Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2023

Bảo vệ hòa bình bền vững để xây dựng và phát triển đất nước

 

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm; một dân tộc yêu chuộng hòa bình, luôn phải căng mình tự vệ. Bởi vậy, hòa bình luôn là mong ước, khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Khát vọng hòa bình đã trở thành lẽ sống, là khí phách hùng thiêng của nhân dân ta.

Khát vọng bảo vệ hòa bình

Từ thuở cha ông dựng nước và giữ nước, khát vọng hòa bình đã hun đúc ý chí, quyết tâm đánh giặc ngoại xâm, cố kết tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Chúng ta coi “binh đao” là việc bất đắc dĩ, nhưng khi đất nước bị xâm lăng, cả nước cùng đồng tâm kháng chiến bảo vệ độc lập chủ quyền, quyết không khuất phục; quyết chiến, quyết thắng.

Rõ ràng bảo vệ hòa bình trong điều kiện đất nước đang hòa bình là một tư duy biện chứng sâu sắc hàm chứa cả “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”; bảo vệ hòa bình chính là chúng ta đang thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc được thể hiện:

(1) Trước hết phải bảo vệ môi trường hòa bình: Xây dựng, củng cố, phát triển các mối quan hệ song phương, đa phương. Thêm bạn bớt thù; đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ đi vào chiều sâu thực chất; tạo bước chuyển biến mới về hội nhập với phương châm: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước”. Thực hiện nhất quán chủ trương "4 không". Để bảo đảm môi trường hòa bình, vấn đề then chốt là: Kiên trì, bình tĩnh, sáng suốt, khôn khéo; xử lý đúng đắn các mối quan hệ đối ngoại, trong đó có vấn đề chủ quyền lãnh thổ.

Bảo vệ hòa bình bền vững để xây dựng và phát triển đất nước
Ảnh minh họa: tuyengiao.vn 

(2) Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ, nhân dân. Bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước phải gắn liền với bảo vệ hòa bình và hòa bình được coi là một giá trị thiêng liêng của đất nước. Bảo vệ hòa bình không đồng nghĩa với tư tưởng “Hòa bình chủ nghĩa”. Để có hòa bình thực sự phải luôn luôn sẵn sàng đối phó với mọi nguy cơ chiến tranh. Vì vậy, bảo vệ hòa bình là trách nhiệm chung của toàn dân, của cả hệ thống chính trị và các lực lượng vũ trang bao gồm cả sứ mệnh bảo vệ hòa bình thế giới.

(3) Giải quyết các bất đồng bằng biện pháp hòa bình: Trong nền hòa bình bền vững của đất nước, cần gắn kết chặt chẽ “hòa bình ổn định, lợi ích quốc gia-dân tộc với hòa bình an ninh ổn định của khu vực và thế giới. Bảo vệ Tổ quốc đồng nghĩa với bảo vệ hòa bình. Bảo vệ hòa bình là một nội hàm của bảo vệ Tổ quốc và phải bảo vệ “từ sớm-từ xa, từ lúc nước chưa nguy” bằng biện pháp hòa bình.

(4) Để bảo vệ hòa bình bền vững: Cần phải luận giải bài toán “chiến thắng mà không cần chiến tranh” ở tầm cao chiến lược, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ. Với mục tiêu bao trùm: Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để tạo thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng-bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích chính đáng phù hợp với luật pháp quốc tế. Làm sâu sắc thêm quan hệ mật thiết với các nước láng giềng; cân bằng quan hệ với các nước lớn và giữ vững quan hệ với các nước bạn bè truyền thống; góp phần giữ vững ổn định chính trị trong nước và khu vực.

Một số giải pháp bảo vệ hòa bình bền vững để xây dựng và phát triển đất nước

1. Bảo đảm ổn định chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Đây là nhân tố quyết định, có vai trò to lớn, tầm quan trọng đặc biệt tạo cho Việt Nam có được một nền hòa bình và thịnh vượng. Sự ổn định chính trị chỉ được xây dựng vững chắc trên nền tảng lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước; tạo sức “đề kháng” mạnh để phòng ngừa, ngăn chặn, tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân, độc đoán, chuyên quyền, cơ hội chính trị, tham ô, tham nhũng; mầm mống hình thành thế lực thù địch bên trong, với chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”... trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ.

Giữ vững, tăng cường và thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người chủ trì. Tạo sự đồng thuận, niềm tin của nhân dân. Lựa chọn cán bộ có tâm, tầm, trí, gương mẫu vì sự nghiệp của Đảng và nhân dân. Xây dựng chính quyền vì dân.

Đó chính là nòng cốt để bảo vệ hòa bình bền vững. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, trở thành một đội quân trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân, lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ hòa bình. Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Quốc phòng Việt Nam là những quan điểm rõ ràng, nhất quán trong việc bảo vệ hòa bình bền vững khi chúng ta đã có chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ để Tổ quốc không bị bất ngờ.

2. Phát triển kinh tế-xã hội là nhiệm vụ trung tâm: Mục tiêu cao cả tối thượng của Đảng là mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; không ai bị bỏ lại phía sau; “dân giàu thì nước mạnh”, đó là vấn đề cơ bản bảo đảm cho công cuộc bảo vệ hòa bình bền vững. Cần tập trung đột phá và phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng của các vùng, miền. Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; bảo đảm an sinh xã hội. Xây dựng tiềm lực kinh tế mạnh.

Huy động tối đa nội lực kết hợp với kinh tế đối ngoại chính là tạo thế và lực cho sự nghiệp bảo vệ hòa bình bền vững. Nâng cao chất lượng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng bộ, văn minh, hiện đại; hoàn thiện thể chế, cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng. Đẩy mạnh nghiên cứu chuyển đổi ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế số, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Xử lý lợi ích hài hòa, khó khăn cùng chia sẻ để bảo đảm “cùng thắng”. Kinh tế là nhân tố “cần” và “đủ” để bảo vệ hòa bình. Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay đang thực hiện hiệu quả chức năng là “đội quân sản xuất” vừa bảo đảm nâng cao đời sống cho cán bộ, chiến sĩ; vừa tham gia vào tăng trưởng kinh tế, góp phần giảm bớt gánh nặng cho đất nước.

3. Củng cố, tăng cường phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc: Nhân tố quan trọng, là động lực to lớn của sự nghiệp bảo vệ hòa bình bền vững và công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước. Với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng. Tăng cường sự đồng thuận xã hội, huy động sức mạnh tổng hợp để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hòa bình ngày càng bền vững.

“Lấy dân làm gốc”, tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Giữ vững kỷ cương phép nước. Thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Tăng cường khối liên minh vững chắc giữa các giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Củng cố, chăm lo xây dựng mối đoàn kết của các dân tộc, tôn giáo. Hiện nay, công tác này vẫn còn nhiều việc phải làm để không còn kẽ hở dễ bị kẻ địch lợi dụng, chống phá.

Cần quy tụ sức mạnh trong và ngoài nước; nâng cao dân trí, trọng dụng nhân tài, xây dựng và gìn giữ bản sắc sân tộc, những giá trị thiêng liêng “bất biến”. Đặc biệt, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự gắn kết chặt chẽ các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương trên các tuyến biên giới, hải đảo, vùng biển trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia là một trong những nhân tố góp phần quan trọng trong bảo vệ hòa bình.

4. Thường xuyên chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc: Đây là nền tảng, yếu tố quyết định tạo nên thế trận vững chắc cho bảo vệ hòa bình. Kết hợp kinh nghiệm tổ tiên ta đánh giặc với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học quân sự thế giới, chúng ta cần vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Đó là: Tăng cường phổ cập và giáo dục quốc phòng cho toàn dân kiến thức cơ bản về quốc phòng, an ninh. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp những quan điểm về xây dựng nền quốc phòng vững chắc, thế trận quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân. Xây dựng khu vực phòng thủ trên các địa bàn quân khu, theo các hướng, địa bàn chiến lược. Gắn kết chặt chẽ quốc phòng, an ninh với chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội. Xây dựng tiềm lực quốc phòng mạnh. Tăng cường các hoạt động diễn tập hiệp đồng theo nhiệm vụ, địa bàn, môi trường tác chiến giữa các đơn vị chủ lực, quân, binh chủng và địa phương về phòng thủ dân sự, xử lý tình huống an ninh truyền thống và thách thức an ninh phi truyền thống.

Trong đó, Quân đội nhân dân giữ vai trò nòng cốt, xây dựng lực lượng dự bị động viên ngày càng hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp. Nâng cao chất lượng tổng hợp của Quân đội dưới sự lãnh đạo-chỉ đạo của Quân ủy Trung ương-Bộ Quốc phòng. Xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” thực sự là lực lượng “tinh, gọn, mạnh, cơ động”. Trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc, nhân dân; thực sự là lực lượng trong sạch, tin cậy, có bản lĩnh chính trị, năng lực, trình độ chỉ huy-tham mưu, làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại và ý chí chủ động, “không để Tổ quốc bị bất ngờ”.

Phát huy nội lực, xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam lưỡng dụng và hiện đại. Từng bước làm chủ và sản xuất trang bị, vũ khí có ý nghĩa chiến lược để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ. Xã hội hóa một số mặt bảo đảm, trang bị, vũ khí quốc phòng trong nền kinh tế quốc dân; kết hợp mua sắm phù hợp, sẵn sàng đáp ứng cho tình huống quốc phòng khi có yêu cầu. Đủ khả năng để tự vệ chính là tạo sức mạnh chủ động bảo vệ hòa bình ngay trong thời bình.

5. Tăng cường mở rộng hoạt động đối ngoại trong thời kỳ mới: Với 3 trụ cột là “Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân” và giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh tạo thế mạnh tổng hợp cho ngoại giao Việt Nam. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng khái quát: “Chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam”(1). Biết người, biết ta, tùy cơ ứng biến “thêm bạn, bớt thù”.

Hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng nhằm góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ, củng cố lòng tin, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội trên trường quốc tế. Tạo thế đan xen lợi ích, củng cố sự tin cậy chiến lược với các đối tác, ngăn ngừa nguy cơ xung đột. Không “chọn bên”, tranh thủ sự ủng hộ tối đa của quốc tế.

Xử lý hài hòa lợi ích, linh hoạt đối tác, đối tượng, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Có thể nói rằng: Bảo vệ hòa bình để tạo môi trường thuận lợi phục vụ phát triển kinh tế thì công tác đối ngoại luôn ở tuyến đầu. Thực tiễn cho thấy, khi môi trường quốc tế và khu vực ổn định thì thách thức, nguy cơ với đất nước giảm đi.

Bảo vệ hòa bình bền vững để xây dựng và phát triển đất nước vừa là mục tiêu cao cả, vừa là đòi hỏi tất yếu của lịch sử, là khát vọng thiêng liêng, cao quý của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong nỗ lực xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh; mọi người sống trong thanh bình, hạnh phúc, được hưởng thụ giá trị cao quý: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

 CCS - Thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo vệ kỷ cương xã hội là mối quan hệ lớn thứ mười được Đại hội XIII của Đảng bổ sung. Đây là mối quan hệ lớn có ảnh hưởng rộng lớn đối với mọi mặt của đời sống xã hội, phản ánh tính ưu việt của hệ thống chính trị Việt Nam, đồng thời có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Trưởng Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương và các đại biểu tham quan phòng truyền thống của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao_Ảnh: TTXVN

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, là thuộc tính tự nhiên, vốn có của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước đề cao vai trò của pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội, trong đó Nhà nước và xã hội được tổ chức và hoạt động trên cơ sở một hệ thống pháp luật “đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(1) và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán nhằm bảo đảm công lý và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ thực hiện pháp luật nghiêm, triệt để, chính xác và không có ngoại lệ của mọi chủ thể pháp luật. Như vậy, để có pháp chế xã hội chủ nghĩa cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đòi hỏi mọi chủ thể trong xã hội phải thực hiện pháp luật đúng, nghiêm, triệt để, chính xác và mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo quy định. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, cần thiết phải nhận thức đầy đủ, nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở những khía cạnh căn bản sau:

Thứ nhất, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội luôn có tính thống nhất và quan hệ mật thiết, tạo tiền đề, cơ sở cho nhau cùng vận hành và phát triển. Nền dân chủ trong đời sống xã hội càng cao thì nhà nước pháp quyền và nguyên tắc pháp chế càng được củng cố và hoàn thiện, kỷ cương xã hội được bảo đảm và giữ vững. Kỷ cương xã hội là kết quả, là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Để có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cần phải có pháp chế xã hội chủ nghĩa; để có pháp chế xã hội chủ nghĩa thì cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện. Hệ thống pháp luật càng hoàn thiện bao nhiêu thì pháp chế càng cao bấy nhiêu. Tuy nhiên, không phải cứ có pháp luật là có pháp chế. Nhà nước nào trong lịch sử cũng đều sử dụng pháp luật, nhưng pháp chế chỉ có trong nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước chủ nô, phong kiến không có pháp chế vì pháp luật không nghiêm, theo kiểu “lễ nghi không đến thứ dân, hình phạt không đến trượng phu”, chỉ bảo vệ lợi ích độc tôn của giai cấp thống trị, cưỡng bức quần chúng tuân thủ. Có thể thấy, pháp luật là tiền đề, cơ sở pháp lý để thực hiện dân chủ và dân chủ được thi hành trong khuôn khổ của pháp chế thì mới bảo đảm được kỷ cương xã hội. 

Thứ hai, thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải đặt trong mối quan hệ với thiết chế nhà nước, cụ thể là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bởi lẽ không thể có một nền dân chủ tồn tại bên ngoài Nhà nước và Nhà nước chính là chủ thể ban hành pháp luật và duy trì pháp chế. Dân chủ là dân là chủ, dân làm chủ và trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải tăng cường thực hành dân chủ thực chất và rộng rãi, tránh cả hai thái cực là dân chủ hình thức hoặc dân chủ cực đoan, vô chính phủ. Nhà nước với vai trò là thiết chế kiến tạo điều kiện, môi trường cho thực hành dân chủ, do vậy, nó không còn là chủ thể quản lý bằng mệnh lệnh, bằng chức năng thống trị, mà phải vươn lên để trở thành nhà nước phục vụ, đặt người dân ở trung tâm của mọi hoạt động và tổ chức của Nhà nước, sự hài lòng của người dân là thước đo về thực hành dân chủ chính xác nhất. Chính vì vậy, thực hành dân chủ gắn với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội luôn phải gắn liền với sự kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong đó, tập trung vào một số nhiệm vụ được đề ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, của Hội nghị Trung ương 6 khoá XIII: Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội; Chính phủ, chính quyền địa phương; xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhân dân trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật… Bộ máy nhà nước hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả thì sẽ có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Thứ ba, thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải được bảo đảm trên cơ sở hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, nhất là dựa vào nhân dân. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực của Nhà nước là xuất phát từ nhân dân, điều này được khẳng định tại khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”, nghĩa là chủ thể của quyền lực nhà nước là nhân dân, nhân dân ủy quyền cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước để thực hiện quyền lực của mình. Do vậy, nhân dân có quyền giám sát chủ thể thực hiện quyền lực của mình bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau. Kiếm soát quyền lực nhà nước luôn có vai trò của nhân dân nhằm chống lạm quyền, lộng quyền hay tha hóa quyền lực của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhân viên nhà nước. Nhà nước gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Nhà nước hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu ban hành các văn bản của Đảng, văn bản pháp luật để thể chế hóa cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng(2), cũng như của Nhà nước, do nhân dân thực hiện, để bảo đảm phương châm dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực, là phương thức hữu hiệu nhất trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Cơ chế này đòi hỏi phải thể chế hóa vai trò của nhân dân trong kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Mặt khác, xây dựng hệ thống pháp luật cho phép các bộ phận bên trong của Đảng, Nhà nước có thể giám sát, chế ước lẫn nhau, hay còn gọi là kiểm soát nội bộ.

Thứ tư, thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải được bảo đảm trên cơ sở đổi mới, đa dạng hóa tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Nhân dân thực hiện quyền làm chủ không chỉ bằng Nhà nước, mà còn thông qua các tổ chức của mình. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò to lớn trong việc củng cố, bảo vệ Đảng, Nhà nước, hơn nữa đó là những thiết chế có vai trò quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời là môi trường, là trường học để nâng cao ý thức, năng lực và nhu cầu dân chủ cho các tầng lớp nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp để tổ chức các diễn đàn tuyên truyền về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân, từ đó làm cho nhân dân nhận thức đầy đủ hơn, hiểu sâu sắc hơn về trách nhiệm của mình với Đảng, Nhà nước. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp trong việc tiếp xúc với nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân, từ đó xem xét, xử lý, tháo gỡ những vướng mắc mà nhân dân kiến nghị, tạo điều kiện để nhân dân thực hành quyền dân chủ trên cơ sở, khuôn khổ pháp luật, pháp chế và bảo đảm kỷ cương xã hội.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn là những thiết chế để các tầng lớp nhân dân tham gia công việc của Nhà nước, quản lý, giám sát hoạt động của Nhà nước, phải đổi mới trên nhiều mặt theo hướng khắc phục tình trạng “hành chính hóa”, “nhà nước hóa” trong tổ chức và hoạt động. Đồng thời, đa dạng hóa hình thức tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội phù hợp với tính chất quần chúng và những biến động đa dạng về cơ cấu giai cấp - xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhân dân thực hiện các quyền dân chủ khi tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, giám sát hoạt động của Nhà nước phải bảo đảm các quy định của pháp luật, quy tắc, quy chế của các tổ chức chính trị - xã hội.

Nhà nước Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức phi chính phủ nước ngoài thực hiện hoạt động nhân đạo, phát triển tại Việt Nam. Tổ chức phi chính phủ nước ngoài thực hiện hoạt động nhân đạo, phát triển tại Việt Nam phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và tuân thủ pháp luật Việt Nam. Nhân dân tham gia vào các tổ chức này phải bảo đảm các quy định của pháp luật Việt Nam. Đó là một trong những phương thức quan trọng cho việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thông qua các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam nhưng phải bảo đảm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo đảm kỷ cương xã hội.

Cán bộ, chiến sĩ Công an tỉnh Quảng Ninh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh_Nguồn: doanthanhnien.vn

Thứ năm, thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải được thể hiện qua giám sát và phản biện xã hội, tạo dựng thói quen thảo luận, bày tỏ quan điểm, chính kiến của nhân dân về các vấn đề quan trọng của đất nước.

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Đảng ban hành Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị, “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”Trên cơ sở đó, Nhà nước cụ thể hóa quy định của Đảng bằng việc ban hành Luật Thực hiện dân chủ cơ sở. Đó là bước tiến quan trọng trong việc phát huy sự tham gia của nhân dân trong xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tham gia giám sát và phản biện xã hội.

Thực hiện tốt phương châm “động viên nhân dân tham gia các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hoạt động tự quản cộng đồng”(3) đánh giá, phản biện và dự đoán các lĩnh vực chuyên biệt của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, dân chủ, tôn giáo, an ninh,… trở thành lực lượng cốt cán và tiên phong trong giám sát và phản biện xã hội. Biện pháp này góp phần khắc phục sự e ngại của các chủ thể khi tham gia phản biện xã hội, cũng như khơi dậy ý thức trách nhiệm của mỗi chủ thể để giám sát và phản biện xã hội phải thực sự được coi là một hoạt động có tính khách quan, chuyên nghiệp.

Thiết lập cơ chế phối hợp giữa hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cơ quan báo chí và nhân dân với hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng và hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, xét xử… của các cơ quan nhà nước. Từ cơ chế phối hợp đó, hoạt động giám sát và phản biện xã hội cung cấp thêm những góc nhìn, quan điểm, nguyện vọng từ phía quần chúng nhân dân để Đảng và Nhà nước có những quyết sách đúng đắn, phù hợp nhất và tạo sự đồng thuận xã hội. Mặt khác, hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, xét xử… của Nhà nước mang tính quyền lực công với những chế tài xử lý nghiêm minh sẽ góp phần bảo đảm những kết quả giám sát và phản biện xã hội phát huy được giá trị trong thực tiễn.

Bảo đảm cơ chế công khai, minh bạch, mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho các chủ thể giám sát và phản biện xã hội. Công khai hóa, minh bạch hóa là một xu thế tất yếu hiện nay và được các quốc gia trên thế giới ghi nhận và nỗ lực bảo đảm. Hoạt động giám sát và phản biện xã hội có tính khách quan, phản ánh ý chí, nguyện vọng, kiến nghị của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Để bảo đảm được tính khách quan, trung thực của sự phản biện, cần phải bảo đảm cơ chế công khai, minh bạch thông tin (trừ những thông tin mật ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, quyền con người), đặc biệt là những thông tin liên quan đến các chính sách, kế hoạch, chương trình phát triển đất nước và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Quá trình xây dựng chính sách, thể chế, tổ chức của Nhà nước phải được công khai, minh bạch (trừ vấn đề thuộc bí mật quốc gia). Quá trình tiếp thu ý kiến cũng cần được công khai, minh bạch để các chủ thể giám sát và phản biện nắm rõ được ý kiến của mình được tiếp thu và xử lý đến đâu hoặc biết rõ được lý do những ý kiến đó bị từ chối bởi các cơ quan hữu quan. Điều này nhằm khắc phục tình trạng bất cập hiện nay là chủ thể giám sát và phản biện xã hội không biết được cơ quan nhà nước tiếp thu ý kiến đến đâu và những kiến nghị có được giải quyết không, trách nhiệm thuộc về ai,…. Việc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin sẽ tạo ra cơ chế lắng nghe, tiếp thu và phản hồi ý kiến một cách thường xuyên và có trách nhiệm giữa cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân, bảo đảm việc tham gia ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và nhân dân thực chất, hiệu quả, tránh những sai lệch bởi thông tin không chính thống.

Mở rộng các hoạt động kiểm tra việc thực hiện các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động giám sát và phản biện xã hội. Các cơ quan của Đảng và Nhà nước cần tiến hành những hoạt động kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất để nắm bắt được quá trình tiếp nhận, xử lý và tiếp thu ý kiến giám sát và phản biện xã hội của các cấp chính quyền. Mặt khác, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội, cơ quan báo chí và nhân dân cần chủ động trong việc theo dõi việc xử lý thông tin phản ánh và sự điều chỉnh hành vi, chính sách từ phía các đối tượng được giám sát và phản biện xã hội. Có như vậy mới thiết lập được kỷ luật, nâng cao trách nhiệm của cả chủ thể và đối tượng được giám sát và phản biện xã hội, kịp thời ngăn chặn những hành vi sai trái, lệch lạc, vi phạm pháp luật trong hoạt động này.

Để nhân dân tham gia giám sát và phản biện xã hội có hiệu quả thì cần phải có đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm cao trong công việc, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân. Kiên trì thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(4).

Dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển đất nước. Thực hành dân chủ phải gắn với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội. Thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm kỷ cương xã hội cần trở thành nền nếp, thành quan hệ ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội. Đây là yêu cầu, điều kiện quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đồng thời cũng phản ánh tính ưu việt của hệ thống chính trị Việt Nam./.

Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng trong Chiến dịch Biên giới

 

Chiến thắng Biên giới Thu Đông 1950 là sự kiện quân sự quan trọng, đánh dấu bước ngoặt cơ bản, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển sang giai đoạn phát triển mới; đồng thời để lại những kinh nghiệm quý, trong đó nổi bật là nghệ thuật chỉ đạo chiến lược sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trải qua 4 năm lãnh đạo quân và dân ta kháng chiến, Đảng ta ngày càng dày dạn và trở thành một “Đảng kháng chiến” với nhãn quan chiến lược rất nhạy bén và sắc sảo. Đến năm 1950, Đảng khẳng định: Cuộc kháng chiến chống Pháp đang có những thuận lợi cho ta, bất lợi cho Pháp về tương quan so sánh lực lượng trên chiến trường, ta ngày càng trưởng thành, Pháp càng đánh càng lâm vào thế bị động. Trên cơ sở đó, Đảng nhận định: Năm 1950 là năm bản lề giữa hai giai đoạn chiến lược (cầm cự, tổng phản công), năm quyết định để ta vượt qua giai đoạn cầm cự, chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Đó là cơ sở để Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới và quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân ta giành thắng lợi. Thực hiện quyết tâm chiến lược đó, Đảng chỉ đạo chuẩn bị chiến trường, nêu rõ: “Công việc chuẩn bị cần chú trọng đến củng cố và phát triển cơ sở chính trị và vũ trang, gây cơ sở du kích... điều tra địch tình, phá hoại kinh tế địch, chuẩn bị lương thực tiếp tế cho bộ đội đến đánh”. Đây là sự chỉ đạo chiến lược quan trọng của Đảng nhằm chuẩn bị chu đáo về các mặt trước khi bước vào giai đoạn tiến hành chiến dịch như kế hoạch đề ra.  

Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng trong Chiến dịch Biên giới
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đài quan sát mặt trận Đông Khê, Chiến dịch Biên giới, ngày 16-9-1950. Ảnh tư liệu 

Điểm nổi bật về sự chỉ đạo chiến lược của Đảng không chỉ phản ánh ở cấp chiến lược mà còn thể hiện nghệ thuật chuyển hóa chiến lược tài tình. Lúc đầu, Tổng Quân ủy đề nghị mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc (cụ thể ở Lào Cai), vì coi đây là nơi địch yếu, sơ hở nhất và chuẩn bị chiến trường ở hướng Đông Bắc. Nhưng sau đó xét so sánh giữa hai mặt trận, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định chuyển hướng mở chiến dịch sang Đông Bắc và chọn tiến công vào tuyến biên giới khu vực Cao Bằng-Lạng Sơn, trong đó tập trung tiến công phòng tuyến địch trên đường số 4, đoạn Cao Bằng-Thất Khê. Chọn Cao Bằng-Lạng Sơn mở chiến dịch sẽ trực tiếp làm phá sản kế hoạch Revers của Pháp, nhằm phong tỏa biên giới Việt-Trung, ngăn chặn sự chi viện của cách mạng Trung Quốc cho cách mạng Việt Nam, bao vây, cô lập căn cứ địa Việt Bắc, tiêu diệt ta. Vì thế, Đảng ta đã sớm có tầm nhìn chiến lược, chuyển Đông Bắc thành hướng chiến lược, nếu ta giải phóng được vùng biên giới sẽ phá thế bao vây, cô lập của địch, mở thông đường giao lưu quốc tế, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, tiến lên giành quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.

Vấn đề chỉ đạo chiến lược của Đảng còn thể hiện lãnh đạo, chỉ huy thống nhất. Để trực tiếp lãnh đạo các lực lượng vũ trang và nhân dân thực hành chiến dịch, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng ủy Mặt trận Biên giới (25-7-1950) gồm 5 đồng chí, do đồng chí Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng làm Bí thư. Bộ chỉ huy chiến dịch do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp tổ chức, chỉ huy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh được chỉ định làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy chiến dịch; đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam làm Tham mưu trưởng. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ quyết định những vấn đề mang tính chiến lược của chiến dịch mà Người còn lên đường ra mặt trận trực tiếp cùng Bộ chỉ huy chỉ đạo chiến dịch. Trước khi bộ đội ta đánh Đông Khê, trận then chốt mở màn chiến dịch (16 đến 18-9-1950), Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đài quan sát ở Nà Lạn, cách Đông Khê khoảng 11km về phía Đông, trực tiếp theo dõi trận đánh này. Nhờ sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các quyết định, chỉ thị của Trung ương Đảng lập tức đến với các lực lượng tham gia chiến dịch; đồng thời các vấn đề chỉ huy chiến lược cũng được thực hiện tập trung thống nhất trên toàn mặt trận.

Cùng với lãnh đạo, chỉ huy thống nhất, đề ra phương châm tác chiến chiến lược và quán triệt vận dụng thành công cũng là nét nổi bật trong Chiến dịch Biên giới. Để bảo đảm cho bộ đội ta thực hiện phương châm “đánh điểm, diệt viện” (đánh điểm chỉ là biện pháp, diệt viện mới là mục đích của ta), cần thống nhất phương châm tác chiến chiến lược trên toàn Mặt trận Biên giới. Lúc đầu, ý định của ta đánh địch ở Cao Bằng trước, sau đó đánh Đông Khê, nhưng qua nghiên cứu thực tế chiến trường, để bảo đảm chắc thắng, Đảng ủy Mặt trận đề nghị Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đánh Đông Khê trước và được chấp thuận.

Phương án tác chiến chiến lược được xác định: Tập trung lực lượng tiêu diệt cứ điểm Đông Khê trước để mở màn; tiếp đó tập trung lực lượng lớn hơn đánh quân ứng chiến, chuyển lực lượng xuống đánh Thất Khê và cuối cùng tiến công vào thị xã Cao Bằng. Quán triệt sâu sắc phương châm tác chiến, bộ đội ta đã đánh nhiều trận, trong đó điển hình là trận Đông Khê, trận then chốt mở màn chiến dịch thắng lợi, trận Cốc Xá-điểm cao 477 (từ ngày 5 đến 8-10-1950), trận then chốt quyết định tiêu diệt hai binh đoàn Le Page và Charton. Tiếp đó, từ ngày 9 đến 14-10-1950, ta chuyển sang tiến công, buộc địch lần lượt phải rút khỏi Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, thị xã Lạng Sơn, Lạng Giang, Lộc Bình, Đình Lập, An Châu, kết thúc chiến dịch. 

Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Chiến dịch Biên giới thể hiện rất tài tình, sắc bén về nhận định tình hình và quyết định chính xác, chủ động chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đúng đắn, kịp thời; tập trung lãnh đạo, chỉ huy thống nhất; xác định phương châm tác chiến chiến lược và quán triệt vận dụng thành công phương châm đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc xây dựng bộ máy nhà nước Trung ương trong những năm 1945 - 1954 - Bài học kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện bộ máy nhà nước

 TCCS - Những năm 1945 - 1954, trong bối cảnh vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam non trẻ, giúp bộ máy nhà nước nói riêng và hệ thống chính trị Việt Nam nói chung dần được hoàn thiện, đáp ứng những đòi hỏi bức thiết mà sự nghiệp cách mạng đề ra. Trong giai đoạn hiện nay, những kinh nghiệm, bài học quý báu rút ra từ quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng bộ máy nhà nước vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn.

Xây dựng bộ máy nhà nước những năm 1945 - 1954 dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Giai đoạn 1945 - 1946

Trong giai đoạn này, hệ thống chính trị của Việt Nam có nhiều đảng phái hoạt động, trong đó bên cạnh các đảng phái ủng hộ cách mạng (nổi bật là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam), còn có một số đảng phái đối lập và phản cách mạng cùng tồn tại trong hệ thống (điển hình là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội (Việt Cách). Bối cảnh chính trị rối ren cùng sức ép của các thế lực phản động trong và ngoài nước buộc Đảng Cộng sản Đông Dương phải quyết định tuyên bố tự giải tán vào tháng 11-1945, thực chất là rút vào hoạt động bí mật để tiếp tục lãnh đạo cách mạng.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngày 28-8-1945, Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Hồ Chí Minh giữ vị trí Chủ tịch Chính phủ lâm thời kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Do các hình thức chính quyền tiền Cách mạng tháng Tám chưa phải là bộ máy nhà nước hoàn chỉnh, cũng chưa do nhân dân bầu ra bằng tổng tuyển cử, nên một trong những nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của Chính phủ cách mạng lâm thời là khẩn trương chuẩn bị điều kiện cần thiết để tổ chức càng sớm càng tốt một cuộc tổng tuyển cử toàn quốc. Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”(1). Chính phủ lâm thời đã thể hiện rõ quyết tâm của mình thông qua việc ban hành một loạt chính sách, tạo khung pháp lý và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sự kiện đặc biệt quan trọng này.

Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa I - Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội_Ảnh: Tư liệu

Tuy nhiên, sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đã cản trở không nhỏ tiến trình tổ chức Tổng tuyển cử. Luận điệu xuyên tạc của thế lực phản động xoay quanh những vấn đề, như “kêu gọi tẩy chay Tổng tuyển cử vì rằng trình độ dân trí của ta còn thấp kém(!), trên 90% dân số mù chữ nên không đủ năng lực thực hiện quyền công dân của mình, rằng cần tập trung chống Pháp xâm lược không nên mất thì giờ vào bầu cử, v.v.. và v.v..”(2). Mục đích của Việt Quốc, Việt Cách cùng những nhóm chống phá khác là ngăn chặn hợp thức hóa chính quyền cách mạng, bởi điều đó gần như chắc chắn sẽ gián tiếp loại phần lớn trong số họ khỏi đời sống chính trị đất nước. Đấu tranh với lực lượng phản động, các báo Cứu quốc, Sự thật đã liên tiếp đăng những bài báo nêu rõ bản chất cách mạng của chính phủ lâm thời, góp phần đập tan những luận điệu vô căn cứ của các thế lực thù địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết”(3).

Cuộc đấu tranh không chỉ nóng ở mặt trận tuyên truyền, mà còn rất quyết liệt trong vấn đề đàm phán, thương lượng. Nhằm tạo bầu không khí ổn định cho Tổng tuyển cử, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Chính phủ lâm thời đã chủ trương cố gắng nhân nhượng, hòa giải với các lực lượng chống phá. Ngày 2-12-1945, Chính phủ ký với Việt Quốc, Việt Cách bản Biện pháp đoàn kết gồm 14 điều chính và 4 điều phụ, qua đó thừa nhận 70 ghế không qua bầu cử cho họ, thành lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời để Việt Quốc, Việt Cách được giữ một số ghế trong Chính phủ.

Nhờ những chính sách nhân nhượng cần thiết, vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn, kiên quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời đã tập hợp được sự đoàn kết, ủng hộ của nhân dân, hạn chế tối đa sự chống phá của kẻ thù, từ đó thực hiện nhanh chóng nhất có thể cuộc Tổng tuyển cử toàn dân đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Những chủ trương sách lược và biện pháp trên đây đã “làm thất bại âm mưu của quân Tưởng muốn tiêu diệt chính quyền nhân dân, bảo đảm cho nhân dân ta tập trung sức kháng chiến chống xâm lược của thực dân Pháp ở miền Nam. Chính quyền nhân dân không những được giữ vững mà còn được củng cố về mọi mặt”(4). Ngày 6-1-1946, Tổng tuyển cử diễn ra trong không khí phấn khởi của toàn dân. Dù ở cả ba miền, các thế lực phản động, thù địch luôn chống phá quyết liệt, đặc biệt ở miền Nam, nhân dân phải đi bỏ phiếu dưới bom đạn của kẻ thù, nhưng cuộc bầu cử vẫn kết thúc thành công. Tổng kết lại, “nhìn chung ở cả 71 tỉnh thành trong cả nước, 89% tổng cử tri đã đi bỏ phiếu, phổ biến là 80%, nhiều nơi đạt 95%. Trừ một số nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó, có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau, 43% không đảng phái, 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu phụ nữ và 34 đại biểu các dân tộc thiểu số”(5).

Sau khi cuộc Tổng tuyển cử kết thúc, Chính phủ gấp rút chuẩn bị cho kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I. Sau những cố gắng thương lượng, bàn thảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ với lực lượng đối lập, ngày 25-2-1946, hội nghị liên tịch giữa Việt Minh, Đảng Dân chủ, Việt Quốc và Việt Cách đã thống nhất đề nghị với Quốc hội những nội dung chính sau(6): 1- Thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến chính thức gồm 10 bộ, trong đó Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ để các vị không thuộc đảng phái nào nắm giữ, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông công chính, Bộ Giáo dục và Bộ Tư pháp do Việt Minh và Đảng Dân chủ nắm giữ, Bộ Ngoại giao, Bộ Kinh tế, Bộ Xã hội và Bộ Canh nông do Việt Quốc và Việt Cách nắm giữ, Bộ Giao thông công chính và Bộ Canh nông dành cho các đại biểu Nam bộ; 2- Thành lập Ủy viên kháng chiến để chuyên lo công việc kháng chiến; 3- Thành lập Quốc gia cố vấn đoàn do Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy làm trưởng đoàn.

Ngày 2-3-1946, phiên họp đầu tiên của Quốc hội mang ý nghĩa lịch sử trọng đại. Dù chưa bàn được những quyết sách lớn, nhưng Quốc hội đã thành lập được một số cơ quan quan trọng của Nhà nước là: Ban Thường trực Quốc hội, Cố vấn đoàn, Kháng chiến uỷ viên hội và quan trọng nhất là Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, cơ quan quyền lực điều hành cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, tổng động viên nhân lực và tài lực quốc gia, là một quyết sách đúng đắn của Quốc hội vào thời điểm lịch sử lúc đó. Nhờ vậy, bộ máy nhà nước ở Trung ương đã được hoàn thiện thêm một bước. Việc trao nhiều quyền cho Chính phủ đã giúp “bảo đảm cho Chính phủ đủ uy tín, hiệu lực để tổ chức nhân dân kháng chiến, kiến quốc, thực hiện mọi chức năng, nhiệm vụ đối nội và đối ngoại, trước mắt là đàm phán thực hiện sách lược tạm hoà hoãn với Pháp, tiếp tục củng cố chính quyền cách mạng, bồi bổ thực lực, chuẩn bị lực lượng để chiến đấu bảo vệ tổ quốc khi tình thế bắt buộc quân và dân ta phải kháng chiến trong cả nước”(7).

Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I là dấu mốc quan trọng khác trong quá trình củng cố bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết là ở cấp Trung ương. Trong quá trình họp bàn, thảo luận, các đại biểu đã tỏ rõ sự tiến bộ cả về ý thức trách nhiệm cũng như tinh thần của một đại biểu dân cử với những ý kiến sôi nổi về nhiều vấn đề lớn của đất nước. Quốc hội đã ủy nhiệm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng ra lập chính phủ mới, biểu quyết thông qua danh sách chính phủ mới. Nhận định về Chính phủ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái... Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà”(8).

Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới, được soạn thảo bởi Tiểu ban dự thảo Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng Tiểu ban, được Quốc hội khóa I thông qua vào ngày 9-11-1946. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định đầy đủ cấu trúc, tổ chức của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản chất của nhà nước này được nêu rõ trong Điều thứ 1 như sau: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(9). Về tổ chức bộ máy nhà nước ở cấp trung ương, Nghị viện nhân dân được quy định là cơ quan có quyền cao nhất, do công dân Việt Nam bầu ra, có quyền giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài. Nghị viện bầu một Nghị trưởng, hai Phó Nghị trưởng, 12 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết để lập thành ra Ban thường vụ (Điều thứ 27)(10). Chính phủ gồm có Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch và Nội các (bao gồm Thủ tướng - người đứng đầu nội các và các Bộ trưởng, Thứ trưởng) (Điều thứ 44)(11). Tất cả thành viên của Chính phủ, trừ Phó Chủ tịch nước và các Thứ trưởng, đều phải là đại biểu Quốc hội. Chủ tịch nước có quyền chọn Thủ tướng, Thủ tướng có quyền chọn các Bộ trưởng để Nghị viện biểu quyết. Ngành Tư pháp gồm có tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp; các Thẩm phán đều do Chính phủ trực tiếp bổ nhiệm, và khi xét xử hình sự phải có sự tham gia của phụ thẩm nhân dân (Điều thứ 64, 65)(12)Ở cấp địa phương, hệ thống cơ quan nhà nước bao gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính, Tòa án (đệ nhị cấp - tòa án cấp tỉnh và thành phố xét xử phúc thẩm, tòa án sơ cấp ở huyện xét xử sơ thẩm và ban tư pháp ở cấp xã).

Giai đoạn 1946 - 1954

Do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bộ máy nhà nước từ Trung ương tới địa phương được xác lập về cơ bản theo Hiến pháp năm 1946 không có điều kiện vận hành như một chính quyền dân sự bình thường. Với đặc điểm của một Quốc hội kháng chiến, cuối tháng 12-1946, Quốc hội Việt Nam khóa I đã thống nhất cao về việc tập trung quyền lực vào Chính phủ, chỉ duy trì Trưởng Ban Thường trực Quốc hội cùng Chính phủ để bảo đảm vai trò của Quốc hội trong các quốc sách lớn; còn các đại biểu Quốc hội khác sẽ chủ động hoàn thành nhiệm vụ của mình tùy theo năng lực, vị trí và hoàn cảnh kháng chiến cụ thể. Sau đó, theo diễn biến thực tế, đại diện của Quốc hội hoạt động cùng Chính phủ đã có lúc mở rộng hơn thành Ban Thường vụ Quốc hội (như quyết định vào tháng 2-1950 gồm Bùi Bằng Đoàn, Tôn Đức Thắng, Tôn Quang Phiệt, Dương Đức Hiền, Trần Huy Liệu, Phạm Bá Trực) hoặc rộng hơn là Ban Thường trực Quốc hội. Điều đó cho thấy, đặc điểm quan trọng nhất về tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn này là “do hoàn cảnh chiến tranh, chiến trường bị chia cắt, công tác kháng chiến trên mọi mặt trận rất khẩn trương cho nên Quốc hội không có điều kiện để họp định kỳ như trong thời bình. Quyền lực tập trung vào Chính phủ”(13).

Trong điều kiện như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh với vai trò là người đứng đầu Chính phủ đã tiếp tục gánh vác những trọng trách lịch sử lớn lao để bảo đảm bộ máy nhà nước được xây dựng theo hướng đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc. Theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ vào ngày 19-12-1946, bộ máy nhà nước cơ bản được chuyển đổi sang mô hình thời chiến: ở cấp Trung ương gồm Chính phủ kháng chiến và Ban Thường vụ Quốc hội; ở cấp địa phương gồm các Ủy ban kháng chiến. Để tiếp tục hoàn thiện bộ máy nhà nước thời chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bổ sung các chức vụ, cơ quan chuyên trách công tác kháng chiến thông qua nhiều quyết định quan trọng, như ký Sắc lệnh số 110/SL, ngày 20-1-1948, để thụ cấp Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp, bổ nhiệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội vào tháng 7-1948; ký Sắc lệnh số 206/SL, ngày 19-8-1948, thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; ký Sắc lệnh số 141/SL, ngày 16-2-1953, thành lập Thứ Bộ Công an, rồi thông qua Hội đồng Chính phủ để đổi Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an vào tháng 6-1953;...

Cùng với công cuộc kháng chiến, tiếp tục xây dựng bộ máy nhà nước theo hướng pháp quyền cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng. Đơn cử, để nâng cao hiệu quả xây dựng văn bản pháp luật và điều chỉnh Hiến pháp nếu cần thiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 72/SL, ngày 18-6-1949, thành lập Hội đồng tư luật do Bộ Tư pháp chủ trì (từ năm 1950 Hội đồng này nằm dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Quốc hội). Dù rất khó khăn trong điều kiện chiến tranh, việc xây dựng nền dân chủ mới từ cấp cơ sở vẫn được Chính phủ và Ban Thường vụ Quốc hội nỗ lực duy trì. Ngoài tổ chức bầu lại Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp xã sau khi kháng chiến bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ đạo việc duy trì các kênh liên lạc mật thiết giữa chính quyền trung ương với các chính quyền và tổ chức kháng chiến địa phương, thể hiện qua những sự kiện, như các buổi tiếp và làm việc giữa đại diện Chính phủ, Quốc hội với Đoàn đại biểu Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ (tháng 9-1949), Đoàn đại biểu Nam Bộ (tháng 10-1949); các đoàn đại biểu thay mặt Chính phủ, Quốc hội đi thăm cơ sở (ở Liên khu Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV) trong năm 1951 để nắm bắt tình hình thực tế, giải thích các chính sách mới của Trung ương;... Một sự kiện điển hình quan trọng khác thể hiện nỗ lực bảo đảm tinh thần pháp quyền trước những thử thách của thời chiến là việc tổ chức kỳ họp thứ 3 của Quốc hội Khóa I tại Việt Bắc từ ngày 1 đến ngày 4-12-1953. Dù gặp vô vàn khó khăn do sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, nhưng việc triệu tập họp Quốc hội ở thời điểm này là yêu cầu bắt buộc, bởi chỉ phiên họp toàn thể của Quốc hội mới đủ thẩm quyền xem xét và thông qua Luật Cải cách ruộng đất - một chính sách đặc biệt lớn trong giai đoạn 1953 - 1956. Sau khi được Quốc hội biểu quyết thông qua, luật này đã được ban bố chính thức bằng Sắc lệnh số 197/SL, ngày 19-12-1953, của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là tiền đề để triển khai thí điểm các đợt giảm tô và cải cách ruộng đất từ ngày 25-12-1953 đến giữa năm 1954, tạo thêm động lực để quần chúng đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến, góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử ngày 7-5-1954.

Trong giai đoạn này, để xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt lưu tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức và những người làm việc trong cơ quan công quyền, kết hợp nghiêm trị những trường hợp thoái hóa, biến chất. Nhiều luận điểm, tác phẩm quan trọng thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, công tác cán bộ và phòng, chống tham nhũng đã được ra đời trong khoảng thời gian này, tiêu biểu như: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”(14); “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”(15); “Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm... Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm”(16); “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính... Vì những lẽ đó, chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”(17)... Cùng với hệ thống quan điểm chỉ đạo rất sâu sắc, khoa học, với vai trò là người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ra sức tham gia công tác phòng, chống tham nhũng bằng những biện pháp, như ra Sắc lệnh số 138/SL, ngày 18-1-1949, về tổ chức thanh tra Chính phủ, cho phép Thanh tra Chính phủ được thanh tra sự liêm khiết của các ủy ban kháng chiến hành chính và viên chức nhà nước (trước đó đã có Ban Thanh tra đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập bằng Sắc lệnh số 64/SL, ngày 23-11-1946, Ban này có quyền đỉnh chỉ, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Chính phủ hay Ủy ban Nhân dân phạm lỗi trước khi đưa ra xét xử).

Một số kinh nghiệm cho giai đoạn hiện nay

Nhìn lại quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo việc xây dựng bộ máy nhà nước Việt Nam những năm 1945 - 1954, có thể rút ra một số kinh nghiệm quan trọng cho giai đoạn hiện nay:

Thứ nhất, để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tinh thần thượng tôn pháp luật kết hợp với một hệ thống pháp luật văn minh phải được đặt lên hàng đầu. Dù không chính thức sử dụng khái niệm nhà nước pháp quyền, nhưng tư tưởng và quá trình hoạt động lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rất sâu sắc nội hàm của nhà nước pháp quyền, “là nhà lãnh đạo chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra các quyết sách và lãnh đạo xây dựng nền pháp quyền của chế độ mới, trong đó tập trung ở xây dựng một nhà nước hợp pháp, hợp hiến và hệ thống pháp luật dân chủ”(18). Những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm và thực hiện trong những năm 1945 - 1954 cho thấy, một điều kiện cực kỳ quan trọng của nhà nước pháp quyền là phải có cơ chế pháp lý đủ mạnh để những người làm việc cho cơ quan công quyền, dù người đó giữ cương vị cao đến đâu, đều phải nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật. Cùng với đó, bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật bảo đảm quyền làm chủ rộng rãi của người dân cũng là một phương diện không thể thiếu khác để chứng minh sự tiến bộ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tiếp xúc cử tri thành phố Hải Phòng_Ảnh: TTXVN

Thứ hai, sự tinh gọn về tổ chức là tiền đề rất cần thiết của một nhà nước hiệu lực, hiệu quả. Trong những năm 1945 - 1954, do “nhìn thấy nguy cơ “phình đại” của bộ máy hành chính quan liêu ở nước ta từ rất sớm”(19), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến yêu cầu tinh gọn về tổ chức của bộ máy nhà nước. Tháng 12-1945, khi được hỏi về việc tại sao Chính phủ liên hiệp kháng chiến chỉ có 10 bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Vì nước mình nhỏ nên không cần nhiều bộ”(20). Tháng 8-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất”(21). Tháng 3-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa và tầm quan trọng của tinh gọn bộ máy nhà nước, “Các cơ quan chính quyền và đoàn thể, các cơ quan kinh tế và các Ủy ban, cần phải nâng cao năng suất, giảm bớt số người (tinh giản). Hiện nay, các cơ quan của ta người nhiều, việc ít, xài phí lu bù... Vô luận thế nào cũng phải tìm đủ cách để biên chế các cơ quan lại. Chúng ta phải dùng tinh thần bônsêvích mà thực hành một chế độ tiết kiệm nghiêm ngặt. Nếu chúng ta không muốn dùng vốn liếng của ta vào những việc linh tinh, thì chúng ta phải thực hành ngay chế độ ấy”(22).

Thứ ba, cùng với năng lực chuyên môn, sự liêm khiết về đạo đức cách mạng của cá nhân, tổ chức là yêu cầu tối quan trọng để xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày 19-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố “Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(23). Tại Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I cuối năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định, “Tuy trong nghị quyết không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết”(24). Tháng 6-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(25). Lịch sử đã chứng minh, những kinh nghiệm, bài học quý báu rút ra từ quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng bộ máy nhà nước những năm 1945 - 1954 vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp đổi mới của Việt Nam hiện nay./.

----------------------------

Lợi dụng trời mưa tập kích địch

 

Sau khi bị lực lượng vũ trang ba thứ quân tỉnh Quảng Ngãi phối hợp với các đơn vị của Quân khu 5 tập trung tiến công ở khu vực đồng bằng, nhằm từng bước đánh bại kế hoạch "bình định nông thôn" của Mỹ-ngụy, sáng 17-6-1970, Mỹ-ngụy cho máy bay trinh sát hoạt động chỉ điểm cho máy bay chiến đấu ném bom, trực thăng vũ trang bắn rốc-két, đánh chặn đường hành lang của ta từ đồng bằng về hậu cứ. Sáng cùng ngày, từng tốp máy bay trực thăng ồ ạt đổ một tiểu đoàn lính ngụy xuống vùng căn cứ xã Sơn Trung, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi đánh phá, chặn đường hành lang chiến lược liên tỉnh.

Trước tình hình đó, Tiểu đoàn 20 (Tỉnh đội Quảng Ngãi) vừa chiến thắng ở Ba Tơ được điều về đánh địch bảo vệ căn cứ. Khẩn trương nghiên cứu tình hình địch, địa hình, khả năng của ta, Đảng ủy Tiểu đoàn 20 xác định: Phải khẩn trương đánh địch trong ngày, bám chắc không để chúng triển khai lùng sục, vì đây là căn cứ địa của ta, có nhiều kho tàng quan trọng, là đoạn đường chiến lược vận chuyển vũ khí, hàng hóa thường xuyên từ hậu phương xã hội chủ nghĩa vào. Đồng thời đây là nơi có các cơ quan lãnh đạo của tỉnh đang hoạt động. Do đó, ta quyết định dùng lực lượng nhỏ tập kích bất ngờ vào vị trí chỉ huy, làm cho địch rối loạn. Sau đó ta triển khai tập kích các đơn vị bộ binh địch, làm cho chúng như rắn mất đầu, đội hình rối loạn không thể chi viện kịp.

Lợi dụng trời mưa tập kích địch
Du kích, tự vệ Khu 5 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước/ Ảnh tư liệu/ Ảnh minh họa.  

 

20 cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 20 được biên chế vũ khí, trang bị gọn nhẹ, lợi dụng lúc trời đang mưa dông, nhanh chóng vượt sông Rinh, tiếp cận vị trí sở chỉ huy địch đánh đòn phủ đầu bất ngờ. Chiều 17-6, cơn mưa ngày càng lớn và tiếp tục kéo dài, địch càng chủ quan. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 tiếp cận mục tiêu, hình thành 3 mũi áp sát sở chỉ huy địch. 16 giờ 30 phút, ở hướng chính diện, cách 30m, Đại đội trưởng Đinh Xuân Đường giương thẳng nòng súng trung liên về phía địch siết cò, tiêu diệt tên tiểu đoàn trưởng của địch ngay từ loạt đạn đầu. Tiếp đó, phát đạn B-41 của Trung đội trưởng Đinh Nhéo làm chiếc máy PRC-25 và cả bọn sĩ quan tùy tùng ngụy tan xác. Cùng lúc, cả đội hình xung phong đồng loạt tiêu diệt địch. Tiếng súng, tiếng lựu đạn, thủ pháo của các chiến sĩ Đại đội 1 rền vang cả khu rừng làng Đào, xã Sơn Trung.

Trận đánh diễn ra trong khoảng 20 phút. Sau khi nhanh chóng thu dọn chiến trường, quân ta trở về vị trí an toàn. Như rắn độc mất đầu, toàn bộ tiểu đoàn địch tháo chạy bằng trực thăng. Ta bảo vệ an toàn vùng căn cứ. 76 tên địch, trong đó có một đại úy tiểu đoàn trưởng bị diệt tại chỗ. Ta thu toàn bộ vũ khí, điện đài và đồ dùng quân sự, trong đó có 2 khẩu súng ngắn, 1 bản đồ chỉ huy tác chiến.