Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2023

 

Đấu tranh đẩy lùi thái độ bàng quan, dao động về tư tưởng xã hội chủ nghĩa

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, một bộ phận cán bộ, đảng viên tỏ ra thờ ơ, dao động về tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đây là biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị cần đấu tranh phê phán, loại bỏ.

Tư tưởng tiến bộ, nhân văn nhưng vẫn bị thờ ơ, nghi hoặc

Tư tưởng XHCN là một hệ thống những quan niệm phản ánh nhu cầu, ước mơ, nguyện vọng của các giai cấp lao động về một xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều bình đẳng và có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; là những thành tựu của con người đạt được trong quá trình đấu tranh giải phóng giai cấp; là chế độ xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều được tự do, bình đẳng, có điều kiện phát triển toàn diện.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn con đường XHCN và xây dựng đất nước theo định hướng XHCN để “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.

Tuy nhiên, sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, không ít người, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên tỏ ra hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của Đảng ta; thậm chí còn xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận sự lựa chọn con đường cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Có thể khẳng định rằng, thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là “căn bệnh” rất nguy hại, biểu hiện đa dạng như: Dửng dưng, làm ngơ, không quan tâm đến những sự kiện, sự việc diễn ra của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như trước khó khăn của đất nước, trong khi đó lại có những lời lẽ chê bai, phê phán sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp.

Biểu hiện rõ nhất của việc thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN là những phát ngôn mơ hồ về CNXH. Giọng điệu của họ là ngợi ca chủ nghĩa tư bản như hình mẫu của sự phát triển hiện đại và xem cuộc khủng hoảng của CNXH thời gian qua là "bằng chứng khách quan" của một thử nghiệm thất bại. Một số thái độ dao động đáng lên án hơn là lên tiếng phê phán Đảng, Bác Hồ đã không lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa để Việt Nam sớm “hóa rồng”, “hóa hổ” như một số nước Đông Bắc Á. Họ cố tình lãng quên rằng, trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các chí sĩ yêu nước Việt Nam đã từng thử nghiệm những con đường giải phóng dân tộc, phát triển đất nước khác nhau, trong đó có con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng tất cả đều không thành công. Trước tình hình đó, đất nước và nhân dân đòi hỏi một con đường khác, con đường dẫn nhân dân Việt Nam đến độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khai mở từ mùa xuân năm 1930.

Một biểu hiện khác của thái độ thờ ơ, dao động đối với tư tưởng XHCN là phủ nhận giá trị bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Có người lập luận rằng, học thuyết do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin sáng lập là kết quả của việc tổng kết lịch sử châu Âu thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 nên không còn sức sống trong thời đại mới. Học thuyết đó chỉ là sản phẩm của thời đại công nghiệp, không còn phù hợp trong thời đại toàn cầu hóa, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo... Thực chất đây là sự phủ nhận toàn bộ giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-một biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra.

“Quy luật tiến hóa của lịch sử” đang hiện diện sinh động ở Việt Nam

Điều kiện bảo đảm cách mạng thành công, xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta là trước hết phải có Đảng. Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng và xây dựng CNXH ở nước ta; Đảng phải lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng. Do đó, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến công tác xây dựng Đảng; yêu cầu Đảng phải nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, trí tuệ, vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng CNXH vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam.

Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đến nay, đã có nhiều hội thảo bàn luận khá sôi nổi về khả năng và triển vọng của CNXH; trong đó, đáng tiếc là có một số ý kiến của cán bộ, đảng viên có biểu hiện hoài nghi về tương lai của chế độ XHCN. Vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, trước sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Về sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam, Văn kiện Đại hội VII của Đảng (năm 1991) chỉ rõ: Đây là “sự lựa chọn của chính lịch sử”; gắn liền với tư duy sáng tạo, hợp logic và nhất quán của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Đến Đại hội XI của Đảng, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Việc xác định những đặc trưng cơ bản trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” đã phản ánh tổng quát, toàn diện quan niệm về CNXH của Đảng ta, là sự kiên định, hiện thực hóa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH trong điều kiện mới của đất nước.

Phê phán, đẩy lùi thái độ thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN

Nhìn từ góc độ bản chất, niềm tin CNXH chính là niềm tin khoa học, phát triển trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, gắn bó chặt chẽ với hoạt động của những người cộng sản. Trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những người cộng sản luôn phấn đấu vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại, nhân dân lao động, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó, xét đến cùng, niềm tin CNXH mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc, là sự thống nhất và biện chứng của tri thức-niềm tin-tình cảm-ý chí-hành động. Đặc trưng cơ bản nhất của niềm tin CNXH là sự nhận thức đúng đắn các quy luật phổ biến và quy luật đặc thù trong sự phát triển của tự nhiên và xã hội. Có niềm tin về CNXH, cán bộ, đảng viên luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Hiện nay, vẫn còn tình trạng một số cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động với nhiều vấn đề của xã hội, trong đó có thờ ơ, dao động với tư tưởng CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đây chính là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Bởi các thế lực thù địch luôn ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống phá những nước CNXH, trong đó có Việt Nam. Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, với mục tiêu phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và thành tựu sự nghiệp xây dựng CNXH của Việt Nam. Tính chất thâm độc của các thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong những năm gần đây là triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội với các chiêu trò “đổi trắng thay đen”, đưa các thông tin đúng-sai lẫn lộn và xây dựng các “ngọn cờ” chống phá từ bên trong, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nếu cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động sẽ dễ sa vào những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch.

Trước tình hình trên, việc làm rõ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là cơ sở phản bác thuyết phục, đanh thép các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới theo định hướng CNXH nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên là những người có tri thức, được học tập, công tác, lao động trong điều kiện thuận lợi, do đó, cần hết sức tỉnh táo trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc về CNXH và con đường đi lên CNXH dưới những hình thức khác nhau, trên những diễn đàn khác nhau, nhất là internet và mạng xã hội. Khi thấy những thông tin trên mạng xã hội, cần tỉnh táo nhận diện nguồn tin, tránh bình luận, chia sẻ tùy tiện. Điều này vô tình tuyên truyền cho các luận điệu sai trái, thù địch. Bên cạnh đó, cán bộ, đảng viên cũng cần biết lợi dụng thế mạnh của internet, mạng xã hội để tuyên truyền, lan tỏa những thông tin tốt về tính ưu việt của CNXH, sự đúng đắn của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Đối với cán bộ, đảng viên có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị cao, cần nêu cao tinh thần đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch thông qua việc viết bài trên các sách, báo, tạp chí hay tham gia những diễn đàn báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng xã hội... Những sản phẩm đấu tranh trực diện đó thường có tính lan tỏa mạnh mẽ đối với cán bộ, đảng viên, tác động trực tiếp đến tâm lý, tư tưởng và định hướng dư luận trong cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Thái độ thờ ơ, dao động của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là đáng phê phán và cần có những biện pháp để chấn chỉnh kịp thời, nếu không xử lý dứt điểm dễ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc loại bỏ thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng CNXH là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN trong tình hình hiện nay.

 

Quân đội xây dựng thế trận bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

Nền tảng tư tưởng của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định phương hướng chính trị, bản chất cách mạng của một Đảng chân chính. Bảo vệ nền tảng tư tưởng (NTTT) của Đảng là một tất yếu khách quan, một nhiệm vụ chính trị quan trọng của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới. Vì vậy, Quân đội cần tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng tiên phong, mũi nhọn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quân đội chủ động, nhạy bén trong “cuộc chiến” bảo vệ chân lý, niềm tin vào Đảng

Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm NTTT, kim chỉ nam cho mọi hành động.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình huống khó khăn, phức tạp nào, Quân đội ta cũng luôn là trụ cột của Đảng, Nhà nước, chỗ dựa vững chắc của nhân dân. Đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng đã trở thành một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Quân đội trong cả thời bình và thời chiến. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, Quân đội luôn tiên phong, đi đầu trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ NTTT của Đảng; tiếp tục phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội và xã hội; vạch trần bản chất phản động, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, xuyên tạc NTTT của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Quân đội xây dựng thế trận bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

Quân đội cần tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng tiên phong, mũi nhọn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ảnh minh họa: qdnd.vn

Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, các cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ NTTT của Đảng. Thế trận đấu tranh tư tưởng, lý luận trong Quân đội ngày càng vững chắc.

Công tác giáo dục chính trị được đặt lên hàng đầu, không ngừng đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục NTTT của Đảng, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.

Nghiên cứu, nhận diện và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, xuyên tạc, phủ nhận NTTT của Đảng. Đã tập trung luận giải có cơ sở khoa học, khẳng định những giá trị bền vững, tính đúng đắn, khoa học, cách mạng và sức sống bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Ban Chỉ đạo, cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương đã quán triệt sâu sắc nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp đồng bộ, kịp thời, hiệu quả. Đã chủ động tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Quân đội luôn gương mẫu thực hiện nhiệm vụ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chủ động, nhạy bén, tích cực đi đầu trong bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch”.

Không ai đứng ngoài cuộc và không để “khoảng trống” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, nhất là biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, tội phạm công nghệ cao; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn cam go và lâu dài, phức tạp; nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đặt ra yêu cầu mới và cao hơn.

Để góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, giải pháp hàng đầu là phải làm cho mọi tổ chức, lực lượng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng hiện nay. Thấu hiểu sâu sắc đấu tranh tư tưởng, lý luận là một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị; bảo vệ NTTT của Đảng là bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Phải làm cho các cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, mọi cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ trách nhiệm, vinh dự của mình, phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, thực sự là lực lượng nòng cốt, đi đầu trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận cũng như trong bảo vệ NTTT, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Không một ai, không một tổ chức, lực lượng nào được bàng quan, vô cảm, đứng ngoài cuộc mà phải tham gia một cách chủ động, sáng tạo vào cuộc đấu tranh này.

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Vì vậy, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trực tiếp là của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ này.

Bên cạnh lãnh đạo, chỉ đạo, học tập quán triệt Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị, cần coi trọng lãnh đạo thực hiện toàn diện các nội dung về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, áp dụng nhiều hình thức, biện pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện của từng cơ quan, đơn vị Quân đội.

Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong Quân đội; nâng cao trách nhiệm của cơ quan, bộ phận chuyên sâu giúp việc, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kịp thời, hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong Quân đội; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp chống đối, cơ hội, bất mãn, giữ vững sự ổn định chính trị trong Quân đội.

Để tiếp tục làm cho hệ tư tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo, thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống văn hóa, chính trị-tinh thần của xã hội và Quân đội, đòi hỏi phải huy động các tổ chức, lực lượng của Quân đội tham gia.

Qua đó, giáo dục, tôi luyện cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội trở thành lực lượng chính trị vững mạnh, hùng hậu, sẵn sàng đảm đương các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp hơn. Bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ, đấu tranh tư tưởng, lý luận phức tạp, lâu dài, nên cần phải quan tâm xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách, nòng cốt, thiện chiến, đặc biệt tinh nhuệ về chính trị.

Theo đó, cần coi trọng xây dựng, phát huy vai trò của các nhà khoa học, nhà giáo, chuyên gia, các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường; các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo... trong Quân đội đối với nhiệm vụ tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thiết lập thế trận chủ động, rộng khắp, liên hoàn, vững chắc trong Quân đội. Xác lập tổng thể các biện pháp, nguyên tắc, bố trí, triển khai và tổ chức các lực lượng cụ thể, từ nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền cơ bản, rộng khắp đến trực tiếp tác chiến, đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm trên các phương tiện thông tin, truyền thông truyền thống và hiện đại của Quân đội và quốc gia, trên internet, mạng xã hội; bao phủ toàn bộ nội bộ Quân đội, không ngừng mở rộng trên phạm vi quốc gia và quốc tế; chủ động gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, "chống" phải quyết liệt, hiệu quả; lấy cái đẹp dẹp cái xấu; không bỏ trống trận địa tư tưởng, bảo đảm ở đâu có bộ đội là ở đó có tuyên truyền giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; mỗi đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ là một tấm gương sáng về truyền bá NTTT của Đảng.

Kết hợp chặt chẽ các biện pháp chính trị, tư tưởng và tổ chức đấu tranh phòng ngừa, bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững và tăng cường trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Trong thời đại công nghệ 4.0, cần tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện, ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) trong Quân đội, tận dụng truyền thông quốc gia, phục vụ có hiệu quả cho đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Không ngừng hoàn thiện các cơ chế, chính sách xây dựng, bồi dưỡng, sử dụng, bảo vệ con người và lực lượng Quân đội tham gia bảo vệ NTTT của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bổ sung hoàn thiện các khung khổ pháp lý, quy định về khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội, tài liệu, quản lý, kiểm soát, kiểm duyệt các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo, tuyên truyền, in ấn, xuất bản, phát hành trong Quân đội, bảo đảm thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ được giao.

Không ngừng đầu tư, đổi mới trang thiết bị công nghệ thông tin, truyền thông, sử dụng AI trong tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu tác chiến cả tập trung và rộng khắp trên không gian mạng, bảo đảm ngành tuyên huấn Quân đội là một binh chủng tác chiến tư tưởng hiện đại. 

Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ nhằm góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là yêu cầu đòi hỏi khách quan, cấp bách, là trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong Quân đội. Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cũng luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm chính trị, là lực lượng tin cậy, tiên phong bảo vệ vững chắc NTTT của Đảng, góp phần lan tỏa phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

NHÀ BÁO CHÍNH LUẬN VÕ NGUYÊN GIÁP: NGÒI BÚT CHIẾN ĐẤU!

     Thời đại Hồ Chí Minh đã sản sinh ra nhiều nhà báo lớn, trong đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, nhà quân sự thiên tài - là nhà báo chính luận xuất sắc. Những tác phẩm báo chí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mang nhịp đập của thời đại, không chỉ gắn với sự nghiệp đấu tranh cách mạng giai đoạn trước năm 1945 mà còn tiếp tục mở rộng trong các giai đoạn lịch sử sau này. 

LÀM BÁO ĐỂ LÀM CÁCH MẠNG
Sinh ra từ vùng quê Quảng Bình giàu truyền thống yêu nước, trực tiếp chứng kiến cảnh đồng bào bị bè lũ thực dân và tay sai đàn áp, bóc lột, Võ Nguyên Giáp đã nung nấu ý chí quyết tâm tham gia đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc. Năm 1925, khi còn là học sinh, do sớm được tiếp thu tư tưởng cách mạng của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Võ Nguyên Giáp đã tích cực tham gia phong trào đấu tranh, bãi khóa ở trường Quốc học Huế, sớm tham gia viết báo.

Theo các tư liệu được ghi chép cẩn thận do gia đình Đại tướng cung cấp, năm 1925, khi 14 tuổi, ông vào Huế học trường Quốc học. Chỉ hai năm theo học dưới mái trường Quốc học Huế, ông đã làm quen với nghề báo và bắt đầu viết báo, thể hiện tinh thần yêu nước, bảo vệ những người con dân Việt Nam. Thời kỳ ở Huế là những năm tháng sôi nổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, “làm nhiều việc cùng một lúc: vừa học thi, vừa đi dạy, vừa viết báo, vừa hoạt động cách mạng…”.

Năm 1927, đúng 16 tuổi, Võ Nguyên Giáp đã viết bài báo đầu tiên trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, bằng tiếng Pháp: “À bas le tyranneau de Quoc hoc!” (Đả đảo tên tiểu bạo chúa trường Quốc học!) dự kiến gửi đăng trên tờ L’Annam xuất bản tại Sài Gòn. Bài báo ra đời trong phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Chu Trinh khởi nguồn từ chính mái trường Quốc học Huế, tố cáo mạnh mẽ nền giáo dục ngu dân của những kẻ cai trị. Chính vì bài báo này, ông bị đuổi khỏi trường vì biểu tình ủng hộ nhà yêu nước Nguyễn Chí Diểu. Lúc ấy, Luật sư Phan Văn Trường đang làm chủ bút tờ báo này đã phải thốt lên: "Một cây bút mới xuất hiện lần đầu ở bản xứ này, mà có giọng văn sắc sảo như giọng văn Nguyễn Ái Quốc bên Paris". Cũng giống như lãnh tụ Hồ Chí Minh và các vị lão thành cách mạng tiền bối, Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm báo là để làm cách mạng. Ông lấy báo chí để bày tỏ tiếng nói của lớp thanh niên Việt Nam bị thực dân đô hộ giai đoạn trước năm 1945. Ông đã sử dụng báo chí làm phương tiện để truyền bá tư tưởng cách mạng tiến bộ, định hướng dư luận và phục vụ những nhiệm vụ cách mạng của nhân dân Việt Nam.

Năm 1929, Võ Nguyên Giáp bắt đầu làm việc tại Nhà xuất bản Quan Hải Tùng Thư do Đào Duy Anh sáng lập; và tham gia viết báo Tiếng Dân của nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng tại Huế. Võ Nguyên Giáp viết nhiều bài chính luận về xã hội, khoa học… Bài đầu tiên của Đại tướng (ký bút hiệu Hải Thanh) với tiêu đề “Vũ trụ và tân hóa” đăng trên báo Tiếng Dân số 218 ngày 28/9/1929 và số 222 ngày 5/10/1929. Những bài viết này sớm thể hiện phong cách chính luận của Đại tướng, với những góc nhìn chuyên sâu, phân tích, bình luận sắc sảo tình hình thời sự, chính trị quốc tế…

Sau khởi nghĩa Xô viết Nghệ Tĩnh 1930, thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắng bắt giữ nhiều nhân sĩ trí thức yêu nước. Tháng 10/1930, Võ Nguyên Giáp bị mật thám bắt ở nhà in báo Tiếng Dân trong vụ “cứu tế Nghệ An Đỏ” bị tuyên án 2 năm tù, giam tại nhà lao Thừa Phủ (Huế). Cuối năm 1931, do có Hội Cứu tế Đỏ Pháp đấu tranh, Võ Nguyên Giáp và một số người khác được trả tự do và đưa về quản thúc ở quê nhà Quảng Bình cho đủ hạn 2 năm theo án tù đã tuyên. Võ Nguyên Giáp ra tù ngày 15/11/1931 vào lúc vừa tròn 20 tuổi và bị cấm làm báo.

Năm 1936, tình hình chính trị nước Pháp có những chuyển biến có lợi cho nhân dân Đông Dương. Thời gian đó, Võ Nguyên Giáp ở Hà Nội và tham gia giảng dạy ở trường Thăng Long - Hà Nội. Thấy tình hình đang chuyển biến theo chiều hướng thuận lợi cho cách mạng Việt Nam, Võ Nguyên Giáp nghĩ ngay tới việc ra một tờ báo để đón thời cơ. Theo luật pháp của chính quyền thực dân, muốn ra báo bằng tiếng Pháp, chỉ cần nộp trước tờ khai tên báo, chủ nhiệm, quản lý, nếu vi phạm pháp luật, những người này sẽ bị đưa ra tòa xét xử. Nhưng muốn xuất bản một tờ báo tiếng Việt, phải xin phép, thể lệ rất phiền phức và thường phải chờ đợi lâu. Đúng lúc này, tờ Hồn trẻ của Hướng đạo sinh đang thua lỗ phải tạm ngừng xuất bản, chủ nhiệm báo sẵn sàng nhượng lại bản quyền. Võ Nguyên Giáp bàn với Đặng Thai Mai và các giáo sư trường Thăng Long cùng nhau góp tiền để làm cho tờ báo sống lại với một nội dung hoàn toàn mới. Chỉ hai ngày sau khi Léon Blum tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng Chính phủ Pháp, ngày 6/6/1936, Tờ Hồn trẻ tập mới ra đời, trực diện chống chính quyền Pháp và bè lũ tay sai. Trên trang nhất nêu rõ tôn chỉ của tờ báo, in bằng chữ to, đóng khung trang trọng: “Làm báo khác với làm giàu. Lấy danh nghĩa của nghệ thuật mà lợi dụng cái đẹp buồn bã, âm thầm, yếu ớt, suy vong mà ru ngủ bạn đầu xanh, đó không phải là việc làm của người cầm bút có lương tâm”. Dưới đó đăng bài kêu gọi người Pháp thực hiện chính sách dân chủ ở Đông Dương: ân xá chính trị phạm, cổ vũ dân chúng đấu tranh cho dân chủ tự do… Hồn trẻ là tờ báo tiếng Việt đầu tiên rất được bạn đọc hoan nghênh, in ra không đủ bán. Học sinh Thăng Long tình nguyện đi bán báo và góp tiền ủng hộ báo. Thấy rõ sự “nguy hại” của Hồn trẻ, các nhà cai trị thực dân vội vã đóng cửa báo sau khi ra được 12 số.

Khi biết việc ra báo tiếng Pháp dễ hơn báo tiếng Việt, Võ Nguyên Giáp đã chuyển sang làm báo tiếng Pháp. Ông cộng tác với Nguyễn Thế Rục, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, sinh viên Trường đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, xuất bản tờ Le Travail (Lao Động). Ngày 16/9/1936, Báo Le Travail xuất bản, ông vừa là chủ bút, vừa là biên tập viên chính. Tuy nhiên, ra được 30 số, tới ngày 16/4/1937, Le Travail lại bị thực dân Pháp đóng cửa. Việc xuất bản vẫn được Võ Nguyên Giáp duy trì, khi tờ này bị cấm, đồng chí cho ra đời tờ khác ngay. Báo tiếng Pháp có các tờ Rassemblement (Tập hợp), En Avant (Tiến lên), Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta); báo tiếng Việt có các tờ Thế giới, Đời nay, Tin tức, Ngày mới… công khai cổ động đấu tranh với các khẩu hiệu dân sinh, dân chủ, đòi đại xá chính trị phạm, ủng hộ Mặt trận Bình dân Pháp… Võ Nguyên Giáp xem viết báo như một nghĩa vụ và trách nhiệm, không có nhuận bút và phụ cấp mà sống thanh bạch nhờ nghề giáo. Tại Đại hội Báo giới Bắc kỳ lần thứ I họp ngày 24/4/1937, nhà báo Võ Nguyên Giáp được bầu làm Chủ tịch, nhà báo Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch.

Tháng 5/1940, khi cuộc chiến tranh thế giới II đã nổ ra, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng được Xứ ủy Bắc kỳ điều sang Vân Nam (Trung Quốc). Nhà báo cách mạng Võ Nguyên Giáp đã chính thức gặp, hoạt động và làm báo cùng với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

“VŨ KHÍ ĐẶC BIỆT” - LỜI HIỆU TRIỆU NON SÔNG
Từ năm 1941 đến năm 1945, dù rất bận rộn trong việc chuẩn bị lực lượng vũ trang cho cuộc Tổng khởi nghĩa, nhưng Võ Nguyên Giáp vẫn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyên truyền của một nhà báo cách mạng. Sau chiến thắng Nà Ngần, Phay Khắt, ông cho ra tờ báo viết tay Tiếng súng reo - một loại “vũ khí đặc biệt” của bộ đội ta hồi đó, được phát hành vào cuối tháng 12/1944. Đây là tờ báo đầu tiên của lực lượng vũ trang và là tờ báo nằm trong hệ thống báo chí cách mạng. Ngoài việc phát hành chính thức bằng tiếng phổ thông, tờ báo còn được dịch ra tiếng Tày, tiếng Nùng để phát hành ra các tổ chức quần chúng khác. Sự ra đời của tờ báo đã kịp thời phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục và huấn luyện bộ đội, tạo niềm tin trong dân và gây hoang mang, lo sợ cho kẻ thù trước sự phát triển mạnh mẽ của đội quân cách mạng. Khi Trung ương thành lập Mặt trận Việt Minh, chúng ta thống nhất xuất bản báo Việt Nam độc lập, Bác Hồ đã phân công Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết bài đăng trên báo này. Chính phong cách viết ngắn, gọn nhưng súc tích của Bác đã được nhà báo Võ Nguyên Giáp học hỏi và trau dồi nhanh chóng.

Đại tướng nhớ lại: Bác Hồ rất coi trọng công tác báo chí, khi huấn luyện, Bác dặn chúng tôi: “Báo chí là người tổ chức quần chúng làm cách mạng”. Anh Phạm Văn Đồng và tôi đều làm báo từ năm 1930, nhất là thời kỳ Mặt trận bình dân, nhưng khi đưa cho Bác xem tờ Tiếng Suối reo chúng tôi làm ở Tĩnh Tây, các bài đều dài vì sợ độc giả không hiểu, cứ phải luận giải, Bác phê bình: “Báo này để cho các chú đọc, vì chỉ có các chú mới hiểu”. Chúng tôi vô cùng thấm thía.” Không chỉ viết cho báo Việt Nam độc lập, thời gian này, Võ Nguyên Giáp còn làm chủ bút, chỉ đạo biên tập từ số 1 (ra ngày 20/6/1945) đến số 5 (ra ngày 5/8/1945) báo Nước Nam mới của Khu giải phóng; đồng thời đảm nhiệm báo Quân giải phóng của Việt Nam giải phóng quân. 

Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, với vai trò Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam tại chiến khu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn tiếp tục viết báo mỗi khi có thời gian. Những bài chính luận của ông đăng trên các báo và tạp chí xuất bản ở chiến khu trong 9 năm kháng chiến trường kỳ đã truyền đạt đường lối, chỉ đạo chiến lược và chiến thuật, tổng kết rút kinh nghiệm, đề ra phương châm tác chiến cũng như xây dựng cho lực lượng vũ trang cách mạng từng bước phát triển, càng đánh càng thắng lớn, càng đánh càng vững mạnh...

Giai đoạn 1955-1975, những năm chống Mỹ cứu nước, Đại tướng tiếp tục có nhiều bài chính luận sâu sắc về đường lối chiến tranh nhân dân, đường lối xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng hậu phương, về công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội, về phương châm tác chiến để đánh bại từng chiến lược chiến tranh trên mỗi bước “leo thang” của địch. Những bài chính luận đó của Đại tướng đã góp phần quan trọng bổ sung, phát triển kho tàng lý luận và nghệ thuật quân sự Việt Nam, làm giàu thêm kho tàng văn hóa Việt Nam...

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất 30/4/1975 và giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn tiếp tục viết. Các bài báo của Đại tướng rất đa dạng trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục và khoa học - kỹ thuật... Mỗi bài báo cho đến bây giờ vẫn mang giá trị thực tiễn và tính thời sự nóng hổi. Trong bài báo đăng trên báo Tin tức (Thông tấn xã Việt Nam) số đặc biệt tháng 5/1990, Đại tướng khẳng định:“Chúng ta có quyền tự hào về Bác, cần phải phát huy sáng tạo tư tưởng của Bác tìm ra những giải pháp cho những vấn đề của công cuộc đổi mới hôm nay”. Điều này thể hiện sự học tập nghiêm túc tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh của Đại tướng. Ngày 14/1/1991, tại Hội nghị quốc tế Hồ Chí Minh - Việt Nam - Hòa bình thế giới ở Cancutta (Ấn Độ), Đại tướng có bài phát biểu “Thế giới còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”. Nội dung các bài viết đã nâng việc nghiên cứu tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Bác lên một tầm cao mới, làm nổi bật những vấn đề cơ bản, đồng thời soi chiếu vào thực tiễn hôm nay để thấy nhiều điều cần phải học tập và làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh như Đảng đã kêu gọi và tích cực tổ chức thực hiện...

HÀO HÙNG VÀ LAY ĐỘNG
Nghiên cứu phong cách chính luận của nhà báo Võ Nguyên Giáp, có thể thấy, sở trường của ông là viết chính luận, phân tích, bình luận mọi vấn đề của xã hội, nhất là tình hình thời sự - chính trị quốc tế. Những bài báo chính luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được trải dài từ các cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và trong cả sự nghiệp đổi mới đất nước. Các tác phẩm của Đại tướng hừng hực chất lửa, đanh thép, sắc sảo mà sâu lắng, lay động lòng người bằng lập luận chặt chẽ, giàu hình ảnh, ngôn ngữ đặc sắc, có dấu ấn riêng và thực sự là những tiếng kèn xung trận bởi tính sắc bén, sinh động và kịp thời.

Ngôn ngữ trong các bài chính luận của Đại tướng rất uyển chuyển, ngôn từ giàu hình ảnh, sử dụng biện pháp tu từ liệt kê, sử dụng những động từ mạnh khiến người đọc như đang tận mắt chứng kiến sự việc. Đặc biệt, bằng bút pháp độc đáo, khúc triết, lập luận vững vàng, lời văn hào hùng, điêu luyện, các bài chính luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày sinh động quan điểm của Đảng và Nhà nước ta cùng nhiều vấn đề đang đặt ra trong cuộc sống, khiến người đọc thấy được xu thế và triển vọng của cách mạng, tin tưởng ở Đảng, ở thắng lợi của cuộc kháng chiến và tiền đồ tươi sáng của đất nước ta. Nhưng, khi viết về kẻ địch, nhà báo chính luận Võ Nguyên Giáp thường dùng lối văn châm biếm ý nhị, nhưng ý tứ sâu sắc lên án và đả kích quân xâm lược. Có thể thấy, những tác phẩm chính luận của nhà báo Võ Nguyên Giáp đều mang hơi thở của thời đại và giá trị thời đại qua những khát vọng của nhân dân trong thời chiến; những tâm tư, tình cảm và những băn khoăn của nhân dân trong thời bình. Các tác phẩm chính luận của ông thực sự gần gũi và dễ hiểu với nhân dân, với những ngôn từ hết sức giản dị, thẳng thắn và mộc mạc như cách nghĩ của nhân dân.

Nói về phong cách báo chí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cố nhà báo lão thành Đỗ Phượng từng chia sẻ: Đại tướng Võ Nguyên Giáp người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc mà còn là một bậc thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Quan điểm làm báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là lấy dân làm gốc, làm báo là phải phản ánh kịp thời, chân thật ý nguyện của nhân dân. Bài viết dành cho nhiều tầng lớp nhân dân đọc nên phải viết sao cho thật trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ. Là một nhà báo đa năng, ngay từ thời trẻ, ông đã tham gia vào hết quá trình xuất bản một tác phẩm báo chí từ viết xã luận, thời đàm, nghị luận, điều tra, phóng sự, biên tập, duyệt bài, sắp xếp nội dung, cho tới bố cục, lên trang, trình bày, đưa nhà in, sửa morrasse và không ít khi cả việc phát hành báo. Ở trong ông, có một mối quan hệ đặc biệt giữa nghề văn và nghề võ, giữa nghệ thuật báo chí và nghệ thuật quân sự, giữa “nghệ thuật tổ chức thông tin” trong làm báo với “nghệ thuật bày binh bố trận” trong đánh giặc. Chúng ta có thể học hỏi được rất nhiều điều qua tâm sự của Đại tướng trong bài viết “Mười lăm năm làm báo trước Cách mạng Tháng Tám”: “Tôi thấy làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng. Đó là một công việc luôn luôn khẩn trương, phải phát hiện kịp thời ... tâm lý đa dạng và thường xuyên thay đổi của bạn đọc, nguyện vọng sâu xa của nhân dân để biết mình phải làm gì”.

Bước sang thế kỷ XXI, khi bước vào tuổi cửu tuần, những bài báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn luôn được công chúng đón đợi. Đại tướng nhắc nhở: “Làm báo phải phản ánh đúng thực tiễn. Liên Xô trước đây đặt tên tờ báo của Đảng là Sự thật, nêu cái hay, cái tích cực, phê phán cái không hay, cái tiêu cực, các tệ nạn, những cái đó có thể gọi là “giặc nội xâm”. Giặc ngoại xâm ta đã đánh thắng, bây giờ báo chí phải góp phần vào việc đánh thắng “giặc nội xâm” đó”.

Là vị tướng thống lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam và cũng là một nhà báo chính luận xuất sắc, từ khi còn ở chiến khu Việt Bắc, khi cách mạng Việt Nam còn non trẻ, trong bối cảnh chiến tranh thế giới II sắp đến hồi kết thúc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã làm chủ bút và chỉ đạo biên tập 5 số đầu tiên (từ ngày 20/6 đến ngày 5/8/1945) của báo Nước Nam mới thuộc Khu Giải phóng. Ông viết bài chỉ đạo cho báo Việt Nam Độc lập của Mặt trận Việt Minh khu căn cứ địa. Ông cho ra đời tờ Quân Giải phóng của Việt Nam Giải phóng quân. Khi viết bài cho các tờ báo này, Đại tướng thường ký tên là Trí Dũng. Đại tướng - nhà báo Võ Nguyên Giáp trình bày rất dễ hiểu những vấn đề chiến tranh du kích, xây dựng quân đội cách mạng, đồng thời đưa ra những nhận xét, có thể coi là những phê phán khoa học, sắc sảo, thẳng thắn một cách nhẹ nhàng.

Năm 1950, bước vào chiến dịch biên giới Thu Đông - giai đoạn khó khăn, ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tuyên truyền, Bộ Tổng Tư lệnh dưới sự chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định sáp nhập 2 tờ báo Vệ Quốc quân và Quân du kích thành một tờ báo thống nhất dành cho quân đội và dân quân Việt Nam có tên Quân đội nhân dân. Đầu năm 1954, khi quân và dân cả nước bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ, Báo Quân đội nhân dân đã theo chân Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào tận căn cứ Mường Phăng. Lãnh đạo báo đã mạnh dạn báo cáo Đại tướng cho tổ chức một điểm tòa soạn ngay tại tiền phương với 5 cán bộ phóng viên. Đây là tòa soạn duy nhất trong lịch sử Báo chí cách mạng Việt Nam tổ chức xuất bản báo ngay tại mặt trận. Mặc dù bận trăm công nghìn việc ngoài chiến trướng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các cộng sự vẫn trực tiếp viết và chỉ đạo xuất bản 33 số báo Quân đội nhân dân cho đến ngày thắng lợi chiến dịch. Những tờ báo được phát hành trực tiếp đến các cán bộ, chiến sĩ ngay tại chiến hào. Điều này đã góp phần động viên rất lớn tinh thần và ý chí quyết thắng của dân tộc ta để rồi chúng ta làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

TINH THẦN CHIẾN ĐẤU VÀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI LÀM BÁO
Sau ngày hòa bình lập lại tại miền Bắc (1954), khi đất nước thống nhất hoàn toàn (1975) và giai đoạn cả sau này, dù bận nhiều việc công tác Đảng và chính quyền, đến lúc về hưu tuổi cao, sức yếu, Nhà báo - Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn đều đặn viết cộng tác cho nhiều tờ báo, không chỉ trong nước mà cả báo chí nước ngoài. Trong đó với báo Quân đội nhân dân, Đại tướng đã dành cho nhiều ý kiến góp ý sâu sắc hơn cả. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng tâm sự về công việc xuất bản báo chí: “Thời điểm ra báo là quan trọng. Khó hơn là làm nghệ thuật. Nghĩa là làm báo phải đúng lúc, chính xác, chặt chẽ, đem lại hiệu quả cho bạn đọc. Những bài chính, phụ, ngắn, dài, nặng, nhẹ phải kết hợp hài hòa như những màu sắc của tác phẩm hội họa. Những chữ lớn, nhỏ, đứng, nghiêng... đều toát lên vai trò và hiệu quả riêng”.

 Đại tướng luôn có thói quen đọc báo hằng ngày. Trải qua nhiều cương vị lãnh đạo, Đại tướng vẫn luôn quan tâm đến giới báo chí và Hội Nhà báo Việt Nam. Tình cảm của Đại tướng dành cho báo chí cách mạng Việt Nam và các phóng viên, nhà báo là vô bờ bến. Năm 1991, Hội Nhà báo Việt Nam đã trao tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp Huy chương Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam. Ông tâm sự: “Nghề làm báo hao tâm tổn trí, gian khổ nhưng người làm báo được đền bù xứng đáng là niềm vui khi thấy tác dụng và hiệu quả của tờ báo trong đông đảo bạn đọc”. Giáp Tết Âm lịch năm 2000, Hội Nhà báo Việt Nam mở Hội báo Xuân - Mừng Đất nước bước vào thế kỷ XXI. Hội báo đã vui mừng được tiếp đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm. Buổi hôm đó, các đồng nghiệp báo chí và khách tham quan như cuốn theo thành một hàng dài đi theo bước chân Đại tướng, cuối cùng về tụ hội ở gian báo chí TP. Hồ Chí Minh. Trước khi chia tay, Đại tướng vẫn không quên căn dặn các nhà báo, trong thời kỳ đổi mới, báo chí của ta phát triển rất nhanh, mừng lắm. Làm báo bây giờ nhanh nhạy hơn trước nhiều. Nhưng các bạn nên nhớ: Thông tin phải chính xác, đúng sự thật. Vì thông tin đúng sự thật là vũ khí mạnh nhất của báo chí Cách mạng.

Trong cuộc đời làm báo của mình, tôi may mắn có dịp được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần. Tôi nhớ mãi sự kiện tại Nhà hát lớn đêm 20/5/2005 lúc Đại tướng đứng nói chuyện suốt gần một giờ với 1.000 anh hùng, dũng sĩ, cựu chiến binh tiêu biểu tham gia cuộc hành quân xuyên Việt “Tiếp lửa truyền thống, vang mãi khúc quân hành” nhân dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam do báo Quân đội nhân dân tổ chức mà tôi được giao nhiệm vụ là phó chỉ huy cuộc hành quân. Trước đoàn quân chiến thắng sắp bước vào cuộc hành quân đặc biệt trong thời bình, hôm đó, giọng Người đầy sức truyền cảm khi gợi về những năm tháng cả dân tộc chiến đấu vì độc lập tự do, phong thái Người thật uy lẫm khi phát lệnh hành quân. Đó là cuộc nói chuyện được truyền hình trực tiếp cuối cùng của Đại tướng với quốc dân, đồng bào.

Một năm sau, trong cuộc tiếp đoàn đại biểu báo Quân đội nhân dân vào ngày 18/6/2006, nhân dịp Báo được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, bắt tay từng người, Đại tướng ân cần căn dặn: “ Báo Quân đội nhân dân là cơ quan ngôn luận của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, là tiếng nói của các lực lượng vũ trang nhân dân và nhân dân. Tờ báo cần nêu cao tinh thần chiến đấu, phải có tiếng nói đúng đắn trung thực, phải nêu cao đạo đức của người làm báo, đấu tranh làm sáng tỏ chân lý, bảo vệ chân lý. Phải nêu cái đúng cái tốt để toàn quân, toàn dân làm theo. Phải vạch cái sai để sửa chữa, đúng như Lênin nói: Báo chí là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể và tổ chức tập thể. Chúc Báo Quân đội nhân dân luôn xứng đáng với danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Đại tướng còn dặn thêm: “Đạo đức của người làm báo, đó là điều quan trọng nhất. Tôi cũng từng là nhà báo, tôi mong các đồng chí, các cháu ở báo Quân đội nhân dân cố gắng rèn luyện không ngừng”.

Một kỷ niệm khác còn in đậm trong tâm trí tôi, ngày 7/5/2009, lần cuối cùng, tôi lúc đó đang là Tổng biên tập báo Hà Nội mới cùng các cán bộ, phóng viên vinh dự được Đại tướng tiếp nhân kỷ niệm 55 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Ở tuổi 99, sức đã yếu đi nhiều so với vài năm trước, nhưng hôm đó Đại tướng rất vui. Người ân cần căn dặn chúng tôi: “Tờ báo Hà Nội mới có vị trí, vai trò quan trọng, phải có tiếng nói đúng đắn, trung thực, làm sáng tỏ chân lý, bảo vệ chân lý. Phải nêu cái đúng, cái tốt để toàn dân làm theo. Tinh thần chiến đấu, đạo đức người làm báo, đó là điều quan trọng nhất. Thăng Long- Hà Nội tròn 1.000 năm tuổi là cột mốc lịch sử trọng đại, ý nghĩa sâu sắc, niềm tự hào to lớn. Tờ báo của Thủ đô cần có nhiều bài viết thật hay về sự kiện này; cần cỗ vũ, xây dựng nếp sống văn minh, thanh lịch của người Hà Nội, bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa, tinh thần cao quý của dân tộc ta.”

Như vậy, ở cả hai cuộc gặp, đối với báo Quân đội nhân dân cũng như với báo Hà Nội mới - hai tờ báo đều do Bác Hồ đặt tên – Đại tướng Võ Nguyên Giáp đều nhấn mạnh đến hai yếu tố đặc biệt quan trọng là tinh thần chiến đấu và đạo đức người làm báo.

Sau cuộc gặp ngày 7/5/2009 đó, chỉ một thời gian ngắn, Đại tướng đã phải vào Viện 108 điều trị và điều dưỡng cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời. Ngày 4/10/2013, Đại tướng qua đời, lòng dân đau tiếc, đất trời, sông núi khóc thương. Nhưng trong nỗi đau lớn lại đột ngột thấy sức mạnh và lòng tự hào hội tụ, kết nối của cả một đất nước, một dân tộc đang vững tin đi tới tương lai.

Trong cuộc đời làm báo, đấu tranh cách mạng, ở bất kỳ hoàn cảnh nào, những tác phẩm báo chí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn thể hiện tính chính luận sâu sắc, mang tinh thần yêu nước của lớp lớp thanh niên Việt Nam trong những năm đất nước bị thực dân đô hộ, rồi đất nước giải phóng, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội những năm sau này. Cuộc đời làm báo gần 3/4 thế kỷ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thực sự là “ngọn bút chiến binh” có tầm vóc chiến lược trên mặt trận tư tưởng- văn hoá của Đảng ta, đóng góp to lớn vào thành quả vĩ đại của nền báo chí Cách mạng Việt Nam, đồng thời là thông điệp cốt lõi cho các thế hệ làm báo sau này: Làm báo để làm cách mạng! Tấm gương làm báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn ngời sáng, có sức lay động và truyền cảm hứng đối với các thế hệ làm báo Việt Nam hôm nay. Mỗi người làm báo và người quản lý báo chí hiện nay cần nhận thức sâu sắc vai trò, trách nhiệm của mình, ra sức phấn đấu, góp phần xây dựng nền báo chí cách mạng Việt Nam giàu tính chiến đấu, nhân văn, chuyên nghiệp và hiện đại vì lợi ích đất nước và nhân dân./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 5 BẢNG LƯƠNG THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM NĂM 2024 KHI CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG?

     Chiều ngày 19/9/2023, phát biểu bế mạc Diễn đàn kinh tế - xã hội Việt Nam 2023, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh đến việc sớm thực hiện cải cách chính sách tiền lương một cách căn bản trong năm 2024. Đây cũng là một cú hích cho thị trường lao động, góp phần kích cầu tiêu dùng nội địa.
"Đây là cải cách chứ không phải tăng lương bình thường. Nếu không có gì thay đổi, thời điểm chúng ta có thể áp dụng là từ 1-7-2024"

Như vậy, rất có thể việc cải cách chính sách tiền lương sẽ áp dụng từ 1/7/2024. Trong trường hợp năm 2024 thực hiện cải cách tiền lương thì 5 bảng lương theo vị trí việc làm sẽ thực hiện theo Nghị quyết 27-NQ/TW 2018.

Việc xây dựng, ban hành hệ thống bảng lương mới theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo thay thế hệ thống bảng lương hiện hành; chuyển xếp lương cũ sang lương mới, bảo đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng, gồm:
- Xây dựng 1 bảng lương chức vụ áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo (bầu cử và bổ nhiệm) trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cấp xã theo nguyên tắc:
(1) Mức lương chức vụ phải thể hiện thứ bậc trong hệ thống chính trị; giữ chức vụ lãnh đạo nào thì hưởng lương theo chức vụ đó, nếu một người giữ nhiều chức vụ thì hưởng một mức lương chức vụ cao nhất; giữ chức vụ lãnh đạo tương đương nhau thì hưởng mức lương chức vụ như nhau; mức lương chức vụ của người lãnh đạo cấp trên phải cao hơn mức lương chức vụ của người lãnh đạo cấp dưới;

(2) Quy định một mức lương chức vụ cho mỗi loại chức vụ tương đương; không phân loại bộ, ngành, ban, uỷ ban và tương đương ở Trung ương khi xây dựng bảng lương chức vụ ở Trung ương; không phân biệt mức lương chức vụ khác nhau đối với cùng chức danh lãnh đạo theo phân loại đơn vị hành chính ở địa phương mà thực hiện bằng chế độ phụ cấp.

Việc phân loại chức vụ lãnh đạo tương đương trong hệ thống chính trị để thiết kế bảng lương chức vụ do Bộ Chính trị quyết định sau khi đã báo cáo Ban Chấp hành Trung ương.
- Xây dựng 1 bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ theo ngạch công chức và chức danh nghề nghiệp viên chức áp dụng chung đối với công chức, viên chức không giữ chức danh lãnh đạo; mỗi ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức có nhiều bậc lương theo nguyên tắc:
Cùng mức độ phức tạp công việc thì mức lương như nhau; điều kiện lao động cao hơn bình thường và ưu đãi nghề thì thực hiện bằng chế độ phụ cấp theo nghề; sắp xếp lại nhóm ngạch và số bậc trong các ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức, khuyến khích công chức, viên chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Việc bổ nhiệm vào ngạch công chức hoặc chức danh nghề nghiệp viên chức phải gắn với vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức do cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức, viên chức thực hiện.
- Xây dựng 3 bảng lương đối với lực lượng vũ trang, gồm: 1 bảng lương sĩ quan quân đội, sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ công an (theo chức vụ, chức danh và cấp bậc quân hàm hoặc cấp hàm); 1 bảng lương quân nhân chuyên nghiệp, chuyên môn kỹ thuật công an và 1 bảng lương công nhân quốc phòng, công nhân công an (trong đó giữ tương quan tiền lương của lực lượng vũ trang so với công chức hành chính như hiện nay).

Xác định các yếu tố cụ thể để thiết kế bảng lương mới
Theo Nghị quyết 27-NQ/TW 2018, việc xác định các yếu tố cụ thể để thiết kế bảng lương mới như sau:
- Bãi bỏ mức lương cơ sở và hệ số lương hiện nay, xây dựng mức lương cơ bản bằng số tiền cụ thể trong bảng lương mới.
- Thực hiện thống nhất chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động (hoặc hợp đồng cung cấp dịch vụ) đối với những người làm công việc thừa hành, phục vụ (yêu cầu trình độ đào tạo dưới trung cấp), không áp dụng bảng lương công chức, viên chức đối với các đối tượng này.
- Xác định mức tiền lương thấp nhất của công chức, viên chức trong khu vực công là mức tiền lương của người làm công việc yêu cầu trình độ đào tạo trung cấp (bậc 1) không thấp hơn mức tiền lương thấp nhất của lao động qua đào tạo trong khu vực doanh nghiệp.
- Mở rộng quan hệ tiền lương làm căn cứ để xác định mức tiền lương cụ thể trong hệ thống bảng lương, từng bước tiệm cận với quan hệ tiền lương của khu vực doanh nghiệp phù hợp với nguồn lực của Nhà nước.
- Hoàn thiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang phù hợp với quy định của bảng lương mới.

Xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới như thế nào?
Theo Nghị quyết 27-NQ/TW 2018 thì việc xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới như sau:
- Thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý chính sách tiền lương của toàn hệ thống chính trị. Bộ Chính trị quyết định chủ trương, nguyên tắc và giao Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo Chính phủ cụ thể hoá việc thống nhất quản lý, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền, uỷ quyền cho cơ quan chức năng ban hành văn bản chế độ tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ Trung ương đến cấp xã.
- Sau khi báo cáo Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị quyết định việc phân loại chức vụ tương đương trong hệ thống chính trị làm căn cứ xây dựng bảng lương mới.
- Các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước xây dựng văn bản quy định chế độ tiền lương mới báo cáo Bộ Chính trị xem xét, quyết định trước khi ban hành, để từ năm 2021 thực hiện chuyển xếp lương cũ sang lương mới theo nguyên tắc bảo đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRẢI QUA CHIẾN TRANH, VIỆT NAM THẤU HIỂU VÀ TRÂN TRỌNG GIÁ TRỊ CỦA HÒA BÌNH!

🇻🇳 🕊️ 🇻🇳 Trải qua nhiều đau thương, hy sinh, mất mát từ nhiều cuộc chiến tranh, sự chia cắt, bao vây, cấm vận của thế kỷ trước, Việt Nam thấu hiểu và trân trọng giá trị của hoà bình, hợp tác và phát triển.

Với tinh thần "gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai", bằng sự kiên trì, cố gắng và nỗ lực không mệt mỏi, Việt Nam đã biến thù thành bạn, chuyển đối đầu thành đối thoại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, đưa đối thủ thành đối tác, và được bạn bè quốc tế xem là hình mẫu của hợp tác, khắc phục và hoà giải sau chiến tranh vì sự phát triển và thịnh vượng chung của các bên.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng chỉ có lòng tin, sự chân thành và đoàn kết trên phạm vi toàn cầu, với vai trò của Liên Hợp Quốc và sự tham gia tích cực của tất cả các quốc gia, mới giúp cộng đồng quốc tế cùng chung tay giải quyết các khó khăn, vượt qua thách thức, thúc đẩy hoà bình, hợp tác và phát triển thịnh vượng trên toàn thế giới, mang lại hạnh phúc, ấm no cho mọi người dân.

Đánh giá về những khó khăn, thách thức hiện nay, Thủ tướng Chính phủ cho rằng thế giới hiện đang ẩn chứa những yếu tố khủng hoảng nghiêm trọng về lòng tin, về hợp tác đa phương, về nguyên tắc, và về nguồn lực. 

Thủ tướng nhấn mạnh nhiệm vụ và trách nhiệm của những nhà lãnh đạo trên thế giới là phải cùng nhau nỗ lực củng cố lòng tin, sự chân thành, tăng cường đoàn kết, thúc đẩy hợp tác đa phương, song phương; ứng phó hiệu quả với các thách thức mang tính toàn cầu, toàn dân, thúc đẩy phát triển bền vững, lấy người dân làm trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của sự phát triển.

Để làm được điều đó, Thủ tướng đề nghị cộng đồng quốc tế tập trung thực hiện năm nhóm giải pháp chính mang tính toàn cầu, với cách tiếp cận toàn dân, tổng thể, toàn diện và bao trùm.

Thứ nhất là lấy sự chân thành, củng cố lòng tin chiến lược làm tiền đề, nâng tầm trách nhiệm của các quốc gia làm nền tảng, trong đó các nước lớn đóng vai trò hết sức quan trọng, tiên phong trong vun đắp lòng tin, lan toả sự chân thành và tinh thần trách nhiệm.

Thứ hai là giải pháp toàn cầu về thúc đẩy đoàn kết, hợp tác quốc tế, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, đề cao vai trò trung tâm của Liên Hợp Quốc, ủng hộ Kế hoạch thúc đẩy các Mục tiêu Phát triển bền vững; đồng thời, cần lấy đoàn kết thay cho chia rẽ, đối thoại thay cho đối đầu, hợp tác thay cho cô lập.

Thứ ba là giải pháp toàn dân về thúc đẩy chính sách lấy người dân làm trung tâm, là mục tiêu, chủ thể, động lực và nguồn lực của sự phát triển bền vững trong mọi tiến trình hoạch định chính sách và trong hành động; không để ai bị bỏ lại phía sau.

Thứ tư là cần thúc đẩy các giải pháp tổng thể về kinh tế, chính trị, xã hội, bảo đảm ổn định, an ninh, an toàn, trong đó có xây dựng, chuyển đổi mô hình kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, giảm bớt các rào cản thương mại, đầu tư, tăng cường các Hiệp định thương mại tự do, cải tổ các thể chế tài chính-tiền tệ quốc tế.

Thứ năm là khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; thúc đẩy tự lực, tự cường, không ngừng đổi mới sáng tạo, phát huy hiệu quả mọi tiềm năng, thế mạnh; đồng thời, các nước đang phát triển, chậm phát triển, nhất là các quốc gia chịu hậu quả nặng nề của biến đổi khí hậu, thiên tai dịch bệnh… cần được hỗ trợ về tài chính, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và quản trị điều phối.

Thủ tướng Chính phủ khẳng định Việt Nam tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hoá, đa phương hoá; là bạn bè tốt, là đối tác tin cậy của tất cả các nước và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; và sẽ đóng góp mạnh mẽ và có trách nhiệm hơn nữa vào các ưu tiên của Liên Hợp Quốc, trong đó có đẩy mạnh tham gia gìn giữ hoà bình, phấn đấu đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, vừa bảo đảm an ninh lương thực trong nước, vừa góp phần bảo đảm an ninh lương thực toàn cầu.

Nhắc lại lịch sử phát triển và vị thế hiện nay của khu vực Đông Nam Á, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định cam kết cùng các nước trong và ngoài khu vực duy trì hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật Biển; kiềm chế, tránh các hành động đơn phương, giải quyết tranh chấp, khác biệt bằng các biện pháp hoà bình, hợp tác bao gồm các tiến trình ngoại giao và pháp lý công bằng.     

Sau khi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính kết thúc phát biểu, nhiều bè bạn quốc tế đã chúc mừng Thủ tướng, bày tỏ sự cảm kích trước những đóng góp tích cực, có trách nhiệm của Việt Nam và đánh giá cao vai trò và vị thế của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÃY ĐỌC CHO KỸ ĐỂ HIỂU THÊM VỀ NGUYỄN ÁNH - KẺ TIỂU NHÂN ĐẮC THẾ!

         Xưa nay bậc trượng phu quân tử, nhất là bậc đế vương luôn có cốt cách, coi trọng luân thường đạo lý, lấy cái dũng để đoạt thiên hạ và biết biết lấy cái đức để bình thiên hạ. NHƯNG với Nguyễn Ánh thì không hề có những thứ đó - Mà ngược lại, giống như lời nữ kiệt Bùi Thị Xuân đã mắng Ánh: "một kẻ tiểu nhân đắc thế".

Vì sao ư? Ngoài tội tày trời cầu viện ngoại bang "rước voi về giày mả tổ" thì sự trả thù tàn khốc, hèn hạ của Nguyễn Ánh đối với Nhà Tây Sơn và đặc biệt là Bùi Thị Xuân, một người phụ nữ thất thế, tay không tấc sắt - Đã phơi bày rõ sự tiểu nhân hèn hạ, độc ác, tàn bạo và nhỏ nhen hơn đàn bà của Nguyễn Ánh. Mời ông Phan Thanh Hải xứ Huế và những kẻ đòi tôn vinh Nguyễn Ánh cùng đám tay sai ác ôn, bán nước hại dân của nhà Nguyễn vào mà đọc.

"Tháng 7 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh trở về Phú Xuân, đem vua tôi nhà Tây Sơn ra báo thù. Tất cả các võ tướng đều bị tử hình, Trần Quang Diệu bị lột da, các tướng khác đều bị voi chà, hoặc trảm quyết. Riêng đối với Bùi Thị Xuân, Nguyễn Ánh đã dùng hình phạt khốc liệt nhất cổ kim từng có!

Người ta truyền rằng, do vốn nghe danh nữ kiệt từ lâu, Nguyễn Ánh ra lệnh đem bà đến để xem mặt, và tự đắc hỏi:
“Ta và Nguyễn Huệ, ai hơn?”
Nữ kiệt ung dung đáp:
“Nói về tài ba thì tiên đế ta bách chiến bách thắng, hai bàn tay trắng dựng nên cơ đồ. Còn nhà ngươi bị đánh phải trốn chui trốn nhủi, phải cầu viện ngoại bang, hết Xiêm đến Pháp. Chỗ hơn kém rõ ràng như ao trời nước vũng. Còn nói về đức độ, thì tiên đế ta lấy nhân nghĩa mà đối xử với kẻ trung thần thất thế, như đã đối với Nguyễn Huỳnh Ðức, tôi nhà ngươi vậy. Còn nhà ngươi lại dùng tâm của kẻ tiểu nhân mà đối với những bậc nghĩa liệt, đã hết lòng vì chúa, chẳng nghĩ rằng ai có chúa nấy, ái tích kẻ tôi trung của người tức là khuyến khích tôi mình trung với mình. Chỗ hơn kém cũng rõ ràng như ban ngày và đêm tối. Nếu tiên đế ta đừng mất sớm, thì dễ gì nhà ngươi trở lại đất nước này”.

Nguyễn Ánh hỏi gằn:
“Nhà ngươi có tài sao không được giữ ngai vàng cho Cảnh Thịnh (tức Quang Toản)?”
Nữ kiệt đáp:

“Nếu có thêm một nhi nữ như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không dễ gì mà lạnh. Cửa Nhật Lệ không để lạnh, thì nhà ngươi cũng khó mà đặt chân lên đất Bắc Hà này”.

Nguyễn Phúc Ánh hỏi có muốn xin ân xá không? Nữ kiệt đáp:
“Ta đâu có sợ chết mà phải chịu nhục, hạ mình trước một kẻ tiểu nhân đắc thế như ngươi?”

Nguyễn Ánh căm gan, dằn từng tiếng:
“Không chịu nhục? Ta sẽ làm cho mi biết nhục”

Liền truyền lệnh: Ðem Bùi Thị Xuân về Bình Ðịnh, cởi bỏ hết quần áo, cột đứng trên tù xa đẩy đi khắp các nơi thị tứ. Sau đó nữ kiệt lại bị giải về Phú Xuân, Nguyễn Ánh hỏi:
“Ðã biết nhục chưa?”
“Nhục nào có vương vào thân ta, mà chính đang đổ lên đầu nhà ngươi đấy, con người tánh độc hơn sài lang, lòng nhớp hơn cẩu trệ”.

Nguyễn Ánh tức giận, truyền bắt mấy người con của nữ kiệt đem ra giết trước mặt nữ kiệt: Mấy người con nhỏ thì sai lực sĩ bỏ vào bao vải, đánh nát thây. Còn người con gái lớn thì cho voi xé xác. Thấy voi đến, người con gái hoảng sợ. Nữ kiệt hét lớn:
“Con nhà tướng không được khiếp nhược”

Người con gái nghe vậy liền nhắm mắt thọ hình, không một tiếng rên rĩ. Ðến lượt nữ kiệt. Chúng trói nữ kiệt để nằm ngửa trên cỏ. Ba hồi trống dứt, một con voi to lớn hung hăng chạy đến, giơ chân toan chà. Nữ kiệt trợn mắt hét một tiếng như sấm nổ. Con voi thất kinh thối lui. Bị nài giục, voi bước tới một lần nữa, nhưng vừa bước tới liền dừng bước ngay, thúc mấy cũng không dám tiến. Lính lấy giáo đâm, voi thét lên một tiếng rồi bỏ chạy. Nguyễn Ánh tức mình, sai dùng hình phạt điểm thiên đăng. Chúng lấy vải nhúng sáp nóng đem quấn khắp mình nữ kiệt, rồi đem cột nữ kiệt nơi trụ sắt dựng giữa trời. Ðoạn châm lửa đốt. Nữ kiệt bình tĩnh, nét mặt không chút thay đổi. Lửa cháy phừng phực từ dưới lên trên, sáng chói thấu mây. Lửa cháy hồi lâu. Bốn bề im phăng phắc. Bỗng một tiếng nổ... sọ nữ kiệt vỡ, chấm dứt cuộc đời một bậc hào kiệt trong nữ giới!" (Nguồn: Dân Việt).

Tội ác tày trời cầu viện ngoại bang, gây ra mối tai họa trăm năm cho dân tộc thể hiện sự hèn hạ, ích kỷ, ngu dốt của Nguyễn Ánh. Nhưng qua sự việc trả thù nhà Tây Sơn, sự hèn hạ, khốn nạn, bỉ ổi, vô nhân tính của Ánh được bộc lộ rõ nét nhất. Với cái não trạng hèn kém, ác độc và đê tiện, khốn nạn đến tận cùng, Ánh đã ra tay với một người phụ nữ bằng những hình phạt độc địa, quái đản, bỉ ổi đến gai người mà cổ kim nước Việt xưa nay chưa từng thấy, thậm trí bọn đầu trâu mặt ngựa dưới địa ngục cũng không nghĩ ra!

Tội ác tày trời như vậy? Nhân cách hèn hạ, bỉ ổi như vậy? Tại sao lại có những kẻ còn muốn lôi hắn từ dưới mồ sâu lên để dựng lên tôn vinh? Bè lũ đòi tôn vinh Ánh phải chăng là muốn tôn vinh cái sự hèn nhược, cầu ngoại bang? Tôn vinh sự hèn hạ, bỉ ổi, độc ác đến biến thái của hắn? Phải chăng tư tưởng, nhân cách của bọn này cũng giống như hắn? Coi hắn là cụ tổ?

KHÔNG BAO GIỜ CÓ THỂ TÔN VINH ĐƯỢC ÁNH VÀ BỌN VUA QUAN BÁN NƯỚC HẠI DÂN! CHÚNG MÀY CỨ NẰM MƠ ĐI NHÉ!
Nhân dân ta xưa nay luôn công minh và sáng suốt - "Trăm năm bia đá cũng mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ"! Truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm luôn là chân lý, là thước đo, là thanh bảo kiếm chém bay đầu mưu ma chước quỷ của bè lũ gian tà muốn thờ giặc, nhận giặc làm cha. 

Nguyễn Ánh, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại muôn đời bị lịch sử và nhân dân nguyền rủa là bọn vua hèn nhược, bán nước (Bảo Đại là cháu Gia Long/ Là con Khải Định vốn dòng Việt gian). Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký (Phan, Lâm mại quốc/ Triều đình khí dân)... muôn đời mamg xú danh là nhưng tên quan gian ác, trợ thủ đắc lực của những tên vua hèn nhược, gây tội ác với dân tộc - Chúng đời đời bị Nhân dân kết tội!

Ảnh: Ánh quỳ mọp dưới chân vua Xiêm (Thái Lan).
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN:QUÂN ĐỘI XÂY DỰNG THẾ TRẬN BẢO VỆ VỮNG CHẮC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

         Nền tảng tư tưởng của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định phương hướng chính trị, bản chất cách mạng của một Đảng chân chính. Bảo vệ nền tảng tư tưởng (NTTT) của Đảng là một tất yếu khách quan, một nhiệm vụ chính trị quan trọng của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới. Vì vậy, Quân đội cần tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng tiên phong, mũi nhọn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam!

Quân đội chủ động, nhạy bén trong “cuộc chiến” bảo vệ chân lý, niềm tin vào Đảng
Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm NTTT, kim chỉ nam cho mọi hành động.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình huống khó khăn, phức tạp nào, Quân đội ta cũng luôn là trụ cột của Đảng, Nhà nước, chỗ dựa vững chắc của nhân dân. Đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng đã trở thành một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Quân đội trong cả thời bình và thời chiến. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, Quân đội luôn tiên phong, đi đầu trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ NTTT của Đảng; tiếp tục phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội và xã hội; vạch trần bản chất phản động, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, xuyên tạc NTTT của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Quân đội xây dựng thế trận bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng
Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, các cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ NTTT của Đảng. Thế trận đấu tranh tư tưởng, lý luận trong Quân đội ngày càng vững chắc.
Công tác giáo dục chính trị được đặt lên hàng đầu, không ngừng đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục NTTT của Đảng, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.
Nghiên cứu, nhận diện và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, xuyên tạc, phủ nhận NTTT của Đảng. Đã tập trung luận giải có cơ sở khoa học, khẳng định những giá trị bền vững, tính đúng đắn, khoa học, cách mạng và sức sống bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Ban Chỉ đạo, cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương đã quán triệt sâu sắc nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp đồng bộ, kịp thời, hiệu quả. Đã chủ động tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Quân đội luôn gương mẫu thực hiện nhiệm vụ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chủ động, nhạy bén, tích cực đi đầu trong bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch”.

Không ai đứng ngoài cuộc và không để “khoảng trống” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, nhất là biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, tội phạm công nghệ cao; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn cam go và lâu dài, phức tạp; nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đặt ra yêu cầu mới và cao hơn.
Để góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, giải pháp hàng đầu là phải làm cho mọi tổ chức, lực lượng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng hiện nay. Thấu hiểu sâu sắc đấu tranh tư tưởng, lý luận là một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị; bảo vệ NTTT của Đảng là bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Phải làm cho các cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, mọi cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ trách nhiệm, vinh dự của mình, phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, thực sự là lực lượng nòng cốt, đi đầu trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận cũng như trong bảo vệ NTTT, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Không một ai, không một tổ chức, lực lượng nào được bàng quan, vô cảm, đứng ngoài cuộc mà phải tham gia một cách chủ động, sáng tạo vào cuộc đấu tranh này.
Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Vì vậy, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trực tiếp là của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ này.
Bên cạnh lãnh đạo, chỉ đạo, học tập quán triệt Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị, cần coi trọng lãnh đạo thực hiện toàn diện các nội dung về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, áp dụng nhiều hình thức, biện pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện của từng cơ quan, đơn vị Quân đội.
Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong Quân đội; nâng cao trách nhiệm của cơ quan, bộ phận chuyên sâu giúp việc, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kịp thời, hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong Quân đội; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp chống đối, cơ hội, bất mãn, giữ vững sự ổn định chính trị trong Quân đội.
Để tiếp tục làm cho hệ tư tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo, thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống văn hóa, chính trị-tinh thần của xã hội và Quân đội, đòi hỏi phải huy động các tổ chức, lực lượng của Quân đội tham gia.
Qua đó, giáo dục, tôi luyện cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội trở thành lực lượng chính trị vững mạnh, hùng hậu, sẵn sàng đảm đương các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp hơn. Bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ, đấu tranh tư tưởng, lý luận phức tạp, lâu dài, nên cần phải quan tâm xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách, nòng cốt, thiện chiến, đặc biệt tinh nhuệ về chính trị.
Theo đó, cần coi trọng xây dựng, phát huy vai trò của các nhà khoa học, nhà giáo, chuyên gia, các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường; các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo... trong Quân đội đối với nhiệm vụ tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Thiết lập thế trận chủ động, rộng khắp, liên hoàn, vững chắc trong Quân đội. Xác lập tổng thể các biện pháp, nguyên tắc, bố trí, triển khai và tổ chức các lực lượng cụ thể, từ nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền cơ bản, rộng khắp đến trực tiếp tác chiến, đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm trên các phương tiện thông tin, truyền thông truyền thống và hiện đại của Quân đội và quốc gia, trên internet, mạng xã hội; bao phủ toàn bộ nội bộ Quân đội, không ngừng mở rộng trên phạm vi quốc gia và quốc tế; chủ động gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, "chống" phải quyết liệt, hiệu quả; lấy cái đẹp dẹp cái xấu; không bỏ trống trận địa tư tưởng, bảo đảm ở đâu có bộ đội là ở đó có tuyên truyền giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; mỗi đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ là một tấm gương sáng về truyền bá NTTT của Đảng.
Kết hợp chặt chẽ các biện pháp chính trị, tư tưởng và tổ chức đấu tranh phòng ngừa, bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững và tăng cường trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Trong thời đại công nghệ 4.0, cần tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện, ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) trong Quân đội, tận dụng truyền thông quốc gia, phục vụ có hiệu quả cho đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Không ngừng hoàn thiện các cơ chế, chính sách xây dựng, bồi dưỡng, sử dụng, bảo vệ con người và lực lượng Quân đội tham gia bảo vệ NTTT của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bổ sung hoàn thiện các khung khổ pháp lý, quy định về khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội, tài liệu, quản lý, kiểm soát, kiểm duyệt các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo, tuyên truyền, in ấn, xuất bản, phát hành trong Quân đội, bảo đảm thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ được giao.
Không ngừng đầu tư, đổi mới trang thiết bị công nghệ thông tin, truyền thông, sử dụng AI trong tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu tác chiến cả tập trung và rộng khắp trên không gian mạng, bảo đảm ngành tuyên huấn Quân đội là một binh chủng tác chiến tư tưởng hiện đại.
Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ nhằm góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là yêu cầu đòi hỏi khách quan, cấp bách, là trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong Quân đội. Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cũng luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm chính trị, là lực lượng tin cậy, tiên phong bảo vệ vững chắc NTTT của Đảng, góp phần lan tỏa phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới./.
Yêu nước ST.