc trước vận mệnh của đất nước, nhưng Bác vẫn giành sự quan tâm, lo lắng cho sức khoẻ của chị. Biết được điều đó, Hồ Thị Thu thực sự xúc động, thầm hứa với Bác sẽ cố gắng điều trị và có sức khoẻ tốt để học tập… Sau năm 1975, bà công tác tại Đoàn Không quân B72, trở thành một nữ y tá. Đến năm 1992, bà Hồ Thị Thu nghỉ hưu trong căn nhà nằm trên đường Nguyễn Tri Phương, phường Chính Giản, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Về với gia đình, bà luôn là tấm gương mẫu mực: “Lúc còn công tác, ở đơn vị tôi luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, hòa nhã với đồng nghiệp. Ai có khuyết điểm, tôi nhẹ nhàng góp ý. Sau khi nghỉ hưu, về địa phương tôi tham gia sinh hoạt các Chi Hội Phụ nữ, Hội Chữ thập đỏ, Hội Cựu chiến binh… ai cũng thương, quý bởi tôi làm hết trách nhiệm. Làm được những điều đó, phần nhiều do tôi học tập được từ Bác, cố gắng vươn lên theo lời căn dặn của Người” - bà Hồ Thị Thu chia sẻ.
Hơn 50 năm đã trôi qua, ký ức về những lần được gặp Bác Hồ vẫn vẹn nguyên, là hành trang dẫn đường cho người dũng sỹ năm xưa. Đó mãi là kỷ niệm vô giá để bà không ngừng cố gắng vươn lên, sống có ích và truyền lửa cho thế hệ trẻ./.
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp các cháu trong đoàn thiếu niên dũng sỹ diệt Mỹ ở miền Nam ra thăm miền Bắc, tháng 12 năm 1968.
Yêu nước ST.
TỰ DO TÔN GIÁO PHẢI TRONG KHUÔN KHỔ PHÁP
LUẬT
Thời gian qua, một số cá
nhân, tổ chức lấy danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, đặc biệt là quyền về
tự do tín ngưỡng, tôn giáo để đưa ra những đánh giá phiến diện, sai lệch, các
luận điệu xuyên tạc, vu cáo hòng can thiệp vào công việc nội bộ của các nước,
trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, cũng như ở các
quốc gia trên thế giới vấn đề dân chủ, nhân quyền và quyền tự do tôn giáo đều
phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật cũng như phù hợp điều kiện phát triển
kinh tế và lịch sử truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc.
Lâu nay, một số học giả
phương Tây vẫn thường rêu rao chiêu bài “quyền con người cao hơn chủ quyền” nhằm
thực hiện, bao biện mục đích cá nhân. Bên cạnh đó các thế lực thù địch cũng ra
sức lợi dụng vấn đề tôn giáo và quyền tự do tôn giáo để can thiệp vào công việc
nội bộ nước khác, nhất là các quốc gia có thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa nhằm
xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng cộng sản.
Trong âm mưu và chiến lược
diễn biến hòa bình, vấn đề tôn giáo, dân chủ nhân quyền được sử dụng như một vũ
khí lợi hại, lợi dụng lòng yêu nước, sự sùng đạo của người dân để khoét sâu những
bất cập, tồn tại trong đời sống xã hội, nhằm lôi kéo, tập hợp những người dân
nhẹ dạ cả tin hoặc thiếu thông tin gây rối, gây phức tạp về an ninh, trật tự,
gây bất ổn xã hội.
Ðảng, Nhà nước Việt Nam
luôn quan tâm, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng tôn
giáo của công dân, xác định đây là nhu cầu tinh thần chính đáng của người dân.
Chính sách đó, luôn được Ðảng, Nhà nước ta khẳng định và thực hiện nhất quán,
được bảo đảm trên thực tiễn và cụ thể bằng văn bản pháp luật. Tại Sắc lệnh số
234/SL ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, xác định: “Việc tự do tín ngưỡng,
tự do thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ cộng hòa luôn
luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện” (Ðiều 15) và “Chính
quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo” (Ðiều 13).
Trong mỗi giai đoạn lãnh
đạo cách mạng, Ðảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp
luật về tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tạo hành lang pháp
lý để các tôn giáo hoạt động ổn định, tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà
nước và các giáo hội tôn giáo…
Tiêu biểu là Nghị quyết số
25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa IX) về công tác
tôn giáo; Pháp lệnh 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội về tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 22/2005/NÐ-CP ngày 1/3/2005 của Chính
phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị
1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến
tôn giáo... Tại Hiến pháp năm 2013 quy định “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Các tôn giáo bình đẳng
trước pháp luật” (Khoản 1, Ðiều 24). Ngày18/ 11/ 2016 Quốc hội đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo...
Nhờ có chủ trương, chính
sách, pháp luật về tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được
bảo đảm ngày càng tốt hơn, số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng
tăng. Chỉ tính trong vòng 20 năm trở lại đây (2003-2022) việc thực hiện chính
sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho kết quả hết sức ấn tượng: Năm 2003
cả nước có 15 tổ chức, sáu tôn giáo, 17 triệu tín đồ với khoảng 20.000 cơ sở thờ
tự; 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc. Ðến năm 2021 Việt Nam đã công nhận 43 tổ
chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với hơn 26 triệu tín đồ, 54.000 chức sắc,
tăng; 135.000 chức việc; 29.000 cơ sở thờ tự. Ðời sống tín ngưỡng, tôn giáo
ngày càng phong phú, đa dạng, nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo thu hút đông
đảo tín đồ, người dân tham dự.
Có thể kể đến: Giáo hội
Tin lành đã tổ chức thành công lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành 2017);
giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Ða minh thế giới tại Ðồng Nai
(7/2019), với đại biểu của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Trung ương
Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức thành công Ðại lễ Phật đản Vesak Liên hợp
quốc năm 2019 tại chùa Tam Chúc, tỉnh Hà Nam (5/2019) với hơn 1.650 đại biểu chức
sắc và lãnh đạo các giáo hội, nhà nghiên cứu... đến từ hơn 112 quốc gia và vùng
lãnh thổ). Với quy mô hoạt động tôn giáo tập trung đông người, chính quyền các
cấp đã hỗ trợ các tôn giáo về công tác bảo đảm phân luồng giao thông, an ninh
trật tự, phòng chống cháy nổ, an toàn vệ sinh thực phẩm,… giúp người dân được tự
do hành lễ, thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh.
Thực tế cho thấy, ở một số
quốc gia như Anh, Mỹ, Ðan Mạch... khi tổ chức tôn giáo tổ chức các hoạt động
đông người tại cơ sở thờ tự, thường phải tự thuê bảo vệ làm nhiệm vụ bảo đảm an
toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, kiểm nghiệm an toàn thực
phẩm. Nếu để xảy ra vi phạm, chính quyền sẽ căn cứ vào pháp luật và xử phạt…
Nhưng ở Việt Nam các tổ chức tôn giáo khi tiến hành các hoạt động tôn giáo có
đông đảo người dân tham gia, chính quyền luôn hỗ trợ với mục tiêu cao nhất bảo
đảm an toàn trật tự để nhân dân yên tâm thực hiện nghi lễ tôn giáo.
Bất chấp thực tế đó, các
thế lực thù địch, thiếu thiện chí vẫn xuyên tạc trắng trợn chính sách, pháp luật
và tình hình tôn giáo tại Việt Nam; móc nối những đối tượng cơ hội bất mãn chế
độ và số chức sắc cực đoan để kích động các hoạt động tôn giáo thoát ly khỏi sự
quản lý của Nhà nước. Ðặc biệt, mỗi khi Nhà nước ban hành hoặc bổ sung những
văn bản pháp luật mới để điều chỉnh các hoạt động tôn giáo cho phù hợp với điều
kiện phát triển kinh tế, trình độ văn hóa, xã hội của đất nước, phù hợp với tâm
tư, tình cảm, nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân thì các đối tượng trên
lại dấy lên chiến dịch phản đối, xuyên tạc.
Mặt khác, các thế lực thù
địch và phản động lưu vong ở nước ngoài vẫn tiếp tục cấu kết, móc nối với các đối
tượng cực đoan trong tôn giáo và đối tượng cơ hội chính trị lợi dụng các vấn đề
nổi cộm như đất đai, môi trường, phòng chống dịch Covid-19... nhằm mưu đồ dụ dỗ,
lôi kéo người dân khiếu kiện, kích động gây rối, gắn vào vấn đề tôn giáo để vu
cáo Việt Nam; nhằm mưu đồ làm cho chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo hoài
nghi về chính sách của nhà nước ta.
Ðáng chú ý, trong những
năm qua các đối tượng phản động, chống đối chính trị ở ngoài nước, móc nối với
một số phần tử cực đoan trong tôn giáo cấu kết với các tổ chức, cá nhân thiếu
thiện chí với Ðảng và Nhà nước Việt Nam, tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp
báo”, soạn thảo và phát tán các tài liệu có nội dung xuyên tạc, bịa đặt để
tuyên truyền chống Ðảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là trên các lĩnh vực tôn
giáo và nhân quyền.
Chúng đẩy mạnh xuyên tạc
Ðảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn
giáo”… Những thủ đoạn hoạt động của chúng không chỉ âm mưu tác động vào tâm lý,
tư tưởng của một bộ phận quần chúng, tín đồ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc
sống yên bình của nhân dân, tác động xấu đến xã hội, gây chia rẽ nội bộ trong tổ
chức tôn giáo, gây mất đoàn kết dân tộc.
Thời gian tới, một số phần
tử cực đoan trong nước vẫn sẽ tiếp tục dựa vào các thế lực thù địch bên ngoài đẩy
mạnh hoạt động chống đối dưới chiêu bài“đòi tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền” chống Ðảng, Nhà nước ta, đòi
khôi phục lại các tổ chức tôn giáo không còn tồn tại, gia tăng các hoạt động
phát triển đạo trái pháp luật, gây rối trật tự an toàn xã hội. Do đó về phía
người dân cũng như các chức sắc và tín đồ các tôn giáo cần hết sức tỉnh táo, cảnh
giác với âm mưu của các thế lực thù địch. Việc chủ động ngăn chặn các thế lực
thù địch lợi dụng tôn giáo chống Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược lâu
dài, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị, trong đó
cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo đóng vai trò nòng cốt.
Tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của người dân. Chính quyền các cấp nắm chắc các hoạt động liên quan đến tín ngưỡng,
tôn giáo trên địa bàn, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hoạt động lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật,
kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các tôn giáo, gây rối loạn xã hội, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến đời sống nhân dân, xâm phạm an ninh quốc gia.
Chủ động tuyên truyền
công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để vạch trần “chân tướng” của
các đối tượng cơ hội, các việc làm vi phạm pháp luật, giáo luật của số đối tượng
cực đoan lợi dụng tôn giáo, phản bác lại các luận điệu vu cáo của các thế lực
thù địch. Các biện pháp đấu tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống
Việt Nam cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương cũng như sự
vào cuộc của toàn xã hội.
Bên cạnh đó, cần thường
xuyên sơ kết rút kinh nghiệm về những việc đã làm được, có biện pháp khắc phục
những thiếu sót tồn tại để bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của
nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, Nhà nước. Thường xuyên
tuyên truyền đối ngoại để cộng đồng quốc tế có đầy đủ thông tin về kết quả,
thành tựu nhân quyền trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam, có phương pháp tiếp
xúc, vận động chức sắc, tín đồ các tôn giáo, có kinh nghiệm đối thoại tôn giáo,
hướng dẫn các chức sắc, tín đồ hoạt động tôn giáo và thực hiện nghĩa vụ công
dân.
ĐỂ NGUYÊN TẮC ĐẢNG HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ HIẾN PHÁP VÀ
PHÁP LUẬT HIỆU QUẢ TRONG THỰC TẾ
“Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” là một
nguyên tắc hoạt động của Đảng, được Đại hội X của Đảng thông qua và đưa vào Điều
lệ Đảng. Nguyên tắc này xác định địa vị pháp lý của Đảng cầm quyền và phương thức
hoạt động của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay; thể hiện sinh động cơ chế "Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"; đề phòng và khắc phục tình trạng
"bao biện làm thay" hoặc buông lỏng lãnh đạo...
Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật phản ánh đầy đủ các giá trị văn hóa cao quý của cách mạng Việt Nam do Đảng
lãnh đạo. Ảnh minh họa:
Ngay sau khi trở thành Đảng cầm quyền tháng 9-1945, Đảng ta
đã coi trọng vấn đề tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.
Năm 1947, mặc dù công cuộc kháng chiến-kiến quốc vô cùng bận rộn, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã dành tâm sức viết tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", trong
đó có phần chỉnh đốn những biểu hiện coi thường pháp luật của cán bộ, đảng
viên. Tại Đại hội III của Đảng, Đảng đã thẳng thắn chỉ ra tình trạng: "Có
những cấp ủy đảng bao biện làm thay, can thiệp vụn vặt vào công việc của cơ
quan Nhà nước... Có những cấp ủy và cán bộ, đảng viên coi thường chính quyền
Nhà nước, không nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết của cơ quan chính
quyền cấp trên"(1).
Đến Đại hội IV, Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Đảng bắt
buộc các tổ chức đảng và đảng viên tôn trọng quyền hạn, trách nhiệm và các chế
độ của cơ quan Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và các quyết định của
Nhà nước, coi đó là kỷ luật của Đảng”(2). Đặc biệt, Đảng khẳng định việc cán bộ,
đảng viên vi phạm pháp luật, quy định của Nhà nước là vi phạm kỷ luật của Đảng.
Tại Đại hội V, Đảng nhấn mạnh: "Vẫn còn một số tổ chức
đảng bao biện công việc của cơ quan Nhà nước. Cần nhanh chóng khắc phục tình trạng
đó. Các cấp ủy đảng, các cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thi hành Hiến pháp và
pháp luật, đi đầu trong cuộc đấu tranh tăng cường pháp chế XHCN. Nghiêm cấm các
tổ chức đảng tùy tiện đề ra những quy định trái với pháp luật”(3). Đại hội cũng
nhấn mạnh, phải tập trung "khắc phục thiên hướng xem nhẹ vai trò của Nhà
nước còn khá nặng nề ở nhiều cấp, nhiều ngành"(4).
Đại hội X của Đảng đã thông qua Điều lệ Đảng, trong đó xác định:
“Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”(5) là một trong các
nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam năm 2013 ghi rõ: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật phản ánh đầy đủ các giá trị văn hóa cao quý của cách mạng Việt Nam do Đảng
lãnh đạo. Nội dung cơ bản của nguyên tắc ấy là: Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng
được chế định trong Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp vai
trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, hệ thống chính trị và xã hội. Đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng phải được thể chế hóa thành Hiến pháp và pháp
luật thông qua trình tự lập hiến, lập pháp, qua đó mà thực hiện sự lãnh đạo của
Đảng đối với xã hội. Nội dung và phương thức hoạt động của Đảng phải phù hợp với
Hiến pháp và pháp luật; tổ chức sinh hoạt nội bộ của Đảng phải phù hợp với các
thiết chế do Hiến pháp và pháp luật quy định. Đảng lãnh đạo bảo đảm các thiết
chế của Nhà nước hoạt động theo đúng vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ. Tổ
chức đảng và đảng viên gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, mọi vi phạm
phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh, công khai trước pháp luật như mọi tổ
chức và công dân khác.
Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động vu cáo
Đảng ta "độc tài, toàn trị", là "ông vua tập thể"; đồng thời
cảnh tỉnh, ngăn ngừa những đảng viên có chức, có quyền sa vào "tham nhũng
quyền lực". Dù rằng đây là vấn đề thuộc về "khuyết tật bẩm sinh của
quyền lực" mà bất kỳ một đảng cầm quyền nào cũng phải tiến hành các biện
pháp phòng, chống để bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân.
Thực hiện nguyên tắc “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật” đã đem lại những thành tựu to lớn trong vận hành cơ chế
"Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" ở nước ta. Đất nước
đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ,
toàn diện so với những năm trước đổi mới. Tuy nhiên, phải thẳng thắn thừa nhận,
một bộ phận cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng chưa nhận thức rõ về nguyên tắc
này. Một số tổ chức đảng vẫn ra những nghị quyết, chỉ thị trái pháp luật; một số
cán bộ, đảng viên nhân danh tổ chức đảng tùy tiện gây áp lực làm ảnh hưởng đến
tính nghiêm minh của pháp luật. Một số cấp ủy địa phương lạm dụng quyền lãnh đạo,
can thiệp sâu vào hoạt động chính quyền, tư pháp. Một bộ phận đảng viên vi phạm
pháp luật, nhất là trong lĩnh vực kinh tế với tính chất, mức độ nghiêm trọng. Một
số cán bộ, đảng viên lợi dụng chức quyền để tham nhũng, buôn lậu, bao che cho
các hoạt động kinh tế bất hợp pháp, để vợ con, người thân trục lợi từ chức vụ,
quyền hạn. Đặc biệt là những biểu hiện làm giàu bất chính, ăn chơi xa xỉ, mê
tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè bê tha... bị quần chúng oán ghét, làm suy giảm niềm
tin của người dân vào Đảng.
Tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII vừa qua, Trung ương Đảng
đã thống nhất cao về việc tiến hành đồng bộ và quyết liệt hơn nữa công cuộc xây
dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị
toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Cùng với đẩy mạnh thực hiện 4 nhóm nhiệm vụ,
giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4, khóa XII đã đề ra; Hội nghị Trung ương 4,
khóa XIII bổ sung nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là: Xây dựng đội
ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng
lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống
tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm.
Có thể nói, thực hiện 2 nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị
Trung ương 4, khóa XIII bổ sung, nhấn mạnh là vấn đề quan trọng nhất trong thúc
đẩy việc thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp
và pháp luật.
Cùng với vấn đề quan trọng nhất nói trên, chúng ta cần thực
hiện đồng bộ nhiều giải pháp khác như: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng
cao nhận thức trách nhiệm cho cấp ủy các cấp và cán bộ, đảng viên về nguyên tắc
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; chú trọng thực hiện
nghiêm quy định của Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm. Đẩy
mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng
hoàn thiện, đồng bộ và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò người đứng đầu cấp ủy các cấp, chính
quyền, cơ quan, đơn vị, cụ thể hóa chi tiết vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng,
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp
luật của đảng viên. Phát huy vai trò của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền
các cấp trong thực hiện nguyên tắc.
Trong sinh hoạt Đảng và tiếp xúc cử tri, Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng rất nhiều lần nhấn mạnh: Mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng phải
thấm nhuần quan điểm "đúng vai, thuộc bài". Điều đó có nghĩa là mọi
cá nhân, tổ chức phải hiểu rõ, nắm chắc và hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ
đã được Hiến pháp và pháp luật cho phép. Thực tiễn lãnh đạo và cầm quyền của Đảng
ta trong hơn 35 năm đổi mới cho thấy, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp
và pháp luật không phải là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng mà là một yêu cầu
khách quan, vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam, vừa giúp xây dựng Đảng vững mạnh, thật sự xứng đáng là lực lượng lãnh đạo
Nhà nước và xã hội.
PHÒNG, CHỐNG NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC, SAI TRÁI THÙ ĐỊCH
TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
Trong kỷ nguyên số,
thời đại công nghiệp 4.0, môi trường không gian mạng (KGM) đang phát triển mạnh
mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới,
trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển của KGM lại là mảnh đất “mầu mỡ”
để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam với âm mưu, thủ
đoạn ngày cảng tinh vi, nguy hiểm.
Đáng chú ý, thời
gian gần đây lợi dụng những ưu thế nổi trội của mạng xã hội so với các phương
tiện truyền thông truyền thống, nhất là tính kết nối, tính mở, với đặc trưng tự
do, đa dạng, nặc danh, khó kiểm soát…, thậm chí nhiều khi bị xóa nhòa ranh giới
giữa thực và ảo, các TLTĐ đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ
ngày càng gay gắt, quyết liệt. Chúng tăng cường truyền bá các quan điểm sai
trái, tung tin xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với đất nước, phủ nhận
truyền thống lịch sử dân tộc và những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc mà đất nước ta, nhân dân ta đã giành được; xuyên tạc, vu khống, bịa
đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao… hòng gây hỗn loạn về tư tưởng,
tạo ra “những khoảng trống” để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ
nghĩa.
Theo các cơ quan chức
năng, hằng ngày có hàng nghìn tin, bài chống phá được tung lên KGM, gây nhiễu
loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất
đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng,
Nhà nước. Những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới
xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin củanhân dân với Đảng, Nhà nước. Sự chống phá này
không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều
như trước đây, mà nay chúng đã đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài
viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm,
ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi.
Về quy mô hoạt động,
chúng có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng
chống đối bên ngoài với những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, được
hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” bằng nhiều nguồn lực bởi các tổ chức phản động, khủng
bố, tổ chức phi chính phủ, chính phủ một số nước có quan điểm đối lập…, hình
thành mạng lưới chống đối rộng khắp, với chiêu trò “nội công, ngoại kích”, tạo
thành nhiều mũi tấn công trên nhiều lĩnh vực.
Nội dung thông tin
xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực:
tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…. Đặc biệt, chúng
coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn
tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa.
Chúng tập trung chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới
của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị;
phủ nhận, bôi đen những thành tựu,cường
điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những mặt hạn chế, những tiêu cực của một bộ phận
cán bộ, đảng viên; xuyên tạc các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo…tạo cái
nhìn sai lệch về tình hình đất nước; đồng thời phủ nhận nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; chúng
cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, phủ nhận bản chất cách mạng và
nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ Quân đội nhân dân và Công an nhân
dân…
Cùng với phát tán dầy
đặc và với tần suất lớn những thông tin xấu độc trên KGM, thực hiện chiêu trò
“mưa dầm thấm lâu” hết sức thâm độc, chúng còn tráo trở cắt ghép, đan cài, “đổi
trắng thay đen” trộn lẫn tinh vi thông tin thật – giả để dẫn dụ độc giả lạc vào
ma trận thông tin, từ đó bị hướng lái theo luồng thông tin sai lệch, dẫn dắt dư
luận xã hội, ngụy tạo sự khách quan để chống phá hết sức tinh vi, xảo quyệt.
Trước những âm mưu,
thủ đoạn vô cùng nguy hiểm của các đối tượng trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn tỉnh
táo, chủ động, nhận diện đúng và thường xuyên, quyết liệt đấu tranh phòng, chống
“diễn biến hoà bình”, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn, những luận điệu xuyên tạc,
sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, nâng cao “sức đề kháng” khả
năng “miễn nhiễm”, trước những thông tin xấu độc. Mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt
là thế hệ trẻ phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản
lĩnh chính trị, trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng phòng ngừa, phát hiện
để làm tốt vai trò tham mưu đúng, trúng, kịp thời, từ sớm, từ xa trong đấu
tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát
ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không
được phép phát ngôn mang tính hoài nghi; không a dua, câu view, câu like, chia
sẻ với những thông tin không được kiểm chứng, những luồng thông tin xấu độc…
Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò tiền phong, gương
mẫu, là "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật Nhà nước vào cuộc sống; đưa những thông tin chính thống,
tích cực, lan tỏa những tấm gương sáng, những cách làm hay, việc làm tốt trong
cộng đồng, tỏa sáng niềm tin của nhân dân, vững tin trên con đường dân tộc./.
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO THANH NIÊN
-----------------------
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ai cũng nhận rằng thanh
niên là người chủ tương lai của nước nhà và Đoàn Thanh niên Lao động là cánh
tay đắc lực của Đảng”. Vì vậy, trước lúc đi xa, Người căn dặn trong Di chúc: “Đảng
cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo họ trở
thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Theo Hồ Chí Minh, nền giáo dục mới mà chúng ta xây dựng sẽ
phải hướng đến mục tiêu đào tạo thanh niên thành những công dân có ích cho xã hội,
phải làm cho người học phát triển hoàn toàn những năng lực có sẵn trong bản
thân, Người tóm tắt đó là những người: vừa “hồng vừa “chuyên”. Trong Thư gửi
các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
năm 1945, Hồ Chí Minh viết: “Ngày nay, các em được cái may mắn hơn cha anh là
được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào
tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục
làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”. Mục tiêu giáo dục
mà Hồ Chí Minh xác định là: “Để giáo dục thanh niên ta rèn luyện một chí khí
kiên quyết quật cường, một tâm lý quả cảm xung phong, tin tưởng vào tương lai của
Tổ quốc, vào lực lượng của nhân dân, hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung của
dân tộc, ra sức đấu tranh để củng cố hòa bình thực hiện thống nhất, hoàn thành
độc lập và dân chủ trong toàn nước Việt Nam ta”.
Từ việc đánh giá cao vị trí vai trò của thế hệ trẻ, đánh giá
cao vai trò của công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, Hồ Chí Minh
luôn đặt ra yêu cầu phải giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng thanh niên một cách
toàn diện. Trong Thư gửi các cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và
các lớp bổ túc văn hoá, ngày 31/8/1960, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Trong việc
giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã
hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”.
Thứ nhất, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên. Trong
nhiều bài nói, bài viết và chỉ dẫn của mình, Người cho rằng, giáo dục đạo đức
cách mạng cho thanh niên là giúp thanh niên trở thành người công dân tốt, người
lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người chủ tương lai của đất nước. Việc rèn
luyện phẩm chất đạo đức phải luôn gắn bó chặt chẽ với năng lực. Tin tưởng vào
thanh niên và đặt ra yêu cầu rất cao về phẩm chất, năng lực của thanh niên, Hồ
Chí Minh chỉ rõ: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải
tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ
của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài”. Vì vậy, hai mặt đức và tài,
“hồng” và “chuyên”, phẩm chất và năng lực phải kết hợp chặt chẽ với nhau mới
làm cho thanh niên kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân
giao cho. Trong giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, Hồ Chí Minh luôn
quan niệm đức và tài là hai nội dung không thể thiếu được, trong đó đức là gốc.
Người xem đạo đức như ngọn nguồn của sông, như gốc của cây, như sức mạnh của
con người: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.
Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,
không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
Thứ hai, giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên. Trong
giáo dục cho thanh niên, theo Hồ Chí Minh còn quan tâm đến nội dung giáo dục lý
tưởng cách mạng cho họ: “Những người cộng sản chúng ta không một phút nào được
quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ
nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới”. Bởi
theo Người: “Tương lai thuộc về thanh niên. Tương lai là cách mạng luôn luôn tiến
lên. Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả. Vì vậy
thanh niên phải có cuộc sống chính trị tích cực và cách mạng”. Theo Hồ Chí Minh
giáo dục lý tưởng xã hội chủ nghĩa cho thanh niên là giáo dục sự nhận thức đúng
đắn về chủ nghĩa xã hội, phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, phấn đấu vì lý tưởng độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, Người cho rằng, Đảng và Nhà nước phải quan
tâm, chăm lo giáo dục thanh niên toàn diện: “Nhà nước chú trọng đặc biệt việc
giáo dục thanh niên về đức dục, trí dục và thể dục”.
* Về phương thức giáo dục thanh niên
Thứ nhất, học đi đôi với hành, lý luận kết hợp với thực tiễn.
Theo Hồ Chí Minh, học phải đi đôi với hành, học để hành, học mà không hành thì
học vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Ngày 21/10/1964 trong
Bài nói chuyện tại trường đại học Sư phạm Hà Nội, Người căn dặn: “Học phải suy
nghĩ, học phải liên hệ với thực tiễn, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với
hành phải kết hợp với nhau”. Ngoài ra, Người còn nhấn mạnh giáo dục, đào tạo, bồi
dưỡng thế hệ trẻ phải gắn với thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân: “Giáo
dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu
tranh của xã hội. Trong xã hội cũ có nhiều nọc độc nó làm hại thanh niên. Nhất
là văn hóa độc ác của Mỹ, nó dùng mọi cách như sách báo, phim ảnh, v.v. để làm
cho thanh niên hư hỏng, truỵ lạc. Vì vậy, sự giáo dục thanh niên phải liên hệ
vào dư luận của xã hội, lực lượng của Chính phủ để ngăn ngừa những cái gì có thể
ảnh hưởng xấu đến thanh niên, để nâng cao tính cảnh giác của thanh niên”.
Thứ hai, phải phối, kết hợp các hình thức giáo dục giữa nhà
trường, gia đình và xã hội trong đào tạo, giáo dục thanh niên. Tại lễ khai trường
Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 19/1/1955, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Trường học,
gia đình và đoàn thể thanh niên phải liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục thanh
niên”.
Thứ ba, phải đề cao và phát huy tinh thần tự giáo dục, tự
rèn luyện của thanh niên, “xây” phải đi đôi với “chống”. Theo Người, kết hợp việc
giáo dục của nhà trường, của xã hội và của gia đình là hết sức quan trọng: “Trường
học, gia đình và đoàn thể thanh niên phải liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục
thanh niên”. Đồng thời, Người cũng chỉ ra cho thanh niên “Những điều nên chống:
Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt
riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem
khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách
sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang”.
Thứ tư, giáo dục thế hệ trẻ thông qua gương người tốt, việc
tốt. Đồng thời với việc yêu cầu tinh thần tự rèn luyện của thế hệ trẻ, Hồ Chí
Minh cũng đặc biệt quan tâm việc giáo dục, đào tao, bồi dưỡng thế hệ trẻ thông
qua những gương người tốt việc tốt: “Lấy gương người tốt, việc tốt có thật
trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau, đó chính là một
cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin thiết thực nhất”.
Thứ năm, phải tập hợp thế hệ trẻ trong các tổ chức và thông
qua các tổ chức để giáo dục thanh niên. Ý thức đầy đủ về vai trò của các đoàn
thể trong tập hợp, giáo dục thế hệ trẻ, sau khi tìm được con đường cứu dân, cứu
nước và nhận thức sâu sắc về vai trò của thế hệ trẻ, năm 1925, tại Quảng Châu,
Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng thế hệ trẻ. Sau
này, nhân Đại hội đại biểu toàn quốc Hội liên hiệp thế hệ trẻ Việt Nam, (1956)
Người một lần nữa khẳng định vai trò của tổ chức trong việc tập hợp và giáo dục
thế hệ trẻ: “Nhờ sự giáo dục, bồi dưỡng của Đảng và Đoàn, nhiều chiến sĩ, anh
hùng thanh niên đã nảy nở trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, trong cuộc toàn dân
kháng chiến và trong việc xây dựng nước nhà hiện nay”.
Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và giáo dục
thanh niên, Đảng ta khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất
nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay
không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay
không phần lớn phụ thuộc vào lực lượng thanh niên”. Để tiếp tục giáo dục thanh
niên vừa “hồng” vừa “chuyên” theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo chúng
tôi cần tập trung những nội dung cơ bản sau đây:
Một là, vận dụng tư tưởng giáo dục thanh niên vừa “hồng vừa
“chuyên” theo Di chúc hiện nay phải quán triệt và vận dụng sáng tạo, đầy đủ,
toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về sự cần thiết, mục tiêu, nội dung, phương thức
giáo dục thanh niên theo tinh thần Chỉ thị số 42- CT/TW ngày 24/3/2015 của Ban
Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai
đoạn 2015 - 2030”.
Hai là, chủ động phối hợp với nhà trường, gia đình và xã hội
trong giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên; làm cho thế hệ trẻ hôm nay biết
yêu cuộc sống, giàu lòng nhân ái, kế thừa và phát huy những giá trị nhân văn của
dân tộc, ứng xử văn minh, thanh lịch, nghĩa tình; chú trọng nêu gương người tốt,
việc tốt; bày tỏ chính kiến, đấu tranh với cái xấu. Kiên quyết đấu tranh chống
các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, từng bước bài trừ các tệ nạn xã hội.
Ba là, tăng cường giáo dục thanh niên thông qua những tấm
gương điển hình tiên tiến, cá nhân có thành tích vượt trội.
Bốn là, tăng cường định hướng giá trị thông qua các loại
hình văn hóa, văn học nghệ thuật gắn với xây dựng chuyên trang, chuyên mục về nội
dung giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống; nêu gương người tốt, việc
tốt, đặc biệt là những tấm gương vượt khó vươn lên trong cuộc sống để định hướng
cho thanh niên phát triển loại hình văn hoá hiện đại mang tính khoa học và nhân
văn, tham gia bảo tồn và phát triển các lễ hội văn hóa; tổ chức các điểm văn
hóa thanh niên theo cụm dân cư; tổ chức các hội thi, hoạt động văn hóa dân
gian; tổ chức các cuộc vận động sáng tác tác phẩm văn học, nghệ thuật dành cho
thanh niên.
Năm là, nâng cao khả năng phối hợp, lồng ghép các hoạt động
của Đoàn, Hội, Đội với các đoàn thể quần chúng nhân dân và các chủ thể xã hội
khác nhằm giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh
niên. Nghiên cứu đánh giá công tác phối hợp, lồng ghép các hoạt động của Đoàn,
Hội, Đội với các đoàn thể quần chúng và các chủ thể xã hội khác trong giáo dục
lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên. Tăng cường ký kết
các chương trình, kế hoạch liên tịch của Đoàn, Hội, Đội với các chủ thể xã hội
khác chăm lo giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh
niên.
QĐND
THỰC HIỆN TỐT NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG ĐẢNG
Trong công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ thì tự phê
bình và phê bình có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm coi
trọng: “Phê bình và tự phê bình là vũ khí cần thiết và sắc bén, nó giúp chúng
ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”. Người xác định đây là biện pháp
quan trọng để tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng: “Ta có hai cách để
thực hiện thống nhất tư tưởng, đoàn kết nội bộ là phê bình và tự phê bình”. Đặc
biệt, cần chú ý đến công tác phê bình vì tác dụng của phê bình rất lớn, nhưng
làm sao để phê bình đúng, có hiệu quả thật sự là vấn đề rất đáng quan tâm. Yêu
cầu đặt ra là việc phê bình phải thật sự chân thành, có phương pháp đúng, hợp
lý, hợp tình.
Các thế lực thù địch, phản động, chống phá, cơ hội chính trị
cho rằng, phê bình của Đảng Cộng sản là đấu đá nội bộ… Ngay một số cán bộ, đảng
viên của Đảng vốn đã từng có thời gian tham gia vào hoạt động tự phê bình và
phê bình của Đảng, khi đang công tác, có chức, có quyền thì không có ý kiến phê
phán gì, nhưng đến khi về nghỉ hưu, hoặc bản thân có sai lầm khuyết điểm, bị xử
lý kỷ luật (dù việc xử lý của tổ chức là rất chính xác, rõ ràng, công khai, có
lý, có tình), nhưng họ vẫn quay sang phê phán, đổ lỗi cho khách quan, cho đồng
chí, cho tập thể, nói xấu tổ chức, nói xấu công tác tự phê bình và phê bình của
Đảng.
Cùng với việc xác định rõ tác dụng, yêu cầu của phê bình, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng đưa ra phương pháp phê bình đúng đắn, chính
xác. Người dạy: “Phê bình là cốt giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ
của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm trang… Tuyệt đối không nên có ý mỉa
mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mắt
không nói, soi mói sau lưng”.
Trên thực tế, những hạn chế, khuyết điểm, những căn bệnh xấu
xuất hiện trong phê bình mà Bác Hồ đã chỉ ra trên đây cũng đã xuất hiện nhiều lần
ở nơi này, nơi kia, lúc này, lúc khác. Tình trạng trong sinh hoạt thì im hơi, lặng
tiếng, nhưng sau khi họp, trong câu chuyện bàn trà, thậm thụt sau lưng thì nói
xấu, tố cáo nhau đủ thứ chuyện. Hay họp hành công khai thì nâng nhau lên đủ thứ
tử tế, nhưng khi đằng sau thì lại tìm mọi cách để dìm nhau xuống. Nổi lên là hiện
tượng dĩ hòa vi quý, trong sinh hoạt tập thể, công khai, trước mặt nhau thì cái
gì cũng tốt, nhưng đến khi vỡ chuyện, bị xử lý kỷ luật thì giậu đổ bìm leo, tố
cáo nhau, đổ lỗi cho nhau đủ thứ.
Muốn công tác phê bình có hiệu quả tốt thì cần phải có những
biện pháp tổng hợp, đồng bộ. Trước hết, cần có nhận thức, quan điểm đúng đắn về
phê bình. Chỉ có nhận thức, quan điểm đúng về phê bình thì mới có được hành động
chuẩn mực, hợp lý, hợp tình trong triển khai phê bình. Ví dụ như phải nhận thức
đúng đắn rằng, mục đích của phê bình là để giúp nhau tiến bộ, tăng cường đoàn kết
thống nhất, thì từ đó mới có thể có những chủ trương, cách làm đúng và có chất
lượng. Nếu nhận thức sai về phê bình sẽ rất dễ dẫn đến phê bình sai mục đích,
cách làm không phù hợp, nội bộ mất đoàn kết, phản tác dụng.
Để làm tốt công tác phê bình, đòi hỏi phải có các quy định cụ
thể, chặt chẽ nhằm phát huy cao nhất tác dụng của công tác phê bình. Lưu ý sự cần
thiết của những hướng dẫn chi tiết, cách làm cụ thể, thống nhất để mọi tổ chức
và cá nhân cùng thực hiện tốt công tác phê bình, không vi phạm sai sót trong
phê bình. Ngay từ năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vạch khuyết điểm để sửa
chữa, cũng phải nêu ưu điểm để phát huy. Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả,
cán bộ các cấp, nhất là cấp cao phải noi gương tốt”.
Trong công tác phê bình cần xác định rõ vai trò quan trọng của
tổ chức cơ sở đảng, xây dựng tổ chức cơ sở đảng thật sự vững mạnh, trở thành
môi trường trong sáng, lành mạnh, tạo thuận lợi cho từng cán bộ, đảng viên thực
hiện tốt công tác phê bình. Môi trường không phù hợp, không lành mạnh sẽ dẫn đến
việc phê bình thiếu dân chủ, không thực chất, hoặc áp đặt, cứng nhắc, làm cho
cán bộ, đảng viên không dám phê bình hoặc phê bình hời hợt, hình thức, kém hiệu
quả.
Cũng cần quan tâm tạo thuận lợi để quần chúng nhân dân tham
gia phê bình cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Uy tín của người
lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần
chúng, sửa chữa khuyết điểm… chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ
quần chúng phê bình”. Chính Người cũng đã đưa ra mối quan hệ gắn bó giữa nhân
dân với bộ đội trong công tác phê bình, chỉ rõ nhân dân có quyền góp ý, phê
bình với bộ đội: “Tôi là người dân, tôi cũng có quyền phê bình, góp ý với bộ đội
chứ. Bộ đội cách mạng là bộ đội của dân cơ mà”.
Yêu cầu rất quan trọng đặt ra của công tác phê bình và tự
phê bình là cần thiết phải nêu cao trách nhiệm và tính tự giác của từng cán bộ,
đảng viên. Chỉ có trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm và tình cảm của mỗi cá
nhân thì mới có thể có tinh thần tự nguyện, kiên quyết và cách làm phù hợp để từ
đó đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động phê bình và tự phê bình.
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi
mặt của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam chúng ta không ngừng rèn luyện phấn đấu,
tăng cường phê bình và tự phê bình để thực hiện đúng chỉ đạo của đồng chí Nguyễn
Phú Trọng, Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương: “Đảng bộ Quân đội phải làm
gương, làm mẫu về mọi mặt. Trong toàn quân không có cán bộ, đảng viên suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật, kỷ cương của Đảng,
kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân”./.
TCCS - Trong những năm qua, Thành ủy Hà Nội luôn xác định phát huy quyền làm chủ của nhân dân là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của Thủ đô; đặc biệt, đã gắn việc thực hiện dân chủ ở cơ sở với triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, hướng tới xây dựng chính quyền đô thị tinh gọn, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ.
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng trò chuyện với người dân trong diện giải phóng mặt bằng dự án đường vành đai 4 - vùng Thủ đô tại xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội_Nguồn: nhandan.vn
Đảng bộ thành phố Hà Nội là Đảng bộ lớn nhất cả nước với 50 đảng bộ cấp trên cơ sở, gần 47 vạn đảng viên, chiếm khoảng 9% đảng viên của cả nước, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên khá cao so với mặt bằng chung cả nước. Thành ủy Hà Nội luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.
Phát huy dân chủ ở cơ sở trong triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn Thủ đô Hà Nội - Những kết quả đạt được đáng ghi nhận
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức, trách nhiệm thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân được tăng cường.
Thực hiện Nghị quyết số 97/2019/QH14, ngày 27-11-2019, của Quốc hội, về “Thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội” từ ngày 1-7-2021, tại 175 phường thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây, Thành ủy Hà Nội đã chú trọng lãnh đạo các quận, thị xã triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thịgắn với phát huy dân chủ, nhằm tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phù hợp với tính chất đô thị, hướng đến phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.
Thành ủy, chính quyền và các đoàn thể thành phố đã khẩn trương xây dựng, ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị và tổ chức nhiều hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị bảo đảm công khai, dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi và tăng cường trách nhiệm trong triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị. Thành phố Hà Nội đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy quyền làm chủ của nhân dân; về thực hiện mô hình chính quyền đô thị, trong đó tập trung vào những điểm mới, những lợi ích của việc thí điểm mô hình chính quyền đô thị, tạo không khí phấn khởi, đoàn kết, đồng thuận cao trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, tăng cường tuyên truyền trên cổng/trang thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị, địa phương, các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và thành phố.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp của thành phố Hà Nội tăng cường công tác vận động, nắm chắc tình hình, dư luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là những vấn đề khó khăn, vướng mắc, tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị để phản ánh, tham mưu, đề xuất với Thành ủy, các cấp ủy trong công tác định hướng dư luận, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện.
Công khai, minh bạch trong công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy; phát huy vai trò lãnh đạo của đảng ủy phường trong điều kiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị.
Thành ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố lãnh đạo, chỉ đạo các quận ủy, thị ủy và UBND các quận, thị xã tập trung chỉ đạo việc phát huy dân chủ trong sắp xếp tổ chức bộ máy, nhân sự;phát huy vai trò lãnh đạo của đảng ủy phường.
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy và công tác cán bộ tại UBND các phường được tiến hành công khai, minh bạch, bảo đảm phù hợp với vị trí việc làm, năng lực chuyên môn. Đến ngày 1-7-2021, các quận và thị xã Sơn Tây đã hoàn thành công tác sắp xếp tổ chức bộ máy tại 175 UBND phường. Thực hiện chuyển công chức phường tại 175 phường thành biên chế công chức thuộc UBND quận, thị xã.Đội ngũcán bộ chuyên trách khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở phường vẫn được giữ ổn định theo quy định. Công tác sắp xếp, bố trí công tác và giải quyết các chế độ, chính sách đối với chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân (HĐND) phường sau sắp xếp, kiện toàn được thực hiện đúng quy định, không có đơn, thư khiếu nại, tố cáo.
Sau sắp xếp, cơ quan hành chính phường đã tích cực, chủ động điều hành, hoạt động nhanh nhạy, thông suốt hơn, quyết định nhanh những vấn đề cấp bách trên địa bàn, trên cơ sở xác định rõ người, rõ trách nhiệm, rõ việc, hướng đến phục vụ người dân tốt hơn. Đảng ủy các phường đã thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, đổi mới trong việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Phương thức lãnh đạo được đổi mới theo hướng sâu sát cơ sở; việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, phát huy dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo được chú trọng; phát huy vai trò lãnh đạo theo đúng thẩm quyền, trách nhiệm theo quy định.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Những quy định mới trong mô hình chính quyền đô thị đã tăng cường cơ chế trách nhiệm, phối hợp trong giải quyết và thực hiện thủ tục hành chính giữa quận, thị xã và phường. Chủ tịch UBND phường chủ động, có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân về mọi vấn đề trong phạm vi thẩm quyền của phường do mình quản lý; nâng cao tính tự chủ, phát huy vai trò chủ động, trách nhiệm, sáng tạo của các phường trong quá trình phục vụ người dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của phường, quận, thị xã nhanh và hiệu quả.
Việc ủy quyền công chức Tư pháp - hộ tịch được ký chứng thực đã phát huy hiệu quả; tạo điều kiện thuận lợi giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, công sức cho tổ chức, công dân đến làm thủ tục hành chính. Công dân có thể nhận kết quả ngay khi đến giao dịch tại UBND phường, không phải chờ đợi, làm giảm đáng kể chi phí tuân thủ thủ tục hành chính; giảm tải áp lực, công việc cho chủ tịch, phó chủ tịch UBND phường để tập trung giải quyết các nhiệm vụ. Tổng số hồ sơ chứng thực bản sao tại phường do công chức Tư pháp - hộ tịch được ủy quyền ký chứng thực và đóng dấu UBND phường chiếm 63,6%; hồ sơ chứng thực chữ ký do công chức Tư pháp - hộ tịch được ủy quyền ký chứng thực và đóng dấu UBND phường chiếm 59,1% tổng số hồ sơ chứng thực chữ ký tại UBND phường. Nhiều mô hình thí điểm được thực hiện, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, điển hình như UBND quận Hoàn Kiếm đã triển khai thực hiện mô hình “Các thủ tục hành chính không chờ” (Thủ tục hành chính không giấy hẹn, thực hiện ngay) tại các phường với hàng chục loại thủ tục hành chính khác nhau.
Công tác giám sátviệc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và thực hiện nghị quyết của HĐND quận, thị xã ở phường, giám sát hoạt động của UBND, chủ tịch UBND phường, HĐND các quận và thị xã được tăng cường. Kết quả cho thấy, các chủ thể này đã thực hiện đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc quyết định các giải pháp lớn để thực hiện chính sách, pháp luật và các nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn theo phân cấp. Hội đồng nhân dân các quận, thị xã đã tăng cường các hoạt động giám sát đối với hoạt động của UBND phường, tăng cường công tác tiếp xúc cử tri, tiếp công dân để lắng nghe ý kiến, phản ánh, kiến nghị của cử tri và nhân dân, bảo đảm thực hiện tốt quyền đại diện cho cử tri trên địa bàn. Các ban HĐND, các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã được giao trách nhiệm thường xuyên nắm bắt tình hình hoạt động của các phường tại đơn vị bầu cử, tham dự các cuộc họp, hội nghị đối thoại, hội nghị tiếp xúc cử tri để kịp thời tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri chuyển đến cơ quan có thẩm quyền theo dõi, giải quyết theo quy định. Hội đồng nhân dân, thường trực HĐND, các ban của HĐND và các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã đã tiến hành các cuộc giám sát chuyên đề đối với UBND phường. Ngoài giám sát chuyên đề, các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã thực hiện giám sát thường xuyên về giải quyết kiến nghị của cử tri.
Mối quan hệ công tác giữa UBND, chủ tịch UBND phường với đảng ủy, bí thư đảng ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường được quy định cụ thể rõ ràng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp, giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cũng như của người dân trên địa bàn phường đối với hoạt động của UBND phường.
Công tác đối thoại với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân được thực hiện tốt, đã phát huy hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân.
Chủ tịch UBND các phường đã thực hiện tốt việc đối thoại định kỳ hằng năm với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trên địa bàn phường theo Quyết định số 2200-QĐ/TU, ngày 25-5-2017, của Thành ủy Hà Nội, về “Ban hành Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trên địa bàn thành phố”.
Thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, UBND các phường đã tổ chức thực hiện nghiêm túc hội nghị đối thoại giữa chủ tịch UBND phường với nhân dân theo đúng quy định tại Điều 12, Nghị định số 32/2021/NĐ-CP, ngày 29-3-2021, của Chính phủ, “Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27-11-2019, của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội” (được tổ chức mỗi năm ít nhất 2 lần trước các kỳ họp thường kỳ của hội đồng nhân dân các quận và thị xã); theo đó, đã có 389 buổi đối thoại được tổ chức, các buổi đối thoại đều được tổ chức đúng thời gian quy định. Tại các hội nghị đối thoại, lãnh đạo phường đã báo cáo về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn...; đồng thời, giải đáp các kiến nghị, phản ánh của nhân dân trên địa bàn. Qua đối thoại, chủ tịch UBND các phường đã tiếp nhận 2.940 kiến nghị của tổ chức, cá nhân; các kiến nghị của công dân, tổ chức được chủ tịch UBND các phường trao đổi trực tiếp, giải đáp công khai, dân chủ tại hội nghị (có 2.732/2.940 kiến nghị, đạt 92,9%). Đối với những kiến nghị chưa thể giải đáp ngay tại hội nghị, chủ tịch UBND các phường sẽ trả lời bằng văn bản sau hội nghị; các nội dung vượt thẩm quyền sẽ được báo cáo lên UBND các quận, thị xã để tổng hợp, trả lời.
Thông qua công tác đối thoại, người đứng đầu chính quyền đã có thể kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, quan tâm giải quyết các kiến nghị, đề nghị chính đáng của nhân dân; đồng thời, cung cấp thông tin tuyên truyền, vận động, giải thích để nhân dân hiểu rõ hơn những việc chính quyền các cấp đã làm được, cũng như những vướng mắc đang gặp phải để cùng tháo gỡ, giải quyết trên tinh thần xây dựng, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhìn chung, công tác tiếp dân đượcUBND các phường thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.
Giai đoạn từ 1-7-2020 đến 30-6-2021, có 175 phường của 13 quận, thị xã đã tiếp 15.376 lượt công dân, tiếp nhận 4.408 đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Ủy ban nhân dân các phường đã giải quyết, trả lời 4.239 kiến nghị (chiếm 96,2%), với các kiến nghị còn lại đang giải quyết, tiến hành báo cáo lên cơ quan cấp trên các nội dung vượt thẩm quyền.
Giai đoạn triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tiếp theo (từ 1-7-2021 đến 30-6-2022), có 175 phường của 13 quận, thị xã đã tiếp 14.022 lượt công dân (giảm 9% so với trước thời điểm thực hiện thí điểm), tiếp nhận 3.462 đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (giảm 20% so với trước thời điểm thực hiện thí điểm). Ủy ban nhân dân các phường đã giải quyết, trả lời 3.110 kiến nghị (chiếm 89,8%).
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các phường đã tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội.
Mặc dù không tổ chức HĐND ở phường, nhưng quyền dân chủ và giám sát của nhân dân vẫn được duy trì và ngày càng được nâng cao, thông qua các hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở thành phố Hà Nội; trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gắn với thực hiện có hiệu quả quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, người đứng đầu chính quyền các cấp với nhân dân trên địa bàn thành phố; qua đó, nâng cao được vị thế, vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố Hà Nội trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Ngọc Tuấn tiếp công dân tại trụ sở Ban tiếp công dân thành phố_Nguồn: hanoimoi.com.vn
Qua hơn một năm thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội đã tổ chức 447 cuộc giám sát và hàng nghìn cuộc giám sát của các ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng; trong đó, có 582 cuộc về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các phường đã tổ chức 153 cuộc phản biện xã hội, tập trung vào dự thảo nghị quyết, đề án, chương trình, quyết định của UBND các phường.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai thí điểm thực hiện mô hình chính quyền đô thị gắn với thực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn còn những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, như việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức. Ở một số nơi, công tác kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy và hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở chưa đạt hiệu quả cao. Đội ngũ cán bộ, chuyên trách ở phường gồm các chức danh bí thư đảng ủy, phó bí thư đảng ủy, chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ, chủ tịch hội cựu chiến binh, bí thư đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường vẫn là cán bộ cấp xã, chưa được chuyển thành cán bộ thuộc biên chế quận, thị xã; do đó, chưa có sự đồng bộ, thống nhất quản lý biên chế cán bộ, công chức phường.
Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND quận, thị xã tăng lên, trong khi số lượng đại biểu chuyên trách của HĐND quận, thị xã còn ít, nên việc tổ chức các hoạt động giám sát mới chỉ được duy trì ở mức độ như trước khi thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, chưa có sự thay đổi rõ nét, chủ động thực sự về số lượng và chất lượng khi không tổ chức HĐND ở phường. Hoạt động của HĐND ở một số địa phương còn mang tính hình thức. Công tác tiếp công dân của các đại biểu HĐND quận, thị xã tại các phường đạt hiệu quả chưa cao. Một số tổ đại biểu HĐND quận, thị xã chưa chủ động trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao, nhất là việc tổ chức giám sát hoạt động của UBND, chủ tịch UBND phường.
Việc nắm bắt và tổng hợp tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trước, trong tiếp xúc, đối thoại còn chưa kịp thời; công tác tham mưu giải quyết các ý kiến, kiến nghị trong quá trình tiếp xúc, đối thoại có nơi còn hạn chế, thiếu tính chủ động, chưa sâu sát; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, bộ phận trong thực hiện kết luận sau tiếp xúc, đối thoại còn lúng túng, chưa đồng bộ, chưa thực sự rõ trách nhiệm.
Một mặt, với quy mô dân số trung bình của các phường thuộc các quận lớn, với hơn 22.300 người (theo tiêu chuẩn là 15.000 người), trong đó có 41 phường, có quy mô dân số hơn 30.000 người; với một số phường có quy mô dân số rất lớn, như phường Hoàng Liệt (quận Hoàng Mai) là 82.891 người, phường Đại Kim (quận Hoàng Mai) là 54.295 người, phường Trung Hòa (quận Cầu Giấy) là 54.770 người, thì khối lượng công việc tại các phường là rất lớn, gây áp lực khi thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với công chức phường. Số lượng biên chế công chức làm việc bình quân tại các phường là 15 người/phường, về cơ bản bằng mức bình quân công chức cấp xã, mà chưa có cơ chế, chính sách đặc thù đối với các phường có quy mô dân số lớn.
Mặt khác, ngoài các nhiệm vụ theo chuyên môn được tuyển dụng, thì đội ngũ cán bộ, công chức phường đều được giao thêm nhiệm vụ theo dõi, nắm bắt tình hình tại các tổ dân phố, trong khi chế độ, chính sách không có gì thay đổi, nên chưa động viên được đội ngũ cán bộ, công chức phường tận tâm, tận lực trong công việc, công tác. Thực hiện theo cơ chế quản lý mới, phường là một đơn vị dự toán, phụ thuộc vào dự toán của cơ quan cấp trên, nên một số nhiệm vụ phát sinh đột xuất không có trong dự toán sẽ gặp phải khó khăn trong triển khai, thực hiện. Việc bố trí kinh phí chi lương, phụ cấp, các khoản theo lương và chi hoạt động của đảng ủy, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội nằm trong kinh phí dự toán của UBND phường chưa thật sự thuận lợi, chưa bảo đảm tính chủ động trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của đảng ủy và hoạt động của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tại phường.
Nguyên nhân khách quan: Tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thí điểm mô hình chính quyền đô thị. Đồng thời, việc triển khai thí điểm mô hình chính quyền đô thị là việc mới và khó; trong khi đó, hệ thống các văn bản quy định, hướng dẫn ở một số lĩnh vực ban hành còn chậm, thiếu đồng bộ, nên không tránh khỏi những khó khăn, hạn chế nhất định. Chính sách cán bộ còn nhiều bất cập, chậm đổi mới, vừa chưa khuyến khích cán bộ phát huy hết năng lực, tâm huyết với công việc, vừa khó thu hút được cán bộ về làm việc ở những lĩnh vực khó khăn, nhất là ở cấp cơ sở.
Nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy và cán bộ, đảng viên, công chức chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tổ chức thí điểm mô hình chính quyền đô thị, nên việc thực hiện dân chủ ở cơ sở chưa thực sự quyết liệt, sâu sát, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.
Vai trò tham mưu của một số cơ quan, đơn vị trên một số lĩnh vực công tác chưa được thể hiện rõ nét, chưa thật sự chủ động tham mưu trong rà soát, đề xuất, hướng dẫn tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cơ sở. Công tác phối hợp triển khai nhiệm vụ ở một số cơ quan, đơn vị, có lúc, có việc còn chưa được thường xuyên, chặt chẽ.
Một số cán bộ, công chức phường còn ngại thay đổi, chậm đổi mới tư duy, làm việc theo “kinh nghiệm”, một bộ phận cán bộ, công chức chưa thật sự tích cực, chủ động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện kỹ năng và đổi mới phương pháp làm việc để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của mô hình chính quyền đô thị. Tổ chức bộ máy, biên chế của một số địa phương, cơ sở còn chưa được quan tâm kiện toàn, bố trí đầy đủ người và phương tiện cần thiết.
Công chức, viên chức hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến tại bộ phận “một cửa” của Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm_Ảnh: Tư liệu
Tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới
Thành ủy Hà Nội xác định, tăng cường phát huy dân chủ ở cơ sở, nhằm thực hiện có hiệu quả mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của Đảng bộ và cả hệ thống chính trị; theo đó, trong thời gian tới cần tập trung lãnh đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
Thứ nhất, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa các quan điểm chỉ đạo của Trung ương, thành phố về việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, thực hiện Quy chế dân chủ trong các cơ quan nhà nước, thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại từng địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm thực chất và hiệu quả. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự thống nhất ý chí và hành động trong các cấp ủy, cơ quan, đơn vị để tiếp tục triển khai hiệu quả việc tổ chức thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội.
Thứ hai,đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc của các cấp ủy, bảo đảm đồng bộ với đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền. Tăng cường giáo dục đạo đức công vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức toàn thành phố. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là công bộc của nhân dân, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu tổ chức thí điểm chính quyền đô thị của Thủ đô Hà Nội.
Thứ ba,đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, ủy quyền, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý chính quyền của thành phố. Huy động mọi nguồn lực đầu tư cho sự phát triển của thành phố, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, thủ tục hành chính, chuyển đổi số gắn với đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử, xây dựng thành phố thông minh để nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, nhằm xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, nâng cao hiệu quả trong công tác phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, tác nghiệp, bảo đảm đồng bộ, liên thông từ thành phố đến cơ sở, để từng bước mở rộng việc cung cấp các loại hình dịch vụ công trực tuyến và vận hành thông suốt hệ thống thông tin trong hoạt động điều hành, tác nghiệp của các cơ quan, đơn vị.
Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thường xuyên tự kiểm tra, giám sát của mỗi cấp ủy, mỗi cấp chính quyền và của cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị; nhất là hoạt động giám sát, tiếp công dân của HĐND thành phố, quận, thị xã.
Thứ năm,đổi mới việc thực hiện quyền giám sát khi không tổ chức HĐND phường. Việc thực hiện quyền làm chủ và giám sát của nhân dân khi không tổ chức HĐND phường được thực hiện thông qua hoạt động giám sát của HĐND thành phố, HĐND quận; giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hoặc cơ quan nhà nước khác, như thông qua kiểm tra, giám sát của Đảng; giám sát trực tiếp của nhân dân thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, thông qua báo chí, các kênh thông tin, truyền thông, mạng xã hội,... Vì vậy, tiếng nói của người dân ở cấp cơ sở của các đô thị vẫn được HĐND các cấp, cũng như cơ quan nhà nước lắng nghe, xem xét, giải quyết.
Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tạo điều để kiện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội của thành phố thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, đối thoại, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nhất là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Việc thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị là nhiệm vụ mới, khó, phức tạp. Tuy nhiên, với quyết tâm chính trị cao, sự hướng dẫn của các bộ, ban, ngành ở Trung ương, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, phát huy sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là việc đề cao phát huy dân chủ ở cơ sở trong từng nhiệm vụ tổ chức thí điểm chính quyền đô thị. Do vậy, thời gian qua, việc thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả tích cực, cơ bản bảo đảm các mục tiêu, mục đích, tiến độ đã đề ra. Việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở các địa phương tổ chức thí điểm chính quyền đô thị đạt kết quả tốt./.