Thứ Năm, 21 tháng 9, 2023

Quân đội xây dựng thế trận bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng


Nền tảng tư tưởng của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định phương hướng chính trị, bản chất cách mạng của một Đảng chân chính. Bảo vệ nền tảng tư tưởng (NTTT) của Đảng là một tất yếu khách quan, một nhiệm vụ chính trị quan trọng của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới. Vì vậy, Quân đội cần tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng tiên phong, mũi nhọn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Quân đội chủ động, nhạy bén trong “cuộc chiến” bảo vệ chân lý, niềm tin vào Đảng
Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm NTTT, kim chỉ nam cho mọi hành động.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình huống khó khăn, phức tạp nào, Quân đội ta cũng luôn là trụ cột của Đảng, Nhà nước, chỗ dựa vững chắc của nhân dân. Đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng đã trở thành một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Quân đội trong cả thời bình và thời chiến. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, Quân đội luôn tiên phong, đi đầu trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ NTTT của Đảng; tiếp tục phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội và xã hội; vạch trần bản chất phản động, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, xuyên tạc NTTT của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, các cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ NTTT của Đảng. Thế trận đấu tranh tư tưởng, lý luận trong Quân đội ngày càng vững chắc.
Công tác giáo dục chính trị được đặt lên hàng đầu, không ngừng đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục NTTT của Đảng, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.
Nghiên cứu, nhận diện và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, xuyên tạc, phủ nhận NTTT của Đảng. Đã tập trung luận giải có cơ sở khoa học, khẳng định những giá trị bền vững, tính đúng đắn, khoa học, cách mạng và sức sống bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Ban Chỉ đạo, cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương đã quán triệt sâu sắc nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp đồng bộ, kịp thời, hiệu quả. Đã chủ động tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Quân đội luôn gương mẫu thực hiện nhiệm vụ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chủ động, nhạy bén, tích cực đi đầu trong bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch”.
Không ai đứng ngoài cuộc và không để “khoảng trống” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, nhất là biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, tội phạm công nghệ cao; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn cam go và lâu dài, phức tạp; nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đặt ra yêu cầu mới và cao hơn.
Để góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, giải pháp hàng đầu là phải làm cho mọi tổ chức, lực lượng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng hiện nay. Thấu hiểu sâu sắc đấu tranh tư tưởng, lý luận là một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị; bảo vệ NTTT của Đảng là bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Phải làm cho các cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, mọi cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ trách nhiệm, vinh dự của mình, phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, thực sự là lực lượng nòng cốt, đi đầu trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận cũng như trong bảo vệ NTTT, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Không một ai, không một tổ chức, lực lượng nào được bàng quan, vô cảm, đứng ngoài cuộc mà phải tham gia một cách chủ động, sáng tạo vào cuộc đấu tranh này.
Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Vì vậy, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trực tiếp là của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ này.
Bên cạnh lãnh đạo, chỉ đạo, học tập quán triệt Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị, cần coi trọng lãnh đạo thực hiện toàn diện các nội dung về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, áp dụng nhiều hình thức, biện pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện của từng cơ quan, đơn vị Quân đội.
Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong Quân đội; nâng cao trách nhiệm của cơ quan, bộ phận chuyên sâu giúp việc, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kịp thời, hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong Quân đội; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp chống đối, cơ hội, bất mãn, giữ vững sự ổn định chính trị trong Quân đội.
Để tiếp tục làm cho hệ tư tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo, thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống văn hóa, chính trị-tinh thần của xã hội và Quân đội, đòi hỏi phải huy động các tổ chức, lực lượng của Quân đội tham gia.
Qua đó, giáo dục, tôi luyện cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội trở thành lực lượng chính trị vững mạnh, hùng hậu, sẵn sàng đảm đương các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp hơn. Bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ, đấu tranh tư tưởng, lý luận phức tạp, lâu dài, nên cần phải quan tâm xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách, nòng cốt, thiện chiến, đặc biệt tinh nhuệ về chính trị.
Theo đó, cần coi trọng xây dựng, phát huy vai trò của các nhà khoa học, nhà giáo, chuyên gia, các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường; các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo... trong Quân đội đối với nhiệm vụ tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Thiết lập thế trận chủ động, rộng khắp, liên hoàn, vững chắc trong Quân đội. Xác lập tổng thể các biện pháp, nguyên tắc, bố trí, triển khai và tổ chức các lực lượng cụ thể, từ nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền cơ bản, rộng khắp đến trực tiếp tác chiến, đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm trên các phương tiện thông tin, truyền thông truyền thống và hiện đại của Quân đội và quốc gia, trên internet, mạng xã hội; bao phủ toàn bộ nội bộ Quân đội, không ngừng mở rộng trên phạm vi quốc gia và quốc tế; chủ động gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, "chống" phải quyết liệt, hiệu quả; lấy cái đẹp dẹp cái xấu; không bỏ trống trận địa tư tưởng, bảo đảm ở đâu có bộ đội là ở đó có tuyên truyền giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; mỗi đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ là một tấm gương sáng về truyền bá NTTT của Đảng.
Kết hợp chặt chẽ các biện pháp chính trị, tư tưởng và tổ chức đấu tranh phòng ngừa, bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững và tăng cường trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Trong thời đại công nghệ 4.0, cần tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện, ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) trong Quân đội, tận dụng truyền thông quốc gia, phục vụ có hiệu quả cho đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Không ngừng hoàn thiện các cơ chế, chính sách xây dựng, bồi dưỡng, sử dụng, bảo vệ con người và lực lượng Quân đội tham gia bảo vệ NTTT của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bổ sung hoàn thiện các khung khổ pháp lý, quy định về khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội, tài liệu, quản lý, kiểm soát, kiểm duyệt các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo, tuyên truyền, in ấn, xuất bản, phát hành trong Quân đội, bảo đảm thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ được giao.
Không ngừng đầu tư, đổi mới trang thiết bị công nghệ thông tin, truyền thông, sử dụng AI trong tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu tác chiến cả tập trung và rộng khắp trên không gian mạng, bảo đảm ngành tuyên huấn Quân đội là một binh chủng tác chiến tư tưởng hiện đại.
Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ nhằm góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là yêu cầu đòi hỏi khách quan, cấp bách, là trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong Quân đội. Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cũng luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm chính trị, là lực lượng tin cậy, tiên phong bảo vệ vững chắc NTTT của Đảng, góp phần lan tỏa phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.
ST
Có thể là hình ảnh về 10 người

 ĐỜI CHỈ MỘT LẦN

*****

Rồi có một ngày, Anh sẽ phải Già đi

Chim ngừng hót, và Bugi hết lửa

Chẳng ham vui, Cơm ăn ngày hai bữa

Pháo xác xơ, phơi bụng ngửa ven đồi


Rồi một ngày, ta có lỡ chạm môi

Nhớ khẽ thôi, vì Lợi Anh yếu lắm

Khi Già rồi, Anh cũng hơi kém Tắm

Chẳng thơm tho như lúc tuổi đang xuân


Và cả Em ngày đó cũng trái ngang

Mướp buông lơi, trên cái giàn ngấn mỡ

Mùi Trầu không, cay nồng trong hơi thở

Chính tên mình, cũng lúc nhớ lúc quên


Phấn son vào, Em cũng chẳng đẹp thêm

Chỉ làm đám cháu con ta khiếp đảm

Rãnh chân chim, sẽ chồng lên vệt nám

Khi giận hờn, nói nhảm mãi linh tinh


Rockét - Ngậm sâm, Anh vẫn cứ hụt hơi

Em có Bảo Xuân, Đám ruộng thời khô khốc

Ôi còn đâu, cuộc viễn chinh Quý Tộc

Mới nắm tay, đã muốn thở dốc kết bài


Ơi cái tuổi Già, chẳng bỏ sót một ai

Nên hãy vui đi, khi WIFI còn khỏe

Trời cho ta, chỉ một cuộc đời thôi nhé

Đừng ngồi buồn, nhìn tuổi trẻ bước qua.


(Thơ chép - Nguồn st - Ảnh nhặt)


😘😘 Đấy, nhanh già lắm , làm gì thì tranh thủ đi các chế  không lại hao phí thanh xuân !


ĐỌC CÙNG BẠN: "CHỈ SỢ LÒNG DÂN KHÔNG YÊN"

         Trong di sản Hồ Chí Minh có những từ “sợ”, “lòng dạ”, “lòng dân”, “lương tâm”, “chính tâm”, “niềm tin”. Đáng chú ý nhất khi Người nói “chỉ sợ lòng dân không yên”.

Có mấy trường hợp điển hình Bác nói đến những cụm từ trên.
Thứ nhất, chuyện kể rằng sau Cách mạng Tháng Tám thành công, có cán bộ cao cấp hỏi Bác: “Thưa Bác, cách mạng thành công rồi, chính quyền về tay nhân dân, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Bác có điều gì sợ không ạ?” Bác trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi trả lời: “Bác vẫn còn một điều sợ, đó là sợ các chú làm bậy, ảnh hưởng đến uy tín của Chính phủ, dẫn đến mất lòng tin của nhân dân”.

Đối chiếu câu chuyện ở trên với những bài viết, bài nói của Bác ngay sau Cách mạng Tháng thành công nhận thấy rất logic, rất hợp lý. Đúng nửa tháng sau Tuyên ngôn độc lập, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, Người đã nói đến việc đề phòng hủ hóa, cán bộ lên mặt làm quan cách mạng, độc hành độc đoán, hoặc dĩ công dinh tư (lấy của chung làm của riêng), v.v.. Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lung lay. Trong bài “Sao cho được lòng dân” Người viết: “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”. Ngày 17-10-1945, trong bài “Gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” đăng báo Cứu quốc, sau khi nêu thành tích nhiều người làm theo đúng chương trình của Chính phủ và rất được lòng dân, Bác chỉ ra sáu lầm lỗi rất nặng nề như: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Những người mắc lỗi lầm đó tưởng mình là thần thánh, coi khinh dân gian, huênh hoang, khoác lác, kiêu ngạo, cử chỉ vác mặt “quan cách mạng”, làm mất lòng tin cậy của dân, hại đến uy tín của Chính phủ.
 
Thứ hai, tháng 6-1949, trong tác phẩm Cần Kiệm Liêm Chính, khi bàn về chữ Liêm, Bác viết “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Thứ ba, tháng 9-1950, trên đường đi chiến dịch Biên giới, ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong, Bác làm bài thơ có 4 câu: “Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/Quyết chí ắt làm nên”. Thứ tư, tại kỳ họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1966, Bác nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng/ Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Thứ năm, tháng 6-1968, khi nêu ý kiến về làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”, Bác nói: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.
 
Một lần duy nhất khi trả lời một nhà báo nước ngoài của báo Frères D’armes, khi được hỏi: “Chủ tịch sợ gì nhất?”, Bác trả lời: “Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì”. Như vậy theo Bác, một người yêu nước, người cách mạng thì không sợ gì cả, chỉ sợ lòng dân không yên, vì lòng dân không yên, mất lòng dân là mất tất cả.
 
Xâu chuỗi những bài viết, bài nói của Bác liên quan tới những cụm từ trên cần nhận thức thấu đáo rằng Bác cho ta thấy sức mạnh của nhân dân gồm hệ thống một nguồn lực như tài dân, sức dân, của dân, quyền hành, lực lượng; khôn khéo, trí tuệ, thông minh, sáng tạo, hăng hái, anh hùng, dũng cảm, cần cù. Đó là sức mạnh chúng ta có thể nhìn thấy. Còn một nguồn “sức mạnh mềm” tiềm ẩn bên trong có ý nghĩa nền tảng, động lực, tiền đề của những sức mạnh trên, đó là lòng tốt, lòng trung thành của nhân dân. Lòng dân là sức mạnh vô biên, vô địch, có ý nghĩa quyết định thành bại của cách mạng. Bác viết “dân rất tốt”. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Cán bộ, đảng viên phải ghi tạc vào đầu cái chân lý ấy. Nếu cán bộ, đảng viên có tâm trong sáng, chính trực, biết nuôi dưỡng, vun bồi, khơi dậy lòng tốt của dân - tuyệt đối không được lạm dụng, lợi dụng lòng tốt đó - thì dân sẽ ủng hộ, giúp đỡ ta. Nói với Công an nhân dân, Bác chỉ rõ ta được lòng dân thì không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì không thể làm tốt công tác. Nói về Chính phủ lo phấn đấu cho lợi ích của nhân dân nên nhân dân hăng hái, hoàn toàn tin tưởng và nhiệt liệt ủng hộ Chính phủ, Bác kết luận: “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được; trái ý dân thì chạy ngược chạy xuôi”.
 
Khi Bác nói “nước lấy dân làm gốc”, “dân là gốc” cần được hiểu lõi cốt của gốc là lòng dân. Việc gì đúng với nguyện vọng và hợp lòng dân thì được quần chúng ủng hộ và hăng hái đấu tranh. Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thành công hoàn toàn.
 
Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay khi bước vào sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm đầu tiên là trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2021), nghị quyết các Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII nhấn mạnh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ.
 
Trong thời gian gần đây, Tổng Bí thư Đảng ta trăn trở nhiều về hai chữ “lòng dân” bởi nó liên quan tới vận mệnh của Đảng, của Tổ quốc, dân tộc và chế độ. Ông viết: “Cần khẳng định, ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả” (Nguyễn Phú Trọng: Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2019, tr.80). Từ đó, ông nhấn mạnh: “Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm” (Nguyễn Phú Trọng: Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, Sđd, tr.116-117). Gần đây, khi bàn về một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, người đứng đầu Đảng ta suy nghĩ nhiều về các giải pháp thúc đẩy công cuộc đổi mới. Cùng với việc chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, ông nhấn mạnh hai nhân tố có ý nghĩa quyết định. Đó là cùng với việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển.
 
Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, Đại hội XIII rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó bài học thứ hai có tinh thần, nội dung cốt lõi là lòng dân, sức dân, niềm tin của nhân dân. Đảng ta khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.
 
Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh khi Người viết Di chúc được coi như cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh theo tinh thần đổi mới (quốc bảo). Theo Bác, xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn là một nhiệm vụ hết sức to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này, cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.
 
Tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cho thấy chỉ có dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân, làm hợp lòng dân thì mới đi tới thắng lợi hoàn toàn./.
Ảnh: Bác Hồ về thăm lại đồng bào Pắc Bó, Cao Bằng năm 1961.
Môi trường ST.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG “THỰC CHẤT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ CHỦ NGHĨA DÂN TỘC”!

     Khi việc công khai phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dần đuối lý và tỏ ra kém hiệu quả, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại sử dụng một chiêu trò khác để chống phá cách mạng Việt Nam, đó là: dựa trên một số sự kiện lịch sử để đưa ra những xuyên tạc nhằm chứng minh rằng, “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”. Mục đích sâu xa của chúng là làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đây là luận điệu phi lý, cần kiên quyết bác bỏ.

Từ sự thừa nhận không thể phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta bằng cách điên cuồng phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh khi hệ thống tư tưởng, lý luận này đang ngày càng đúng với những diễn biến của thời đại, các thế lực chống phá lại dở nhiều chiêu trò khác. Một trong những thủ đoạn gần đây mà chúng thường sử dụng là đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; chúng dựa vào những sự kiện lịch sử rồi dùng thủ thuật quen thuộc là “đánh lộn sòng đen trắng” để hướng lái dư luận, rằng: tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc. Chẳng hạn như: vin vào sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Liên xô để gặp gỡ I.V. Stalin - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên xô và cuộc nói chuyện giữa hai vị lãnh tụ vĩ đại này vào cuối năm 1952 để đưa ra luận điệu rằng: “I.V. Stalin cáo buộc Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa dân tộc”; trắng trợn hơn, họ dựa vào sự kiện Quốc tế III chỉ thị đồng chí Nguyễn Ái Quốc về tại Cửu Long, Trung Quốc để hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng kết quả của Hội nghị là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) để rêu rao rằng: “Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930) đã chứng minh rằng tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc”. Tinh vi hơn, họ còn “giả vờ” công nhận công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam để hạ thấp, kích động tư tưởng bài trừ chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng việc Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động là không phù hợp, bởi vì đây là hai hệ tư tưởng hoàn toàn đối lập nhau, v.v. Tuy nhiên, thực tế lịch sử lại chứng minh điều ngược lại, trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Và tư tưởng của Người “là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”1; hoàn toàn không thể, không phải là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc như luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống phá.

Thứ nhất, động lực thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa yêu nước chứ không phải là chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước) là cảm xúc, tình cảm, tinh thần yêu thương, tích cực đối với quê hương, đất nước. Trong khi đó, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”2. Sự khác biệt cơ bản giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc thể hiện ở chỗ: người yêu nước tự hào về đất nước của mình vì những gì nó xứng đáng, còn người theo chủ nghĩa dân tộc tự hào về đất nước của mình bất kể thứ gì (kể cả việc gây tội ác với dân tộc khác), tức là sự tự hào một cách mù quáng và cực đoan. Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”3. Từ lòng yêu nước, thương nòi, Người đã yêu thương, đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, những lớp người dân lao động lầm than ở các nước chính quốc; đó là động lực để Người tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hiện thực hóa lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, nhân loại. Trả lời phóng viên của Tạp chí Thanh Niên (Canada, tháng 12/1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nói rằng lúc còn thanh niên, tôi theo “chủ nghĩa dân tộc”, có lẽ không đúng. Vì hồi đó tôi chỉ biết thương đồng bào tôi, chứ chưa biết “chủ nghĩa” gì cả. Khi đi sang châu Phi, tôi thấy nhân dân thuộc địa ở đây cũng cực khổ, cũng bị áp bức, bóc lột như nhân dân Đông Dương. Khi sang các nước châu Âu, tôi thấy ở đó cũng có một số người rất giàu, “ngồi mát ăn bát vàng”, và lớp người nhân dân lao động rất nghèo khổ. Tôi suy nghĩ nhiều lắm. Trong lúc đó thì Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thành công ở Nga. Lênin tổ chức Quốc tế Cộng sản. Rồi Lênin phát biểu Luận cương cách mạng thuộc địa. Những việc đó làm cho tôi thấy rằng: Nhân dân lao động Đông Dương, nhân dân các thuộc địa và nhân dân lao động muốn tự giải phóng thì phải đoàn kết lại và làm cách mạng. Vì vậy, tôi trở nên người theo Chủ nghĩa Mác - Lênin”4. Như vậy, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một chặng đường dài, vượt qua những chông gai thử thách, Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng rõ ràng, động lực chính là lòng yêu nước, thương dân, chứ không phải vì chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan như các thế lực phản động đang rêu rao.

Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân trong tiếp cận, giải quyết vấn đề dân tộc; là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, không chấp nhận chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa Sô vanh trong phong trào Cộng sản quốc tế. Xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc luôn gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vấn đề dân tộc được Người tiếp cận và giải quyết như động lực để thúc đẩy sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và là tiền đề cho cách mạng vô sản trên toàn thế giới; lý tưởng giải phóng dân tộc không thể tách rời với mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại. Trong thực tiễn hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh cũng luôn đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, Sô vanh nước lớn. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mátxcơva từ ngày 14 đến 16/11/1957, chính Hồ Chí Minh là người kiên quyết nhất trong đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”5. Chính vì vậy, cho rằng “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một luận điệu “đánh lộn sòng đen trắng” cố tình lấp liếm, bỏ qua lập trường, quan điểm giai cấp công nhân của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam, phủ nhận vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng của Người.

Thứ ba, Hồ Chí Minh là một trong những người tiên phong bảo vệ và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc trong mối quan hệ với nhân loại, vì mục tiêu chung là công bằng, tiến bộ và hòa bình. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa quan điểm về vai trò của quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, và khẩu hiệu hành động: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”, Hồ Chí Minh thấy rõ sự cần thiết và con đường tập hợp, đoàn kết các lực lượng của từng dân tộc và trên thế giới để sự nghiệp giải phóng dân tộc giành thắng lợi hoàn toàn, Người kêu gọi: “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại!”. Đồng thời, Người khẳng định: “Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”6. Đây không chỉ là một cống hiến rất quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận Mác - Lênin, mà còn cho thấy, Người luôn giải quyết hài hòa, đặt quyền lợi của dân tộc trong mối liên hệ với nhân loại, với giai cấp, với các dân tộc bị áp bức vì mục tiêu chung là xây dựng thế giới hòa bình, tiến bộ, phát triển. Tư tưởng đó đã vượt lên trên “chủ nghĩa dân tộc”, nó hoàn toàn trái ngược với mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, với mưu đồ chính trị đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc.

Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, “mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”7. Đó là tất yếu khách quan, sự lựa chọn của lịch sử mà không luận điệu, thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Luận điệu “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là vô căn cứ, thủ đoạn xảo trá, thấp hèn, dù có tô vẽ thế nào cũng không thể che mờ chân lý./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: XÂY DỰNG VĂN HÓA TIẾT KIỆM!

         Một số người vin vào xu thế phát triển của xã hội để tiêu pha quá trớn, hoang phí của công, khiến việc thực hành tiết kiệm có phần bị mai một, xem nhẹ. Xây dựng và bồi đắp văn hóa tiết kiệm là việc thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nhằm chống lại các biểu hiện, hành vi tiêu cực, đặc biệt là hiện tượng lãng phí.

Cách đây hơn một năm, vào ngày 25-4-2022, tại phiên họp thứ mười của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, khi thảo luận báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2021, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải đã chỉ rõ, trong 7 lĩnh vực quan trọng theo quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí vẫn có tình trạng lãng phí, chưa tiết kiệm, còn vi phạm, sai sót ở nhiều mức độ khác nhau; đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý ngân sách nhà nước, đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm công, quản lý đất đai, tài sản công, tài nguyên và khoáng sản.
Thực tế cho thấy, hiện tượng lãng phí xảy ra ở rất nhiều nơi. Có sự lãng phí nhìn thấy được, nhưng cũng có những lãng phí khó nhận biết, tiềm ẩn nguy cơ gây hại nghiêm trọng cho đời sống xã hội. Chính sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng lãng phí, xa hoa đang diễn ra khá phổ biến. Nó hiện diện ở trong mỗi người, mỗi gia đình và thậm chí có lúc thành căn bệnh khó chữa trong các cơ quan, đơn vị, địa phương.
Trong lĩnh vực quản lý ngân sách, tài sản công, tình trạng lãng phí xảy ra dưới nhiều góc độ. Đó là chi tiếp khách tràn lan đến độ nhiều cơ quan, địa phương phải khất nợ chủ nhà hàng; tình trạng phá trụ sở cũ vẫn còn sử dụng tốt để xây trụ sở mới diễn ra ở một số nơi; tình trạng dự án treo, quy hoạch treo gây bức xúc trong dư luận; chi nhiều tiền để thực hiện đề tài khoa học, đề tài nghiên cứu không có tính thực tiễn, hiệu quả không cao… Tình trạng sử dụng nguồn lực nhà nước (vật tư, phương tiện, nhân lực, tiền, tài nguyên, khoáng sản...) lãng phí giống như những dòng suối nhỏ bị ô nhiễm len lỏi và làm ảnh hưởng tới công tác quản lý từ nhiều năm qua nhưng đến nay chưa có lời giải thấu đáo.
Tiết kiệm là đức tính cần có của mỗi người. Tiết kiệm trong ăn mặc, chi tiêu thường nhật... không chỉ để ứng phó thiên tai, địch họa mà còn phòng lúc già yếu, ốm đau, bệnh tật. Ý thức tiết kiệm của người Việt hình thành từ rất sớm. Chẳng thế mà việc thực hành tiết kiệm của người Việt đã được đúc kết thành ca dao, tục ngữ dễ nhớ, dễ hiểu và truyền miệng từ đời này sang đời khác, như: “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, “Ít chắt chiu hơn nhiều phung phí”, “Tiết kiệm sẵn có đồng tiền/Phòng khi túng lỡ không phiền lụy ai”...
Kể từ khi lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến nay, văn hóa tiết kiệm trong đời sống xã hội nước ta có những giai đoạn đã phát triển đến đỉnh cao, lan tỏa, trở thành ý thức thường trực trong mỗi người. Tinh thần tiết kiệm ấy thể hiện rõ nhất ở thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, thời kỳ chống đế quốc Mỹ và trong những năm tháng bị bao vây cấm vận. Vào những thời điểm cam go đó, toàn dân tiết kiệm để chi viện cho mặt trận, cho tiền tuyến. Các phong trào tiết kiệm: Hũ gạo nuôi quân; một người làm việc bằng hai; lấn sáng, lấn chiều trong sản xuất… được phát động sôi nổi ở khắp các nhà máy, xí nghiệp, công sở và trong mọi tầng lớp nhân dân.
Khi nhắc đến ý thức và văn hóa tiết kiệm, người Việt Nam nào cũng nhớ đến tấm gương của Bác Hồ kính yêu. Những bài học về tiết kiệm mà Người tự mình thực hành vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tiết kiệm là “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền to bằng cái nống”, “gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu không tiêu”. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực. Như vậy, tiết kiệm là sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực để gia tăng sức mạnh toàn diện của đất nước.
Đặc biệt, với tầm nhìn xa, tính khái quát cao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi tiết kiệm là một trong những phẩm chất làm nên đạo đức của mỗi người, trong đó nổi bật là đạo đức của người cộng sản. Người dạy: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”.
Trong nhiều nghị quyết của Đảng, vấn đề tiết kiệm và thực hành tiết kiệm đã được nêu ra và có những chỉ đạo quyết liệt. Nổi bật là Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 103/2007/NĐ-CP “Quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”. Năm 2013, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ra đời và đã được sửa đổi vào các năm 2017, 2018. Bên cạnh đó, Nghị định số 84/2014/NĐ-CP “Quy định chi tiết một số điều của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí” được Chính phủ ban hành vào năm 2014 đã thể hiện rất rõ quan điểm về tiết kiệm của Đảng, Nhà nước.
Để phong trào tiết kiệm lan rộng, thấm sâu, trở thành thói quen thường trực trong mỗi người, trước tiên, mỗi cán bộ, đảng viên và công chức trong bộ máy công quyền cần nêu gương thực hành tiết kiệm và chống lãng phí tại cơ quan, đơn vị mình. Trong đó, cốt lõi là phải luôn đặt lợi ích của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Từ đó, nghiên cứu thấu đáo các vấn đề, nhiệm vụ để có những quyết định, hành động tối ưu. Sử dụng hiệu quả nguồn lực, hướng đến lợi ích cho dân, cho nước chính là một cách thực hành tiết kiệm đúng đắn nhất./.
Yêu nước ST.

 Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong (Sư đoàn 308/ Quân đoàn 1) chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bác Hồ với Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận và các đoàn thể từ “Thủ đô gió ngàn” Việt Bắc trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội do chính quyền Pháp bàn giao theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) về đình chiến ở Đông Dương. Sáng ngày 19 tháng 9 năm 1954, sau khi tham quan khu di tích Đền Hùng, Bác Hồ đã gặp mặt, căn dặn và giao nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong về tiếp quản Thủ đô tại Đền Giếng trong khu di tích Đền Hùng (thuộc núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ); Bác giảng giải nhiều điều và Người căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.Làm theo lời Bác, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, cách mạng Việt Nam đã vượt qua bảo thử thách, cam go, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, ghi những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ngày nay, đất nước ta đang trên đà đổi mới và không ngừng phát triển; tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Khắc ghi lời Bác dạy năm xưa, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, trải qua hơn 78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh, lập nhiều chiến công hiển hách, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay. Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân làm theo lời Bác dạy với quyết tâm và trách nhiệm chính trị cao, với tinh thần “quyết chiến, quyết thắng”, ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... như lời Bác căn dặn năm xưa.

 BỤC GIẢNG DƯỚI HẦM SÂU EM CŨNG LÀ CHIẾN SĨ


Chiến tranh đã qua đi nhưng hình ảnh những người thầy, cô giáo với ý chí, nghị lực và sự quyết tâm vượt qua gian khó trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vẫn còn in đậm mãi theo dòng chảy lịch sử. Họ đã không ngại đạn bom của quân thù, quyết truyền ngọn lửa đam mê, lòng nhiệt huyết và tình yêu nước chân chính cho bao thế hệ học sinh. Với tay súng, tay bút họ sẵn sàng hy sinh xương máu và tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp trồng người.


Những ký ức vàng son của một giai đoạn lịch sử hào hùng, các thế hệ giáo viên ngày ấy đã góp phần viết lên bản hùng ca cho sự nghiệp giáo dục cách mạng. Và thế hệ trẻ hôm nay cần hiểu rằng những giá trị của giáo dục trong thời chiến vẫn luôn tỏa sáng đến hôm nay và mãi mãi mai sau.





 LỜI BÁC CĂN DẶN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ


"Tôi không sợ bọn đế quốc, bọn phản động. Đồng bào sẽ đ.ánh thắng chúng. 


Tôi chỉ sợ những hành vi xấu xa của cán bộ, làm cho đồng bào mất lòng tin với chế độ, Nhà nước và Đảng. Có thể nói, kẻ phá hoại sự nghiệp cách mạng đáng sợ nhất là những người ấy, vì trước mắt đồng bào, họ là Đảng và Nhà nước. 


K.ẻ th.ù hàng ngày nói xấu chúng ta, đồng bào ta không mắc lừa. Người của ta làm hại cách mạng là nguy hiểm nhất. Đồng bào sẽ xa lánh, không tin chúng ta. Đưa những người yếu kém về năng lực, nhất là kém cỏi về phẩm chất, nhân cách vào bất kỳ nhiệm vụ nào cũng nguy hại“.


- Lời Bác Hồ căn dặn cán bộ, Báo Nhân Dân ngày 19/8/1967; in lại trong cuốn "Nhân Dân, Tuyển tập các tác phẩm đoạt giải báo chí Hội nhà báo và giải báo chí quốc gia"./.

 QUÂN ĐỘI XÂY DỰNG THẾ TRẬN BẢO VỆ VỮNG CHẮC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG


Nền tảng tư tưởng của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định phương hướng chính trị, bản chất cách mạng của một Đảng chân chính. Bảo vệ nền tảng tư tưởng (NTTT) của Đảng là một tất yếu khách quan, một nhiệm vụ chính trị quan trọng của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới. Vì vậy, Quân đội cần tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng tiên phong, mũi nhọn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Quân đội chủ động, nhạy bén trong “cuộc chiến” bảo vệ chân lý, niềm tin vào Đảng


Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm NTTT, kim chỉ nam cho mọi hành động.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình huống khó khăn, phức tạp nào, Quân đội ta cũng luôn là trụ cột của Đảng, Nhà nước, chỗ dựa vững chắc của nhân dân. Đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng đã trở thành một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Quân đội trong cả thời bình và thời chiến. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, Quân đội luôn tiên phong, đi đầu trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ NTTT của Đảng; tiếp tục phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội và xã hội; vạch trần bản chất phản động, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, xuyên tạc NTTT của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, các cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ NTTT của Đảng. Thế trận đấu tranh tư tưởng, lý luận trong Quân đội ngày càng vững chắc.

Công tác giáo dục chính trị được đặt lên hàng đầu, không ngừng đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục NTTT của Đảng, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.

Nghiên cứu, nhận diện và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, xuyên tạc, phủ nhận NTTT của Đảng. Đã tập trung luận giải có cơ sở khoa học, khẳng định những giá trị bền vững, tính đúng đắn, khoa học, cách mạng và sức sống bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Ban Chỉ đạo, cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương đã quán triệt sâu sắc nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp đồng bộ, kịp thời, hiệu quả. Đã chủ động tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Quân đội luôn gương mẫu thực hiện nhiệm vụ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chủ động, nhạy bén, tích cực đi đầu trong bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch”.


Không ai đứng ngoài cuộc và không để “khoảng trống” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng


Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, nhất là biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, tội phạm công nghệ cao; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn cam go và lâu dài, phức tạp; nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đặt ra yêu cầu mới và cao hơn.

Để góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, giải pháp hàng đầu là phải làm cho mọi tổ chức, lực lượng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng hiện nay. Thấu hiểu sâu sắc đấu tranh tư tưởng, lý luận là một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị; bảo vệ NTTT của Đảng là bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Phải làm cho các cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, mọi cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ trách nhiệm, vinh dự của mình, phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, thực sự là lực lượng nòng cốt, đi đầu trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận cũng như trong bảo vệ NTTT, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Không một ai, không một tổ chức, lực lượng nào được bàng quan, vô cảm, đứng ngoài cuộc mà phải tham gia một cách chủ động, sáng tạo vào cuộc đấu tranh này.

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Vì vậy, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trực tiếp là của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ này.

Bên cạnh lãnh đạo, chỉ đạo, học tập quán triệt Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị, cần coi trọng lãnh đạo thực hiện toàn diện các nội dung về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, áp dụng nhiều hình thức, biện pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện của từng cơ quan, đơn vị Quân đội.

Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong Quân đội; nâng cao trách nhiệm của cơ quan, bộ phận chuyên sâu giúp việc, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kịp thời, hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong Quân đội; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp chống đối, cơ hội, bất mãn, giữ vững sự ổn định chính trị trong Quân đội.

Để tiếp tục làm cho hệ tư tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo, thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống văn hóa, chính trị-tinh thần của xã hội và Quân đội, đòi hỏi phải huy động các tổ chức, lực lượng của Quân đội tham gia.

Qua đó, giáo dục, tôi luyện cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội trở thành lực lượng chính trị vững mạnh, hùng hậu, sẵn sàng đảm đương các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp hơn. Bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ, đấu tranh tư tưởng, lý luận phức tạp, lâu dài, nên cần phải quan tâm xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách, nòng cốt, thiện chiến, đặc biệt tinh nhuệ về chính trị.

Theo đó, cần coi trọng xây dựng, phát huy vai trò của các nhà khoa học, nhà giáo, chuyên gia, các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường; các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo... trong Quân đội đối với nhiệm vụ tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thiết lập thế trận chủ động, rộng khắp, liên hoàn, vững chắc trong Quân đội. Xác lập tổng thể các biện pháp, nguyên tắc, bố trí, triển khai và tổ chức các lực lượng cụ thể, từ nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền cơ bản, rộng khắp đến trực tiếp tác chiến, đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm trên các phương tiện thông tin, truyền thông truyền thống và hiện đại của Quân đội và quốc gia, trên internet, mạng xã hội; bao phủ toàn bộ nội bộ Quân đội, không ngừng mở rộng trên phạm vi quốc gia và quốc tế; chủ động gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, "chống" phải quyết liệt, hiệu quả; lấy cái đẹp dẹp cái xấu; không bỏ trống trận địa tư tưởng, bảo đảm ở đâu có bộ đội là ở đó có tuyên truyền giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; mỗi đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ là một tấm gương sáng về truyền bá NTTT của Đảng.

Kết hợp chặt chẽ các biện pháp chính trị, tư tưởng và tổ chức đấu tranh phòng ngừa, bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững và tăng cường trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Trong thời đại công nghệ 4.0, cần tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện, ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) trong Quân đội, tận dụng truyền thông quốc gia, phục vụ có hiệu quả cho đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Không ngừng hoàn thiện các cơ chế, chính sách xây dựng, bồi dưỡng, sử dụng, bảo vệ con người và lực lượng Quân đội tham gia bảo vệ NTTT của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bổ sung hoàn thiện các khung khổ pháp lý, quy định về khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội, tài liệu, quản lý, kiểm soát, kiểm duyệt các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo, tuyên truyền, in ấn, xuất bản, phát hành trong Quân đội, bảo đảm thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ được giao.

Không ngừng đầu tư, đổi mới trang thiết bị công nghệ thông tin, truyền thông, sử dụng AI trong tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu tác chiến cả tập trung và rộng khắp trên không gian mạng, bảo đảm ngành tuyên huấn Quân đội là một binh chủng tác chiến tư tưởng hiện đại. 

Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ nhằm góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là yêu cầu đòi hỏi khách quan, cấp bách, là trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong Quân đội. Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cũng luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm chính trị, là lực lượng tin cậy, tiên phong bảo vệ vững chắc NTTT của Đảng, góp phần lan tỏa phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.



 NÊU GƯƠNG TỪ TRONG NHÀ ĐẾN CƠ QUAN


Vấn đề nêu gương vốn đã được nói đến rất nhiều lần, trong các văn kiện của Đảng, các lời dạy của Bác Hồ, các phát biểu của các đồng chí lãnh đạo… Cán bộ, đảng viên cũng nhiều người nhận thấy và khẳng định vai trò quan trọng của tính nêu gương. Nhưng có lẽ ai cũng thấy đây là việc không hề dễ dàng.


Trong tập sách Tấm gương Bác, ngọc quý của mọi nhà (Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2018), TS. Nguyễn Văn Khoan nêu một trường hợp rất đáng suy nghĩ. Trong một lần thi kể chuyện về Bác Hồ, một cháu bé nêu chuyện về đôi tất rách gót của Bác, do Bác tự vá lại để đi… khiến cả hội trường cảm động. Một cựu chiến binh quen biết gia đình cháu đã hỏi: “Sao bố cháu không kể thay cháu chuyện này?”. Ban đầu, ít người hiểu được ý tứ sâu xa của câu hỏi. Sau đó mới biết rằng, bố mẹ cháu bé kia là cán bộ cơ quan nhà nước, nhưng ăn tiêu hoang phí quá đồng lương họ nhận được của nhà nước. Điều đó khiến người khác nghĩ ngợi đến việc liệu họ có buôn lậu, tham nhũng, nhận hối lộ hay tìm cách trục lợi bất chính khác không. Như vậy, câu chuyện cháu bé kể tuy hay nhưng với một số người, chuyện trong chính gia đình cháu thì lại không hay.


Câu chuyện cho ta thấy, việc nêu gương của người lớn, của cán bộ, đảng viên, của các vị lãnh đạo, trước hết phải thực hiện ngay gia đình mình, ngay trong cơ quan, đơn vị của mình. Người càng gương mẫu thì càng có uy tín; người càng lớn tuổi hoặc có vị trí càng cao thì càng phải gương mẫu.


Người làm cha mẹ hướng dẫn, dạy dỗ, động viên con cái phải trung thực, nói điều hay lẽ phải, giữ lời hứa nhưng liệu bản thân thường xuyên gian dối với người khác, với tổ chức, không cân nhắc mà nói những lời gây tổn thương cho người khác hoặc không giữ lời hứa với đồng nghiệp, với nhân dân; dạy con phải biết tiết kiệm, phải tôn trọng của cải, tài sản của mình và người khác nhưng phải chăng lại phung phí khi xài của công, sống xa hoa so với thu nhập từ công việc, tìm cách trục lợi từ chức vụ, quyền hạn của mình; dạy con biết tôn trọng người già, yêu quý trẻ nhỏ, người khuyết tật, biết thương người và quan tâm đến người khác nhưng có khi nào lại sẵn sàng chà đạp người nào có khả năng gây bất lợi cho lợi ích của bản thân (kể cả khi lợi ích đó sai trái), thượng đội hạ đạp, vô cảm hoặc chỉ thể hiện lòng nhân ái một cách hình thức; dạy con phải biết chăm chỉ, siêng năng, không ngừng học tập, nâng cao trình độ nhưng phải chăng bản thân lại tránh nặng tìm nhẹ, việc khó thì đổ cho người khác, việc có lợi thì tranh lấy, khuyết điểm thì né tránh, công lao thì vơ vào, lười học tập, nhất là học lý luận chính trị; dạy con phải biết sống thực chất, trong sáng, nhưng có khi nào bản thân chạy bằng cấp, chạy chức vụ, chạy thành tích, trong suy nghĩ và hành động thực dụng và vụ lợi.


Hay trong cơ quan, đơn vị thì yêu cầu cấp dưới, đề nghị người khác phải tuân thủ nguyên tắc, quy định, nội quy nhưng liệu bản thân có khi nào độc đoán, thiếu dân chủ, hễ có thể lách được quy định thì sẵn sàng không tuân thủ, giám sát người khác thực hiện yêu cầu nhưng bản thân thì tìm cách che đậy; đề nghị mọi người luôn nỗ lực, sáng tạo, đổi mới để nâng cao hiệu quả, năng suất làm việc nhưng có khi nào bản thân chỉ tỏ ra cố gắng, nghĩ và làm theo lối mòn, không dám đổi mới sợ không làm được hoặc sợ người khác vượt trội; đề nghị người khác phải thẳng thắn, trung thực trong tự phê bình và phê bình, có trách nhiệm với đơn vị, với tổ chức đảng nhưng phải chăng bản thân hay quanh co, ưu điểm thì nói rõ nhưng hạn chế thì né tránh, góp ý cho người khác thì chỉ nói mặt tốt với người mình thích, chỉ nói mặt nhược của người mình ghét; đề nghị quan tâm, tạo điều kiện cho cán bộ trẻ phấn đấu, chăm lo quyền lợi của mọi người trong đơn vị nhưng liệu bản thân lại sợ “măng lớn nhanh hơn tre”, lấy lợi ích làm chiêu bài để lôi kéo, tạo bè cánh; hô hào, đề nghị mọi người phải học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phải sống giản dị, trong sáng nhưng chắc gì bản thân đã thực sự học Bác, đã thể hiện sự chan hòa, khiêm tốn, lành mạnh…


Những điều chưa nêu gương đó đều là những hạn chế, khuyết điểm, thậm chí là biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, tư tưởng chính trị, vốn đã được nêu trong các văn kiện của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII về xây dựng Đảng. Chính vì sự thiếu nêu gương, thiếu tu dưỡng đó mà thời gian qua có nhiều cán bộ bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự…


Báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai kết luận và quy định của Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã nêu rõ: từ năm 2016 - 2020, có 25.104 đảng viên suy thoái hoặc có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bị xử lý kỷ luật. Trong đó, 8.281 đảng viên bị kỷ luật do suy thoái về tư tưởng chính trị, nhiều nhất là “không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả...”. Bên cạnh đó, còn có 477 đảng viên “nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm, hứa nhiều, làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đường chức với lúc về nghỉ hưu”. Ngoài ra, còn có 2.216 đảng viên “gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả, mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động”; 1.623 đảng viên tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn của kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực…


Phần lớn những đảng viên vi phạm bị xử lý nêu trên là cán bộ giữ chức vụ trong cơ quan, đơn vị, địa phương, có nhiều trường hợp là người đứng đầu. Như vậy, sự nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân còn chưa tốt. Liệu trong số đó có bao nhiêu người chưa thực sự nêu gương với chính con cái mình, với cán bộ cấp dưới của mình?


Từ đó có thể thấy, đặt ra vấn đề nêu gương thì trước hết phải nêu gương với người trong gia đình, nhất là với trẻ nhỏ, và nêu gương với cấp dưới trong đơn vị, nhất là quần chúng, người đang phấn đấu vào Đảng. Không nêu gương với người gần gũi thì e là rất khó nêu gương trước nhân dân. Mà không thể hiện được điều đó thì có thể chưa là một đảng viên trọn vẹn!./.



 "THÓC KHÔNG THIẾU MỘT CÂN, QUÂN KHÔNG THIẾU MỘT NGƯỜI"


Đó là phong trào sôi nổi, rộng khắp trên cả hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ chống M.ỹ, cứu nước. Quê hương của phong trào này chính là tỉnh Thái Bình, nơi đã khởi nguồn phong trào “Năm tấn thóc để góp phần đánh M.ỹ”…


Cùng với việc chi viện lương thực nhiều nhất cho chiến trường, Thái Bình cũng là địa phương có tỷ lệ dân số đi bộ đội trong thời kỳ chống M.ỹ cao nhất cả nước. Theo số liệu của UBND tỉnh Thái Bình, từ năm 1955 đến 1975, Thái Bình đã tiễn đưa 22 vạn con em lên đường chi viện cho các chiến trường. Trong đó có hơn 34 nghìn người con ưu tú đã ngã xuống trên các chiến trường miền Nam và hai nước bạn Lào, Cam-pu-chia.



MỘT SỐ VẤN ĐỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 Công tác giáo dục chính trị là một hình thức cơ bản của công tác tư tưởng, văn hóa; là khâu cơ bản, có ý nghĩa quyết định đến việc củng cố trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Đồng thời, là nhân tố bảo đảm cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, ngày 31/3/2011, Thường vụ Quân ủy Trung ương ban hành Chỉ thị số 124-CT/QUTW về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; ngày 23/7/2013, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 2677/QĐ-BQP phê duyệt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới” (sau đây lần lượt gọi tắt là Chỉ thị 124 và Đề án). Đây là những định hướng cơ bản, mang tính đột phá, tạo bước chuyển biến mới trong thực hiện công tác giáo dục chính trị của toàn quân.

Trước yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng ta nhận thức sâu sắc và thể hiện rõ quan điểm về phát triển kinh tế độc lập tự chủ, kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế; bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc ta phát triển bền vững.

Phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội và của nhân dân đối với xây dựng quân đội. Mặt khác, cần tiếp tục nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm của cơ quan chính trị các cấp trong quân đội, nhất là cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp. Tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ cán bộ chính trị, chính ủy, chính trị viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng và lối sống trong sáng, có kiến thức, năng lực tư duy và khả năng tổ chức hoạt động thực tiễn; xây dựng cơ quan chính trị các cấp vững mạnh. Đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu phát triển lý luận gắn với tổng kết thực tiễn và làm tốt chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước để có đường lối, chủ trương lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo trong xây dựng quân đội và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chính như sau:

Một làtăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức các cấp đối với công tác giáo dục quốc phòng và an ninh. Theo đó, tiếp tục quán triệt, cập nhật, thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh; trọng tâm là Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 03/5/2007 của Bộ Chính trị (khóa X); Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh; Quy định số 07-QĐ/BTCTW, ngày 16/4/2008 của Ban Tổ chức Trung ương về tiêu chuẩn kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ, đảng viên, v.v. Trên cơ sở đó, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, một tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo, quản lý của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và cán bộ chủ trì các cấp. Các bộ, ngành Trung ương, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ tích cực đổi mới, tăng cường công tác quản lý nhà nước, hiệu quả phối hợp trong thực hiện công tác này. Thường xuyên rà soát, bổ sung, đẩy mạnh thực hiện các kế hoạch, chương trình hành động, đề án về giáo dục quốc phòng và an ninh, phù hợp với điều kiện của cơ quan, đơn vị, địa phương mình.

Hai làthường xuyên củng cố, kiện toàn, bổ sung quy chế, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hội đồng và cơ quan thường trực hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp. Cơ quan thường trực hội đồng các cấp thường xuyên rà soát, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cùng cấp bổ sung, kiện toàn hội đồng bảo đảm số lượng, cơ cấu, thành phần hợp lý; xây dựng, hoàn thiện quy chế hoạt động, phát huy vai trò, trách nhiệm của từng thành viên trong hội đồng. Chú trọng nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể trong triển khai thực hiện; chất lượng tham mưu, dự báo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng; giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên; tuyên truyền, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân, bảo đảm thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, thanh tra các cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc quyền, kịp thời nhân rộng những điển hình tiên tiến, kinh nghiệm, cách làm hay, khắc phục, chấn chỉnh yếu kém trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác này.

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị. Giáo dục chính trị là một nội dung, biện pháp quan trọng trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; do đó, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, trực tiếp là của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ chủ trì các cấp đối với công tác này giữ vai trò quyết định. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp phải thấu triệt sâu sắc mục đích, ý nghĩa, vị trí, vai trò của công tác giáo dục chính trị. Bởi đây là hình thức giữ vai trò chủ đạo, đi trước mở đường, tạo sự đồng thuận về nhận thức, nâng cao giác ngộ chính trị, xây dựng bản chất giai cấp công nhân, tính nhân văn và tính dân tộc cho Quân đội cách mạng, nâng cao phẩm chất, năng lực cho cán bộ, chiến sĩ. Do vậy, các cơ quan, đơn vị phải tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, hướng dẫn, quy chế, quy định của Đảng, Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; từ đó có chủ trương, phương hướng, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, hiệu quả. Chính ủy, chính trị viên các cấp chủ động trao đổi với người chỉ huy và chỉ đạo cơ quan chính trị làm tốt công tác tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả kế hoạch giáo dục chính trị hằng năm. Trong tình hình hiện nay, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác giáo dục chính trị, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì phải nêu cao trách nhiệm, thực hiện tốt “7 dám” mà đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương đã huấn thị, nắm chắc chương trình, nội dung, kế hoạch điều hành và tổ chức thực hiện bảo đảm đúng đối tượng, nội dung, thời gian, quân số tham gia; tích cực, tự giác học tập, làm gương cho bộ đội noi theo. Đối với cơ quan chính trị các cấp, cần nâng cao năng lực tham mưu, hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị; tăng cường kiểm tra, phát hiện những khó khăn, vướng mắc, bất cập để kịp thời giải quyết. Kiên quyết khắc phục triệt để biểu hiện “giao khoán” công tác giáo dục chính trị cho cơ quan chính trị và cán bộ chính trị.

Hai là, đẩy mạnh đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng trong tình hình mới. Chăm lo giáo dục chính trị cho cán bộ, chiến sĩ trước sự biến chuyển, tác động nhanh của tình hình thế giới, khu vực cùng những phát triển mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng. Nó luôn đòi hỏi phải đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Thực tiễn tổ chức thực hiện Chỉ thị 124 và Đề án trong toàn quân những năm qua cho thấy, chỉ có tích cực đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp một cách phù hợp, công tác giáo dục chính trị mới đạt hiệu quả tốt và ngược lại. Vì vậy, việc đổi mới nội dung giáo dục cần được đẩy mạnh hơn nữa, nhưng phải chặt chẽ, có trọng tâm, trọng điểm. Trước mắt, cần hướng vào các vấn đề mới, làm sáng rõ hơn nữa bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng thời, coi trọng công tác nghiên cứu, biên soạn các nội dung về giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, tình đồng chí, đồng đội; giáo dục pháp luật, kỷ luật, đạo đức, lối sống cho quân nhân, nhất là quân nhân trẻ. Quan tâm giáo dục, giải đáp những vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội, thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội; công tác huy động nhân lực, vật lực của xã hội cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; tổ chức, biên chế, trang bị, cách đánh của ta, v.v.

Về hình thức, các cơ quan, đơn vị cần bám sát tình hình thực tiễn đơn vị để vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp; trong đó, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục cơ bản với giáo dục thường xuyên; giáo dục chung với giáo dục riêng và giáo dục đột xuất theo yêu cầu, nhiệm vụ; giáo dục thông qua các phong trào thi đua, các cuộc vận động; thông qua hoạt động văn hóa văn nghệ, sinh hoạt chính trị tư tưởng, thực hiện Ngày Chính trị và văn hóa tinh thần, đối thoại dân chủ, sinh hoạt của các tổ chức quần chúng và Hội đồng quân nhân. Trong điều kiện mới, cần gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục chính trị tại đơn vị với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương và các cuộc vận động,... tạo phong trào sâu rộng để giáo dục, rèn luyện bộ đội.

Ba là, thường xuyên chăm lo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục chính trị các cấp. Hiện nay, trước tác động của mặt trái cơ chế thị trường, các hiện tượng tiêu cực và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, việc nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ trực tiếp làm công tác giáo dục chính trị nói riêng không chỉ đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, mà còn trực tiếp nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục chính trị của toàn quân. Vì vậy, các học viện, nhà trường cần xác định đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ chính trị các cấp là cơ bản, lâu dài, bảo đảm đội ngũ này có năng lực, trình độ toàn diện, trách nhiệm cao. Đồng thời, xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác giáo dục chính trị trong tình hình mới.

Đối với các cơ quan, đơn vị, hằng năm, cần lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ làm công tác giáo dục chính trị nói riêng, nhất là cán bộ giảng dạy chính trị, báo cáo viên tại đơn vị được cập nhật những kiến thức mới; coi trọng bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp tiến hành. Kết hợp chặt chẽ giữa bồi dưỡng cán bộ tại chức với đào tạo tại các học viện, nhà trường; thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ, kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng, quy trình chuẩn bị và thông qua bài giảng theo Quy chế giáo dục chính trị tại đơn vị; tổ chức tốt các hội thi, hội giảng cán bộ giảng dạy chính trị ở các cấp. Thường xuyên động viên, tạo điều kiện cho cán bộ làm công tác giáo dục chính trị học tập, rèn luyện, nâng cao kiến thức, trình độ về mọi mặt, có điều kiện thì tiếp tục đào tạo sau đại học.