Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2023

TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN - NHÀ LÃNH ĐẠO KIỆT XUẤT TRỌN ĐỜI VÌ NƯỚC, VÌ DÂN.

 Với 79 năm tuổi đời, 56 năm tuổi Đảng và gần 60 năm hoạt động cách mạng sôi nổi, đồng chí Lê Duẩn đã có nhiều đóng góp to lớn đối với cách mạng Việt Nam, thể hiện ở những quyết sách mang tính đột phá và tầm nhìn xa trong tư duy lãnh đạo của mình.

Kỷ niệm 116 năm ngày sinh đồng chí Lê Duẩn là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về những công lao to lớn và cống hiến xuất sắc của đồng chí với cách mạng Việt Nam và nguyện noi theo tấm gương sáng ngời của người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo kiệt xuất, người học trò lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đồng chí Lê Duẩn (1907-1986) tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7/4/1907 ở làng Bích La, xã Triệu Đông (nay là xã Triệu Thành), huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Xuất thân từ một gia đình lao động có truyền thống yêu nước, đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, hưởng ứng lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đi theo con đường cách mạng vô sản. Năm 1925, Lê Văn Nhuận rời gia đình đi tìm việc làm và chính thức tham gia hoạt động cách mạng.
Từ một thanh niên yêu nước nhiệt thành đến với “đường cách mệnh” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tham gia Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên năm 1928, đến giữa năm 1930, đồng chí đã trở thành đảng viên lớp đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Người học trò lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam.
Do được hoạt động, gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí nhận được sự dìu dắt và chỉ đạo trực tiếp của Người. Đó là điều kiện thuận lợi để đồng chí tiếp thu và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực công tác do tổ chức phân công. Với tư duy mẫn tiệp, ý chí kiên cường, nhiệt tình cách mạng cháy bỏng và tấm lòng cộng sản trong sáng, đồng chí được nhân dân và cách mạng tin tưởng giao phó nhiều trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta: Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ; Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ, Bí thư Trung ương Cục miền Nam; Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam; Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 1939, khi được giao trọng trách Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư của Đảng, chủ trì Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939. Hội nghị đã mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam; từ đấu tranh đòi các quyền dân chủ, dân sinh chuyển sang đấu tranh nhằm mục tiêu trực tiếp đánh đổ chính quyền đế quốc, thực dân và phong kiến tay sai, chuẩn bị những điều kiện cần thiết tiến tới giành chính quyền về tay nhân dân. Nghị quyết Hội nghị đã khẳng định những tư tưởng chiến lược của cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định từ Hội nghị thành lập Đảng (1930). Đây là bước mở đầu của cao trào cách mạng mới, tiến tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Trong thời kỳ chống thực dân Pháp, trên cương vị là Phó Bí thư, rồi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ và từ sau Đại hội II của Đảng (1951) là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó là trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ. Đồng chí Lê Duẩn đã vận dụng sáng tạo đường lối, phương châm kháng chiến do Trung ương Đảng đề ra, cùng với Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam, giải quyết một loạt vấn đề quan trọng: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thống nhất các lực lượng vũ trang, chia cấp ruộng đất cho người nông dân nghèo, củng cố liên minh công nông, phát huy sức mạnh tuyên truyền lớn của Mặt trận dân tộc thống nhất, động viên mọi tầng lớp nhân dân đứng lên chống giặc cứu nước, làm thất bại hoàn toàn âm mưu địch đánh chiếm Nam Bộ, tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, lấy đó làm bàn đạp để thôn tính cả nước ta. Từ thành công của kháng chiến ở Nam Bộ, Đảng ta đã rút ra những kinh nghiệm quý báu cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp và cho cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước sau này.
Trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, trên cương vị Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ở vào một thời điểm lịch sử đầy thử thách cam go và nặng nề, cùng một lúc phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của dân tộc là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, đương đầu với một đế quốc có tiềm lực quân sự và bộ máy chiến tranh khổng lồ, đồng chí Lê Duẩn là người chịu trách nhiệm chủ yếu trước Trung ương Đảng về phong trào cách mạng miền Nam. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng chí đã cùng tập thể Bộ Chính trị và Trung ương Đảng hoạch định, phát triển và từng bước hoàn chỉnh đường lối chiến lược, phương pháp cách mạng và phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng.
Bằng kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm bám sát cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam, đồng chí đã soạn thảo văn kiện nổi tiếng Đề cương cách mạng miền Nam, góp phần hướng dẫn cán bộ, nhân dân tìm ra phương thức đấu tranh chống lại kẻ thù tàn bạo, làm dấy lên không khí phấn chấn, tràn đầy niềm tin tưởng, tạo ra phong trào đồng khởi mạnh mẽ của nhân dân miền Nam. Những tư tưởng đúng đắn và sáng tạo mà Đề cương cách mạng miền Nam nêu lên là cơ sở để ra Nghị quyết Trung ương 15 (khóa II), tiếp đó là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, góp phần vào việc hoạch định chiến lược cách mạng hai miền Nam - Bắc trong suốt thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, cùng với Bộ Chính trị và BCHTW Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta giữ vững quyết tâm chiến đấu, biến đau thương thành hành động cách mạng, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, thực hiện xuất sắc Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH.
Đất nước thống nhất, cả nước đi lên CNXH, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976), lần thứ V (1982) của Đảng và nhiều Hội nghị Trung ương, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với BCHTW từng bước xây dựng một hệ thống quan điểm về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và đã lãnh đạo thực hiện đạt được những thành tựu quan trọng, đó là: việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của CNXH; là sự đảm bảo vững chắc về chính trị và an ninh quốc phòng của Tổ quốc; là những thành tựu về văn hóa, đạo đức, cùng quan hệ tốt đẹp giữa người với người do chế độ XHCN đem lại. Với những thành tựu đó, đất nước ta đã đứng vững trước những thử thách khắc nghiệt trong những năm sau chiến tranh với bao biến động chính trị quốc tế to lớn để tiếp tục tiến lên con đường cách mạng mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn lựa.
Nhà lý luận xuất sắc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam
Có mặt trong đội ngũ những người cộng sản ngay từ khi Đảng mới ra đời, với gần 60 năm hoạt động cách mạng, trong đó có 26 năm trên cương vị Bí thư thứ nhất và Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Lê Duẩn thể hiện rõ là một nhà lãnh đạo kiệt xuất, một nhà lý luận xuất sắc, có tầm cỡ chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Trưởng thành trong thực tiễn cách mạng, dạn dày kinh nghiệm đấu tranh, đồng chí Lê Duẩn rất coi trọng nghiên cứu lý luận, học tập lý luận, rèn luyện tư duy lý luận của cách mạng Việt Nam. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đồng chí đã góp phần quan trọng cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương hoạch định đường lối và phương sách cách mạng đúng đắn, sáng tạo đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành nhiều thắng lợi huy hoàng, giải phóng miền Nam, đưa cả nước thống nhất tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh. Đồng chí đã để lại cho chúng ta di sản tư tưởng lý luận phong phú trên nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, xây dựng Đảng...
Trong đó, nổi bật là tư duy lý luận về xây dựng Đảng. Đồng chí Lê Duẩn đã dành nhiều công sức cho xây dựng đường lối chính trị đúng đắn, kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng ngang tầm yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Đồng chí chỉ rõ: Phải đặc biệt chú trọng tới chất lượng đảng viên, tổ chức cơ sở của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ và sự đoàn kết trong Đảng, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng - chính quyền - đoàn thể, mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước với nhân dân. Không ngừng nâng cao tính tiên phong gương mẫu của đảng viên, sức chiến đấu của Đảng, chăm lo củng cố khối đoàn kết dân tộc và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động bằng cách đem lại lợi ích thiết thân hằng ngày cho họ, thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của họ, thuyết phục và thúc đẩy họ bằng việc làm, bằng hành động thực tế, lời nói đi đôi với việc làm, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. Muốn vậy phải kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xa dân, vi phạm quyền làm chủ của dân, ra sức học tập và thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư theo gương sáng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, đồng chí đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về đường lối chiến lược và phương pháp cách mạng, về đường lối kháng chiến và phương thức tiến hành chiến tranh trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đồng chí Lê Duẩn đã đúc kết rằng, chiến tranh nhân dân Việt Nam bao gồm 2 lực lượng: lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng giành chính quyền, làm chủ ngay trong chiến tranh. Đường lối chính trị của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là dựa vào sức mạnh đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc, lấy công - nông liên minh làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Những quan điểm đó được đồng chí đúc rút và vận dụng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí đã có những cống hiến quan trọng vào quá trình chỉ đạo cách mạng và chiến tranh cách mạng, nổi bật lên một số tư duy chiến lược như: tư tưởng dám đánh, dám thắng đế quốc Mỹ xâm lược; nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công và nghệ thuật đánh thắng từng bước; sử dụng bạo lực cách mạng với hai lực lượng chính trị và vũ trang, với hai hình thức đấu tranh cơ bản chính trị và quân sự; đánh địch và thắng địch bằng sức mạnh tổng hợp. Một đặc trưng nổi bật trong tư duy chiến lược của đồng chí Lê Duẩn là tinh thần độc lập, tự chủ. Đồng chí thường nhắc nhở: ta đúng vì ta độc lập, tự chủ và có độc lập, tự chủ thì mới có sáng tạo. Trước những tác động khách quan của tình hình quốc tế, Đảng ta vẫn giữ vững đường lối, cách làm của mình đồng thời thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế đúng đắn. Do đó cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã giành thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CNXH.
Về cách mạng XHCN ở Việt Nam, đồng chí Lê Duẩn đã có những đóng góp quan trọng trong việc tìm ra con đường phù hợp để đưa nước ta từ nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Sau khi đất nước thống nhất, cả nước cùng tiến lên CNXH, đồng chí đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm xác định và hoàn chỉnh đường lối cách mạng XHCN ở nước ta. Đường lối ấy thể hiện những tư tưởng lớn của đồng chí về giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; về nắm vững chuyên chính vô sản và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; về tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ; về nền văn hóa mới và con người mới XHCN; về cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý…
Là một nhà lãnh đạo kiệt xuất, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, nhiều vấn đề đã được đồng chí Lê Duẩn làm sáng tỏ về mặt lý luận, được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn và sáng tạo. Đồng chí để lại cho chúng ta hàng loạt những tác phẩm lý luận có giá trị, tiêu biểu như: Đề cương cách mạng miền Nam, Thư vào Nam, Cách mạng XHCN, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng…
Công lao và cống hiến của đồng chí Lê Duẩn cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, đặc biệt những tư tưởng sáng tạo của đồng chí về lý luận và đường lối cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đã nâng trình độ tư duy lý luận của Đảng ta, dân tộc ta lên một tầm cao mới, góp phần làm phong phú kho tàng lý luận của cách mạng thế giới.
Kỷ niệm 116 năm ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về những công lao to lớn và cống hiến xuất sắc của đồng chí với cách mạng Việt Nam và nguyện noi theo tấm gương sáng ngời của người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo kiệt xuất, người học trò lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.
St

NHÂN VĂN TRONG BÁO CHÍ LÀ THỔI BÙNG LÊN GIÁ TRỊ TỐT ĐẸP

 Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Thanh Lâm cho biết, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đưa ra định hướng, quan điểm rõ ràng cho báo chí: “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại”.

Nhân văn hiểu một cách trực diện, đơn giản là việc báo chí kể những câu chuyện ý nghĩa, truyền cảm hứng, thổi bùng những giá trị tốt đẹp, hoặc tinh tế hơn, là mang đến cho mỗi câu chuyện buồn vui trong cuộc sống một góc nhìn nhân văn, đồng cảm, hướng thiện, giúp hóa giải bế tắc để tiếp tục sống tốt hơn.
“Tính nhân văn của báo chí chính là sự trung thực, phản ánh khách quan của người cầm bút.
Đội ngũ nhà báo trong quá trình tác nghiệp ngoài việc tôn trọng sự thật phải chú ý đến yếu tố nhân văn trong cách thể hiện. Ngòi bút của người viết phải có tính nhân văn. Khi viết báo phải suy nghĩ đến hiệu quả, đến cái “hậu” về sau. Nhà báo không nên vì lợi ích nhất thời mà bỏ quên tính nhân văn cao cả của báo chí”, ông Lâm nhấn mạnh.
Trung thực tạo nên sức mạnh của báo chí
Báo chí đảm nhiệm nhiều chức năng xã hội như: thông tin - giao tiếp; tư tưởng; giám sát, phản biện; văn hóa, giáo dục và giải trí; kinh tế - dịch vụ xã hội…
Dù ở chức năng nào thì tính trung thực luôn được đặt lên hàng đầu đối với những người làm báo. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thực mang nội dung đạo đức cao quý của người cộng sản, trung thực luôn gắn với trách nhiệm của người làm báo.
Trong suốt quá trình ra đời và phát triển của Báo chí Cách mạng Việt Nam, đã có rất nhiều bài viết chân thực, mang lại sức mạnh lan tỏa trong xã hội, có tính giáo dục rất cao đối với mọi người, tạo ra sức mạnh trong dư luận xã hội, để đẩy lùi cái xấu, tôn vinh cái đẹp.
Còn nhớ những ngày đất nước gồng mình chống đại dịch Covid-19, đã có nhiều phóng viên, nhà báo quên đi sự nguy hiểm, vào tận những nơi khó khăn, gian khổ nhất để cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với các y, bác sỹ cứu người bệnh. Từ đó, cho ra đời những tác phẩm báo chí làm lay động hàng triệu triệu trái tim, lấy đi bao nước mắt từ bạn đọc.
Hay những ngày tháng không thể nào quên khi đoàn công tác quân đội vào cứu hộ tại Rào Trăng 3 (Phong Điền, Thừa Thiên - Huế), đã gặp nạn không thể quay trở về. Những hình ảnh mà người xem phải rớt nước mắt khi tìm thấy quân tư trang của các anh, những thi thể thì bì vùi sâu dưới lớp đất đá khổng lồ.
Hình ảnh nhiều người dân nghèo gặp phải thiên tai, bệnh tật mà vẫn vươn lên để thoát nghèo, dựng xây tương lai mới cho những thế hệ sau... Các bài báo đã viết về sự vươn lên trong sự khổ đau, vất vả để thành công, chính bản thân họ tự xóa được đói, tự giảm được nghèo và còn giúp đỡ cho nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn khác là những hình ảnh đẹp, mang nhiều ý nghĩa.
Tính nhân văn của Báo chí cách mạng Việt Nam thể hiện ở nội dung tác phẩm với hàng loạt chương trình, cuộc thi, chuyên mục... ấn tượng, sâu sắc như: Cuộc thi viết về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (báo Nhân Dân), cuộc thi viết “Những tấm gương bình dị mà cao quý” (báo Quân đội nhân dân), “Như chưa hề có cuộc chia ly”, “Việc tử tế”, “Cặp lá yêu thương” (Đài Truyền hình Việt Nam), Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng), Giải báo chí toàn quốc về Quốc hội và HĐND (Giải Diên Hồng)... đã được tổ chức. Tất cả những bài viết tham gia các cuộc thi hay những bài viết phản ánh một cách trung thực cuộc sống của nhân dân đã tạo nên một sức mạnh lan tỏa tình yêu thương trong Nhân dân. Cũng chính những bài viết trung thực đó đã tạo ra một sức mạnh cho đất nước vượt qua khó khăn, gian khó để đi lên.
Làm gì để báo chí giữ được tính nhân văn?
Có thể nói, trong thời đại công nghệ phát triển và bùng nổ thông tin như hiện nay, việc cạnh tranh để có thông tin nhanh nhất, chính xác nhất sẽ tạo ra sức hấp dẫn đối với bạn đọc. Nhất là khi báo điện tử phát triển mạnh như vũ bão hiện nay, nhiều cơ quan báo chí đã “câu view” bằng mọi cách: Rút tít giật gân, ly kỳ, “sốc, sến, sex”, chăm chăm vào chuyện “tiền, tình, tù, tội”, moi móc chuyện đời tư, miêu tả tỉ mỉ, rùng rợn chuyện vụ án, làm “nóng” sự việc, đăng thông tin không kiểm chứng... Những kiểu tin, bài như vậy sẽ tạo ra hiệu ứng dư luận, thu hút công chúng khai thác thông tin; song đồng thời lại tạo ra bầu không khí văn hóa thiếu lành mạnh, nhìn đâu cũng thấy văn hóa, con người xuống cấp, xã hội thiếu an toàn... Vì thế, báo chí mất luôn tính khách quan, trung thực.
Tiến sĩ Mạch Lê Thu, Viện Thông tin khoa học (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) từng đánh giá: “Báo chí giải pháp là cách có thể dung hòa giữa các thái cực xấu và tốt trong tin tức. Báo chí giải pháp là phương pháp tiếp cận tập trung phát hiện và đưa tin về các vấn đề trong xã hội, đồng thời, gợi mở cách xử lý, giải quyết vấn đề. Lấy ví dụ, nhà báo của báo chí giải pháp không chỉ đưa kẻ vi phạm pháp luật đứng trước vành móng ngựa, mà còn mạnh dạn chỉ ra những tồn tại trong chính sách, trong cơ chế làm việc những kẽ hở pháp luật để giải quyết tận gốc vấn đề”. Như vậy có thể hiểu báo chí giải pháp sẽ mở ra những điều tốt đẹp, hy vọng tươi sáng đằng sau những hiện tượng xấu, mặt trái xã hội.
Một mối nguy hại khác với tính nhân văn trong báo chí là đạo đức nghề nghiệp của một số ít người làm báo suy thoái nghiêm trọng. Năm 2022, cơ quan chức năng của Bộ Thông tin và Truyền thông xử phạt vi phạm hành chính đối với 32 lượt cơ quan báo chí với tổng số tiền phạt hơn 1,873 tỷ đồng, tước quyền sử dụng giấy phép trong thời hạn 3 tháng đối với 2 cơ quan báo chí. Các biện pháp xử lý cũng được tiến hành đồng bộ, bên cạnh xử lý vi phạm hành chính bằng tiền có kiến nghị xử lý trách nhiệm người đứng đầu...
Cùng với các điều luật, quy định, quy tắc và nhất là các cơ quan báo chí đang triển khai Phong trào thi đua “Xây dựng môi trường văn hóa trong cơ quan báo chí” chắc chắn sẽ góp phần tôn vinh, nâng tầm tính nhân văn trong đời sống báo chí. Suy cho cùng, tính nhân văn trong báo chí không phải là điều gì đó cao siêu, trừu tượng. Báo chí nhân văn là báo chí thực hiện đúng chức trách, tôn chỉ, mục đích, hoạt động theo pháp luật và có tính toán đến tác động của thông tin với độc giả và với chính nhân vật.
Để nêu cao tính nhân văn trong tác phẩm báo chí, trước hết, mỗi người làm báo cần phải rèn luyện, trau dồi để không chỉ có Tài, có Tầm mà còn phải có Tâm, đặt lợi ích cộng đồng lên trước; người làm quản lý báo chí cần kịp thời định hướng, giúp các nhà báo thuộc phạm vi mình quản lý hành nghề chuẩn mực, cho ra đời những đứa con tinh thần có giá trị về mặt thông tin, mang lại hiệu quả xã hội tích cực, lan tỏa những giá trị tốt đẹp của cuộc sống, định hướng văn hóa, tinh thần lành mạnh cho công chúng, đồng thời phải kiểm soát chặt chẽ mặt báo, chương trình trước khi đến với công chúng, không để lọt những tác phẩm báo chí thiếu tính nhân văn. Bên cạnh việc quản lý chặt chẽ bằng pháp luật, quy định, quy tắc để điều chỉnh, răn đe, xử phạt cần phải giáo dục, tuyên truyền để cơ quan báo chí và người làm báo tự ý thức về sứ mệnh giữ gìn tính nhân văn của báo chí cách mạng./.
St

TẦM VÓC THỜI ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

 Cuộc cách mạng nhân dân năng động và sáng tạo của nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi vào tháng Tám năm 1945. Đây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo đầu tiên và duy nhất trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa trong lịch sử nhân loại thế kỷ XX.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam đã đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp câu kết với chế độ phong kiến gần một trăm năm, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn đối với dân tộc Việt Nam. Nó chẳng những khẳng định giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đã đồng tâm hiệp lực, chiến đấu quả cảm đã "vung ra nghị lực phi thường" nhất tề đứng lên giành độc lập tự do mà còn khẳng định sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối chiến lược và sự thay đổi sách lược đúng đắn chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân, đưa Việt Nam gia nhập đại gia đình vô sản quốc tế sánh vai với các cường quốc văn minh trên thế giới.
1. Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trên toàn thế giới
Đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn thứ hai trong lịch sử phát triển. Đó là sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc mà V.I.Lênin khẳng định đó là "Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản". Là người đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phi mác xít của "phái hữu" và "phái giữa" trong Quốc tế Hai sau khi Ăngghen mất năm 1895, Lênin đã đấu tranh để vạch rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Theo Người, nó không phải là "Khai hoá văn minh" cho các dân tộc thuộc địa lạc hậu như một số lãnh tụ của Quốc tế Hai từng cổ suý mà nó là xâm lược, nô dịch, ăn bám, thối nát và với sự chống đối từ mọi phía. Lênin khẳng định nó tự làm suy yếu, tự nó đưa nó đến chỗ diệt vong.
Trước sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc trên tư bản. Vấn đề đấu tranh chống lại sự xâm lược và ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong đời sống chính trị quốc tế đầu thế kỷ XX. Vận dụng quan điểm "cách mạng không ngừng" của Mác - Ăngghen vào tình hình cụ thể. V.I.Lênin đã khẳng định vấn đề dân tộc - thuộc địa là vấn đề sinh tử và là trung tâm của thời đại mới. Chính Người đã chủ động chuẩn bị và lãnh đạo công nông binh Nga biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. Làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười mở đầu kỷ nguyên mới, thời đại mới. Chính Người đã chuẩn bị và thành lập Quốc tế cộng sản (QTCS) - Tổ chức quốc tế của các Đảng Cộng sản có sự tham gia lần đầu tiên của các dân tộc thuộc địa. Người đã đề ra Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa, coi vấn đề đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức là trọng tâm của đời sống cộng sản quốc tế, là điều kiện được ghi trong Điều lệ để kết nạp các Đảng Cộng sản vào QTCS.
Giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là nhiệm vụ hàng đầu của các Đảng Cộng sản toàn thế giới lãnh đạo quần chúng nhân dân các thuộc địa. Giải phóng các dân tộc khỏi ách thống trị thực dân là nhiệm vụ trọng tâm của thời đại mới.
Là người tiếp thu học thuyết Mác - Lênin, là người có thực tiễn hoạt động phong phú trong QTCS, từng khảo sát tại các nước tư bản đế quốc nhiều thuộc địa, lớn mạnh nhất đến các nước thuộc địa lạc hậu nhất, Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận và thực tiễn vào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Với những hoạt động không mệt mỏi trong 1/4 thế kỷ (từ năm 1920-1945) Hồ Chí Minh đã biến học thuyết Lênin trở thành hiện thực, điều mà trước đó Lênin vĩ đại đã bổ sung, sáng tạo biến học thuyết Mác - Ăngghen trở thành hiện thực thể hiện qua cách mạng Nga. Là người hiểu và trung thành trong đấu tranh bảo vệ và kiên trì tổ chức thực hiện tư tưởng của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa, sau khi gia nhập gia đình cộng sản, Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Người trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản - bộ tham mưu của giai cấp và dân tộc lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Người trực tiếp đề ra chiến lược, sách lược và phương thức tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, tổ chức, lãnh đạo chuẩn bị xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, lãnh đạo chớp thời cơ một cách mau lẹ chính xác làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản. Đây là cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, do đó, thành công của cách mạng là triệt để, là "đến nơi" như Hồ Chí Minh khẳng định. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới chứ không như các cuộc cách mạng dân chủ tư sản trước đây. Thắng lợi của cách mạng đã đập đổ ách thống trị thực dân hàng trăm năm, ách thống trị phong kiến hàng nghìn năm đưa dân tộc Việt Nam vào thời đại mới - thời đại đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, thời đại độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trở thành một hình mẫu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, chiến thắng các thế lực xâm lược có thể có nhiều con đường giành thắng lợi, song cách mạng giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản là cách mạng giải phóng triệt để nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, bền vững cho quá trình đi lên của mỗi quốc gia. Và do vậy thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự mở đầu của trào lưu phi thực dân hoá trên phạm vi quốc tế. Lịch sử thế giới thế kỷ XX đã ghi nhận tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Mười mở đầu thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và Cách mạng Tháng Tám mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trong trào lưu cách mạng giải phóng dân tộc toàn thế giới.
Sau Cách mạng Tháng Tám và tiếp tục con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân Việt Nam tiếp tục đi đầu trong việc đánh thắng, tiêu diệt chủ nghĩa thực dân cũ, đánh bại một bước nặng nề chủ nghĩa thực dân mới đã làm cho Việt Nam và Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Cách mạng Tháng Tám với ý nghĩa đó trở thành cuộc cách mạng mở đầu cho trào lưu phi thực dân hoá và biến lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc thế giới thế kỷ XX giành được toàn thắng. Đến nay không còn có nước nào không giành được độc lập dân tộc với những mức độ khác nhau. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân hoàn toàn bị tiêu diệt trong thế kỷ XX mà Cách mạng Tháng Tám là sự mở đầu trào lưu phi thực dân hoá, mở đầu thời đại Hồ Chí Minh.
2. Cách mạng Tháng Tám khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh trong dự báo cách mạng thuộc địa có khả năng thắng lợi trước cách mạng chính quốc, bổ sung và phát triển Học thuyết Mác - Lênin
Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin tận gốc lại có thực tiễn khảo sát 28 nước ở 4 châu lục, điều mà các lãnh tụ kinh điển trước Người chưa có điều kiện, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đưa ra một dự báo mang tính lý luận từ rất sớm về khả năng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc trước cách mạng chính quốc.
Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ tự do cạnh tranh cũng như nghiên cứu chủ nghĩa tư bản thời kỳ chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, các nhà kinh điển chỉ đưa ra dự báo cách mạng các nước tư bản (chính quốc) giành thắng lợi trước mới tạo điều kiện, mới ảnh hưởng, mới giúp đỡ cho cách mạng giải phóng dân tộc. Những dự báo của Mác - Ăngghen về khả năng giành thắng lợi của cách mạng Aixơlen trước Anh mới là một dự báo chưa thành hiện thực. Thời đại Lênin tuy ông có dự báo cách mạng chính quốc phải thắng lợi trước mới giúp cho cách mạng thuộc địa dù Người đã dự báo cách mạng có thể giành thắng lợi ở một nước tư bản. Điều dự báo Lênin đã thực hiện thành công ở nước Nga thông qua Cách mạng Tháng Mười. Các lãnh tụ kinh điển chưa nói đến khả năng cách mạng thuộc địa có thể thắng lợi trước chính quốc.
Đến lượt mình luôn trung thành với học thuyết Mác - Lênin, coi đó là "chân chính nhất, cách mạng nhất" song Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn nghiên cứu sự vận động của thế giới trong thời đại mới. Nghiên cứu các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ đặc biệt là các thuộc địa của Pháp, tính chất đế quốc Pháp là chủ nghĩa đế quốc "cho vay nặng lãi" (khẳng định của Lênin) ngay từ những năm đầu mới tiếp thu Học thuyết Mác - Lênin Người đã đưa ra dự báo: cách mạng thuộc địa (thậm chí ở một nước riêng biệt) không những có khả năng thắng lợi trước cách mạng chính quốc, còn có thể giúp cho những người anh em phương Tây trong sự nghiệp giải phóng khỏi mọi ách áp bức dân tộc, áp bức giai cấp của chủ nghĩa tư bản. Đây là một dự báo hết sức táo bạo, một sự khẳng định tưởng như không có cơ sở trong những năm 20 của thế kỷ XX.
Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập đã tiến hành một "núi" các công việc khổng lồ để làm cho dự báo thành hiện thực. Đó là xây dựng được một đảng cách mạng tiên phong có lý luận soi đường được vũ trang bằng chủ nghĩa "Mã Khắc Tư và Lênin", có chiến lược và sách lược đúng đắn phù hợp tình hình đặc điểm của mỗi giai đoạn cụ thể, luôn chú trọng điều chỉnh chiến lược và thay đổi đối sách lược kịp thời. Chuẩn bị lực lượng mọi mặt, dự báo chính xác chiều hướng phát triển của cách mạng Việt Nam trong cao trào kháng Nhật cứu nước, chớp thời cơ giành chính quyền về tay nhân dân.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chứng minh dự báo của Nguyễn Ái Quốc về khả năng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa nổ ra và thắng lợi trước cách mạng Pháp. chính QTCS đã thấy trước vấn đề này. Tại Hội nghị toàn thể lần thứ 11 của QTCS tháng 4 năm 1931, QTCS đã thấy về lĩnh vực dân tộc thuộc địa các đảng ở chính quốc phải "học tập các đồng chí Trung Quốc và Đông Dương". Trưởng thành qua tổng kết thực tiễn các cao trào 1930-1931, cao trào dân chủ 1936-1939 và cao trào kháng Nhật 1939-1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã biến tư tưởng Hồ Chí Minh về thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc trước chính quốc thành hiện thực. Đây là sự phát triển sáng tạo và bổ sung quan trọng vào kho tàng lý luận Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, thuộc địa. Hồ Chí Minh không chỉ là trung thành vận dụng sáng tạo vào thực tiễn mà còn phát triển lý luận bổ sung cho chủ nghĩa Mác - Lênin lý luận vấn đề dân tộc và thuộc địa. Nó đã làm cho Cách mạng Tháng Tám không chỉ của Việt Nam mà là những vấn đề lý luận và thực tiễn mang tầm vóc quốc tế, có ý nghĩa thời đại.
3. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã bổ sung vào kho tàng lý luận Mác - Lênin, làm rõ nhiều vấn đề cơ bản về cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, khắc phục sai lầm tả khuynh của QTCS trong việc đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống phong kiến. Cách mạng Tháng Tám trong việc tập hợp lực lượng tham gia đã khẳng định đường lối sách lược trong tập hợp lực lượng đông đảo toàn dân tộc của Hồ Chí Minh là đúng đắn. Chỉ đến khi Cách mạng Tháng Tám trở lại đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược, sách lược cách mạng giải phóng dân tộc thì cách mạng mới thành công.
Cách mạng Tháng Tám còn làm rõ và bổ sung lý luận Mác - Lênin về vấn đề bạo lực cách mạng và vấn đề khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Với việc xác định đúng đắn bạo lực cách mạng là sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp chính trị với vũ trang, kết hợp khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa, đưa khởi nghĩa vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám lên tầm mẫu mực nghệ thuật trong đấu tranh giành chính quyền. Khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám trở thành một trong bốn điển hình trong đấu tranh giành chính quyền trong lịch sử thế giới thế kỷ XX.
Cách mạng Tháng Tám bổ sung lý luận của Lênin về thời cơ và nâng lên thành nghệ thuật chớp thời cơ trong bối cảnh diễn biến của tình hình thế giới hết sức phức tạp. Toan tính của các nước lớn, sự đầu hàng đồng minh của phát xít Nhật, sự yếu thế của Pháp khi chiến tranh kết thúc nếu không có sáng tạo, quyết đoán và mau lẹ chớp thời cơ thì không thể giành thắng lợi. Đây là lý do cùng ở Đông Nam Á, châu Á - Thái Bình Dương nhưng chỉ có Việt Nam là giành được chính quyền trước khi quân Đồng Minh vào.
Trên ý nghĩa đó thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám ngoài ý nghĩa cụ thể với dân tộc Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám còn để lại nhiều ý nghĩa mang tầm vóc thời đại. Nó chẳng những bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin mà còn nêu một mẫu mực đấu tranh giải phóng dân tộc cho các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh. Chính vì vậy các dân tộc thuộc địa coi Việt Nam là chiến sỹ tiên phong, anh hùng giải phóng dân tộc.
Thành quả của cuộc cách mạng mang lại vẫn đã và đang phát triển vững chắc và sẽ tiếp tục phát triển đưa dân tộc Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới./.
St

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHẢI LÀM ĐẦU TÀU GƯƠNG MẪU


Thực tế cách mạng Việt Nam luôn chứng minh vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ vai trò, vị trí quan trọng của mình, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu cao ý thức trách nhiệm, phát huy tinh thần gương mẫu để dẫn dắt, lôi cuốn quần chúng cùng gắng sức thực hiện nhiệm vụ cách mạng chung của Đảng, của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ cách mạng rất vinh quang, nhưng cũng hết sức nặng nề, khó khăn, đòi hỏi phải có nỗ lực cao của cán bộ, đảng viên. Ngày 8 - 6 - 1959, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Khu Việt Bắc, Người nêu rõ: “Cải tạo xã hội cũ xấu xa trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Muốn làm được sự nghiệp ấy, các cán bộ, đảng viên… cần có ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa cao, một lòng một dạ phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội”. Người đề nghị cán bộ, đảng viên phải luôn nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, luôn tích cực vươn lên hàng đầu, gương mẫu về đạo đức cách mạng cũng như trong công tác, học tập.
Hồ Chí Minh cũng thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần thực hiện nghiêm túc sự gương mẫu ở mọi lúc, mọi nơi, thật sự làm gương cho quần chúng nhân dân noi theo”. Người yêu cầu: “Người đảng viên - dù trong công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng… mà muốn làm cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Ngày 10 - 2 - 1967, nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây, Người dạy cán bộ, đảng viên “phải làm đầu tàu, gương mẫu. Muốn làm gương mẫu thì điều quan trọng nhất là các chú từ tỉnh đến huyện, đến xã phải đoàn kết thật sự, làm sao tự mình nêu gương”, đồng thời giáo dục cho cán bộ, đảng viên “giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng, làm cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”.
Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh sự gương mẫu của cán bộ các cấp. Ngày 16 - 1 - 1966, tại Hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12, Người yêu cầu các đồng chí lãnh đạo cần phải gương mẫu, cần phải đồng cam cộng khổ, quan tâm đến đời sống của cán bộ, của nhân dân.
Là Người cha thân yêu của Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tình cảm, tâm huyết để giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội, nhất là về tinh thần gương mẫu. Tháng 3 - 1948, trong “Thư gửi Hội nghị quân y”, Người viết: “từ việc lớn đến việc nhỏ, cán bộ đều phải làm kiểu mẫu. Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện quân lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại, mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm gương”. Đến ngày 29 - 1 - 1957, khi nói chuyện với các đại biểu quân đội, thương binh và quân nhân phục viên nhân dịp Tết Đinh Dậu, Người căn dặn: “Trong Quân đội cách mạng, cán bộ phải làm gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sĩ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”.
Tư tưởng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên đã và đang được toàn Đảng, từng cán bộ, đảng viên, đoàn viên ta quán triệt, thực hiện tích cực và hiệu quả. Đảng đã có nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp để phát huy tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đoàn viên. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thành tích, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm, tồn tại: “Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên. Công chức, viên chức chưa gương mẫu” và “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…”.
Để khắc phục tình trạng trên, Đảng xác định phải có chủ trương, giải pháp đồng bộ, hiệu quả, đặc biệt là phát huy cao nhất vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định: phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trong đó, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Đảng viên tự giác nêu gương để qua đó khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu của mình và tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng phát triển. Đảng cũng có nhiều biện pháp tích cực để tạo thuận lợi cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên phát huy được hiệu quả nhất sự tiên phong, gương mẫu của mình. Như việc khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm đã được Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra: “Có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ những cán bộ, đảng viên có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”.
Tình hình cách mạng trong giai đoạn mới đã và đang đỏi hỏi cán bộ, đảng viên cần thật sự tự giác tăng cường rèn luyện phấn đấu, nêu cao tinh thần tiên phong gương mẫu thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, được tổ chức vào ngày 9 - 12 - 2021: “Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là người đứng đầu, người chủ trì phải gương mẫu, tự giác làm trước (ngay sau Hội nghị này, không phải chờ đợi gì cả); căn cứ vào Nghị quyết, Kết luận và Quy định lần này, nghiêm túc tự phê bình, kiểm điểm, tự soi lại mình, đơn vị mình, gia đình mình, cái tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình. Mọi đảng viên đều phải làm như vậy, chứ không phải chỉ đứng ngoài mà “phán”, hoặc “ chờ xem”, coi như vô can”.
Làm được như vậy, chúng ta sẽ góp phần xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC KHƠI NGUỒN THẮNG LỢI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ SỰ RA ĐỜI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống lý luận toàn diện về Cách mạng Việt Nam phù hợp với thực tiễn đất nước và dòng chảy của thời đại. Trong đó, tư tưởng về dân tộc cách mạng là hệ thống những luận điểm của Người về con đường cứu nước, về chiến lược, sách lược và những nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam phát triển theo con đường cách mạng vô sản, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Bài viết phân tích rõ những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh được Đảng vận dụng trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh; giải phóng dân tộc; Cách mạnh Tháng Tám
Trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước đi qua nhiều châu lục, làm nhiều công việc khác nhau, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) đã dành toàn tâm sức xem xét, nghiên cứu tình hình các dân tộc, các giai cấp, các thể chế chính trị, đặc biệt là đi sâu tìm hiểu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới. Nghiên cứu cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc Mỹ và Cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp, Người đã nắm được yếu tố cốt lõi của Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp, đối chiếu với thực tiễn các thể chế chính trị của các nước tư bản Pháp, Mỹ và với cuộc sống của các giai cấp, các dân tộc thuộc địa ở các châu lục khác nhau,Nguyễn Ái Quốc đi đến kết luận: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục) công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”.
Giữa lúc đó, cách mạng XHCN Tháng Mười Nga thắng lợi (1917) đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại. Tinh thần của Cách mạng Tháng Mười đã tác động đến quan điểm của Nguyễn Ái Quốc, đặc biệt là kể từ sau khi Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin.
Những luận điểm của V.I. Lênin trong luận cương đã soi sáng con đường giải phóng dân tộc mà Nguyễn Ái Quốc đang khao khát tìm kiếm. Với kinh nghiệm thực tiễn, với tư duy độc lập, sáng tạo, với phương pháp độc đáo, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Người cho rằng: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật”; “Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”.
Việc tiếp xúc với Luận cương của V.I.Lênin đánh dấu sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc theo lập trường vô sản, Người khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam “phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”; “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Những luận điểm về cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc đã được xác định trong các tác phẩm Đường Kách mệnh, Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng và cụ thể hóa trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình trong những năm tiếp theo dần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam theo quỹ đạo cách mạng vô sản, trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới. Những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về dân tộc cách mệnh gồm những nội dung sau:
Thứ nhất, để đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công phải có đảng cách mạng lãnh đạo
Trong tác phẩm Đường kách mệnh tập hợp những bài giảng của Hồ Chí Minh trong các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên Việt Nam chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một đảng cách mạng, Người đã đặt ra và trả lời câu hỏi: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Vai trò của một đảng cách mạng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc đã được Người khẳng định một cách dứt khoát và nhấn mạnh “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”; “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. Người cho rằng: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.
Thứ hai, lực lượng tiến hành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp của toàn dân tộc, tiến hành bằng phương thức cách mạng khoa học, sáng tạo
Trong Sách lược vắn tắt của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo được Hội nghị thành lập (1930) Đảng thông qua, đã xác định: Cách mạng dân tộc, đánh đuổi thực dân xâm lược giải phóng dân tộc là sự nghiệp của toàn dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, lực lượng trong dân tộc cách mạng phải là lực lượng tự thân của các dân tộc bị áp bức. Ngay từ năm 1921, trong Tuyên ngôn của “Hội liên hiệp thuộc địa”, tổ chức của những người dân bản xứ ở tất cả các thuộc địa, Người viết: “công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”. Xác định cách mạng Việt Nam là dân tộc cách mệnh, Hồ Chí Minh chỉ rõ lực lượng trong dân tộc cách mạng: “dân tộc cách mệnh thì chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”.
Về vị trí vai trò của các giai cấp, tầng lớp trong dân tộc cách mệnh được Hồ Chí Minh đánh giá một cách rõ ràng, cụ thể, giai cấp công nhân và nông dân là lực lượng quan trọng nhất trong dân tộc cách mệnh. Người nói: “Công nông là người chủ cách mệnh” và “Công nông là gốc cách mệnh”, đồng thời chỉ rõ lý do “1. Là vì công nông bị áp bức nặng hơn, 2. Là vì công nông là đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết…”. Người khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong cách mạng giải phóng dân tộc thông qua Đảng của mình: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”. Đồng thời, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng dân tộc. Người xác định: giai cấp nông dân là lực lượng cách mạng tiềm tàng với những khả năng rất to lớn mà Đảng cần “Khéo tổ chức, khéo lãnh đạo, thì lực lượng ấy sẽ làm xoay trời chuyển đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng sẽ bị lực lượng to lớn ấy đánh tan” và “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo, thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi”. Xuất phát từ sự đánh giái đó, Hồ Chí Minh xác định cả hai giai cấp công nhân và nông dân làm thành động lực cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Với tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, Hồ Chí Minh cho rằng họ cũng bị thực dân, phong kiến áp bức bóc lột, họ là “bầu bạn cách mệnh của công nông”. Đến khi thành lập Đảng, Hồ Chí Minh xếp tiểu tư sản, trí thức vào hàng ngũ lực lượng cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo, đồng minh gần gũi của công nhân và nông dân “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp”.
Với các giai cấp, tầng lớp tư sản, dân tộc, địa chủ phong kiến, Hồ Chí Minh cho rằng họ cũng bị chủ nghĩa thực dân chèn ép, vì vậy, cách mạng giải phóng dân tộc chú trọng tranh thủ mặt tích cực của họ, lôi kéo họ hoặc ít nhất là trung lập họ, Đảng cần tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản dân tộc và trung, tiểu địa chủ, miễn là họ có lòng yêu nước. Người cho rằng Đảng: “phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi. Mặt trận ấy không những chỉ có người Đông Dương mà bao gồm cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương, không những chỉ có nhân dân lao động mà gồm cả giai cấp tư sản dân tộc”.
Hồ Chí Minh chủ trương đại đoàn kết tất cả các lực lượng yêu nước đứng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc. Ngoài các giai cấp, tầng lớp, Người chú trọng tập hợp, huy động tất cả các đảng phái, dân tộc, tôn giáo, các đoàn thể, các lứa tuổi…
Những quan điểm sáng tạo về lý luận đại đoàn kết dân tộc, chủ trương đúng đắn của Hồ Chí Minh về tổ chức lực lượng đã góp phần quan trọng đưa cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam từng bước đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Thứ ba, cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản và là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có thể giành thắng lợi trước và hỗ trợ cách mạng vô sản ở các nước tư sản giành thắng lợi
Vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, Hồ Chí Minh không xem cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc, mà đặt hai cuộc cách mạng này trong mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau, không thể tách rời. Từ trên cơ sở thực tiễn các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh cho rằng “hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”, Hồ Chí Minh đã bổ sung vào câu khẩu hiệu của V.I. Lênin vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại! bằng khẩu hiệu: “Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại!”. Với kết luận này, Hồ Chí Minh đã gắn kết cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam vào dòng chảy của thời đại, vào cách mạng vô sản thế giới, phát huy sự đoàn kết dân tộc và quốc tế góp phần đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.
Thứ tư, cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân để đánh đổ thực dân đế quốc, giành độc lập tự do cho dân tộc
Xuất phát từ sự hiểu biết các phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc trong truyền thống lịch sử dân tộc; trong quá trình đi tìm đường cứu nước và tiếp thu kinh nghiệm của các cuộc cách mạng trên thế giới và lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định tính tất yếu của con đường bạo lực cách mạng bằng phương thức khởi nghĩa của quần chúng, khởi nghĩa dân tộc để giành độc lập, tự do.
Xem xét thực trạng tình hình kinh tế, chính trị và xã hội Việt Nam, phân tích tương quan lực lượng các giai cấp ở các nước thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng không phù hợp với quan điểm “Súng đẻ ra chính quyền” hoặc sử dụng lực lượng quân sự một cách đơn thuần mà là dùng sức mạnh tổng hợp các yếu tố chính trị, quân sự; của quần chúng nhân dân với hình thức khởi nghĩa và chiến tranh với nhiều bước đi, nhiều biện pháp và hình thức đấu tranh cụ thể để đạt được những mục tiêu của từng chặng đường, tiến tới mục đích cuối cùng là đánh đổ chủ nhĩa thực dân và tay sai, giành độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Chính tư tưởng cách mạng bạo lực là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam đi đến thắng lợi, làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Hệ thống luận điểm dân tộc cách mạng của Hồ Chí Minh được xác lập đã đựa cách mạng Việt Nam vận động và phát triển theo quỹ đạo cách mạng vô sản, theo trào lưu phát triển của thời đại; cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới; xóa bỏ sự áp bức giai cấp, áp bức dân tộc; cách mạng Việt Nam sử dụng bảo lực cách mạng, đặc biệt là sức mạnh chính trị của quần chúng nhân dân; cách mạng Việt Nam phải được tiến hành triệt để, đưa tới sự giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và xác lập vai trò làm chủ xã hội của nhân dân lao động, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc là cơ sở lý luận để Đảng hoạch định đường lối cách mạng, lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa
Sau khi tìm ra chân lý cứu nước theo con đường cách mạng vô sản, xác định cách mạng muốn thành công phải có đảng cách mạng lãnh đạo. Đảng phải được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác-Lênin, có đủ năng lực lãnh đạo toàn thể dân tộc thực hiện các mục tiêu của cách mạng. Hồ Chí Minh đã tiến hành các hoạt động tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, xây dựng tổ chức, chuẩn bị và rèn luyện cán bộ thông qua việc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên (năm 1925 ở Trung Quốc). Trên cơ sở lý luận và tổ chức do Hồ Chí Minh chuẩn bị dẫn đến sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn). Tiếp đó, đầu năm 1930 đã diễn ra Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long (Hương Cảng Trung Quốc), do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Hội nghị đã thảo luận và thống nhất việc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng và Điều lệ tóm tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc dự thảo. Thành công của Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản đã đưa lại cho giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam một đảng cách mạng, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong cách mạng “Thống nhất vững chắc” với đường lối đúng đắn làm cơ sở cho sự thống nhất về tư tưởng và hành động của các lực lượng yêu nước và cách mạng Việt Nam tiến lên đánh đuổi thực dân đế quốc giành độc lập dân tộc.
Từ việc phân tích các điều kiện kinh tế, xã hội, xác định rõ mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt nguyên lý đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX. Trong xã hội Việt Nam đầu thể kỷ XX là xã hội thuộc địa nửa phong kiến, bị thực dân Pháp thống trị thì mâu thuẫn chủ yếu, nổi cộm là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Cách mạng phải thực thiện hai nhiệm vụ là nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ dân chủ, đánh đổ đế quốc và phong kiến. Phải thường xuyên giải quyết mối quan hệ giữa các nhiệm vụ này cho phù hợp với tình hình. Chủ trương đặt nhiệm vụ dân tộc lên hàng đầu của Hồ Chí Minh là đúng đắn, sáng tạo và khoa học, đáp ứng được yêu cầu lịch sử, nguyện vọng, quyền lợi thiết thân của đông đảo mọi tầng lớp nhân dân. Hồ Chí Minh đã thấy yếu tố dân tộc có sức mạnh to lớn trong việc tập hợp các giai cấp, tầng lớp vào mặt trận chung chống đế quốc, thực hiện nhiệm vụ đầu tiên là “a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập…”
Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế những năm 30 thể kỷ XX, có nhiều điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh về việc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đề cao yếu tố dân tộc không được Quốc tế Cộng sản thừa nhận, điều đó có tác động đến đường lối cách mạng của Đảng từ tháng 10-1930.
Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng trong những năm1930 - 1939, đến giai đoạn 1939 - 1945, Đảng đã có sự chỉ đạo giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ dân chủ. Đó là đặt nhiệm vụ đánh đế quốc và Việt gian tay sai, giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. HNTƯ Đảng (11-1939) và đặc biệt là HNTƯ 8 (5-1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã quyết định giương cao ngọn cơ giải phóng dân tộc lên hàng đầu: “Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp - Nhật”… “nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
Thực hiện chủ trương cứu nước, giải phóng dân tộc, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân tộc tập trung xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang tiến hành khời nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận tiến lên chớp thời cơ để giành chính quyền toàn quốc trong Tháng Tám năm 1945.
Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã thành công rực rỡ. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Ngày 2-9-1945, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Độc lập, tự do - tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã thành hiện thực./.
St

PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO HỒ CHÍ MINH

 Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và dân tộc ta. Người để lại cho chúng ta những di sản tư tưởng cao quý, nổi bật trong đó là phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh.

Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là tổng hòa các phương pháp, biện pháp, cách thức thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng của Người. Phong cách đó được quy định bởi vị trí, vai trò, uy tín, vốn sống, điều kiện chính trị; phản ánh các phẩm chất cốt lõi về tư tưởng, đạo đức, tình cảm, tri thức, ý chí, tính cách… và gắn liền với thực tiễn hoạt động cách mạng của Bác. Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh vừa thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vừa mang đậm bản sắc văn hóa, tâm hồn, cốt cách con người Việt Nam, tạo nên nhiều nét độc đáo, đặc sắc, phong phú; trong đó, tập trung chủ yếu ở những nội dung sau:
Một là, dân chủ nhưng quyết đoán. Hồ Chí Minh khẳng định: chế độ ta “dân là chủ” và dân là chủ thì cách lãnh đạo phải dân chủ. Người cho rằng, không một ai có thể hiểu biết được mọi thứ, làm hết được mọi việc. Bởi vậy, người lãnh đạo phải tạo được không khí dân chủ trong nội bộ, tập hợp được tài năng, trí tuệ của nhiều người để phấn đấu cho mục tiêu chung của cách mạng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”. Tuy nhiên, phong cách dân chủ không có nghĩa là “cá mè một lứa”, “mạnh ai nấy làm” mà phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Người chỉ rõ: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ”. Đối lập với phong cách dân chủ là phong cách quan liêu. Hồ Chí Minh kịch liệt phê phán cán bộ quan liêu, những người “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ”. Để chữa căn bệnh quan liêu, Người yêu cầu cán bộ phải “Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là: Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo”.
Cùng với việc thực hiện nghiêm dân chủ, tập thể lãnh đạo, cần chú ý vai trò cá nhân phụ trách, tức là nêu cao trách nhiệm, tính quyết đoán của người lãnh đạo. Theo Hồ Chí Minh, người lãnh đạo có ý thức tập thể cao, tạo được bầu không khí làm việc dân chủ, nhưng nếu không có tính quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm cá nhân, thì không thể có những quyết định đúng đắn, kịp thời đáp ứng yêu cầu đặt ra và do đó công việc không thể tiến triển được. Người lưu ý: “Những việc bình thường, một người có thể giải quyết đúng, thì người phụ trách cứ cẩn thận giải quyết đi. Những việc quan trọng, mới cần tập thể quyết định”. Hồ Chí Minh cho rằng, trách nhiệm và tính quyết đoán của người đứng đầu phải luôn được đề cao, đôi khi mang tính quyết định. Phong cách lãnh đạo đúng nhất là phải kết hợp thống nhất giữa dân chủ tập thể với tính quyết đoán. Những hiện tượng coi thường tập thể, hoặc dựa dẫm, ỷ lại tập thể, không nêu cao trách nhiệm cá nhân đều làm trì trệ, suy yếu năng lực lãnh đạo của người cán bộ. Người lãnh đạo giỏi là người dám chịu trách nhiệm trước tập thể, trước quốc dân đồng bào, kịp thời đưa ra những quyết sách đúng trong những thời điểm quyết định. Năm 1946, khi cách mạng bị thù trong, giặc ngoài chống phá quyết liệt, việc ta ký Hiệp định Sơ bộ 06-3 và Tạm ước 14-9 với Pháp, đã phá tan vòng vây của kẻ thù, loại trừ được 20 vạn quân Tưởng, tranh thủ thời gian để xây dựng lực lượng cho cuộc kháng chiến sau này, đó là một minh chứng về phong cách lãnh đạo dân chủ nhưng quyết đoán của Hồ chí Minh.
Hai là, luôn sâu sát. Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu về phong cách lãnh đạo sâu sát. Trong chỉ đạo kháng chiến chống Pháp, Người không những nắm vững tình hình các địa phương cũng như diễn biến các chiến trường để có sự chỉ đạo cụ thể, đúng đắn; mà còn đến nhiều đơn vị, trực tiếp đi chiến dịch cùng bộ đội để nắm tình hình, động viên tinh thần binh sĩ, khen thưởng kịp thời mọi chiến công. Người quan tâm mọi mặt công tác của Quân đội, yêu cầu cán bộ các cấp phải sâu sát, chu đáo tới chiến sĩ: “Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”.
Riêng công tác hậu cần, Người chỉ thị: “phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng đến chiến sĩ”. Trong chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Người nhiều lần đến thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội, để thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, xem xét tình hình và kiểm tra cụ thể mọi công việc. Ngoài ra, hằng ngày qua báo cáo của các địa phương, qua báo chí và thư từ của nhân dân gửi đến, thấy có những vấn đề nổi lên, Người yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu và giải quyết kịp thời.
Lãnh đạo sâu sát sẽ nâng cao được tính khách quan, minh bạch, tăng cường được công tác kiểm tra, giám sát, từ đó kiểm soát tốt hơn đối với việc thực thi quyền lực, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc sử dụng tài sản của Nhà nước, của nhân dân, góp phần phòng, chống tham nhũng có hiệu quả. V.I. Lê-nin chỉ rõ, lãnh đạo mà không kiểm tra có nghĩa là không lãnh đạo. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, khi đã có đường lối đúng, thì công tác kiểm tra là một trong ba nhân tố cơ bản nhất bảo đảm cho đường lối của Đảng ta thắng lợi. Muốn kiểm tra, giám sát tốt thì cán bộ phải sâu sát, phải “đi tận nơi, xem tận chỗ”. Sở dĩ sự thật còn bị bưng bít vì sự kiểm tra, giám sát “của các ngành, các cấp, không nghiêm túc, chưa chặt chẽ”, “chưa biết dựa vào quần chúng, nhân dân”. Người nghiêm khắc phê bình tình trạng: “cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó, thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to. Vì thế mà “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy”.
Ba là, khéo dùng người, trọng dụng người tài. Truyền thống của dân tộc ta là trọng dụng nhân tài, coi hiền tài là nguyên khí quốc gia. Hồ Chí Minh cho rằng, một quốc gia, một đất nước không biết sử dụng nhân tài là một khuyết điểm to, làm lãng phí một vốn quý của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và kiến thiết đất nước. Người rất quan tâm đến việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ “đúng người, đúng việc”, và chính cách sử dụng cán bộ của Người là mẫu mực của việc “khéo dùng người, trọng dụng nhân tài”. Sau khi cách mạng thành công, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã quy tụ được nhiều trí thức đào tạo từ các nước phương Tây, quan lại triều đình phong kiến cũ phục vụ cho đất nước, như: Trần Đại Nghĩa, Huỳnh Thúc Kháng, v.v. Đặc biệt, việc Người tin tưởng giao trọng trách quốc gia cho các đồng chí: Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…, là những ví dụ điển hình về điều đó.
Theo Bác, việc dùng người phải đúng năng lực và sở trường, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và phải cho họ hiểu rõ mọi mặt công việc được phụ trách. Dùng người không đúng, công việc sẽ không chạy, không được việc, làm thui chột nhân tài, có hại cho Đảng và cũng thể hiện sự yếu kém của công tác cán bộ. Đặc biệt, người nhấn mạnh đến việc phải “tìm người tài đức”, tức là phải chủ động phát hiện người tài, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Theo Người, trọng dụng nhân tài là công việc thường xuyên, liên tục, như: người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; phải biết tùy tài mà dùng người: “Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”. Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngày 14-11-1945, trên báo Cứu quốc, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quan điểm về sử dụng nhân tài trong điều kiện khó khăn của đất nước: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”.
Bốn là, cách mạng và khoa học. Hồ Chí Minh khẳng định, điều cốt yếu của người cán bộ là: “Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Nhiệt tình cách mạng là điều cơ bản trong phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, nhiệt tình cách mạng phải thống nhất với tri thức khoa học và dựa trên cơ sở khoa học, nếu không sẽ dẫn tới sai lầm, duy ý chí, hành động trái quy luật, thậm chí dẫn đến phá hoại một cách vô ý thức. Để có tri thức khoa học, người cán bộ phải không ngừng học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ về chính trị, văn hóa và nghiệp vụ chuyên môn. Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Vì thế, làm bất cứ việc gì, cán bộ cũng phải có kế hoạch và có đích rõ ràng, vì đích là để nhằm vào đó mà bắn, nếu nhiều đích “thì loạn mắt, không bắn trúng đích nào”. Để có kế hoạch thực sự khoa học, người cán bộ phải “xét kỹ hoàn cảnh mà xếp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp”. Một việc có thể có nhiều cách thực hiện. Bởi vậy, Người yêu cầu: “chủ trương một, biện pháp mười, quyết tâm phải hai, ba mươi”. Đặc biệt, Người đòi hỏi: “công việc gì bất cứ thành công hay thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới" v.v.
Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh thực sự là bài học quý để mỗi cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, nhằm không ngừng hoàn thiện mình, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới./.
St