Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2023

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 Trong chiến lược chống phá Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tập trung vào chống phá Đảng, chế độ và hệ tư tưởng. Trong đó, tự do ngôn luận, báo chí đang là một mục tiêu xuyên tạc, bôi nhọ của chúng.

Gần đây, nhiều hãng thông tấn, báo chí nước ngoài và không ít trang web trong và ngoài nước rêu rao rằng: ở Việt Nam “Không có tự do ngôn luận, tự do báo chí”; “Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do internet”; Hà Nội “bắt bớ nhiều blogger”... Điển hình như: Báo cáo nhân quyền thế giới hàng năm của Anh, Úc; Nghị quyết của Nghị viện EU; Báo cáo thường niên, thông cáo báo chí của các tổ chức quốc tế; Báo cáo của tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), của tổ chức Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ)... Trong báo cáo năm nay, mặc dù không thể không thừa nhận Việt Nam đã có “tiến bộ về dân chủ, nhân quyền”, nhưng vẫn xuyên tạc tình hình, vu cáo Nhà nước vi phạm “tự do báo chí”, “đàn áp, bắt giữ trái phép các blogger”... Họ cố tình đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tự do báo chí để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền hòng hạ thấp uy tín nước ta trên trường quốc tế.

Những thủ đoạn, mưu đồ chống phá của chúng, trước hết là xuyên tạc khái niệm tự do báo chí; viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về tự do báo chí, nhưng cố tình lờ đi những quy định và điều khoản nghĩa vụ kèm theo rồi tán phát qua internet, mạng xã hội làm cho nhiều người hiểu lầm rằng “tự do báo chí” là một quyền tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế nào. Bằng nhiều hình thức khác nhau, các đối tượng còn tác động đến Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo thường niên,... với nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí”. Một số phần tử còn tác động vào các chính khách cực đoan trong Quốc hội Mỹ, Anh, Canađa,… tổ chức điều trần, hội thảo, xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam nhằm tác động Liên hợp quốc ra nghị quyết bất lợi đối với nước ta. Trên lĩnh vực báo chí, một số đối tượng còn thành lập các câu lạc bộ, các diễn đàn trên mạng dưới chiêu bài “tự do ngôn luận, tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Về khái niệm tự do báo chí, xin được khẳng định lại quan điểm của cộng đồng Quốc tế, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966. Điều 19 quy định như sau:

1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp.

2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ.

3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định. Tuy nhiên, những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để:

a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác,

b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng.”

Như vậy, bên cạnh quyền tự do báo chí, ngôn luận, còn bị hạn chế bởi quy định là: không được vi phạm “quyền, uy tín cá nhân” (người khác); không được làm tổn hại đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng. Chẳng hạn, một kẻ đưa tin một ai đó có hành vi tham nhũng nhưng không có bằng chứng là vi phạm quyền và uy tín cá nhân; một kẻ đưa tin về một lực lượng quân sự nào đó vi phạm chủ quyền quốc gia, nhưng không có sự thật, làm tổn thương đến quan hệ quốc tế, là vi phạm an ninh quốc gia đó; hoặc có kẻ đưa những hình ảnh về tệ nạn xã hội có thể làm hại đến môi trường văn hóa của một đất nước... Như vậy, cần phải hiểu đầy đủ khái niệm tự do ngôn luận, tự do báo chí cả về nội dung tư tưởng, chính trị và văn hóa.

Cho đến nay, hành lang pháp luật về báo chí của Nhà nước ta đã đầy đủ với tư duy mới về quyền con người, bảo đảm đầy đủ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, bao gồm cả tự do internet, mạng xã hội.

Luật Báo chí của Việt Nam (2016) quy định: Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; có nhiệm vụ, quyền hạn: tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân. Luật báo chí cũng có những quy định cấm báo chí không được đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền, lực lượng vũ trang; gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế; đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, v.v.

Nghị định số 13/2118/NĐ-CP, ngày 23-01-2018 của Chính phủ quy định về chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin; trong đó, Điều 4 quy định như sau: Cơ quan nhà nước có trách nhiệm "Cung cấp thông tin theo yêu cầu cho công dân thông qua tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục nhất định. Trong điều kiện internet, mạng điện tử như hiện nay, Nghị định yêu cầu bảo đảm đảm quyền tiếp cận thông tin qua các cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của các cơ quan Đảng và Nhà nước. Trừ những thông tin mật, người dân có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin cho mình, không có bất cứ điều kiện nào.

Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hệ thống các cơ quan báo chí (bao gồm báo viết, báo nói, báo hình) của Việt Nam đến nay phát triển khá đồng bộ. Theo thống kê, tính đến năm 2016, cả nước có 857 cơ quan báo chí, gồm: 199 cơ quan báo chí in, 658 tạp chí (trong đó có 105 báo, tạp chí điện tử); 01 hãng thông tấn quốc gia; 67 cơ quan phát thanh truyền hình. Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị, xã hội đều có báo, tạp chí hoặc trang thông tin, báo điện tử. Báo chí thực sự trở thành cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; một kênh thông tin quan trọng tạo ra sự đồng thuận xã hội, thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Hơn thế nữa, báo chí còn là phương tiện để người dân kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật và đóng góp ý kiến phản biện đối với các chính sách, pháp luật của Nhà nước; là công cụ bảo vệ lợi ích xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Đó là minh chứng sinh động cho việc bảo đảm quyền tự do báo chí ở Việt Nam, phản bác luận điệu vu cáo Nhà nước Việt Nam “bóp nghẹt” quyền tự do báo chí của nhân dân. Trong khi đó, quyền tự do ngôn luận báo chí ở các nước nói chung, ở Hoa Kỳ nói riêng cũng bị hạn chế, báo chí không được “vu cáo, nhục mạ, tục tằn và vô đạo đức”; “không được  tuyên truyền và xúi giục bạo động gây xáo trộn sự an bình xã hội, nhất là những ngôn ngữ đó có phương hại đến nền an ninh quốc gia”.

Ở Việt Nam, thời gian qua, bên cạnh việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam đã tập trung xử lý các đối tượng lợi dụng phương tiện này để phục vụ cho mưu đồ chống phá, vi phạm quyền và lợi ích của Nhà nước và công dân theo pháp luật Việt Nam, điều này hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế.

Đối với nhiệm vụ chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta luôn xem báo chí là một lực lượng chính trị quan trọng. Thông qua báo chí, đấu tranh với tệ tham nhũng, đưa ra công luận những vụ việc, cán bộ có hành vi tham nhũng. Đồng thời, phân tích làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, những nguyên nhân từ các quy định trong chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần diệt trừ tận gốc tệ nạn này.

Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, chúng ta cần:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí, truyền thông và công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí chống phá Việt Nam. Đồng thời, giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với cả hệ thống chính trị, trong đó có các cơ quan báo chí, truyền thông, ở cả bốn khâu: Định hướng phát triển; định hướng nội dung; công tác cán bộ; công tác kiểm tra, kiểm soát. Đặc biệt coi trọng công tác rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý báo chí; thực hiện nghiêm các quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, lãnh đạo các cơ quan báo chí, truyền thông.

Hai là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về báo chí, truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội; tăng cường cơ chế phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng trong công tác chỉ đạo, quản lý trên lĩnh vực này. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định đạo đức nghề nghiệp; các chế tài xử lý vi phạm đủ mạnh để ngăn ngừa, răn đe những biểu hiện vi phạm. Hiện nay, mạng xã hội đang có tác động lớn đến xã hội, nhất là mạng YouTube (của Google). Được biết các cơ quan chức năng của Việt Nam đã nhiều lần làm việc với đại diện của Google, yêu cầu bóc những tin bài sai sự thật, nhưng hiệu quả vẫn còn thấp, còn nhiều tin bài xấu, không phản ánh trung thực tình hình Việt Nam. Biện pháp căn bản là quán triệt, tuyên truyền từ người xem, người nghe, người đọc, nhẹ dạ cả tin, không nghe, không tin những tin bài đó.

Ba là, cán bộ làm công tác báo chí phải làm tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ðể làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”. Do đó, mỗi nhà báo cần không ngừng học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức cách mạng, thực hiện tốt Luật Báo chí và các quy định của pháp luật trên lĩnh vực báo chí; hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích vì lợi ích của đất nước, của nhân dân, góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Hiện nay, đã và đang xuất hiện tình trạng báo chí viết bài không để chuyển tải nội dung tư tưởng, chính trị, văn hóa chính thống, mà vì “câu view” “câu like” và mong muốn có nhiều người đọc,  nhiều like, được nhiều view. Bởi vậy, báo chí không chỉ phòng ngừa xu hướng này mà còn đưa ra những giải pháp kỹ thuật ngăn chặn.

Bốn là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực báo chí, truyền thông. Qua đó, chủ động phát hiện những hành vi sai phạm, xu hướng lệch lạc ở các cơ quan báo chí và đội ngũ phóng viên, nhà báo để có các biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh. Đặc biệt, qua công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi vị trí lãnh đạo, quản lý đối với những người không đủ bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam; kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và đối ngoại, qua nhiều kênh và nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú làm cho cộng đồng quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Qua đó, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, góp phần đấu tranh hiệu quả các luận điệu vu cáo, xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam.

Tự do ngôn luận báo chí đối với các chế độ xã hội và nhà nước là một điều kiện bảo đảm quyền con người. Hơn thế nữa còn là một điều kiện quan trọng để phát triển xã hội về các mặt, từ tư tưởng, chính trị đến kinh tế, xã hội và văn hóa. Một xã hội không có tự do ngôn luận, báo chí, như có người nói - đó là “một xã hội đã chết lâm sàng”. Tự do ngôn luận, báo chí của người dân Việt Nam đã được hiến định bảo đảm bằng một hệ thống pháp luật minh bạch. Mọi luận điệu xuyên tạc quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam cần phải bị bác bỏ, lên án./.


NGHĨ VỀ CHỮ ĐỨC, CHỮ TÀI CỦA NGƯỜI CÁN BỘ

 Mỗi khi nói về cán bộ, bao giờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng coi trọng cả đức và tài, trong đó đức phải là gốc. Theo Người, cán bộ mà không có đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Đã hơn nửa thế kỷ, những lời căn dặn ấy ngày càng thấy thấm thía, nhất là trong xây dựng đội ngũ cán bộ hiện nay.

Sau khi cách mạng giành chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghĩ ngay đến việc tìm người tài đức để kiến thiết đất nước. Trên Báo Cứu quốc số ra ngày 20/11/1946, Người viết “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức”. Sau này, trong nhiều bài viết, hay những lần nói chuyện, Người cũng thường nói đến đức và tài của người cán bộ.

“Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước”

Là người trọng dụng nhân tài, không phân biệt người từng làm việc dưới chế độ cũ, hay ngoài Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến chữ đức. Theo Người, muốn có đạo đức cách mạng thì phải có nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Tức là phải biết yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào; ngay thẳng không có tư tâm, không làm việc bậy; sáng suốt, biết xem người, xem việc, biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.

Cán bộ có đạo đức cách mạng còn phải là người dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm phải có gan sửa chữa; không tham địa vị, không tham tiền tài, không ham người tâng bốc mình, quang minh chính đại... Đó là đạo đức mới, chứ không phải thứ đạo đức thủ cựu.

Có đức thôi chưa đủ mà còn phải có tài; đức và tài hòa vào nhau, hỗ trợ nhau làm nên phẩm chất người cách mạng. Người cho rằng, công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.

Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, phải trọng nhân tài, trọng mỗi người có ích cho công việc chung; phải hiểu rõ cán bộ, cất nhắc cán bộ cho đúng, nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc. Phải khéo dùng cán bộ, tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ. “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ”.

Ở những cán bộ tốt, không thể thiếu hai phẩm chất là đức và tài. Trong dịp nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I, ngày 12/6/1956, Người căn dặn “Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”.

Có tài, tức là có năng lực trí tuệ mới có thể làm nên những việc lớn, việc khó để phụng sự Tổ quốc, nhưng tài phải đi liền với đức, nếu thiếu đức mà làm những việc bất chính thì hại cho đất nước vô cùng. Điều ấy hiển nhiên như một quy luật “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo”.

“Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống”

Đạo đức cách mạng là phẩm chất cao quý đối với người cán bộ, không thể tự nhiên mà có. Trên Tạp chí Học tập, số tháng 12/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài viết Đạo đức cách mạng.

Trong đó, tác giả phân tích rất sâu việc người cách mạng phải thường xuyên rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, để chống lại chủ nghĩa cá nhân bởi nó “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”.

Theo Người, vì chưa gột sạch được chủ nghĩa cá nhân, nên có đảng viên kể công với Đảng, có ít nhiều thành tích thì đòi ưu đãi, đòi danh dự, địa vị, đòi hưởng thụ, nếu không thỏa mãn yêu cầu thì oán trách Đảng, cho rằng không có tiền đồ, “bị hy sinh”, rồi dần dần xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng,... Đó là những thứ trái ngược với đạo đức cách mạng mà người cán bộ không dễ gì lúc nào cũng thắng được.

Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ một cách toàn diện. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong hơn 35 năm đổi mới có sự đóng góp đáng kể của đội ngũ cán bộ các cấp. Song, công tác cán bộ hiện nay vẫn đang đặt ra nhiều lo ngại. Chưa bao giờ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được làm quyết liệt như những nhiệm kỳ gần đây.

Không ít cán bộ, kể cả cấp cao bị xử lý kỷ luật, thậm chí xử tù. Đáng nói là trong đó có nhiều cán bộ được đào tạo cơ bản, đã thử thách qua nhiều cương vị công tác, từng được tôn vinh vì có uy tín, có thành tích nổi trội. Một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến việc đau lòng đó là do chủ nghĩa cá nhân “nó khéo dỗ dành” làm cho con người ta không chiến thắng được chính mình, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Công bằng mà nói, chưa bao giờ chúng ta có đội ngũ cán bộ trưởng thành như hiện nay. Ở đây có điều cần nhìn sâu hơn, đó là cán bộ có chuyên môn được đào tạo bài bản, đã dày công rèn luyện, thì tài năng của họ không thể mai một. Nhưng, nếu người cán bộ tài năng mà thiếu rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức thường xuyên thì ngay cả khi đã có uy tín, có quyền lực thì vẫn dễ dàng bị nhiều thứ cám dỗ, khó giữ mình và chỉ một cái tặc lưỡi là lòng dạ “không còn trong sáng nữa”.

Thế là người ấy không chỉ đánh mất danh dự, nhân phẩm của chính mình, còn ảnh hưởng đến hình ảnh người cán bộ, làm giảm sút uy tín của Đảng. Trong số các vụ án mới xử vừa qua có thể kể tên hàng loạt các trường hợp cán bộ mắc sai phạm do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Tài và đức của người cán bộ đều phải khổ luyện mới có được, nhưng cái đức dễ bị lung lay trước hoàn cảnh cám dỗ. Để có cán bộ tài đức vẹn tròn là quá trình dày công dìu dắt của Đảng, nhưng muốn giữ được tài đức thì người cán bộ phải không ngừng tự rèn luyện.

Hơn bao giờ hết, mỗi người cán bộ phải nhớ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”./.


LẠI VẼ TRÒ BÔI NHỌ CHUYẾN THĂM VIỆT NAM CỦA TỔNG THỐNG HOA KỲ JOE BIDEN

 Vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10-11/9 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của Tổng thống Joe Biden kể từ khi ông nhậm chức đầu năm 2021. Chuyến thăm cũng đánh dấu sự kiện lần đầu tiên Tổng thống và Phó Tổng thống Hoa Kỳ cùng thăm Việt Nam trong một nhiệm kỳ. Sự kiện còn diễn ra vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện.

Nhiều hãng truyền thông lớn trên thế giới đã đăng tải những thông điệp tích cực của chuyến thăm, khẳng định Việt Nam tiếp tục cho cả thế giới biết và hiểu hơn về đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Ngược lại với thực tế đó, những phần tử phản động lưu vong ở hải ngoại lại tỏ ra lo lắng, tìm cách bôi nhọ, xuyên tạc về chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ đến Việt Nam và việc nâng tầm mối quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Các đối tượng tăng cường phát tán nhiều bài viết có nội dung sai trái, xấu độc để chống phá Đảng, Nhà nước; xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ cũng như quan hệ của Việt Nam với nhiều nước khác… Có trường hợp khi không thể ngăn cản chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden thì quay sang miệt thị các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chính sách ngoại giao “bốn không” của Việt Nam…

Những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, đối lập với chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Trong phát biểu trước báo chí tối 10/9, Tổng thống Joe Biden đã nhắc lại quá khứ quan hệ 2 nước trước năm 1975 với sự can thiệp của Hoa Kỳ vào miền Nam Việt Nam; tiếp đó đến mãi năm 1995, hai nước mới bắt tay hòa giải quan hệ ngoại giao.

Trải qua 28 năm, nay đã nâng đến mức độ cao nhất cho thấy sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau của cả hai nước. Tổng thống Joe Biden chia sẻ rằng, trước đây khi trở thành nghị sĩ, ông đã bỏ phiếu phản đối cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam, yêu cầu Chính phủ, Quốc hội Hoa Kỳ phải rút quân về nước. Ngay trong chuyến thăm Việt Nam lần này, ông Joe Biden đã nhắc đến cố Thượng nghị sĩ John McCain, Đặc phái viên của Tổng thống Hoa Kỳ về khí hậu John Kerry - người bắc cầu cho quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.

Phải khẳng định rằng, việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là phù hợp với thực tiễn của quan hệ ngoại giao hai nước, đáp ứng sự mong mỏi và tình cảm của các nhà lãnh đạo, nhân dân hai nước. Như Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E.Knapper đã nhấn mạnh trong cuộc gặp gỡ với báo chí trưa 13/9 rằng, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển tốt đều mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia và Hoa Kỳ muốn trở thành một phần trong quá trình Việt Nam nỗ lực để trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2050.

Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ cựu thù trở thành đối tác và Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững đã được nhiều nhà ngoại giao thế giới gọi là hình mẫu trong quan hệ quốc tế, là tấm gương để các quốc gia khác noi theo, học tập.

Nghĩa là không chỉ hai quốc gia Việt Nam - Hoa Kỳ mà cả cộng đồng thế giới đều ghi nhận, trân trọng những nỗ lực trong bước tiến vượt bậc về quan hệ ngoại giao giữa hai bên bởi điều này còn có sự ảnh hưởng tích cực lớn đến an ninh, hòa bình, sự đoàn kết, thịnh vượng của khu vực và trên thế giới.

Cho nên, những lời lẽ kiểu hậm hực rằng, Hoa Kỳ đừng nên quan hệ với Việt Nam, rằng Hoa Kỳ cần đưa ra yêu sách buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chế độ mới nâng cấp quan hệ hoặc châm chọc rằng, Việt Nam nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ là “theo phe này, chống phe kia”…  là không đúng với thực tiễn.

SỚM ĐƯA KHUÔN KHỔ QUAN HỆ MỚI VIỆT NAM - HOA KỲ ĐI VÀO TRIỂN KHAI TRÊN THỰC TẾ

 Ngày 19-9 (giờ địa phương), tại Trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ ở thủ đô Washington, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có cuộc gặp Hạ nghị sĩ Kevin McCarthy, Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ và Hạ nghị sĩ Michael McCaul, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ nhân dịp Thủ tướng Chính phủ dự Phiên thảo luận chung cấp cao tại Khóa họp 78 của Đại hội đồng Liên hợp quốc.Đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực

Tại cuộc gặp, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ vui mừng về những tiến triển quan trọng trong quan hệ song phương thời gian qua, đặc biệt là việc hai nước xác lập khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững nhân chuyến thăm Việt Nam vừa qua của Tổng thống Joe Biden.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cảm ơn những đóng góp và sự ủng hộ của Hạ viện Hoa Kỳ nói chung và Ủy ban Đối ngoại Hạ viện nói riêng đối với quan hệ hai nước.

Thủ tướng đề nghị thời gian tới, hai bên tăng cường phối hợp, sớm đưa khuôn khổ quan hệ mới đi vào triển khai trên thực tế, trong đó chú trọng đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực như kinh tế - thương mại - đầu tư, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, hợp tác bán dẫn, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, ứng phó với biến đổi khí hậu...

Thủ tướng cũng mong muốn Quốc hội Hoa Kỳ ủng hộ việc Hoa Kỳ sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam cũng như tiếp tục quan tâm, dành nguồn lực hỗ trợ Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh.

Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Kevin McCarthy và Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Michael McCaul bày tỏ vui mừng được đón Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm trụ sở Hạ viện Hoa Kỳ, đánh giá cao về kết quả chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Joe Biden và bày tỏ vui mừng khi hai nước xác lập khuôn khổ quan hệ mới.

Các Hạ nghị sĩ cảm ơn Thủ tướng Chính phủ và lãnh đạo Việt Nam đã dành thời gian tiếp các đoàn nghị sĩ Hoa Kỳ thăm Việt Nam vừa qua, trong đó có các đoàn nghị sĩ của Hạ viện Hoa Kỳ, qua đó tăng cường hiểu biết, thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực hai bên quan tâm.

Các nghị sĩ bày tỏ mong muốn tiếp tục thúc đẩy hợp tác và trao đổi đoàn giữa Quốc hội hai nước thời gian tới, trong đó tập trung vào các lĩnh vực hai bên ưu tiên như kinh tế - thương mại – đầu tư, ứng phó với biến đổi khí hậu…

Hai bên cũng trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, trong đó nhất trí về việc thúc đẩy vai trò trung tâm của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện ASEAN – Hoa Kỳ, quan hệ Đối tác Mekong - Hoa Kỳ, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế. Tạo đột phá trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư

Chiều 19-9 tại thủ đô Washington, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tiếp Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Katherine Tai.

Tại cuộc gặp, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ đều nhất trí việc hai nước xác lập khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện mở ra giai đoạn mới cho hợp tác sâu rộng giữa hai nước, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị hai bên tích cực phối hợp để nhanh chóng hiện thực hóa các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước, trong đó có việc Hoa Kỳ ưu tiên thúc đẩy lộ trình công nhận Quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam, mở cửa thị trường hơn nữa cho hàng hóa của Việt Nam như dệt may, da giày, nông sản, đồng thời xem xét thỏa đáng lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam, không áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam trên cơ sở bảo đảm cân bằng, bình đẳng, cùng có lợi.

Thủ tướng đề nghị hai bên tạo đột phá trong hợp tác khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục – đào tạo; đề nghị Hoa Kỳ hỗ trợ Việt Nam trong xây dựng chuỗi cung ứng liên quan đến chip bán dẫn.

Đại diện Thương mại Hoa Kỳ khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng của việc hai nước xác lập khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, cho đây là cơ hội để hai bên cùng hợp tác thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại.

Bà Katherine Tai khẳng định Hoa Kỳ luôn coi Việt Nam là đối tác quan trọng ở khu vực; mong muốn tiếp tục thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại song phương và Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò góp phần tiếp tục thúc đẩy quan hệ hai nước trong thời gian tới.

Bà Katherine Tai thông tin về tiến trình và bày tỏ mong muốn Việt Nam tiếp tục tham gia ủng hộ nỗ lực sớm kết thúc thảo luận Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vì thịnh vượng (IPEF) nhằm mang lại lợi ích chung cho các nước và người dân trong khu vực.

*Cùng ngày, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tiếp Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Gina Raimondo.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết Việt Nam xác định hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư là nền tảng, là động cơ của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ.

Để triển khai hiệu quả khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ, Thủ tướng Chính phủ đề nghị Bộ Thương mại Hoa Kỳ sớm công nhận Quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam, tiếp tục quan tâm thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại song phương, nhất là khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ cao của Hoa Kỳ làm ăn kinh doanh tại Việt Nam, tăng cường trao đổi đoàn, chia sẻ kinh nghiệm.

Bên cạnh đó, Thủ tướng cũng đề nghị hai bên tạo đột phá trong hợp tác khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục – đào tạo; đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa hợp tác chống biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng tái tạo.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Hoa Kỳ mở cửa thị trường hơn nữa cho hàng hóa của Việt Nam như điện tử, dệt may, da giày, nông sản, hoa quả tươi, cùng hợp tác để giữ thương mại hai chiều tăng trưởng như những năm vừa qua, đồng thời xem xét thỏa đáng lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam, không dùng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam trên cơ sở bảo đảm cân bằng, bình đẳng, cùng có lợi.

Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng của việc hai nước xác lập khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ cho biết sẽ thúc đẩy để Hoa Kỳ sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam, phối hợp triển khai các nội dung đã thống nhất trong Tuyên bố chung, nhất là trong các lĩnh vực ưu tiên như kinh tế, thương mại và đầu tư…, tiếp tục đưa hợp tác giữa hai nước ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả.


BỤC GIẢNG DƯỚI HẦM SÂU EM CŨNG LÀ CHIẾN SĨ

 Chiến tranh đã qua đi nhưng hình ảnh những người thầy, cô giáo với ý chí, nghị lực và sự quyết tâm vượt qua gian khó trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vẫn còn in đậm mãi theo dòng chảy lịch sử. Họ đã không ngại đạn bom của quân thù, quyết truyền ngọn lửa đam mê, lòng nhiệt huyết và tình yêu nước chân chính cho bao thế hệ học sinh. Với tay súng, tay bút họ sẵn sàng hy sinh xương máu và tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp trồng người.

Những ký ức vàng son của một giai đoạn lịch sử hào hùng, các thế hệ giáo viên ngày ấy đã góp phần viết lên bản hùng ca cho sự nghiệp giáo dục cách mạng. Và thế hệ trẻ hôm nay cần hiểu rằng những giá trị của giáo dục trong thời chiến vẫn luôn tỏa sáng đến hôm nay và mãi mãi mai sau.


BÀI HỌC VÔ GIÁ VỀ Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN

 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công để lại nhiều bài học vô giá mà hàng đầu và xuyên suốt là bài học về ý Đảng, lòng dân. Đó là sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn, tài tình của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy vai trò to lớn của quần chúng nhân dân. Thực hiện khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc trong công cuộc đổi mới hôm nay càng phải hiểu thấu và làm đúng bài học đó.

Kiên quyết lãnh đạo, chăm lo rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên

Chúng ta đều biết, từ khi ra đời đến lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng phải hoạt động bí mật trong muôn vàn khó khăn, thử thách, hy sinh do chính sách khủng bố cực kỳ tàn bạo của thực dân Pháp.

Những năm đầu sau Xô viết Nghệ Tĩnh, các tổ chức của Đảng và của quần chúng tan rã hầu hết, phong trào cách mạng tạm lắng xuống. Điều mang ý nghĩa quyết định là Đảng có một đường lối cách mạng đúng đắn trên cơ sở thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, phù hợp với nguyện vọng thiết tha của quần chúng nhân dân nên đã vượt qua cơn thoái trào. Trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám, do sự thay đổi về kinh tế, chính trị, lực lượng các giai cấp, Đảng ta đã thay đổi chiến lược, thay đổi chính sách cách mạng, chuyển hướng đấu tranh cho phù hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân. Sự thay đổi đó thể hiện bản lĩnh, trí tuệ sáng suốt, đổi mới sáng tạo của Đảng, nó hợp với tình hình thực tiễn.

Qua gần 40 năm đổi mới, trong các kỳ đại hội, Đảng ta có những bước phát triển mới về tư duy lý luận trong hoạch định đường lối, chính sách, đề ra cương lĩnh phù hợp với thực tiễn đất nước, xu thế tiến bộ của nhân loại và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Khẳng định tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, Đại hội XIII nêu quyết tâm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Đường lối đổi mới của Đảng tỏ rõ bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đường lối đó được triển khai bởi phương châm “đoàn kết-dân chủ-kỷ cương-sáng tạo-phát triển”, thể hiện bản lĩnh, ý chí kiên cường, quyết tâm, đồng tâm, tín tâm đi tới của cả dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Sự hoạch định đường lối của Đảng thể hiện một định hướng, định hình đúng đắn, phản ánh khát vọng phát triển mạnh mẽ và quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, phù hợp và đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân.

Nửa nhiệm kỳ qua, bên cạnh những thuận lợi, nước ta cũng đối mặt với muôn vàn khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, xung đột Nga-Ukraine. Tuy nhiên, Đảng ta vẫn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong lãnh đạo đổi mới và xây dựng Đảng, Đảng chú trọng công tác cán bộ với ý nghĩa “then chốt của then chốt”.

Nói đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là phải nhắc tới tấm gương nhiều cán bộ, đảng viên, tiêu biểu là các đồng chí Tổng Bí thư của Đảng như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ... Những nhà cách mạng kiên trung đó hết sức trung thành với Đảng, với nhân dân, luôn đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, trước hết. Các đồng chí đó đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mạng của mình cho Đảng và dân tộc; đã đem xương máu của mình vun tưới cho cây cách mạng nở hoa, kết trái.

Bài học đề cao đạo đức chí công vô tư, chống chủ nghĩa cá nhân của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Cách mạng Tháng Tám đang rọi sáng cho việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Các nghị quyết của Đảng nhấn mạnh cán bộ, đảng viên phải nêu cao ý thức phục vụ nhân dân, thật sự gắn bó với nhân dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí, xa rời dân, thiếu trách nhiệm, vô trách nhiệm, sợ trách nhiệm, không dám chịu trách nhiệm trước nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ và của Đảng. Người đứng đầu Đảng ta nhấn mạnh, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác thực hiện nhiệm vụ. Sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định.

Tập hợp quần chúng đi liền với bồi dưỡng sức dân

Sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tới thành công của Cách mạng Tháng Tám ghi đậm dấu ấn nổi bật là căn cứ vào tình hình thay đổi để thay đổi chiến thuật vận động mà lõi cốt là đánh thức được tinh thần dân tộc. Đảng tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh và các đoàn thể cứu quốc để đoàn kết chặt chẽ mọi lực lượng yêu nước chống phát xít và thực dân. Việt Minh-một cái tên rõ rệt, thiết thực, có tính chất dân tộc hơn, chương trình giản đơn, đầy đủ, hợp với nguyện vọng của toàn dân, lại được cán bộ đi sát với dân tổ chức thực hiện nên phát triển mau và mạnh. Việt Minh đặt chính sách hàng đầu là “ích quốc, lợi dân”; đồng thời thực hiện giảm tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian giao cho dân cày. Tất cả tạo nên một động lực, xung lực mới, nguồn năng lượng và sinh khí mới cho cả dân tộc vùng lên xóa gông cùm nô lệ, giành tự do độc lập vào mùa thu Tháng Tám năm 1945.

Bài học về sức dân, lòng dân, trí dân, sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, dân là gốc làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trước đây được thấm sâu trong đường lối, chủ trương và sự lãnh đạo, tổ chức thực hiện của Đảng trong phát triển đất nước hiện nay. Đảng ta luôn luôn khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội phải đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, giữ vững vai trò nòng cốt trong tập hợp, vận động nhân dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước.

Đảng và Nhà nước quan tâm xây dựng, tổ chức và gia tăng ngân sách trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Chúng ta thực hiện tốt chỉ tiêu giảm nghèo, hoàn thành hầu hết và cơ bản các mục tiêu thiên niên kỷ. Cùng với thực hiện chính sách chăm sóc người có công, chính sách đối với người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao.

Bồi dưỡng sức dân tỏ rõ bản chất của một đảng chân chính cách mạng, thể hiện trong đường lối, chính sách và tổ chức thực hiện với quan điểm cốt lõi là Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Xét tới ngọn ngành thì điều căn cốt nhất trong đường lối, chủ trương của Đảng phải đúng với yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý do mà đường lối đổi mới của Đảng được nhân dân tiếp nhận, ủng hộ, nhiệt tình tham gia. Sức mạnh tinh thần và vật chất của nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi và phát triển. Chúng ta nói sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng thì nhân lõi của đường lối phải đúng với nguyện vọng của nhân dân. Đồng thời, hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng phải đi liền với xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” và luôn bồi dưỡng sức dân. Bài học kinh nghiệm đó vẹn nguyên giá trị, mở đường đổi mới, soi sáng tương lai, trường tồn cùng dân tộc và nhân loại.


HỔ PHỤ SINH HỔ TỬ

 


Trong Quân đội nhân dân Việt Nam có một cặp cha con rất nổi tiếng, đã đảm nhiệm những vị trí trọng yếu, đều đã cống hiến cho Tổ quốc trong những năm tháng chiến tranh khói lửa. Đó là người cha Nguyễn Chí Thanh và người con Nguyễn Chí Vịnh.


Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là bậc "khai quốc công thần" của Việt Nam. Đại tướng tham gia 2 cuộc kháng chiến của dân tộc, người đề ra phương châm "Nắm thắt lưng địch mà đánh", kiến thiết lên cách mạng miền Nam Việt Nam, trực tiếp chỉ đạo cách mạng và tham gia gây dựng lên lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và phát động ra nhiều phong trào đấu tranh quần chúng. Trong lịch sử quân sự Việt Nam, ông là người thứ 2 được thụ phong quân hàm Đại tướng, chỉ sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp. 


Còn Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh được biết đến như một vị tình báo xuất sắc. Trong ngoại giao, ông được đánh giá rất cao trong việc thiết lập "bốn không" của Việt Nam, có những phát biểu về chủ trương ngoại giao cứng rắn nhưng mềm mỏng, quyết tâm giữ vững chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông. Xuất phát từ con trai của một Đại tướng, được xử đi học ở Liên Xô nhưng ông mạnh dạn khai tăng tuổi, xin ra chiến trường Tây Nam hoạt động…  Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng là sĩ quan hoạt động trong lĩnh vực tình báo, ngoại giao có quân hàm cao nhất.


Hai vị cha con hiếm có khó tìm trong lịch sử quân sự Việt Nam, cống hiến hết mình cho lịch sử dân tộc, nhưng hai người đều mất sớm và là tổn thất lớn cho Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mất khi vừa mới 53 tuổi do bị đột quỵ trong đợt về báo công với Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa lúc cách mạng miền Nam đang có những tiến triển rất khả quan, những trận lớn thu được kết quả rất tích cực. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh mất ở độ tuổi 65 do điều trị bệnh hiểm nghèo trong bối cảnh quan hệ ngoại giao, tình hình quốc tế rất phức tạp và khó lường.


Những di sản của cặp tướng cha - con huyền thoại này sẽ tồn tại vĩnh viễn, trường tồn trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam. 


Dẫu biết cuộc đời có nhiều thứ vô thường và bất ngờ và sự ra đi của cả hai vị tướng cha - con ở thời đại khác nhau đều đã khiến những người ở lại cảm thấy xót xa, tiếc thương.... 


LỰA LỜI MÀ NÓI CHO VỪA LÒNG NHAU

 


Tranh luận trên mạng xã hội không nên đao to, búa lớn; dùng ngôn từ thiếu lịch sư. Trong mọi hoàn cảnh cũng một lời nói nhưng đôi khi biết dùng từ ta sẽ thấy lòng thanh thản và nhẹ nhàng hơn, sự tôn trọng được đề cao và tình cảm con người được nhân lên gấp bội...


Sai ta thay bằng chưa đúng

Phản đối ta thay bằng chưa đồng ý

Xấu xí ta thay bằng chưa đẹp

Ẩu tả ta thay bằng chưa cẩn thận

Dở ẹc ta thay bằng chưa hay 

Thất bại ta thay bằng chưa thành công

Lừa dối ta thay bằng không thật lòng

Xảo trá ta thay bằng không thành thật

Ngu dốt ta thay bằng chưa thông minh

Ghét ta thay bằng không thích 

Tức giận ta thay bằng chưa hài lòng 

Điên tiết ta thay bằng mất bình tĩnh

Câm miệng lại ta thay bằng nên im lặng.

...

Dùng lời hay ý đẹp trên mạng xã hội giúp mỗi chúng ta trân trọng nhau, có thái độ và hành xử nhân văn để cuộc sống này tốt đẹp và ý nghĩa hơn./.


Phan Trung Can

HÃY TỰ HÀO VỀ ĐẤT NƯỚC MÌNH HƠN MỘT CHÚT

 


Có lẽ nhiều người trong chúng ta từng biết người ở bên phải bức ảnh. Đó là Vi Đông Dịch, hay còn gọi là Vi Thần, từng đạt các HCV Toán quốc tế, hiện đang là tiến sĩ, giáo sư Toán học tại Đại học Bắc Kinh. Giai thoại nổi tiếng về Vi Thần là: “Nếu bài toán nào không biết làm có thể hỏi thầy cô, nếu như đến cả thầy cô cũng không biết cách giải hãy hỏi Vi Thần, nếu Vi Thần không thể giải được vậy là đề sai”... Vi Thần nổi tiếng trên cả cộng đồng mạng Trung Quốc và Việt Nam. Sức hút của Vi Thần đến từ việc gắn bó với ngôi trường Bắc Đại - vốn là một ngôi trường đậm chất ngôn tình thanh xuân của Trung Quốc, qua hình ảnh hành động bất bình thường, tay luôn cầm chai nước và bánh bao. Có một nhận định trên Tiktok Việt Nam rằng: "Cứ đăng Vi Thần là nên xu hướng".


Còn về người phía trái bức ảnh? Các bạn biết là ai không? Dám cá là có rất nhiều người không biết...


Đó là giáo sư Lê Anh Vinh, từng là giáo sư trẻ nhất Việt Nam ở độ tuổi 37 và đạt các HCV - HCB quốc tế toán học cấp quốc tế. Lê Anh Vinh tốt nghiệp xuất sắc ĐH New South Wales và kiêm luôn sinh viên có bảng điểm cao nhất trong 15 năm gần nhất của trường đại học nằm trong 5 trường lớn nhất nước Úc. Nhờ việc này, chàng trai Việt Nam nhận được học bổng toàn phần của MIT, Stanford, Yale, Harvard… và Lê Anh Vinh đã chọn Harvard rồi lấy bằng tiến sĩ Harvard năm 27 tuổi với bảng điểm xuất sắc. Tiến sĩ Harvard Lê Anh Vinh được rất nhiều lời mời giảng dạy ở quốc tế với đãi ngộ cực khủng, nhưng chọn về Việt Nam cống hiến. Năm 30 tuổi, Lê Anh Vinh được công nhận Phó Giáo sư, năm 34 tuổi đã trở thành Phó Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam. Năm 37 tuổi, vừa là Giáo sư trẻ nhất Việt Nam và kiêm luôn Viện trưởng trẻ nhất Việt Nam. Năm 2017, Phó Giáo sư Lê Anh Vinh đã lãnh đạo đội tuyển Toán Việt Nam tham gia Kỳ thi Toán quốc tế IMO và đạt thành tích vô tiền khoáng hậu trong 43 năm lịch sử tham gia IMO của Việt Nam với 4 huy chương vàng, đứng thứ 3 toàn thế giới.


Xin phép không so sánh các công trình, sự tài giỏi, năng lực của hai thiên tài toán học. Nhưng nếu như tìm từ khóa “Vi Thần” trên Tik Tok, các bạn sẽ thấy hàng trăm kết quả tìm kiếm, hàng triệu lượt xem, hàng chục ngàn bình luận từ cộng đồng mạng Việt Nam… Nhưng nếu tìm từ khóa “Lê Anh Vinh” hoặc “Giáo sư Lê Anh Vinh”, các bạn sẽ chỉ tìm được một vài clip với thông số rất khiêm tốn. Không phải hình mẫu "nam chính ngôn tình", nhưng những con người như giáo sư Lê Anh Vinh, rất đáng để chúng ta biết đến nhiều hơn.


Tại sao lại như vậy? Tại sao một nhà toán học Trung Quốc lại được biết nhiều hơn, ca tụng tại Việt Nam đến thế? Thậm chí, nếu lướt bình phần luận, các bạn sẽ thấy những bình luận xấu xí như “Việt Nam chả có ai giỏi được như Vi Thần”, “Vi Thần giỏi hơn cả ngành toán học Việt Nam”, “Vi Thần mà về Việt Nam thách đố thì chẳng ai có đủ sức”... Đọc bình luận mà buồn bã. 


Hồi đầu tháng 8 vừa qua tại Trung Quốc cũng có một tranh cãi liên quan đến Vi Thần. Bắc Đại tổ chức một hội thảo cho cựu sinh viên Toán học đã thành danh nhưng không mời Vi Thần. Ngay lập tức, cư dân mạng Trung Quốc lên án ngôi trường này và đòi hủy bỏ sự kiện, phải mời Vi Thần tham gia, rồi còn nói rằng đây là một “diễn đàn tồi tệ” và “thiếu trình độ”. Mặc cho những người tham gia là những nhà toán học lừng danh, có tên tuổi đến từ Princeton, Harvard, Yale, MIT, Stanford… Một nhà toán học từng lên tiếng ẩn danh rằng: “Toán học Trung Quốc không chỉ có Vi Thần, chúng tôi cũng nên được biết đến”.


Sự thần thánh quá mức một cá nhân ngoại quốc như Vi Thần khiến cho nhiều người mất đi lòng tự tôn dân tộc, sự hiểu biết thường nhật và lương tri. Vi Thần giỏi là điều không ai phủ nhận, nhưng Vi Thần không phải là độc nhất. Sự tô vẽ quá mức của truyền thông Trung Quốc, thậm chí sự điều hướng của thuật toán Tik Tok (Douyin) đã khiến cho cả giới trẻ Việt Nam lẫn Trung Quốc nghĩ rằng Vi Thần là vị thần của toán học Trung Quốc và của cả thế giới… Điều đó là sai, chắc chắn rất sai.


Thần tượng một thiên tài là điều vô cùng bình thường. Nhưng sẽ tốt hơn nếu như chúng ta biết thêm, trân trọng, tôn vinh những người Việt tài giỏi vẫn đang ngày đêm cống hiến cho Tổ quốc.

LẠI VẼ TRÒ BÔI NHỌ SAU CHUYẾN THĂM VIỆT NAM CỦA TỔNG THỐNG HOA KỲ JOE BIDEN

 


Trong bối cảnh Việt Nam - Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững, các thế lực chống phá lại tiếp tục tung ra những luận điệu sai trái, cố tình tạo ra những cái nhìn méo mó về quan hệ hai nước.


Vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10-11/9 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của Tổng thống Joe Biden kể từ khi ông nhậm chức đầu năm 2021. Chuyến thăm cũng đánh dấu sự kiện lần đầu tiên Tổng thống và Phó Tổng thống Hoa Kỳ cùng thăm Việt Nam trong một nhiệm kỳ. Sự kiện còn diễn ra vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện.


Tổng thống Joe Biden đến Việt Nam ngay sau khi dự Hội nghị thượng đỉnh G20 tại New Delhi, Ấn Độ. Chuyến thăm Việt Nam lần này là một dấu mốc quan trọng trong việc tăng cường quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Việc các Tổng thống Hoa Kỳ đều có chuyến thăm tới Việt Nam (kể từ chuyến thăm của Tổng thống Bill Clinton vào tháng 11/2000) đã phản ánh vai trò quan trọng của Việt Nam trong mạng lưới đối tác của Hoa Kỳ ở khu vực.


Nhiều hãng truyền thông lớn trên thế giới đã đăng tải những thông điệp tích cực của chuyến thăm, khẳng định Việt Nam tiếp tục cho cả thế giới biết và hiểu hơn về đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.


Việc nâng mức quan hệ ngoại giao từ Đối tác Toàn diện lên Đối tác Chiến lược Toàn diện tiếp tục khẳng định mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ ở tầm cao mới, đó là Đối tác Chiến lược Toàn diện, vì hoà bình, hợp tác và phát triển bền vững.


Ngay sau chuyến thăm, Tổng thống Joe Biden đăng tải trên mạng xã hội video chia sẻ những khoảnh khắc quan trọng với hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì lễ đón chính thức tại Phủ Chủ tịch, cuộc hội đàm giữa hai nhà lãnh đạo và các cuộc hội kiến của Tổng thống Hoa Kỳ với Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ.


Tổng thống Joe Biden viết trên trang cá nhân: “Sau 50 năm tiến triển trong mối quan hệ giữa hai nước, từ xung đột đến bình thường hóa, tôi tự hào đã tăng cường hơn nữa mối quan hệ với Việt Nam – một đối tác quan trọng ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”…  Những tình cảm đó cho thấy cá nhân Tổng thống Joe Biden nói riêng, Hoa Kỳ nói chung rất coi trọng mối quan hệ hợp tác với Việt Nam.


Ngược lại với thực tế đó, những phần tử phản động lưu vong ở hải ngoại lại tỏ ra lo lắng, tìm cách bôi nhọ, xuyên tạc về chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ đến Việt Nam và việc nâng tầm mối quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Các đối tượng tăng cường phát tán nhiều bài viết có nội dung sai trái, xấu độc để chống phá Đảng, Nhà nước; xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ cũng như quan hệ của Việt Nam với nhiều nước khác… Có trường hợp khi không thể ngăn cản chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden thì quay sang miệt thị các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chính sách ngoại giao “bốn không” của Việt Nam…


Những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, đối lập với chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Trong phát biểu trước báo chí tối 10/9, Tổng thống Joe Biden đã nhắc lại quá khứ quan hệ 2 nước trước năm 1975 với sự can thiệp của Hoa Kỳ vào miền Nam Việt Nam; tiếp đó đến mãi năm 1995, hai nước mới bắt tay hòa giải quan hệ ngoại giao.


Trải qua 28 năm, nay đã nâng đến mức độ cao nhất cho thấy sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau của cả hai nước. Tổng thống Joe Biden chia sẻ rằng, trước đây khi trở thành nghị sĩ, ông đã bỏ phiếu phản đối cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam, yêu cầu Chính phủ, Quốc hội Hoa Kỳ phải rút quân về nước. Ngay trong chuyến thăm Việt Nam lần này, ông Joe Biden đã nhắc đến cố Thượng nghị sĩ John McCain, Đặc phái viên của Tổng thống Hoa Kỳ về khí hậu John Kerry - người bắc cầu cho quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.


Phải khẳng định rằng, việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là phù hợp với thực tiễn của quan hệ ngoại giao hai nước, đáp ứng sự mong mỏi và tình cảm của các nhà lãnh đạo, nhân dân hai nước. Như Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E.Knapper đã nhấn mạnh trong cuộc gặp gỡ với báo chí trưa 13/9 rằng, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển tốt đều mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia và Hoa Kỳ muốn trở thành một phần trong quá trình Việt Nam nỗ lực để trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2050.


Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ cựu thù trở thành đối tác và Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững đã được nhiều nhà ngoại giao thế giới gọi là hình mẫu trong quan hệ quốc tế, là tấm gương để các quốc gia khác noi theo, học tập.


Nghĩa là không chỉ hai quốc gia Việt Nam - Hoa Kỳ mà cả cộng đồng thế giới đều ghi nhận, trân trọng những nỗ lực trong bước tiến vượt bậc về quan hệ ngoại giao giữa hai bên bởi điều này còn có sự ảnh hưởng tích cực lớn đến an ninh, hòa bình, sự đoàn kết, thịnh vượng của khu vực và trên thế giới.


Cho nên, những lời lẽ kiểu hậm hực rằng, Hoa Kỳ đừng nên quan hệ với Việt Nam, rằng Hoa Kỳ cần đưa ra yêu sách buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chế độ mới nâng cấp quan hệ hoặc châm chọc rằng, Việt Nam nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ là “theo phe này, chống phe kia”…  là không đúng với thực tiễn.


Thêm một luận điệu cũ mòn nữa là các đối tượng chống đối liên tục ca thán “bày tỏ mối quan ngại sâu sắc” về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Cụ thể, một số tổ chức phi chính phủ đã viết thư chung gửi Tổng thống Hoa Kỳ, đề nghị ông Joe Biden khi sang thăm Việt Nam, trong các cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Việt Nam cần gây áp lực, can thiệp phải sửa đổi các điều luật mà các đối tượng cho rằng “mang tính chất đàn áp”, bao gồm các Điều 117 và 331, Bộ luật Hình sự và đòi bỏ Luật An ninh mạng. Họ rêu rao “chấm dứt hành vi đàn áp xuyên quốc gia và trả tự do cho tất cả tù nhân của lương tâm”; “thả tự do cho tất cả 41 nhà báo bị giam giữ”; “gặp gỡ gia đình các tù nhân chính trị để nghe những lời trần tình của họ về tình hình nhân quyền ở Việt Nam”…


Rõ là những lời bịa đặt, vu khống cũ mòn về nhân quyền ở Việt Nam. Thực tiễn, ngoài những thành tựu đạt được về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chính sách cho đồng bào dân tộc và đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người khuyết tật..., những nỗ lực trong việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam luôn được cộng đồng quốc tế ghi nhận.


Trưởng Đại diện của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam, bà Ramla Khalidi mới đây còn nhấn mạnh: "Việt Nam là một hình mẫu về giảm nghèo, nhất là trong một khoảng thời gian đặc biệt ngắn. Tôi nghĩ rằng, nhiều quốc gia sẽ nhìn vào Việt Nam để học hỏi những bài học đó".


Trong khi đó, Phó Trưởng đại diện thường trú của UNDP, ông Patrick Haverman lại đặc biệt ấn tượng với những nỗ lực không ngừng nghỉ của Việt Nam nhằm đem lại cuộc sống ấm no và công bằng cho người dân, phản ánh rõ nét trong thời kỳ đại dịch COVID-19. Theo ông Patrick Haverman, Việt Nam đã rất nỗ lực để bảo đảm an toàn, an ninh cho người dân và Việt Nam trở thành một trong các nước đi đầu triển khai nhanh chóng vaccine COVID-19 cho toàn dân. Rồi cũng chính Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á mở cửa biên giới, dỡ bỏ các hạn chế nhập cảnh, kích hoạt lại các hoạt động kinh tế.


Tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 54 của Hội đồng Nhân quyền diễn ra ở Geneva Thụy Sĩ, trong bài phát biểu ngày 13/9, Đại sứ Lê Thị Tuyết Mai - Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva cũng đã nêu rõ chủ trương của Việt Nam về thúc đẩy và bảo vệ việc thụ hưởng quyền con người của mọi người dân, trong đó đề cao chính sách phát triển của Việt Nam lấy con người làm trung tâm, coi con người là chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển, hướng đến đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.


Trước đó, Tuyên bố chung Việt Nam - Hoa Kỳ nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Joe Biden (10-11/9) cũng dành hẳn một mục với tựa đề “Thúc đẩy và bảo vệ quyền con người”. Nghĩa là Việt Nam - Hoa Kỳ rất thẳng thắn, cởi mở và sẵn sàng chia sẻ với nhau những vấn đề liên quan đến con người, nhân quyền.


Cụ thể, Tuyên bố chung viết: “Hai nhà lãnh đạo khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, phù hợp với hiến pháp của mỗi nước và các cam kết quốc tế. Hai nước nhất trí tiếp tục ủng hộ thúc đẩy và bảo vệ quyền con người thông qua các cơ chế đối thoại thẳng thắn, xây dựng như Đối thoại nhân quyền, Đối thoại lao động Việt Nam-Hoa Kỳ hàng năm, qua đó tăng cường hiểu biết lẫn nhau và giảm thiểu khác biệt.


Hai nhà lãnh đạo khuyến khích tăng cường hợp tác nhằm bảo đảm tất cả người dân, bao gồm các nhóm dễ bị tổn thương không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo hay khuynh hướng tình dục và người khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền con người. Việt Nam và Hoa Kỳ ghi nhận quyền con người, ổn định khu vực, hòa bình thế giới và phát triển bền vững có mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau. Hai bên ghi nhận những đóng góp mà các tổ chức xã hội và tôn giáo tiếp tục mang lại trong các lĩnh vực như giáo dục, chăm sóc y tế và dịch vụ xã hội ở cả hai nước”.


Thực tế, dân chủ, nhân quyền là một vấn đề lớn, không một quốc gia nào dám tự coi là đã thực hiện một cách đầy đủ. Mỗi quốc gia thực hiện dân chủ, nhân quyền còn tùy thuộc vào tình hình chính trị - xã hội, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán và trình độ dân trí…


Đảng, Nhà nước Việt Nam xác định rõ, bảo đảm quyền con người là bản chất của chế độ, là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, đồng thời là động lực của chế độ. Vì thế, Nhà nước Việt Nam luôn đẩy mạnh và coi trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người; củng cố tăng cường các thể chế, chính sách nhằm thúc đẩy thực thi quyền con người, bảo đảm thực hiện đầy đủ hơn, tốt hơn các quyền tự do chính đáng của nhân dân.

Sông Thương – Đặng Thanh Ngà


Bác bỏ luận điệu cho rằng “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc

 


Khi việc công khai phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dần đuối lý và tỏ ra kém hiệu quả, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại sử dụng một chiêu trò khác để chống phá cách mạng Việt Nam, đó là: dựa trên một số sự kiện lịch sử để đưa ra những xuyên tạc nhằm chứng minh rằng, “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”. Mục đích sâu xa của chúng là làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đây là luận điệu phi lý, cần kiên quyết bác bỏ.


Từ sự thừa nhận không thể phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta bằng cách điên cuồng phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh khi hệ thống tư tưởng, lý luận này đang ngày càng đúng với những diễn biến của thời đại, các thế lực chống phá lại dở nhiều chiêu trò khác. Một trong những thủ đoạn gần đây mà chúng thường sử dụng là đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; chúng dựa vào những sự kiện lịch sử rồi dùng thủ thuật quen thuộc là “đánh lộn sòng đen trắng” để hướng lái dư luận, rằng: tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc. Chẳng hạn như: vin vào sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Liên xô để gặp gỡ I.V. Stalin - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên xô và cuộc nói chuyện giữa hai vị lãnh tụ vĩ đại này vào cuối năm 1952 để đưa ra luận điệu rằng: “I.V. Stalin cáo buộc Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa dân tộc”; trắng trợn hơn, họ dựa vào sự kiện Quốc tế III chỉ thị đồng chí Nguyễn Ái Quốc về tại Cửu Long, Trung Quốc để hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng kết quả của Hội nghị là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) để rêu rao rằng: “Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930) đã chứng minh rằng tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc”. Tinh vi hơn, họ còn “giả vờ” công nhận công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam để hạ thấp, kích động tư tưởng bài trừ chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng việc Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động là không phù hợp, bởi vì đây là hai hệ tư tưởng hoàn toàn đối lập nhau, v.v. Tuy nhiên, thực tế lịch sử lại chứng minh điều ngược lại, trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Và tư tưởng của Người “là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”1; hoàn toàn không thể, không phải là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc như luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống phá.


Thứ nhất, động lực thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa yêu nước chứ không phải là chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước) là cảm xúc, tình cảm, tinh thần yêu thương, tích cực đối với quê hương, đất nước. Trong khi đó, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”2. Sự khác biệt cơ bản giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc thể hiện ở chỗ: người yêu nước tự hào về đất nước của mình vì những gì nó xứng đáng, còn người theo chủ nghĩa dân tộc tự hào về đất nước của mình bất kể thứ gì (kể cả việc gây tội ác với dân tộc khác), tức là sự tự hào một cách mù quáng và cực đoan. Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”3. Từ lòng yêu nước, thương nòi, Người đã yêu thương, đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, những lớp người dân lao động lầm than ở các nước chính quốc; đó là động lực để Người tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hiện thực hóa lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, nhân loại. Trả lời phóng viên của Tạp chí Thanh Niên (Canada, tháng 12/1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nói rằng lúc còn thanh niên, tôi theo “chủ nghĩa dân tộc”, có lẽ không đúng. Vì hồi đó tôi chỉ biết thương đồng bào tôi, chứ chưa biết “chủ nghĩa” gì cả. Khi đi sang châu Phi, tôi thấy nhân dân thuộc địa ở đây cũng cực khổ, cũng bị áp bức, bóc lột như nhân dân Đông Dương. Khi sang các nước châu Âu, tôi thấy ở đó cũng có một số người rất giàu, “ngồi mát ăn bát vàng”, và lớp người nhân dân lao động rất nghèo khổ. Tôi suy nghĩ nhiều lắm. Trong lúc đó thì Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thành công ở Nga. Lênin tổ chức Quốc tế Cộng sản. Rồi Lênin phát biểu Luận cương cách mạng thuộc địa. Những việc đó làm cho tôi thấy rằng: Nhân dân lao động Đông Dương, nhân dân các thuộc địa và nhân dân lao động muốn tự giải phóng thì phải đoàn kết lại và làm cách mạng. Vì vậy, tôi trở nên người theo Chủ nghĩa Mác - Lênin”4. Như vậy, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một chặng đường dài, vượt qua những chông gai thử thách, Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng rõ ràng, động lực chính là lòng yêu nước, thương dân, chứ không phải vì chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan như các thế lực phản động đang rêu rao.


Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân trong tiếp cận, giải quyết vấn đề dân tộc; là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, không chấp nhận chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa Sô vanh trong phong trào Cộng sản quốc tế. Xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc luôn gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vấn đề dân tộc được Người tiếp cận và giải quyết như động lực để thúc đẩy sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và là tiền đề cho cách mạng vô sản trên toàn thế giới; lý tưởng giải phóng dân tộc không thể tách rời với mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại. Trong thực tiễn hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh cũng luôn đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, Sô vanh nước lớn. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mátxcơva từ ngày 14 đến 16/11/1957, chính Hồ Chí Minh là người kiên quyết nhất trong đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”5. Chính vì vậy, cho rằng “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một luận điệu “đánh lộn sòng đen trắng” cố tình lấp liếm, bỏ qua lập trường, quan điểm giai cấp công nhân của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam, phủ nhận vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng của Người.


Thứ ba, Hồ Chí Minh là một trong những người tiên phong bảo vệ và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc trong mối quan hệ với nhân loại, vì mục tiêu chung là công bằng, tiến bộ và hòa bình. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa quan điểm về vai trò của quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, và khẩu hiệu hành động: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”, Hồ Chí Minh thấy rõ sự cần thiết và con đường tập hợp, đoàn kết các lực lượng của từng dân tộc và trên thế giới để sự nghiệp giải phóng dân tộc giành thắng lợi hoàn toàn, Người kêu gọi: “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại!”. Đồng thời, Người khẳng định: “Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”6. Đây không chỉ là một cống hiến rất quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận Mác - Lênin, mà còn cho thấy, Người luôn giải quyết hài hòa, đặt quyền lợi của dân tộc trong mối liên hệ với nhân loại, với giai cấp, với các dân tộc bị áp bức vì mục tiêu chung là xây dựng thế giới hòa bình, tiến bộ, phát triển. Tư tưởng đó đã vượt lên trên “chủ nghĩa dân tộc”, nó hoàn toàn trái ngược với mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, với mưu đồ chính trị đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc.


Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, “mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”7. Đó là tất yếu khách quan, sự lựa chọn của lịch sử mà không luận điệu, thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Luận điệu “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là vô căn cứ, thủ đoạn xảo trá, thấp hèn, dù có tô vẽ thế nào cũng không thể che mờ chân lý.


(Đại tá NGUYỄN CÔNG KHƯƠNG - Thiếu tá NGUYỄN ĐỨC CƯƠNG)

ĐOÀN KẾT VÀ CHIA RẼ



Cụ Hồ nhà ta bảo: “Đoàn kết, đại đoàn kết! Thành công, đại thành công!”. Chả thế mà cụ đứng lên bắt nhịp cho dàn nhạc biểu diễn bài ca “kết đoàn”, trông rất oách, rất đĩnh đạc. 


Ai phải học cụ Hồ về việc “giữ gìn sự đoàn kết như giữ gìn con ngươi mắt mình”? Tất cả! Từ ông Nguyễn Phú Trong trở xuống đến thường dân như lão đây. Một số người đề cao cá nhân mình hơi bị quá nên thấy bất cứ điều gì không vừa ý mình là chửi toáng lên, làm như ta đây mới là người yêu nước. Chẳng biết các ông các bà yêu nước cao đến mức nào, song hậu quả là tạo sự chia rẽ trong xã hội. Cứ nhìn vào mạng xã hội hàng ngày là thấy thôi mà.


Có người lại bao biện cho hành động chia rẽ xã hội của mình bằng lập luận rằng, vì tôi yêu nước nên tôi phải đấu tranh phê bình. Đảng Cộng sản bảo “phê bình và tự phê bình là vũ khí sắc bén để tăng cường sức mạnh của đảng”, đúng thế thật; song cái cách “phê bình” của mấy ông mấy bà là chưa phải lối. Phê bình có chốn có nơi. Các ông bà đảng viên thì có chi bộ, còn ai không phải đảng viên thì đã có đoàn thể của mình, đến đó tha hồ mà nói, nói ở đó mới có người nghe, chứ nói trên mạng xã hội thì họa chăng chỉ có mấy anh an ninh mạng chúng nghe thôi. Chúng nghe rồi chúng để đó, nếu có gì sai trái quá quắt lắm thì chúng mới đến hỏi thăm. Hơi đâu mà chấp!


Cũng như trong nhà mình vậy. Khuyên bảo, thậm chí đánh chửi con cái cũng có nơi có chốn. Chứ cứ đem việc nhà đi kể chuyện với hàng xóm, thì cái đứa hàng xóm nó nghe đấy nhưng trong bụng nó cười cho.


Lão đây rất coi thường mấy anh chị đảng viên Cộng sản cơ hội. Lúc còn đương chức thì ngậm miệng ăn tiền. Thiếu gì! Các anh chị ấy ngậm miệng thật và ăn tiền thật. Bây giờ về hưu rồi nên cứ tưởng mấy người đương chức nó cũng ăn như mình, thế là sinh ra “ghen ăn tức ở”, rồi ngồi một chỗ mà chửi, làm như mình trong sạch lắm ấy, yêu nước lắm ấy! Cho nên, lão khuyên các anh chị theo chủ nghĩa “cơ hội” đừng lên mặt dạy đời nữa, chán lắm! Lão không nghe, không a dua, không chửi góp.


Những người lãnh đạo từ cao đến thấp ấy mà, họ cũng là con người. Họ cũng có cái lo của con người; cũng có cái ham muốn của con người; ngoài nhiệm vụ mà đất nước giao, họ cũng phải còn lo cho gia đình và bản thân họ. Ở Việt Nam ta chẳng mấy người như cụ Hồ, cụ không có gia đình riêng, vì thế cụ toàn tâm toàn ý lo cho dân cho nước. Cụ là một vị thánh. Còn lại, tất cả đều là con người bình thường. Vì thế, đảng Cộng sản của các anh các chị mới có cái tổ chức “Ủy ban kiểm tra” từ trên cao xuống thấp. Đảng viên của họ tốt xấu thế nào họ biết cả đấy, chẳng cần các anh chị đứng ngoài ngõ rồi chõ mõm vào chửi thì người ta mới biết đâu.


Có anh còn chửi cái ông tuổi Tuất gì đó đang ở Bộ Chính trị, rồi chửi cả anh hùng quân đội, rồi chửi đến ông nọ bà kia dù họ còn sống hay đã chết. Các anh các chị chắc gì đã giỏi hơn họ hoặc giỏi hơn 19 vị trong Bộ Chính trị, với 200 ủy viên Trung ương, chắc gì đã giỏi hơn 500 đại biểu quốc hội? Tôi công nhận rằng tôi dốt hơn họ nên không dám “múa rìu qua mắt thợ”. Tôi dám chắc họ làm việc gì cũng nâng lên đặt xuống chán ra rồi, vì nó quan hệ đến vận mệnh quốc gia, các mối quan hệ quốc tế, chứ thường dân như tôi, tốt nhất là cứ đặt niềm tin vào họ. Tôi dám chắc một điều là họ không bao giờ phản bội lại nhân dân và đất nước.


Rồi một ông cựu sĩ quan chửi ông thượng tướng vừa qua đời, tức là chửi người đồng đội của mình đã từng vào sinh ra tử, chỉ vì có tin đồn rằng ông ấy có quan điểm khác về cuộc chiến ở Ukraine hiện nay, nhưng rồi chính nhà nước đã tổ chức lễ tang cấp cao cho vị tướng đó. Sao vậy cà? 


Cái “Ủy ban Kiểm tra” ấy ghê lắm đấy, đừng coi thường họ, chẳng thế mà có người đã làm đến chức Chủ tịch nước, bí thơ nọ, bộ trưởng kia, cũng có lúc, kẻ thì về vườn đuổi gà cho vợ, kẻ thì định cư ở chốn lao tù. Bọn thối mồm thì bảo đó là “thanh trừng bè phái”, chứ chúng đâu có thấy kỷ luật của đảng Cộng sản nghiêm minh đến thế nào! Chỉ vậy thôi là lão tin vào nhà nước này, dù cho các ông các bà muốn nói xấu họ thế nào lão cũng bỏ ngoài tai./.

THANH NIÊN PHẢI LUÔN LUÔN RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG



Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến thăm và phát biểu tại “Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam toàn miền Bắc” ngày 22 tháng 9 năm 1962.


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục đạo đức cho đoàn viên, thanh niên, thấy rõ vị trí, vai trò "Là người tiếp sức cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai". Do vậy, Người đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên, thanh niên thành đội xung kích cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc. Người yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Đi đôi với việc giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, mỗi đoàn viên, thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng để trở thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội “vừa hồng, vừa chuyên”.


Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của đoàn viên, thanh niên. Coi đây là lực lượng xung kích, là đội dự bị tin cậy của Đảng và coi công tác thanh niên là vấn đề được đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Do vậy, phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng - sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích…của đoàn viên, thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần "Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên", thanh niên Việt Nam đã phát huy truyền thống, hăng hái, sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào thi đua, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Thanh niên Quân đội là bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam, lực lượng đông đảo, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Quân đội, thấu triệt lời Bác dạy, tích cực hưởng ứng thực hiện các phong trào do Trung ương Đoàn phát động, gắn với cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và phong trào thi đua Quyết thắng. Các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ toàn quân, nòng cốt là hai phong trào lớn: “Thanh niên Quân đội vươn tới những đỉnh cao”, “Thanh niên Quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”… đã xuất hiện nhiều mô hình hay tấm gương điển hình tiêu biểu. Qua đó, phát huy hiệu quả vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ trong thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích thực hiện việc khó, việc mới, việc quan trọng, xác lập những đỉnh cao, kỷ lục mới trên từng lĩnh vực hoạt động  xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.


QĐND

DI CHÚC - MỞ RA MỘT TƯƠNG LAI MỚI



Di chúc là tác phẩm được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong một khoảng thời gian dài, với nhiều lần sửa chữa, bổ sung, cân nhắc kỹ lưỡng. Bản đầu tiên được viết ngày 15-5-1965, bản thứ hai viết vào tháng 5-1968, bản thứ ba được viết ngày 10-5-1969 và bản thứ tư-bản toàn văn-được công bố năm 1969.


Theo tính chất thể loại thì di chúc là một dạng văn bản ghi lại những điều mà người sắp từ giã cõi đời nói với những người đang sống; thường được công bố khi người viết đã ra đi, do vậy, đây là một văn bản mà tự thân nó đã gợi nên những gì là ngậm ngùi, tiếc nhớ, buồn thương. Nhưng trong các bản viết tay, Bác không hề dùng hai chữ “di chúc”. Bản viết năm 1965, Người ghi “Nhân dịp mừng 75 tuổi” ở giữa dòng đầu, bên trái là 4 chữ “Tuyệt đối bí mật”. Trong phần nội dung, Người viết “để lại mấy lời này” (bản năm 1965), “để sẵn mấy lời này” (bản công bố năm 1969) chứ cũng không nói là “di chúc”. Như vậy, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mang những nét đặc trưng thể loại thông thường, rất truyền thống nhưng luôn có xu hướng vượt thoát ra ngoài ranh giới thể loại để mang tầm vóc của một văn kiện lịch sử vô giá, hướng về tương lai, tiên đoán và khẳng định tương lai. Với tầm vóc lớn lao, tác phẩm vươn tới một diễn ngôn của thời đại, là tiếng nói của thời đại, của tương lai.


Đây là một văn bản đối thoại văn hóa theo nghĩa đầy đủ nhất của khái niệm này, cực kỳ trí tuệ, sâu sắc, tầm nhìn vượt thời gian, không gian; rất mực yêu thương, nhân ái, khoan dung, vì con người. Văn bản hầu như đối thoại với tất cả mọi người (toàn dân, toàn Đảng, bộ đội, thanh niên, nhi đồng...); đối thoại về nhiều vấn đề thiết yếu của xã hội (đối nội, đối ngoại, chấm dứt chiến tranh, xây dựng đất nước, việc riêng, việc chung...). Có thể coi câu chữ trong Di chúc là sự khái quát cao nhất cho một cương lĩnh phát triển vĩ mô của đất nước sau ngày thống nhất. Đặc biệt, Di chúc như mở ra một tương lai, một chân trời mới cho đất nước bằng sự khẳng định chắc chắn, tất yếu về niềm tin. Không ngẫu nhiên mở đầu tác phẩm là một niềm tin chiến thắng:


“Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.


Đó là một điều chắc chắn”.


Ở câu trên, mệnh đề “song nhất định thắng lợi hoàn toàn” là một khẳng định nhưng vẫn được nhấn mạnh một lần nữa ở câu “Đó là một điều chắc chắn”. Để tác động mạnh hơn nữa vào thị giác người đọc, tác giả còn cho câu văn khẳng định này tách dòng đứng riêng. Các từ “nhất định”, “hoàn toàn”, “chắc chắn” là không thể thay thế. Giả sử dùng phép giả định tỉnh lược, chỉ còn “song sẽ thắng lợi” thì nội dung câu văn vẫn giữ nguyên nhưng rõ ràng ý nhấn mạnh niềm tin đã bị giảm đi rất nhiều. Ở phần sau, sự khẳng định còn mạnh mẽ hơn: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”. Bốn câu văn ngắn, cấu trúc giống nhau đều lấy “nhất định” (cùng là thanh trắc) làm động từ chính tạo ra ngữ khí mạnh mẽ, rắn rỏi, chắc chắn, diễn tả cao nhất niềm tin đến tuyệt đối. Từ góc độ cấu trúc hình thức có thể hình dung ngôi nhà hòa bình Việt Nam được Bác Hồ xây dựng trên mảnh đất tự do có 4 cây cột “nhất định” vô cùng vững chãi: Nhất định thắng lợi, nhất định Mỹ cút, nhất định thống nhất, nhất định sum họp!


Đặt Di chúc trong bối cảnh viết khi mà cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc còn đang ở giai đoạn cực kỳ gian khổ, ác liệt càng thấy niềm tin này chỉ có thể có ở một bản lĩnh lớn, một khí phách lớn, một nhãn quan chiến lược thiên tài, nhìn thấu tương lai. Hơn nữa, đây là niềm tin của một vị Chủ tịch nước nên có tác dụng cổ vũ, động viên rất lớn: Niềm tin của một người gieo niềm tin đến muôn người. Có thể coi đây là một sự kết tinh của văn hóa Việt về niềm tin, niềm lạc quan, dù ở trong tình huống khó khăn nào vẫn luôn hướng về những điều tốt đẹp, “còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”.


Trong các điều kiện cơ sở của đối thoại văn hóa thì hiểu biết được đặt lên hàng đầu. Di chúc thể hiện tầm nhìn của một trí tuệ lớn mang tầm thời đại và đi trước thời đại khi đưa ra những dự báo chiến lược hết sức đúng đắn, mà đến hôm nay, thực tế cho thấy đó là chân lý. Niềm tin toát ra từ Di chúc cũng chính là một biểu hiện của trí tuệ vô song ấy!


Với những lời đầy ân tình, Di chúc thể hiện rất rõ cách ứng xử văn hóa truyền thống, coi mọi người như người trong một gia đình: “Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam-Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”. Và tấm lòng biết ơn, tri ân, “uống nước nhớ nguồn” của người Việt: “Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta”. Nếu có thể gọi là chính sách đối nội, đối ngoại trong Di chúc của Bác thì ta vẫn thấy một nguyên tắc trọng tình, văn hóa trọng tình, đậm đà bản sắc Việt.


Vấn đề đoàn kết được Người dành hẳn một đoạn văn ngắn, ngắn về câu chữ nhưng dài rộng về ý, sâu sắc về tình: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đây cũng là tư tưởng cơ bản của hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng chính là những nét nổi bật trong lịch sử tư tưởng dân tộc Việt, như Bác từng nhận định: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Trong một văn bản hơn 1.000 chữ, Bác Hồ 8 lần nhắc đến hai chữ “đoàn kết” cho thấy Người rất quan tâm đến vấn đề này. Điều ấy hoàn toàn thống nhất với một nguyên lý mà Người đã tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”!


Đúng với tính chất của thể văn di chúc, phần cuối rất quan trọng, để dồn tụ những ý tưởng, gói lại những di nguyện. Cấu trúc quy nạp này cũng phù hợp với tâm lý thông thường nhấn mạnh những điều cần trao gửi, nhắn nhủ, tạo ra hiệu ứng nhớ nhung, luyến tiếc ở người đọc. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ tuân theo logic hình thức của thể loại nhưng gợi ra hiệu ứng hoàn toàn khác, mới mẻ, tràn đầy niềm tin tưởng. Đoạn cuối, Di chúc khép lại về câu chữ nhưng mở ra về ý, về tình, về một tương lai, một tiền đồ tươi sáng: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Điều mong muốn này của Bác mang ý nghĩa phổ quát rộng rãi đến mức của chung tất cả, của mọi người dân Việt, của cả đất nước này, dân tộc này. Thế nên mong muốn ấy trở thành một “giải pháp văn hóa” thực sự lớn lao, mở ra một hướng đi cho cả đất nước. Mở ra hướng đi bằng chiếc chìa khóa vàng là sự “đoàn kết”. Hai chữ này được đặt ở vị trí trung tâm, mở đầu: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu”, để làm điểm tựa cho hai mệnh đề sau: “Xây dựng...” và “góp phần...”. Vừa là lời nhắn nhủ vừa là lời kêu gọi bằng sự đồng cảm, đồng tâm, đồng ý, đồng chí đi vào lòng người.


Di chúc nói chung, xét về bản chất cũng là di nguyện, thì mong muốn này chính là di nguyện của một con người vĩ đại bởi đây là một mô hình xã hội lý tưởng mà chỉ ở tầm cao một thiên tài văn hóa kiệt xuất mới có thể kiến tạo được. Có thể coi đây là một mô hình xã hội chủ nghĩa, bao gồm các khái niệm: HÒA BÌNH, THỐNG NHẤT, ĐỘC LẬP, DÂN CHỦ, GIÀU MẠNH. Sự sắp xếp trật tự các khái niệm này là không thể thay đổi bởi được cấu trúc trong một hệ thống logic chặt chẽ cao nhất, khái niệm nọ làm tiền đề, điểm tựa cho khái niệm kia. Mô hình này có tốt mới làm tiền đề cho mệnh đề (mô hình) sau có vai trò, nhiệm vụ, chức năng là “góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”!

Báo QĐND

Một số kinh nghiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

           Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, không thể bằng một vài chiến dịch, cuộc vận động mà có thể thành công. Để giành thắng lợi, đòi hỏi trước tiên là phải có nhận thức đúng mục tiêu, đối tượng, từ đó xác định đúng nội dung, phương thức đấu tranh phù hợp. Điều quan trọng nhất là phải có quyết tâm chính trị và niềm tin vào chiến thắng, không nôn nóng nhưng cũng không chủ quan, tuyệt đối không để xảy ra “bệnh thành tích” và “bệnh hình thức” trong quá trình thực hiện.

Một là, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sự thống nhất biện chứng của hai quá trình: vừa tiếp tục khẳng định những giá trị phổ quát, đúng đắn của chủ nghĩa Mác, vừa không ngừng bổ sung, phát triển và vận dụng linh hoạt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn Việt Nam. Do đó, trong bất kỳ hoàn cảnh và tình huống nào cũng phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng; đồng thời, căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh ở mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng luôn kiên trì nền tảng tư tưởng đã xác định, bản lĩnh vững vàng để lãnh đạo nhân dân đi tiếp con đường đã lựa chọn, đúng định hướng XHCN.

Hai là, chủ động phòng ngừa, phê phán nhận thức lệch lạc; kiên quyết đấu tranh với quan điểm sai trái và thù địch. Thực tiễn cho thấy, dù phong trào cách mạng vô sản và công nhân quốc tế luôn có những bước thăng trầm, luôn phải đối mặt với sự chống phá của các thế lực thù địch nhưng Đảng vẫn luôn sáng suốt, kiên trì và kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng. Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, thù địch có ý nghĩa quyết định. Trung ương, Bộ Chính trị luôn luôn có định hướng đúng đắn về công tác tư tưởng-định hướng cho thời kỳ dài và phương hướng cụ thể của từng giai đoạn. Đó là cơ sở rất quan trọng để cấp bộ đảng, các ngành, các cơ quan chuyên môn, đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, lý luận kịp thời đề xuất bước đi, giải pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Ba là, để giữ vững nền tảng tư tưởng, toàn Đảng và hệ thống chính trị thường xuyên, tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, huy động sức mạnh tổng hợp của cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đảng phát huy vai trò, thế mạnh của các phương tiện truyền thông, các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc tuyên truyền những đường lối, chủ trương của Đảng; đồng thời có sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, chặt chẽ của các tổ chức đảng các cấp. Đảng không ngừng phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là phương thức hữu hiệu để huy động sức mạnh tổng hợp tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là việc riêng của Đảng mà còn là việc chung, là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân”.

 

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch như thế nào để không trở thành “tuyên truyền không công” cho địch.

  

Hiện nay, trên intrernet và mạng xã hội lan truyền rất nhiều quan điểm sai trái, thù địch. Không ít cán bộ tuyên truyền sử dụng chúng làm nội dung để đấu tranh phản bác. Những quan điểm càng mới, ít người biết, càng cao siêu, mơ hồ lại càng hấp dẫn đối tượng. Trong bối cảnh xã hội có tình trạng suy giảm niềm tin như hiện nay, cách làm này vô tình đã tiếp tay cho các thế lực thù địch.

Chúng ta nên tập hợp các quan điểm sai trái, thù địch thành các nhóm như sau:

1) Những quan điểm tấn công trực tiếp vào hệ tư tưởng. Đây là những quan điểm hoặc là phủ nhận sạch trơn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc thừa nhận đúng một phần, đúng trong quá khứ, không đúng trong hiện tại, đúng ở  phương Tây, không đúng với Việt Nam. v. v.

2) Những quan điểm tấn công vào đời tư của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh bằng các thủ đoạn bôi nhọ, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, đặt sai bối cảnh…

3) Những quan điểm đánh đồng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực với học thuyết, lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

4) Những quan điểm quy những hạn chế, yếu kém của quá trình đổi mới vào sai lầm của hệ tư tưởng.

Phân loại như vậy, chúng ta chỉ cần lấy một vài ví dụ phổ biến để chứng minh, phản bác. Đôi khi trong đấu tranh phản bác, chúng ta chỉ cần chứng minh điều ngược lại với các quan điểm sai trái, thù địch là đủ bởi chúng ta có chính nghĩa và thực tiễn lịch sử rất phong phú.

Hiện nay, chúng ta thường tập trung vạch trần bản chất phản khoa học, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, thù địch. Theo chúng tôi, đây chỉ là cách đấu tranh ở phần ngọn. Vì nếu chúng ta phản bác được luận điểm này, chúng lại tiếp tục đưa ra các quan điểm khác, ngày càng tinh vi, xảo quyệt và thâm độc hơn. Mặt khác, trong khi hệ tư tưởng của chúng ta hiện nay cũng chưa hoàn thiện, chưa hoàn toàn phù hợp với điều kiện mới, có những vấn đề đã bị thực tiễn vượt qua; trong khi đó, công cuộc đổi mới vẫn đang còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Như vậy, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch sẽ như “muối bỏ bể”, chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Để khắc phục tình trạng đó, chúng ta cần truy đến tận gốc, tức là phải xác định chủ thể của các quan điểm sai trái, thù địch để phân loại và có biện pháp đấu tranh phản bác phù hợp.

Theo chúng tôi, chủ thể, nguồn phát các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay có thể chia làm bốn loại sau đây:

Kẻ thù giai cấp

Nền tảng tư tưởng của chúng ta là hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, như  vậy những người theo hệ tư tưởng tư sản sẽ chống đối là điều tất yếu. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng, mang tính chiến lược lâu dài. Việc giai cấp tư sản huy động các nhà tư tưởng, lý luận để đưa những quan điểm sai trái, thù địch là không cần phải bàn cãi. Vì vậy, chúng ta không hoang mang và nôn nóng trong cuộc đấu tranh này. Mặt khác, đây là cuộc đấu tranh giai cấp trong lĩnh vực tư tưởng trên phạm vi toàn cầu nên giai cấp tư sản đã có chiến lược, có bộ máy, con người, lộ trình, thủ đoạn, kinh phí, phương tiện dồi dào, hiện đại để chống phá. Vì vậy, chúng ta phải nâng tầm cuộc đấu tranh này lên tầm chiến lược, phải đấu tranh ở tầm trí tuệ, tầm lý luận, học thuyết. Một mặt, chúng ta không dao động, không nhân nhượng, luôn kiên định mục tiêu nhưng mặt khác cũng cần “tương kế, tựu kế” giống như chủ nghĩa tư bản đã rất cám ơn bộ tư bản của Mác vì đã chỉ ra khuyết tật của chính họ, nhờ đó họ đã điều chỉnh và tạo ra sức sống cho chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay.

Kẻ thù cách mạng

Chiến thắng của cách mạng đồng thời cũng tạo ra những kẻ thù của cách mạng. Họ là những kẻ đã thất bại trong các cuộc kháng chiến. Sự thất bại luôn đi cùng với mất mát, thiệt hại về sinh mạng, quyền lực chính trị, tinh thần và của cải nên họ rất khó xóa bỏ được tư tưởng thù hận, tham vọng khôi phục những quyền lợi đã mất. Vì vậy, lực lượng này đương nhiên sẽ rất hậm hực khi chứng kiến những thành tựu của công cuộc đổi mới và rất hả hê khi chúng ta gặp khó khăn, thất bại. Mặc dù kẻ thù giai cấp luôn tận dụng, cấu kết với kẻ thù cách mạng để chống phá, nhưng nhìn chung, các quan điểm sai trái, thù địch của lực lượng này thường không sâu sắc, bài bản, hệ thống như kẻ thù giai cấp. Quan điểm chống phá của họ thường nặng về cảm xúc, dễ thay đổi và tính thuyết phục không cao. Lớp người thù hận cũng sẽ dần dần ít đi vì tuổi tác. Tuy nhiên, phần lớn trong số họ là người Việt nên nắm được tâm lý, tâm linh, văn hóa của người Việt Nam. Các quan điểm sai trái, thù địch của họ dễ thông qua con đường tình cảm gia đình, dòng họ để thẩm thấu vào Việt Nam. Nếu chúng ta biết được nguồn gốc, lịch sử của họ, chúng ta sẽ chỉ cho cán bộ, đảng viên, quần chúng biết họ là ai và lý do vì sao họ lại có quan điểm như vậy, đồng thời chúng ta có thể cảm hóa, lôi kéo họ trở về với dân tộc, đóng góp cho đất nước.

Những kẻ phản bội cách mạng

Đây là những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hoặc là những quần chúng được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài nhưng bị lôi kéo, mua chuộc quay lưng lại chống Đảng, chống chế độ. Điều nguy hiểm ở lực lượng này là đa số họ nắm chắc về lý luận chính trị, thực tiễn cách mạng Việt Nam. Một bộ phận trong số họ đã từng giữ cương vị trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đất nước nên nắm được những sai lầm, khuyết điểm của chúng ta. Quan điểm của họ thường được ngụy trang, núp bóng dưới những kiến nghị, đề xuất, sáng kiến canh tân, cải tổ đất nước, vì vậy dễ được quần chúng tin tưởng. Đây là lực lượng nguy hiểm nhất, chúng ta cần  nghiên cứu sâu về năng lực, sở trường của từng phần tử chống đối. Phải có lực lượng theo dõi thường xuyên, kịp thời đấu tranh bằng những luận chứng, luận cứ thuyết phục, sắc bén cùng với các biện pháp công nghệ, kỹ thuật để phong tỏa thông tin, gắn với làm rõ thân nhân, biểu hiện suy thoái, cơ hội để cán bộ, đảng viên sớm biết rõ bộ mặt thật của họ.

Những kẻ a dua, hoang tưởng về chính trị

Đây là những người bất mãn trong cuộc sống, những người nhẹ dạ cả tin, suy thoái về đạo đức, lối sống, công thần, ngạo mạn, chỉ coi mình là trên hết, coi thường lãnh tụ, coi thường tổ chức, theo thuyết âm mưu. Họ là những người vô tình, hay cố ý tán phát quan điểm sai trái, thù địch hoặc tung tin sai sự thật, suy luận vô căn cứ. Những quan điểm này tuy không có sức công phá mạnh nhưng có thể làm rối loạn xã hội, mất ổn định về tư tưởng chính trị. Những quan điểm của họ thường không chặt chẽ, nhiều sơ hở, cộng với những hạn chế về đạo đức, lối sống nên chúng ta có thể sử dụng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục để cảm hóa, thuyết phục kết hợp các biện pháp quản lý hành chính, kỷ luật và công tác kiểm tra, giám sát.


Sự khác nhau giữa quan điểm sai lầm, sai trái, thù địch và mục đích đấu tranh phản bác.



Trong thực hiện Nghị quyết 35, cần phân biệt quan điểm sai lầm và quan điểm sai trái để khoanh vùng đấu tranh cho phù hợp, tránh tình trạng quy kết, chụp mũ. Quan điểm sai trái là những quan điểm phản ánh không đúng hiện thực khách quan, tức là sai lầm nhưng trái với đường lối, quan điểm của Đảng. Như vậy, quan điểm sai lầm khác với quan điểm sai trái ở mức độ và tính chất của nó. Ai cũng có thể mắc sai lầm vì năng lực tư duy, vì phương pháp nhận thức thiếu khoa học, thiếu dữ kiện, vì chân lý chỉ là tương đối... Trên thực tế, nhận thức sai lầm về sự vật, hiện tượng trong đời sống là khá phổ biến, bởi không phải ai và lúc nào cũng nhận thức đầy đủ, đúng đắn về bản chất và các quy luật của hiện thực khách quan.

Tuy nhiên, những quan điểm sai lầm thông thường chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân, một nhóm nhỏ thì không nghiêm trọng, có thể giải quyết bằng các biện pháp thuộc về khoa học. Những quan điểm sai lầm mà đối lập với quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước là sai lầm có phạm vi ảnh hưởng lớn, tính chất nghiêm trọng cần phải đấu tranh phản bác bằng những biện pháp mang tính chính trị, hành chính.

Quan điểm thù địch bao hàm cả những quan điểm sai trái nhưng khác nhau về mục đích và mức độ. Mục đích của quan điểm thù địch là chủ ý, mang tính phá hoại. Người có quan điểm thù địch vẫn sử dụng những kết quả nhận thức đúng đắn, chân thực để chống phá. Có thể họ biết đó là chân lý nhưng vẫn cố tình phủ nhận sạch trơn, không bao giờ thừa nhận một cách công khai.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là hoạt động có mục đích của Đảng nhằm vạch trần bản chất phản khoa học, phản cách mạng của chúng và góp phần củng cố niềm tin vào hệ tư tưởng của Đảng. Ở đây cần chú ý, mục đích của đấu tranh là bảo vệ, là củng cố niềm tin. Nếu chúng ta đấu tranh phản bác được nhiều quan điểm sai trái, thù địch nhưng niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào hệ tư tưởng, vào sự lãnh đạo của Đảng không tăng lên thì cũng không có ích lợi gì.

Có người thắc mắc, tại sao không đấu tranh chống hoặc xóa bỏ mà lại đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Phải chăng, chúng ta “đấu” không được nên bây giờ chỉ “cãi nhau” với họ mà thôi. Chúng tôi cho rằng, sử dụng thuật ngữ phản bác là thỏa đáng vì thực tế, bất cứ ở đâu, thời kỳ nào cũng luôn xuất hiện quan điểm sai trái, thù địch. Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển của truyền thông xã hội, việc ngăn chặn, xóa bỏ hoàn toàn các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet và mạng xã hội là không khả thi.

Một vấn đề đặt ra là những sản phẩm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch (sau đây gọi chung là bài viết) là để cho ai đọc, ai xem, ai nghe? Nếu viết cho kẻ thù của chúng ta thì liệu có thuyết phục được họ, buộc họ thừa nhận hệ tư tưởng của chúng ta, bởi họ vốn không cùng thế giới quan, lập trường, quan điểm, lợi ích với chúng ta. Theo chúng tôi, mục đích của những bài viết phản bác chủ yếu phải hướng tới cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bởi vì đấu tranh là để bảo vệ, giữ vững niềm tin của nhân dân vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Nếu chúng ta đấu tranh phản bác bằng những nội dung, hình thức trừu tượng, hàn lâm, xa lạ, nếu quần chúng không hiểu được thì cuộc đấu tranh đó cũng không mang lại hiệu quả thiết thực. Vì vậy, nội dung phản bác cần phải phù hợp với nhận thức của từng đối tượng, phải thể hiện bằng những hình thức phong phú, linh hoạt, phù hợp với giới trẻ, phải lựa chọn những kênh thông tin để các bài viết đến được với đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.


Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng


Trước hết, thường xuyên bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị (khoá XII) đối với công tác đấu tranh phòng chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội đi vào nền nếp đạt hiệu quả cao.

Hai là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền phá chống phá cách mạng Việt Nam; phát hiện những bất cập, hạn chế của các biện pháp, công tác nghiệp vụ đã và đang được triển khai...

Để nắm tình hình có hiệu quả, đòi hỏi các cơ quan báo chí cách mạng cần sử dụng tổng hợp các lực lượng, phương tiện, biện pháp; thường xuyên rà quét, lên danh sách các trang web, blog, diễn đàn có nội dung phức tạp, các đối tượng viết bài trên những trang mạng này (có thể là tên thật hoặc nickname, bút danh); khai thác thông tin trên các trang web, blog để xác định được đối tượng sở hữu, quản lý bài viết và đề xuất biện pháp kịp thời xử lý

Ba là, phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Trong tổ chức thực hiện, cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các cơ quan, đơn vị. Các cơ quan báo chí cần phát huy vai trò nòng cốt đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội

Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt tham gia các vấn đề cụ thể của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng 

Bốn là, thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi, rút  kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức các cuộc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ; được trang bị đầy đủ, vững chắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao. Cuộc đấu tranh này phải được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đặc biệt, cần huy động được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với nước ta.

Năm là, tăng cường hoạt động quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ, tính toán sử dụng các giải pháp về công nghệ để ngăn chặn một cách triệt để các tin tức xấu độc trên các trang mạng. Đặc biệt, phải chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, chiếm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn mạng xã hội, sau đó xóa dữ liệu, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại” trong một thời gian nhất định. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Kinh nghiệm cho thấy, đấu tranh, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng, chính  sách, pháp luật của Nhà nước bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến đầy khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước ta, với những thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới và trong phòng chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.

Chúng ta tin tưởng rằng, cuộc đấu tranh, ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng, đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước sẽ được bảo vệ vững chắc. Đó là những nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị; của các bộ, ban, ngành và từng địa phương, cơ quan, đơn vị; của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu./.Một là, về mối quan hệ giữa bảo vệ và đấu tranh.