Thứ Tư, 20 tháng 9, 2023

TCCS - Thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo vệ kỷ cương xã hội là mối quan hệ lớn thứ mười được Đại hội XIII của Đảng bổ sung. Đây là mối quan hệ lớn có ảnh hưởng rộng lớn đối với mọi mặt của đời sống xã hội, phản ánh tính ưu việt của hệ thống chính trị Việt Nam, đồng thời có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Trưởng Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương và các đại biểu tham quan phòng truyền thống của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao_Ảnh: TTXVN Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, là thuộc tính tự nhiên, vốn có của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước đề cao vai trò của pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội, trong đó Nhà nước và xã hội được tổ chức và hoạt động trên cơ sở một hệ thống pháp luật “đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(1) và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán nhằm bảo đảm công lý và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ thực hiện pháp luật nghiêm, triệt để, chính xác và không có ngoại lệ của mọi chủ thể pháp luật. Như vậy, để có pháp chế xã hội chủ nghĩa cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đòi hỏi mọi chủ thể trong xã hội phải thực hiện pháp luật đúng, nghiêm, triệt để, chính xác và mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo quy định. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, cần thiết phải nhận thức đầy đủ, nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở những khía cạnh căn bản sau: Thứ nhất, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội luôn có tính thống nhất và quan hệ mật thiết, tạo tiền đề, cơ sở cho nhau cùng vận hành và phát triển. Nền dân chủ trong đời sống xã hội càng cao thì nhà nước pháp quyền và nguyên tắc pháp chế càng được củng cố và hoàn thiện, kỷ cương xã hội được bảo đảm và giữ vững. Kỷ cương xã hội là kết quả, là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của pháp chế xã hội chủ nghĩa. Để có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cần phải có pháp chế xã hội chủ nghĩa; để có pháp chế xã hội chủ nghĩa thì cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện. Hệ thống pháp luật càng hoàn thiện bao nhiêu thì pháp chế càng cao bấy nhiêu. Tuy nhiên, không phải cứ có pháp luật là có pháp chế. Nhà nước nào trong lịch sử cũng đều sử dụng pháp luật, nhưng pháp chế chỉ có trong nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước chủ nô, phong kiến không có pháp chế vì pháp luật không nghiêm, theo kiểu “lễ nghi không đến thứ dân, hình phạt không đến trượng phu”, chỉ bảo vệ lợi ích độc tôn của giai cấp thống trị, cưỡng bức quần chúng tuân thủ. Có thể thấy, pháp luật là tiền đề, cơ sở pháp lý để thực hiện dân chủ và dân chủ được thi hành trong khuôn khổ của pháp chế thì mới bảo đảm được kỷ cương xã hội. Thứ hai, thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải đặt trong mối quan hệ với thiết chế nhà nước, cụ thể là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bởi lẽ không thể có một nền dân chủ tồn tại bên ngoài Nhà nước và Nhà nước chính là chủ thể ban hành pháp luật và duy trì pháp chế. Dân chủ là dân là chủ, dân làm chủ và trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải tăng cường thực hành dân chủ thực chất và rộng rãi, tránh cả hai thái cực là dân chủ hình thức hoặc dân chủ cực đoan, vô chính phủ. Nhà nước với vai trò là thiết chế kiến tạo điều kiện, môi trường cho thực hành dân chủ, do vậy, nó không còn là chủ thể quản lý bằng mệnh lệnh, bằng chức năng thống trị, mà phải vươn lên để trở thành nhà nước phục vụ, đặt người dân ở trung tâm của mọi hoạt động và tổ chức của Nhà nước, sự hài lòng của người dân là thước đo về thực hành dân chủ chính xác nhất. Chính vì vậy, thực hành dân chủ gắn với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội luôn phải gắn liền với sự kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong đó, tập trung vào một số nhiệm vụ được đề ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, của Hội nghị Trung ương 6 khoá XIII: Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội; Chính phủ, chính quyền địa phương; xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhân dân trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật… Bộ máy nhà nước hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả thì sẽ có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm kỷ cương xã hội. Thứ ba, thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải được bảo đảm trên cơ sở hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, nhất là dựa vào nhân dân. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực của Nhà nước là xuất phát từ nhân dân, điều này được khẳng định tại khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”, nghĩa là chủ thể của quyền lực nhà nước là nhân dân, nhân dân ủy quyền cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước để thực hiện quyền lực của mình. Do vậy, nhân dân có quyền giám sát chủ thể thực hiện quyền lực của mình bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau. Kiếm soát quyền lực nhà nước luôn có vai trò của nhân dân nhằm chống lạm quyền, lộng quyền hay tha hóa quyền lực của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhân viên nhà nước. Nhà nước gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Nhà nước hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu ban hành các văn bản của Đảng, văn bản pháp luật để thể chế hóa cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng(2), cũng như của Nhà nước, do nhân dân thực hiện, để bảo đảm phương châm dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực, là phương thức hữu hiệu nhất trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Cơ chế này đòi hỏi phải thể chế hóa vai trò của nhân dân trong kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Mặt khác, xây dựng hệ thống pháp luật cho phép các bộ phận bên trong của Đảng, Nhà nước có thể giám sát, chế ước lẫn nhau, hay còn gọi là kiểm soát nội bộ. Thứ tư, thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải được bảo đảm trên cơ sở đổi mới, đa dạng hóa tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ không chỉ bằng Nhà nước, mà còn thông qua các tổ chức của mình. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò to lớn trong việc củng cố, bảo vệ Đảng, Nhà nước, hơn nữa đó là những thiết chế có vai trò quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời là môi trường, là trường học để nâng cao ý thức, năng lực và nhu cầu dân chủ cho các tầng lớp nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp để tổ chức các diễn đàn tuyên truyền về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân, từ đó làm cho nhân dân nhận thức đầy đủ hơn, hiểu sâu sắc hơn về trách nhiệm của mình với Đảng, Nhà nước. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp trong việc tiếp xúc với nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân, từ đó xem xét, xử lý, tháo gỡ những vướng mắc mà nhân dân kiến nghị, tạo điều kiện để nhân dân thực hành quyền dân chủ trên cơ sở, khuôn khổ pháp luật, pháp chế và bảo đảm kỷ cương xã hội. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn là những thiết chế để các tầng lớp nhân dân tham gia công việc của Nhà nước, quản lý, giám sát hoạt động của Nhà nước, phải đổi mới trên nhiều mặt theo hướng khắc phục tình trạng “hành chính hóa”, “nhà nước hóa” trong tổ chức và hoạt động. Đồng thời, đa dạng hóa hình thức tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội phù hợp với tính chất quần chúng và những biến động đa dạng về cơ cấu giai cấp - xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhân dân thực hiện các quyền dân chủ khi tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, giám sát hoạt động của Nhà nước phải bảo đảm các quy định của pháp luật, quy tắc, quy chế của các tổ chức chính trị - xã hội. Nhà nước Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức phi chính phủ nước ngoài thực hiện hoạt động nhân đạo, phát triển tại Việt Nam. Tổ chức phi chính phủ nước ngoài thực hiện hoạt động nhân đạo, phát triển tại Việt Nam phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và tuân thủ pháp luật Việt Nam. Nhân dân tham gia vào các tổ chức này phải bảo đảm các quy định của pháp luật Việt Nam. Đó là một trong những phương thức quan trọng cho việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thông qua các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam nhưng phải bảo đảm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo đảm kỷ cương xã hội. Cán bộ, chiến sĩ Công an tỉnh Quảng Ninh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh_Nguồn: doanthanhnien.vn Thứ năm, thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải được thể hiện qua giám sát và phản biện xã hội, tạo dựng thói quen thảo luận, bày tỏ quan điểm, chính kiến của nhân dân về các vấn đề quan trọng của đất nước. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Đảng ban hành Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị, “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Trên cơ sở đó, Nhà nước cụ thể hóa quy định của Đảng bằng việc ban hành Luật Thực hiện dân chủ cơ sở. Đó là bước tiến quan trọng trong việc phát huy sự tham gia của nhân dân trong xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tham gia giám sát và phản biện xã hội. Thực hiện tốt phương châm “động viên nhân dân tham gia các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hoạt động tự quản cộng đồng”(3) đánh giá, phản biện và dự đoán các lĩnh vực chuyên biệt của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, dân chủ, tôn giáo, an ninh,… trở thành lực lượng cốt cán và tiên phong trong giám sát và phản biện xã hội. Biện pháp này góp phần khắc phục sự e ngại của các chủ thể khi tham gia phản biện xã hội, cũng như khơi dậy ý thức trách nhiệm của mỗi chủ thể để giám sát và phản biện xã hội phải thực sự được coi là một hoạt động có tính khách quan, chuyên nghiệp. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cơ quan báo chí và nhân dân với hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng và hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, xét xử… của các cơ quan nhà nước. Từ cơ chế phối hợp đó, hoạt động giám sát và phản biện xã hội cung cấp thêm những góc nhìn, quan điểm, nguyện vọng từ phía quần chúng nhân dân để Đảng và Nhà nước có những quyết sách đúng đắn, phù hợp nhất và tạo sự đồng thuận xã hội. Mặt khác, hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, xét xử… của Nhà nước mang tính quyền lực công với những chế tài xử lý nghiêm minh sẽ góp phần bảo đảm những kết quả giám sát và phản biện xã hội phát huy được giá trị trong thực tiễn. Bảo đảm cơ chế công khai, minh bạch, mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho các chủ thể giám sát và phản biện xã hội. Công khai hóa, minh bạch hóa là một xu thế tất yếu hiện nay và được các quốc gia trên thế giới ghi nhận và nỗ lực bảo đảm. Hoạt động giám sát và phản biện xã hội có tính khách quan, phản ánh ý chí, nguyện vọng, kiến nghị của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Để bảo đảm được tính khách quan, trung thực của sự phản biện, cần phải bảo đảm cơ chế công khai, minh bạch thông tin (trừ những thông tin mật ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, quyền con người), đặc biệt là những thông tin liên quan đến các chính sách, kế hoạch, chương trình phát triển đất nước và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Quá trình xây dựng chính sách, thể chế, tổ chức của Nhà nước phải được công khai, minh bạch (trừ vấn đề thuộc bí mật quốc gia). Quá trình tiếp thu ý kiến cũng cần được công khai, minh bạch để các chủ thể giám sát và phản biện nắm rõ được ý kiến của mình được tiếp thu và xử lý đến đâu hoặc biết rõ được lý do những ý kiến đó bị từ chối bởi các cơ quan hữu quan. Điều này nhằm khắc phục tình trạng bất cập hiện nay là chủ thể giám sát và phản biện xã hội không biết được cơ quan nhà nước tiếp thu ý kiến đến đâu và những kiến nghị có được giải quyết không, trách nhiệm thuộc về ai,…. Việc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin sẽ tạo ra cơ chế lắng nghe, tiếp thu và phản hồi ý kiến một cách thường xuyên và có trách nhiệm giữa cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân, bảo đảm việc tham gia ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và nhân dân thực chất, hiệu quả, tránh những sai lệch bởi thông tin không chính thống. Mở rộng các hoạt động kiểm tra việc thực hiện các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động giám sát và phản biện xã hội. Các cơ quan của Đảng và Nhà nước cần tiến hành những hoạt động kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất để nắm bắt được quá trình tiếp nhận, xử lý và tiếp thu ý kiến giám sát và phản biện xã hội của các cấp chính quyền. Mặt khác, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội, cơ quan báo chí và nhân dân cần chủ động trong việc theo dõi việc xử lý thông tin phản ánh và sự điều chỉnh hành vi, chính sách từ phía các đối tượng được giám sát và phản biện xã hội. Có như vậy mới thiết lập được kỷ luật, nâng cao trách nhiệm của cả chủ thể và đối tượng được giám sát và phản biện xã hội, kịp thời ngăn chặn những hành vi sai trái, lệch lạc, vi phạm pháp luật trong hoạt động này. Để nhân dân tham gia giám sát và phản biện xã hội có hiệu quả thì cần phải có đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm cao trong công việc, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân. Kiên trì thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(4). Dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển đất nước. Thực hành dân chủ phải gắn với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội. Thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm kỷ cương xã hội cần trở thành nền nếp, thành quan hệ ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội. Đây là yêu cầu, điều kiện quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đồng thời cũng phản ánh tính ưu việt của hệ thống chính trị Việt Nam./.

 TCCS - Trong những năm qua, Thành ủy Hà Nội luôn xác định phát huy quyền làm chủ của nhân dân là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của Thủ đô; đặc biệt, đã gắn việc thực hiện dân chủ ở cơ sở với triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, hướng tới xây dựng chính quyền đô thị tinh gọn, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng trò chuyện với người dân trong diện giải phóng mặt bằng dự án đường vành đai 4 - vùng Thủ đô tại xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội_Nguồn: nhandan.vn

Đảng bộ thành phố Hà Nội là Đảng bộ lớn nhất cả nước với 50 đảng bộ cấp trên cơ sở, gần 47 vạn đảng viên, chiếm khoảng 9% đảng viên của cả nước, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên khá cao so với mặt bằng chung cả nước. Thành ủy Hà Nội luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Phát huy dân chủ ở cơ sở trong triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn Thủ đô Hà Nội - Những kết quả đạt được đáng ghi nhận

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức, trách nhiệm thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân được tăng cường.

Thực hiện Nghị quyết số 97/2019/QH14, ngày 27-11-2019, của Quốc hội, về “Thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội” từ ngày 1-7-2021, tại 175 phường thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây, Thành ủy Hà Nội đã chú trọng lãnh đạo các quận, thị xã triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị gắn với phát huy dân chủ, nhằm tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phù hợp với tính chất đô thị, hướng đến phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. 

Thành ủy, chính quyền và các đoàn thể thành phố đã khẩn trương xây dựng, ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị và tổ chức nhiều hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị bảo đảm công khai, dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi và tăng cường trách nhiệm trong triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị. Thành phố Hà Nội đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy quyền làm chủ của nhân dân; về thực hiện mô hình chính quyền đô thị, trong đó tập trung vào những điểm mới, những lợi ích của việc thí điểm mô hình chính quyền đô thị, tạo không khí phấn khởi, đoàn kết, đồng thuận cao trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, tăng cường tuyên truyền trên cổng/trang thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị, địa phương, các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và thành phố.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp của thành phố Hà Nội tăng cường công tác vận động, nắm chắc tình hình, dư luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là những vấn đề khó khăn, vướng mắc, tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị để phản ánh, tham mưu, đề xuất với Thành ủy, các cấp ủy trong công tác định hướng dư luận, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện.

Công khai, minh bạch trong công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy; phát huy vai trò lãnh đạo của đảng ủy phường trong điều kiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị.

Thành ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố lãnh đạo, chỉ đạo các quận ủy, thị ủy và UBND các quận, thị xã tập trung chỉ đạo việc phát huy dân chủ trong sắp xếp tổ chức bộ máy, nhân sự; phát huy vai trò lãnh đạo của đảng ủy phường.

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy và công tác cán bộ tại UBND các phường được tiến hành công khai, minh bạch, bảo đảm phù hợp với vị trí việc làm, năng lực chuyên môn. Đến ngày 1-7-2021, các quận và thị xã Sơn Tây đã hoàn thành công tác sắp xếp tổ chức bộ máy tại 175 UBND phường. Thực hiện chuyển công chức phường tại 175 phường thành biên chế công chức thuộc UBND quận, thị xã. Đội ngũ cán bộ chuyên trách khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở phường vẫn được giữ ổn định theo quy định. Công tác sắp xếp, bố trí công tác và giải quyết các chế độ, chính sách đối với chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân (HĐND) phường sau sắp xếp, kiện toàn được thực hiện đúng quy định, không có đơn, thư khiếu nại, tố cáo.

Sau sắp xếp, cơ quan hành chính phường đã tích cực, chủ động điều hành, hoạt động nhanh nhạy, thông suốt hơn, quyết định nhanh những vấn đề cấp bách trên địa bàn, trên cơ sở xác định rõ người, rõ trách nhiệm, rõ việc, hướng đến phục vụ người dân tốt hơn. Đảng ủy các phường đã thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, đổi mới trong việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Phương thức lãnh đạo được đổi mới theo hướng sâu sát cơ sở; việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, phát huy dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo được chú trọng; phát huy vai trò lãnh đạo theo đúng thẩm quyền, trách nhiệm theo quy định.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Những quy định mới trong mô hình chính quyền đô thị đã tăng cường cơ chế trách nhiệm, phối hợp trong giải quyết và thực hiện thủ tục hành chính giữa quận, thị xã và phường. Chủ tịch UBND phường chủ động, có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân về mọi vấn đề trong phạm vi thẩm quyền của phường do mình quản lý; nâng cao tính tự chủ, phát huy vai trò chủ động, trách nhiệm, sáng tạo của các phường trong quá trình phục vụ người dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của phường, quận, thị xã nhanh và hiệu quả.

Việc ủy quyền công chức Tư pháp - hộ tịch được ký chứng thực đã phát huy hiệu quả; tạo điều kiện thuận lợi giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, công sức cho tổ chức, công dân đến làm thủ tục hành chính. Công dân có thể nhận kết quả ngay khi đến giao dịch tại UBND phường, không phải chờ đợi, làm giảm đáng kể chi phí tuân thủ thủ tục hành chính; giảm tải áp lực, công việc cho chủ tịch, phó chủ tịch UBND phường để tập trung giải quyết các nhiệm vụ. Tổng số hồ sơ chứng thực bản sao tại phường do công chức Tư pháp - hộ tịch được ủy quyền ký chứng thực và đóng dấu UBND phường chiếm 63,6%; hồ sơ chứng thực chữ ký do công chức Tư pháp - hộ tịch được ủy quyền ký chứng thực và đóng dấu UBND phường chiếm 59,1% tổng số hồ sơ chứng thực chữ ký tại UBND phường. Nhiều mô hình thí điểm được thực hiện, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, điển hình như UBND quận Hoàn Kiếm đã triển khai thực hiện mô hình “Các thủ tục hành chính không chờ” (Thủ tục hành chính không giấy hẹn, thực hiện ngay) tại các phường với hàng chục loại thủ tục hành chính khác nhau.

Công tác giám sát việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và thực hiện nghị quyết của HĐND quận, thị xã ở phường, giám sát hoạt động của UBND, chủ tịch UBND phường, HĐND các quận và thị xã được tăng cường. Kết quả cho thấy, các chủ thể này đã thực hiện đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc quyết định các giải pháp lớn để thực hiện chính sách, pháp luật và các nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn theo phân cấp. Hội đồng nhân dân các quận, thị xã đã tăng cường các hoạt động giám sát đối với hoạt động của UBND phường, tăng cường công tác tiếp xúc cử tri, tiếp công dân để lắng nghe ý kiến, phản ánh, kiến nghị của cử tri và nhân dân, bảo đảm thực hiện tốt quyền đại diện cho cử tri trên địa bàn. Các ban HĐND, các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã được giao trách nhiệm thường xuyên nắm bắt tình hình hoạt động của các phường tại đơn vị bầu cử, tham dự các cuộc họp, hội nghị đối thoại, hội nghị tiếp xúc cử tri để kịp thời tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri chuyển đến cơ quan có thẩm quyền theo dõi, giải quyết theo quy định. Hội đồng nhân dân, thường trực HĐND, các ban của HĐND và các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã đã tiến hành các cuộc giám sát chuyên đề đối với UBND phường. Ngoài giám sát chuyên đề, các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã thực hiện giám sát thường xuyên về giải quyết kiến nghị của cử tri.

Mối quan hệ công tác giữa UBND, chủ tịch UBND phường với đảng ủy, bí thư đảng ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường được quy định cụ thể rõ ràng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp, giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cũng như của người dân trên địa bàn phường đối với hoạt động của UBND phường.

Công tác đối thoại với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân được thực hiện tốt, đã phát huy hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân.

Chủ tịch UBND các phường đã thực hiện tốt việc đối thoại định kỳ hằng năm với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trên địa bàn phường theo Quyết định số 2200-QĐ/TU, ngày 25-5-2017, của Thành ủy Hà Nội, về “Ban hành Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trên địa bàn thành phố”.

Thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, UBND các phường đã tổ chức thực hiện nghiêm túc hội nghị đối thoại giữa chủ tịch UBND phường với nhân dân theo đúng quy định tại Điều 12, Nghị định số 32/2021/NĐ-CP, ngày 29-3-2021, của Chính phủ, “Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27-11-2019, của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội” (được tổ chức mỗi năm ít nhất 2 lần trước các kỳ họp thường kỳ của hội đồng nhân dân các quận và thị xã); theo đó, đã có 389 buổi đối thoại được tổ chức, các buổi đối thoại đều được tổ chức đúng thời gian quy định. Tại các hội nghị đối thoại, lãnh đạo phường đã báo cáo về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn...; đồng thời, giải đáp các kiến nghị, phản ánh của nhân dân trên địa bàn. Qua đối thoại, chủ tịch UBND các phường đã tiếp nhận 2.940 kiến nghị của tổ chức, cá nhân; các kiến nghị của công dân, tổ chức được chủ tịch UBND các phường trao đổi trực tiếp, giải đáp công khai, dân chủ tại hội nghị (có 2.732/2.940 kiến nghị, đạt 92,9%). Đối với những kiến nghị chưa thể giải đáp ngay tại hội nghị, chủ tịch UBND các phường sẽ trả lời bằng văn bản sau hội nghị; các nội dung vượt thẩm quyền sẽ được báo cáo lên UBND các quận, thị xã để tổng hợp, trả lời.

Thông qua công tác đối thoại, người đứng đầu chính quyền đã có thể kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, quan tâm giải quyết các kiến nghị, đề nghị chính đáng của nhân dân; đồng thời, cung cấp thông tin tuyên truyền, vận động, giải thích để nhân dân hiểu rõ hơn những việc chính quyền các cấp đã làm được, cũng như những vướng mắc đang gặp phải để cùng tháo gỡ, giải quyết trên tinh thần xây dựng, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhìn chung, công tác tiếp dân được UBND các phường thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.

Giai đoạn từ 1-7-2020 đến 30-6-2021, có 175 phường của 13 quận, thị xã đã tiếp 15.376 lượt công dân, tiếp nhận 4.408 đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Ủy ban nhân dân các phường đã giải quyết, trả lời 4.239 kiến nghị (chiếm 96,2%), với các kiến nghị còn lại đang giải quyết, tiến hành báo cáo lên cơ quan cấp trên các nội dung vượt thẩm quyền.

Giai đoạn triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tiếp theo (từ 1-7-2021 đến 30-6-2022), có 175 phường của 13 quận, thị xã đã tiếp 14.022 lượt công dân (giảm 9% so với trước thời điểm thực hiện thí điểm), tiếp nhận 3.462 đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (giảm 20% so với trước thời điểm thực hiện thí điểm). Ủy ban nhân dân các phường đã giải quyết, trả lời 3.110 kiến nghị (chiếm 89,8%).

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các phường đã tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội.

Mặc dù không tổ chức HĐND ở phường, nhưng quyền dân chủ và giám sát của nhân dân vẫn được duy trì và ngày càng được nâng cao, thông qua các hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở thành phố Hà Nội; trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gắn với thực hiện có hiệu quả quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, người đứng đầu chính quyền các cấp với nhân dân trên địa bàn thành phố; qua đó, nâng cao được vị thế, vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố Hà Nội trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Ngọc Tuấn tiếp công dân tại trụ sở Ban tiếp công dân thành phố_Nguồn: hanoimoi.com.vn

Qua hơn một năm thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội đã tổ chức 447 cuộc giám sát và hàng nghìn cuộc giám sát của các ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng; trong đó, có 582 cuộc về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các phường đã tổ chức 153 cuộc phản biện xã hội, tập trung vào dự thảo nghị quyết, đề án, chương trình, quyết định của UBND các phường.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai thí điểm thực hiện mô hình chính quyền đô thị gắn với thực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn còn những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, như việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức. Ở một số nơi, công tác kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy và hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở chưa đạt hiệu quả cao. Đội ngũ cán bộ, chuyên trách ở phường gồm các chức danh bí thư đảng ủy, phó bí thư đảng ủy, chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ, chủ tịch hội cựu chiến binh, bí thư đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường vẫn là cán bộ cấp xã, chưa được chuyển thành cán bộ thuộc biên chế quận, thị xã; do đó, chưa có sự đồng bộ, thống nhất quản lý biên chế cán bộ, công chức phường.

Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND quận, thị xã tăng lên, trong khi số lượng đại biểu chuyên trách của HĐND quận, thị xã còn ít, nên việc tổ chức các hoạt động giám sát mới chỉ được duy trì ở mức độ như trước khi thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, chưa có sự thay đổi rõ nét, chủ động thực sự về số lượng và chất lượng khi không tổ chức HĐND ở phường. Hoạt động của HĐND ở một số địa phương còn mang tính hình thức. Công tác tiếp công dân của các đại biểu HĐND quận, thị xã tại các phường đạt hiệu quả chưa cao. Một số tổ đại biểu HĐND quận, thị xã chưa chủ động trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao, nhất là việc tổ chức giám sát hoạt động của UBND, chủ tịch UBND phường.

Việc nắm bắt và tổng hợp tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trước, trong tiếp xúc, đối thoại còn chưa kịp thời; công tác tham mưu giải quyết các ý kiến, kiến nghị trong quá trình tiếp xúc, đối thoại có nơi còn hạn chế, thiếu tính chủ động, chưa sâu sát; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, bộ phận trong thực hiện kết luận sau tiếp xúc, đối thoại còn lúng túng, chưa đồng bộ, chưa thực sự rõ trách nhiệm.

Một mặt, với quy mô dân số trung bình của các phường thuộc các quận lớn, với hơn 22.300 người (theo tiêu chuẩn là 15.000 người), trong đó có 41 phường, có quy mô dân số hơn 30.000 người; với một số phường có quy mô dân số rất lớn, như phường Hoàng Liệt (quận Hoàng Mai) là 82.891 người, phường Đại Kim (quận Hoàng Mai) là 54.295 người, phường Trung Hòa (quận Cầu Giấy) là 54.770 người, thì khối lượng công việc tại các phường là rất lớn, gây áp lực khi thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với công chức phường. Số lượng biên chế công chức làm việc bình quân tại các phường là 15 người/phường, về cơ bản bằng mức bình quân công chức cấp xã, mà chưa có cơ chế, chính sách đặc thù đối với các phường có quy mô dân số lớn.

Mặt khác, ngoài các nhiệm vụ theo chuyên môn được tuyển dụng, thì đội ngũ cán bộ, công chức phường đều được giao thêm nhiệm vụ theo dõi, nắm bắt tình hình tại các tổ dân phố, trong khi chế độ, chính sách không có gì thay đổi, nên chưa động viên được đội ngũ cán bộ, công chức phường tận tâm, tận lực trong công việc, công tác. Thực hiện theo cơ chế quản lý mới, phường là một đơn vị dự toán, phụ thuộc vào dự toán của cơ quan cấp trên, nên một số nhiệm vụ phát sinh đột xuất không có trong dự toán sẽ gặp phải khó khăn trong triển khai, thực hiện. Việc bố trí kinh phí chi lương, phụ cấp, các khoản theo lương và chi hoạt động của đảng ủy, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội nằm trong kinh phí dự toán của UBND phường chưa thật sự thuận lợi, chưa bảo đảm tính chủ động trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của đảng ủy và hoạt động của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tại phường.

Nguyên nhân khách quan: Tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thí điểm mô hình chính quyền đô thị. Đồng thời, việc triển khai thí điểm mô hình chính quyền đô thị là việc mới và khó; trong khi đó, hệ thống các văn bản quy định, hướng dẫn ở một số lĩnh vực ban hành còn chậm, thiếu đồng bộ, nên không tránh khỏi những khó khăn, hạn chế nhất định. Chính sách cán bộ còn nhiều bất cập, chậm đổi mới, vừa chưa khuyến khích cán bộ phát huy hết năng lực, tâm huyết với công việc, vừa khó thu hút được cán bộ về làm việc ở những lĩnh vực khó khăn, nhất là ở cấp cơ sở.

Nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy và cán bộ, đảng viên, công chức chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tổ chức thí điểm mô hình chính quyền đô thị, nên việc thực hiện dân chủ ở cơ sở chưa thực sự quyết liệt, sâu sát, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.

Vai trò tham mưu của một số cơ quan, đơn vị trên một số lĩnh vực công tác chưa được thể hiện rõ nét, chưa thật sự chủ động tham mưu trong rà soát, đề xuất, hướng dẫn tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cơ sở. Công tác phối hợp triển khai nhiệm vụ ở một số cơ quan, đơn vị, có lúc, có việc còn chưa được thường xuyên, chặt chẽ.

Một số cán bộ, công chức phường còn ngại thay đổi, chậm đổi mới tư duy, làm việc theo “kinh nghiệm”, một bộ phận cán bộ, công chức chưa thật sự tích cực, chủ động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện kỹ năng và đổi mới phương pháp làm việc để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của mô hình chính quyền đô thị. Tổ chức bộ máy, biên chế của một số địa phương, cơ sở còn chưa được quan tâm kiện toàn, bố trí đầy đủ người và phương tiện cần thiết. 

Công chức, viên chức hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến tại bộ phận “một cửa” của Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm_Ảnh: Tư liệu

Tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới

Thành ủy Hà Nội xác định, tăng cường phát huy dân chủ ở cơ sở, nhằm thực hiện có hiệu quả mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của Đảng bộ và cả hệ thống chính trị; theo đó, trong thời gian tới cần tập trung lãnh đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa các quan điểm chỉ đạo của Trung ương, thành phố về việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, thực hiện Quy chế dân chủ trong các cơ quan nhà nước, thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại từng địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm thực chất và hiệu quả. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự thống nhất ý chí và hành động trong các cấp ủy, cơ quan, đơn vị để tiếp tục triển khai hiệu quả việc tổ chức thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội.

Thứ hai, đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc của các cấp ủy, bảo đảm đồng bộ với đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền. Tăng cường giáo dục đạo đức công vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức toàn thành phố. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là công bộc của nhân dân, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu tổ chức thí điểm chính quyền đô thị của Thủ đô Hà Nội.

Thứ ba, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, ủy quyền, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý chính quyền của thành phố. Huy động mọi nguồn lực đầu tư cho sự phát triển của thành phố, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, thủ tục hành chính, chuyển đổi số gắn với đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử, xây dựng thành phố thông minh để nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, nhằm xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, nâng cao hiệu quả trong công tác phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, tác nghiệp, bảo đảm đồng bộ, liên thông từ thành phố đến cơ sở, để từng bước mở rộng việc cung cấp các loại hình dịch vụ công trực tuyến và vận hành thông suốt hệ thống thông tin trong hoạt động điều hành, tác nghiệp của các cơ quan, đơn vị.

Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thường xuyên tự kiểm tra, giám sát của mỗi cấp ủy, mỗi cấp chính quyền và của cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị; nhất là hoạt động giám sát, tiếp công dân của HĐND thành phố, quận, thị xã.

Thứ năm, đổi mới việc thực hiện quyền giám sát khi không tổ chức HĐND phường. Việc thực hiện quyền làm chủ và giám sát của nhân dân khi không tổ chức HĐND phường được thực hiện thông qua hoạt động giám sát của HĐND thành phố, HĐND quận; giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hoặc cơ quan nhà nước khác, như thông qua kiểm tra, giám sát của Đảng; giám sát trực tiếp của nhân dân thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, thông qua báo chí, các kênh thông tin, truyền thông, mạng xã hội,... Vì vậy, tiếng nói của người dân ở cấp cơ sở của các đô thị vẫn được HĐND các cấp, cũng như cơ quan nhà nước lắng nghe, xem xét, giải quyết.

Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tạo điều để kiện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội của thành phố thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, đối thoại, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nhất là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Việc thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị là nhiệm vụ mới, khó, phức tạp. Tuy nhiên, với quyết tâm chính trị cao, sự hướng dẫn của các bộ, ban, ngành ở Trung ương, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, phát huy sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là việc đề cao phát huy dân chủ ở cơ sở trong từng nhiệm vụ tổ chức thí điểm chính quyền đô thị. Do vậy, thời gian qua, việc thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả tích cực, cơ bản bảo đảm các mục tiêu, mục đích, tiến độ đã đề ra. Việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở các địa phương tổ chức thí điểm chính quyền đô thị đạt kết quả tốt./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét