Thứ Ba, 26 tháng 9, 2023

Sớm tháo gỡ vướng mắc, tạo cơ sở để phát triển

 

Kiểm định chất lượng (KĐCL) giáo dục là một trong những nội dung quan trọng nhằm duy trì các chuẩn mực, không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học trong các cơ sở giáo dục (CSGD). Thời gian qua, Học viện Kỹ thuật Quân sự (KTQS) đã có nhiều chủ trương, biện pháp thực hiện nhiệm vụ này và đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Tuy nhiên, công tác KĐCL giáo dục tại Học viện KTQS còn những khó khăn, vướng mắc cần sớm được tháo gỡ.

Sức sống mới ở Rào Tre

 

Những phong tục tập quán lạc hậu dần được loại bỏ; những nếp nhà sàn vững chãi, sạch đẹp được mọc lên, nằm san sát, tạo nên diện mạo mới về cuộc sống của đồng bào dân tộc Chứt ở bản Rào Tre, xã Hương Liên (Hương Khê, Hà Tĩnh).

“Nâng bước tương lai” học trò nghèo Côn Đảo

 

Đầu tháng 9-2023, Chi bộ Đại đội 7, Ban CHQS huyện Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu) tổ chức trao Quỹ “Nâng bước tương lai”, tặng cháu Nguyễn Thị Mỹ Thuận, sinh năm 2018, ở khu dân cư số 1 (huyện Côn Đảo). Cháu Thuận là con gái chị Nguyễn Thị Thảo, mẹ đơn thân, bị bệnh nan y, không có việc làm ổn định nên kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn.

Cựu chiến binh "hai giỏi"

 

Cựu chiến binh “hai giỏi” là cách gọi của người dân ở xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang dành cho cựu chiến binh Cao Văn Hoàng - một người vừa giỏi làm kinh tế, vừa giỏi giúp đỡ người khác.

Trăng thu biên cương lấp lánh nghĩa tình​

 

“Chú Cuội” hiện ra trong hoạt cảnh mô tả sự tích chú Cuội cung trăng, chú Hề với những màn trình diễn ảo thuật đặc sắc, những chiến sĩ cảnh sát biển đồng ca bài hát về tình yêu biển đảo, tiết mục biểu diễn múa lân vui nhộn, lấp lánh lồng đèn Trung thu... đã tạo không gian cuốn hút, rộn vang tiếng cười trẻ thơ trên đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.

Nâng cao lập trường giai cấp công nhân trong tình hình hiện nay


Trong tình hình hiện nay, cần thường xuyên tăng cường giáo dục giác ngộ giai cấp, nâng cao ý thức tự lực, tự cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức cảnh giác cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Kiên quyết không chấp nhận đa nguyên, đa đảng đối lập. Ngăn ngừa ảnh hưởng của tư tưởng tiểu tư sản, lối sống thực dụng, tư tưởng phong kiến, nhất là ở các đơn vị sản xuất khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Trong tình hình hiện nay, cần coi trọng giáo dục lập trường, quan điểm giai cấp, nhưng không phải bằng những bài lý luận chung chung, mà phải trên cơ sở thông tin, giáo dục, hướng dẫn khoa học để xây dựng niềm tin khoa học vững chắc cho công nhân. Cần giúp cho công nhân hiểu sự thật về chủ nghĩa tư bản hiện đại, cả mặt phải và trái của nó. Cách tuyên truyền theo kiểu “bôi đen” hoàn toàn, phủ định sạch trơn, hoặc “tô hồng”, ca ngợi chủ nghĩa tư bản hiện đại hết lời, đều không khoa học, phản tác dụng trong công tác tuyên truyền, giáo dục. Xây dựng niềm tin khoa học cho công nhân về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở giáo dục bằng những nội dung, hình thức, phương pháp khoa học, bằng thực tế trong nước và thế giới. Trang bị cho công nhân phương pháp xem xét khách quan, toàn diện, khoa học. 

Nâng cao trách nhiệm đội ngũ công nhân các doanh nghiệp ngoài nhà nước

 

Ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước, cần làm cho công nhân và NLĐ hiểu được: làm việc ở các thành phần kinh tế ngoài nhà nước cũng có giá trị như ở khu vực kinh tế nhà nước. Sự phát triển của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước góp phần vào sự phát triển nền kinh tế đất nước. Vì vậy, một mặt, công nhân cần tích cực tham gia vào việc phát triển các thành phần kinh tế này; lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, nhằm mang lại lợi ích cho bản thân, gia đình, góp phần vào sự phát triển của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của giới chủ. Mặt khác, nêu cao vai trò của người làm chủ xã hội, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn và báo cáo với Đảng và Nhà nước những việc làm sai trái của các chủ sở hữu, làm cho các thành phần kinh tế này chấp hành đúng chính sách, chế độ, quy định của Đảng và Nhà nước, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nâng cao trách nhiệm cho đội ngũ công nhân ngoài nhà nước trong thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình

 


Ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước, cần làm cho công nhân và NLĐ hiểu được: làm việc ở các thành phần kinh tế ngoài nhà nước cũng có giá trị như ở khu vực kinh tế nhà nước. Sự phát triển của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước góp phần vào sự phát triển nền kinh tế đất nước. Vì vậy, một mặt, công nhân cần tích cực tham gia vào việc phát triển các thành phần kinh tế này; lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, nhằm mang lại lợi ích cho bản thân, gia đình, góp phần vào sự phát triển của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của giới chủ. Mặt khác, nêu cao vai trò của người làm chủ xã hội, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn và báo cáo với Đảng và Nhà nước những việc làm sai trái của các chủ sở hữu, làm cho các thành phần kinh tế này chấp hành đúng chính sách, chế độ, quy định của Đảng và Nhà nước, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đổi mới hình thức giáo dục cho giai cấp công nhân


Cần phải đổi mới cả về nội dung, hình thức, phương pháp và biện pháp giáo dục dưới ánh sáng của quan điểm đổi mới và hiện đại hoá. Cần làm cho công nhân nhận rõ: Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quyết định đúng đắn, là một chủ trương chiến lược lâu dài, nhất quán nhằm khai thác nguồn tiềm năng to lớn trong việc giải quyết các vấn đề về việc làm, thu nhập và đời sống cho người lao động (NLĐ), phát triển kinh tế đất nước, giải phóng triệt để sức sản xuất, khai thác tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong tình hình hiện nay. Vì vậy, công nhân và NLĐ cần phải ủng hộ chủ trương này của Đảng và Nhà nước, góp phần tích cực vào việc phát triển các thành phần kinh tế vì lợi ích của bản thân, gia đình và xã hội. Trong khu vực kinh tế nhà nước, công tác giáo dục công nhân phải nhằm mục đích: bồi dưỡng tinh thần làm chủ, nhiệt tình lao động, kích thích và khơi dậy được tính năng động, sáng tạo, sự quan tâm đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh cho đội ngũ người thợ. Trên cơ sở ấy góp phần làm cho kinh tế nhà nước vươn lên, đứng vững và phát triển trong môi trường cạnh tranh, thực hiện vai trò chủ đạo, hướng dẫn các thành phần kinh tế khác. Cần làm cho người công nhân hiểu rõ cuộc sống của bản thân, gia đình và sự hưng thịnh của đất nước, trước hết phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, đơn vị. Trong cơ chế thị trường, người công nhân làm chủ sức lao động của mình, tự do chọn việc làm và nơi làm việc; đồng thời cũng chịu sự lựa chọn của người sử dụng lao động (cả trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước).

Sự phi lý của luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”

Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ xác đáng, hữu hiệu để bác bỏ luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”. Sự phi lý của một luận điệu Độc lập, tự chủ là ý chí sắt đá được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, trở thành giá trị cốt lõi thiêng liêng trong truyền thống quý báu của dân tộc ta. Chính vì thế, độc lập, tự chủ là vấn đề mang tính nguyên tắc, nhất quán trong hệ thống các quan điểm của Đảng ta, có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong điều kiện của thế giới hiện nay, Đảng ta đã xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là phương châm chỉ đạo và tổ chức thực hiện; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với giữ vững độc lập, tự chủ đất nước là một trong những mối quan hệ quan trọng đặc biệt cần giải quyết trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, với bản chất thâm độc, các thế lực thù địch cho rằng, chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam là hão huyền, phi thực tế. Chúng cho rằng "không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế được"; "đã độc lập, tự chủ thì không thể hội nhập quốc tế và ngược lại, đã hội nhập quốc tế thì không thể có độc lập, tự chủ". Đồng thời, chúng còn cho rằng thể chế chính trị của Việt Nam là khác biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế, với một đảng duy nhất cầm quyền càng không thể hội nhập quốc tế. Toàn cầu hóa là tất yếu khách quan kéo theo quá trình cả thế giới theo dòng thời cuộc hội nhập quốc tế. Đó cũng là quá trình nước nào cũng phải tìm mọi cách thức để tự bảo vệ mình. Vậy nên hội nhập quốc tế là xu thế khách quan thì việc mỗi nước phải giữ được tố chất của mình cũng là một nhu cầu và nhiệm vụ tất yếu. Nhưng nếu xem xét một cách sâu xa hơn thì có thể thấy ngay được luận điệu “Không thể có độc lập tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam” thực chất là sự hằn học của thế lực thù địch. Chúng ta có đủ luận cứ về lý luận và chứng cứ về thực tiễn để bác bỏ hoàn toàn luận điệu phi lý này. Hiệu quả hội nhập quốc tế hiện diện trên mọi mặt đời sống xã hội Sau hơn 30 năm thực hiện “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, từ nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta đã xác nhận nhiều mối quan hệ đan xen nhau rất phức tạp đòi hỏi phải xử lý đúng đắn, hiệu quả, trong đó có mối quan hệ “giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”. Trong Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Đảng ta đã chỉ rõ mục tiêu của hội nhập quốc tế là: “Củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo toàn và phát huy bản sắc dân tộc, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”. Quan điểm và chủ trương của Đảng nêu bật việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cơ hội, tiền đề để giữ độc lập, tự chủ trên mọi mặt đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Quán triệt và xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, những năm qua, chúng ta đã thu được những thành quả khả quan. Trong lĩnh vực chính trị. Chúng ta đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất: Chủ động tham gia phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng và thực chất cả trong kênh song phương và đa phương. Hội nhập song phương tạo tiền đề để Việt Nam phát huy vai trò trên diễn đàn đa phương, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn. Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Á-Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu. Từ một quốc gia hội nhập sau, Việt Nam đã trở thành nhân tố tích cực tham gia tiến trình hội nhập khu vực, chủ động đề xuất những sáng kiến, thúc đẩy các liên kết. Việt Nam cũng tích cực hội nhập sâu rộng vào trật tự kinh tế, chính trị toàn cầu, trở thành thành viên có trách nhiệm và uy tín trên cộng đồng quốc tế. Trong lĩnh vực kinh tế. Chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến; khai thác hiệu quả các thỏa thuận được ký kết, đặc biệt là các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 732,5 tỷ USD, xuất siêu 11,2 tỷ USD. Đầu tư vào Việt Nam đã đăng ký hơn 400 tỷ USD, năm 2022 đạt 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm trước. Việt Nam được xếp vào nhóm 15 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới. Hiện nay cộng đồng tài trợ quốc tế hoạt động thường xuyên ở nước ta đã lên tới hơn 50 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và hơn 20 nhà tài trợ đa phương. Ngoài ra, nước ta còn nhận được vốn ODA từ hơn 600 tổ chức phi chính phủ quốc tế. Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện vật chất-kỹ thuật thuận lợi cho việc bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước, tạo nền tảng để hội nhập về chính trị và hội nhập các lĩnh vực khác. Kinh tế đất nước phát triển, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên là nhân tố quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước. Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội. Đến nay, Việt Nam đã ký hơn 100 thỏa thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hóa. Hội nhập văn hóa xã hội đi vào chiều sâu đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều hơn. Từ thành công của hội nhập trong lĩnh vực này đưa tới việc hình thành nhiều dự án, nhiều công trình văn hóa ngay tại Việt Nam với quy mô ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân ta có cơ hội tiếp cận và thưởng thức những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân và khuyến khích giao lưu với cộng đồng quốc tế. Nguồn lực và động lực về văn hóa-xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, để ánh sáng văn hóa Việt Nam là ngôi sao lấp lánh trên bầu trời văn hóa các dân tộc trên thế giới. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phục vụ và hỗ trợ cho chính sách chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, vừa bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh môi trường quốc phòng, an ninh trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực, đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tùy viên quân sự tại hơn 30 nước và có hơn 40 nước có văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh, quốc phòng khu vực và từng bước tham gia vào những hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, quân sự toàn cầu. Tiếp tục kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Tình hình thế giới ngày càng có những biến động phức tạp, nhanh chóng, khó lường, trong khi hội nhập là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh dẫn tới những thách thức to lớn trong quá trình bảo vệ độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Trước những vấn đề mới đặt ra, Đảng ta đã xác định rõ những nguyên tắc, phương châm, mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng lớn cho quá trình hội nhập quốc tế. Để bảo vệ, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế, trước hết cần xác định rõ và luôn kiên định lợi ích quốc gia là mục tiêu cao nhất trong quá trình hội nhập quốc tế. Tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia về chính trị-đối ngoại, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh. Nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia là yếu tố quyết định thành công của quá trình hội nhập quốc tế. Đó là sức mạnh được tạo nên từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, của khối đoàn kết toàn dân tộc và của văn hóa, con người Việt Nam; sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, cần chủ động phát hiện, ngăn chặn “từ sớm, từ xa” các nguy cơ đối với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Phòng, chống một cách chủ động mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng hội nhập quốc tế để chuyển hóa nội bộ; phát hiện ngăn chặn kịp thời các đối tác nước ngoài lợi dụng các kẽ hở về luật pháp và sơ hở, yếu kém của ta để gây sức ép, trốn thuế, thao túng thị trường trong nước; đấu tranh với các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như rửa tiền, buôn lậu, sản xuất và tiêu dùng hàng giả, gian lận thương mại, tín dụng đen, tội phạm sử dụng công nghệ cao. Tăng cường quản lý hoạt động trên mạng xã hội và internet, có biện pháp ngăn chặn các thế lực thù địch xâm nhập vào những mạng nội bộ gây thiệt hại về kinh tế, phá hoại tư tưởng. Ngăn chặn việc nhập các ấn phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài để bảo đảm an ninh văn hóa. Cùng với đó, cần nâng cao năng lực dự báo tình hình quốc tế, khu vực phục vụ đắc lực yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế. Đổi mới tư duy, nghiên cứu có chiều sâu, nhạy bén bám sát tình hình để có những dự báo xác đáng. Tập trung nghiên cứu những biến động mới của tình hình thế giới, khu vực, những điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước lớn, những mối quan hệ giữa các nước lớn. Nghiên cứu đánh giá và xác định đúng đắn quan hệ đối tác, đối tượng trong từng tình huống cụ thể để có những ứng phó phù hợp, hiệu quả. Giải pháp có ý nghĩa căn cơ là tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế. Đảng ta đã xác định nâng cao bản lĩnh chính trị và trí tuệ của Đảng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo trong thực tiễn hoạt động của Đảng. Có thể khẳng định rằng, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nhằm góp phần hiện thực hóa phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Trong những năm đổi mới vừa qua, chúng ta đã thể hiện nhất quán và từng bước cụ thể hóa nội dung của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế cho từng giai đoạn, phù hợp với bối cảnh tình hình thế giới và khu vực. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ, bằng chứng xác đáng nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch về vấn đề này.

Nâng cao trình độ chính trị cho công nhân

 

Cần nâng cao trình độ chính trị, ý thức giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, gắn bó thiết tha với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng cho giai cấp công nhân ý chí quyết tâm vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, có quyết tâm làm giàu chính đáng cho bản thân, gia đình, góp phần làm giàu cho xã hội, đất nước. Làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động tiến hành “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng, các hình thức sinh hoạt của các đoàn thể, các tổ chức xã hội và các hoạt động văn hoá để tuyên truyền, giáo dục công nhân. Đưa vào chương trình giảng dạy của các trường phổ thông và dạy nghề nội dung giáo dục về công nhân.

Nhận diện và đấu tranh với các thủ đoạn chống phá trên không gian mạng

ự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá. Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động). Qua thực tiễn tình hình trong nước, có thể nhận thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng cơ bản vẫn tập trung vào một số nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội. Kích động hoạt động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền và “tự do Internet”, khuyến khích các đối tượng này chống phá quyết liệt hơn bằng cách trao các giải thưởng, đề cử vinh danh hay đưa Việt Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet”, vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền. Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau; đặc biệt phát triển các kênh truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số (Mông, Khơ me…) hướng tới đối tượng tuyên truyền là đồng bào dân tộc thiểu số. Cổ súy tư tưởng chống phá, định kiến của một số người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát tán, giật tít các bài viết của các đối tượng này lên Internet, mạng xã hội. Lợi dụng lợi ích cá nhân của một bộ phận người dân trong giải quyết vấn đề đất đai, các vụ án kinh tế… để kích động lôi kéo người dân tham gia vào các hoạt động gây rối, mất an ninh chính trị trên mạng xã hội, từ đó lan truyền, hiện thực hóa trên thực địa... Sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng; trước khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, phát tán ồ ạt những tin bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, hướng lái dư luận thông qua những tiêu đề “giật gân”, “câu khách”. Thu hút, lôi kéo người dân vào tổ chức; thâm nhập vào các diễn đàn, mạng xã hội dành cho giới trẻ để phát hiện, lôi kéo đầu mối; sử dụng các hình thức liên lạc qua mạng để móc nối, huấn luyện và chỉ đạo cơ sở phản động thực địa. Sử dụng truyền thông mạng xã hội để lừa gạt, lôi kéo nhân dân, hình thành và công khai hóa tổ chức núp dưới danh nghĩa các tổ chức xã hội dân sự hay tổ chức phản biện xã hội. Cùng với đó, chúng lợi dụng các sự kiện chính trị, kinh tế, quân sự… trên thế giới (xung đột quân sự Nga-Ukraine, đảo chính quân sự ở Niger…), sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các vụ án về kinh tế, hoạt động khẳng định chủ quyền biển đảo, biên giới... đề dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả; xuyên tạc tình hình chính trị, xã hội, kinh tế trong nước và có thời điểm tổ chức hoạt động tuyên truyền chống phá thành “chiến dịch” dưới nhiều hình thức. Lợi dụng hạn chế, bất cập trong công tác quản lý kiểm duyệt nội dung trên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc; lợi dụng chính sách của mạng xã hội, thành lập hàng nghìn hội nhóm tổ chức chính trị phản động, trong đó bao gồm cả hội nhóm công khai, bí mật với số lượng thành viên tham gia lớn, lôi kéo, thu hút, mời chào thành viên tham gia, hoạt động có đường hướng, tôn chỉ, mục đích cụ thể. Tạo lập các trang mạng, tài khoản mạng xã hội giả mạo các cơ quan của nhà nước, các đồng chí lãnh đạo, các cá nhân có ảnh hưởng... để đăng tải thông tin phản động; xuyên tạc, lợi dụng sự hiếu kỳ của người dân và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân để kích động cộng đồng mạng tham gia phát tán thông tin xấu độc. Trước tình hình diễn biến trên không gian mạng ngày càng phức tạp cùng với các hoạt động chống phá có tổ chức, xây dựng và lên kế hoạch tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, theo chúng tôi cần thực hiện một số vấn đề mang tính giải pháp sau: Thứ nhất, sử dụng thông tin chính thống đóng vai trò dẫn dắt định hướng dư luận. Các ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí cần phát huy được vai trò trong cung cấp thông tin chính thống kịp thời và chính xác, tránh tạo khoảng trống thông tin để các đối tượng phản động lợi dụng phát tán các thông tin xuyên tạc, để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận với thông tin chính thống trước khi tiếp cận với thông tin phản động. Hệ thống các kênh truyền thông của các cấp từ Trung ương đến địa phương cần được xây dựng đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các kênh truyền thông để tạo ra sức ảnh hưởng lớn với dư luận. Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài Quân đội có thế mạnh trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và trên báo chí, Trong đó lực lượng của Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp có cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, yêu cầu thực hiện đúng theo pháp luật Việt Nam, hợp tác trong việc xóa bỏ các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phối hợp lực lượng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cung cấp trao đổi thông tin kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng Internet mạng xã hội để tổ chức các hoạt động phát tán tin giả, thông tin sai sự thật nguy hại đến chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Thứ ba, nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đấu tranh. Xây dựng và khai thác có hiệu quả các trọng tâm nghiên cứu công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực, từ đó có kế hoạch để triển khai các nhiệm vụ truyền thông, đấu tranh với thông tin xấu bảo đảm sự bài bản, tính chính xác, hiệu quả. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp, ứng dụng sức mạnh của khoa học, công nghệ thông tin để tăng cường khả năng theo dõi, bám nắm, giám sát tình hình; hỗ trợ cho công tác quản lý, đánh giá chất lượng các hình thức đấu tranh. Nghiên cứu, xây dựng nội dung, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ hoạt động triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc. Xây dựng hệ thống kênh chỉ đạo điều hành đồng bộ từ chỉ huy đến cấp thực hiện, kênh liên lạc giữa các lực lượng tham gia đấu tranh. Hệ thống cho phép điều hành tổ chức các nhiệm vụ triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc trên Internet, mạng xã hội đồng thời là kênh để cán bộ thực hiện có thể chia sẻ kinh nghiệm cách thức tổ chức xử lý thông tin xấu độc. Trang bị cho lực lượng đấu tranh các hệ thống hiện đại để giám sát phát hiện thông tin phát hiện kịp thời các thông tin xuyên tạc trước khi bị phát tán ra nhiều tài khoản mạng xã hội tiếp cận đến số lượng lớn cộng đồng mạng. Thứ tư, nâng cao nhận thức, vai trò cán bộ, đảng viên và quần chúng trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nâng cao hơn nữa nhận thức, vai trò, trách nhiệm, tiền phong, gương mẫu nêu gương trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Phát huy tính hiệu quả, thiết thực việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền tải, nhân rộng những yếu tố tích cực, tấm gương tiêu biểu, người tốt, việc tốt, những giá trị văn hóa nhân văn, tinh thần tương thân, tương ái của quốc gia, dân tộc. Đồng thời, tích cực đấu tranh chống các thông tin sai trái, phản động, bịa đặt trên mạng xã hội, phê bình, phản đối các hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội để chia sẻ, thông tin, bình luận, đăng tải những hình ảnh phản cảm, thiếu tinh thần trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm với những khó khăn, mất mát của nhân dân.

Phát huy hơn nữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong thực hiện dân chủ hiện nay

 


Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật làm công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng luật, pháp 1ệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể, tăng tính khả thi đề đưa nhanh vào cuộc sống. Tăng tính ổn định, bền vững của pháp luật.

Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Đây là biện pháp để hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền và là cơ sở khách quan yêu cầu phải có cơ chế, phương thức kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước. Kiểm soát, giám sát cả từ các nhánh quyền lực lẫn nhau, cả từ nhân dân và các tổ chức của nhân dân. Ở đây, nhân dân vừa ủy quyền, vừa kiểm soát, đánh giá hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện các quyền mà mình đã ủy thác. Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, áp dụng các hình thức thưởng phạt nghiêm minh đối với người được ủy quyền. Cán bộ, công chức cần được giáo dục tốt, nhận thức được đầy đủ quyền và nghĩa vụ; vinh dự với vị trí công tác của mình được nhân dân giao phó, lường trước được hậu quả bất lợi khi vi phạm lợi ích chính đáng của nhân dân... để họ có năng lực tự điều chỉnh hành vi, thực hiện đúng chức trách được giao, phục vụ lợi ích của nhân dân.

Xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng nền dân chủ hiện nay.

 


 Thể chế hóa quan điểm của Đảng về phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp; bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản thuộc các hình thức sở hữu, loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế. Xây dựng hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các tài sản mới như sở hữu trí tuệ cồ phiếu, trái phiếu... quy định rõ, quyền trách nhiệm của các chủ sò hữu đối vói xã hội.

 Thể chế môi trường kinh doanh cũng như thể chế kinh tế nói chung chỉ phát huy tác dụng có hiệu quả khi tạo được sự đổi mới triệt để nhận thức đúng đắn của xã hội về vai trò quan trọng của thể chế, “...phấn đấu đến năm 2030 môi trường kinh doanh của Việt Nam được xếp vào nhóm 30 quốc gia hàng đầu” đồng thời xây dựng và hoàn thiện thể chế phải được tiến hành đồng bộ cả ba khâu: 1) Ban hành văn bản, quy định của thể chế 2) Xây dựng cơ chế vận hành, thực thi thể chế trong hoạt động kinh doanh cụ thể; 3) Hoàn thiện tổ chức bộ máy theo dõi, giám sát việc thi hành thể chế, xử lý vi phạm và tranh chấp trong thực thi thể chế. Trong khi triển khai đồng bộ thể chế môi trường kinh doanh phải tập trung cải cách hành chính, từ bộ máy hành chính đến thủ tục hành chính để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi đúng pháp luật.

Phát triển đồng bộ các yếu tố thi trường và các loại thị trường. Sớm hình thành việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh doanh phù hợp với Việt Nam. Trong điều kiện hiện nay, để hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh dân chủ, cần tập trung khắc phục thực trạng yếu kém của một số văn bản luật pháp. Đôi mới, hoàn thiện các quy định về giá, canh tranh, kiểm soát độc quyền, về ký kết, thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp. Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Quân đội xây dựng thế trận bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

Quân đội chủ động, nhạy bén trong “cuộc chiến” bảo vệ chân lý, niềm tin vào Đảng Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm NTTT, kim chỉ nam cho mọi hành động. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình huống khó khăn, phức tạp nào, Quân đội ta cũng luôn là trụ cột của Đảng, Nhà nước, chỗ dựa vững chắc của nhân dân. Đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng đã trở thành một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Quân đội trong cả thời bình và thời chiến. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, Quân đội luôn tiên phong, đi đầu trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ NTTT của Đảng; tiếp tục phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội và xã hội; vạch trần bản chất phản động, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, xuyên tạc NTTT của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, các cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ NTTT của Đảng. Thế trận đấu tranh tư tưởng, lý luận trong Quân đội ngày càng vững chắc. Công tác giáo dục chính trị được đặt lên hàng đầu, không ngừng đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục NTTT của Đảng, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng. Nghiên cứu, nhận diện và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, xuyên tạc, phủ nhận NTTT của Đảng. Đã tập trung luận giải có cơ sở khoa học, khẳng định những giá trị bền vững, tính đúng đắn, khoa học, cách mạng và sức sống bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Ban Chỉ đạo, cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương đã quán triệt sâu sắc nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp đồng bộ, kịp thời, hiệu quả. Đã chủ động tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Quân đội luôn gương mẫu thực hiện nhiệm vụ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chủ động, nhạy bén, tích cực đi đầu trong bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch”. Không ai đứng ngoài cuộc và không để “khoảng trống” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, nhất là biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, tội phạm công nghệ cao; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn cam go và lâu dài, phức tạp; nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đặt ra yêu cầu mới và cao hơn. Để góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, giải pháp hàng đầu là phải làm cho mọi tổ chức, lực lượng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng hiện nay. Thấu hiểu sâu sắc đấu tranh tư tưởng, lý luận là một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị; bảo vệ NTTT của Đảng là bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phải làm cho các cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, mọi cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ trách nhiệm, vinh dự của mình, phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, thực sự là lực lượng nòng cốt, đi đầu trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận cũng như trong bảo vệ NTTT, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Không một ai, không một tổ chức, lực lượng nào được bàng quan, vô cảm, đứng ngoài cuộc mà phải tham gia một cách chủ động, sáng tạo vào cuộc đấu tranh này. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Vì vậy, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trực tiếp là của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ này. Bên cạnh lãnh đạo, chỉ đạo, học tập quán triệt Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị, cần coi trọng lãnh đạo thực hiện toàn diện các nội dung về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, áp dụng nhiều hình thức, biện pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện của từng cơ quan, đơn vị Quân đội. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong Quân đội; nâng cao trách nhiệm của cơ quan, bộ phận chuyên sâu giúp việc, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kịp thời, hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong Quân đội; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp chống đối, cơ hội, bất mãn, giữ vững sự ổn định chính trị trong Quân đội. Để tiếp tục làm cho hệ tư tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo, thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống văn hóa, chính trị-tinh thần của xã hội và Quân đội, đòi hỏi phải huy động các tổ chức, lực lượng của Quân đội tham gia. Qua đó, giáo dục, tôi luyện cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội trở thành lực lượng chính trị vững mạnh, hùng hậu, sẵn sàng đảm đương các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp hơn. Bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ, đấu tranh tư tưởng, lý luận phức tạp, lâu dài, nên cần phải quan tâm xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách, nòng cốt, thiện chiến, đặc biệt tinh nhuệ về chính trị. Theo đó, cần coi trọng xây dựng, phát huy vai trò của các nhà khoa học, nhà giáo, chuyên gia, các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường; các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo... trong Quân đội đối với nhiệm vụ tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thiết lập thế trận chủ động, rộng khắp, liên hoàn, vững chắc trong Quân đội. Xác lập tổng thể các biện pháp, nguyên tắc, bố trí, triển khai và tổ chức các lực lượng cụ thể, từ nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền cơ bản, rộng khắp đến trực tiếp tác chiến, đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm trên các phương tiện thông tin, truyền thông truyền thống và hiện đại của Quân đội và quốc gia, trên internet, mạng xã hội; bao phủ toàn bộ nội bộ Quân đội, không ngừng mở rộng trên phạm vi quốc gia và quốc tế; chủ động gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, "chống" phải quyết liệt, hiệu quả; lấy cái đẹp dẹp cái xấu; không bỏ trống trận địa tư tưởng, bảo đảm ở đâu có bộ đội là ở đó có tuyên truyền giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; mỗi đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ là một tấm gương sáng về truyền bá NTTT của Đảng. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp chính trị, tư tưởng và tổ chức đấu tranh phòng ngừa, bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững và tăng cường trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Trong thời đại công nghệ 4.0, cần tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện, ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) trong Quân đội, tận dụng truyền thông quốc gia, phục vụ có hiệu quả cho đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Không ngừng hoàn thiện các cơ chế, chính sách xây dựng, bồi dưỡng, sử dụng, bảo vệ con người và lực lượng Quân đội tham gia bảo vệ NTTT của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bổ sung hoàn thiện các khung khổ pháp lý, quy định về khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội, tài liệu, quản lý, kiểm soát, kiểm duyệt các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo, tuyên truyền, in ấn, xuất bản, phát hành trong Quân đội, bảo đảm thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ được giao. Không ngừng đầu tư, đổi mới trang thiết bị công nghệ thông tin, truyền thông, sử dụng AI trong tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu tác chiến cả tập trung và rộng khắp trên không gian mạng, bảo đảm ngành tuyên huấn Quân đội là một binh chủng tác chiến tư tưởng hiện đại. Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ nhằm góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là yêu cầu đòi hỏi khách quan, cấp bách, là trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong Quân đội. Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cũng luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm chính trị, là lực lượng tin cậy, tiên phong bảo vệ vững chắc NTTT của Đảng, góp phần lan tỏa phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Phân biệt rõ và phù hợp giữa dân chủ XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH và dân chủ trong điều kiện CNXH đầy đủ (đích thực)

 


Trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn, cần phân biệt dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là chể độ dân chủ đầy đủ của chế độ xã hội chủ nghĩa đã phát triển tương đổi toàn điện với dân chủ trong giai đoạn thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là hai trình độ phát triển khác nhan của xã hội. với các đặc điềm kinh tế, chinh trị, văn hóa xã hội khác nhau. Do đó, đặc điểm, tính chất, hình thức thực hiện cũng khác nhau. Trong thời kỳ quá độ, Việt Nam tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, cơ cấu xã hội, quan hệ giai cẩp đa dạng, phức tạp; từ đó cũng dẫn đến sự đa dạng về nhu cầu dân chủ.

Dân chủ theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin

 


Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa; kinh nghiệm xây dựng nền dán chủ ở các quốc gia trên thể giới.

 Một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội chú nghĩa trong kho tàng chủ nghĩa Mác - Lênin; mặt khác, làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chú khác để kế thừa, học hỏi.

Cho đến nay việc làm sáng tỏ hai vấn đề nêu trên vẫn còn hạn chế, nhất là việc kế thừa những giá trị, học hỏi kinh nghiệm của nền dân chủ trên thế giới vẫn chưa thoát khỏi lối tư duy cũ; hoặc ca ngợi một chiều; hoặc phủ định sách trơn, làm cho sự khác biệt của các nền dân chủ càng doãng xa hơn. Do vậy một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ XHCN trong kho tàng chủ nghĩa mác- Lênin, chỉ ra những điểm còn nguyên giá trị, những điểm đã bị lịch sử vượt qua do bối cảnh lịch sử đã thay đổi; mặt khác làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chủ khác để kế thừa, học hỏi

Đánh giá khách quan thành tựu dân chủ tư sản, tính chất, trình độ dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là cơ sở khoa học để tiếp thu có chọn lọc các giả trị dân chủ của nhân loại được biểu hiện trong chủ nghĩa tư bản. Phải làm rõ sự phát triển trình độ dân chủ của văn minh nhân loại được biểu biện ở chủ nghĩa tư bản chứ không phải là sản phẩm riêng của chú nghĩa tư bản. Một số giá trị của dân chủ tư sản cần thiết cho thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Việt Nam không tiếp thu bản chất giai cấp của dân chủ tư sản, nhưng tiếp thu, học tập các hình thức thực hiện để đm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.

Những yếu tố thuận lợi tác động đến xây dựng nền dân chủ ở nước ta

 


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ra đời từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, là kết quả trực tiếp của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và phát triền trong những điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt. Bước vào xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam có những thuận lợi cơ bản sau:

Một là, học thuyết Mác-Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa là cơ sở lý luận và phương pháp luận để xây dựng nền dân chủ và thực hiện quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Hai là, kế tục những giá trị của dân chủ trong lịch sử Việt Nam đã được xây dựng ngay từ buổi đàu dựng nước và nâng lên một chất lượng mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện đất nước độc lập, thống nhất, nhân dân được tự do và trở thành người chủ đất nước, được tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình.

Ba là, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đã mang lại nhiều thuận lợi rất quan trọng trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Bỏ qua sự thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ người bóc lột người; bỏ qua sự thống trị cùa một nhóm người đối với đa số nhân dân lao động.

Bn là, nền dân chù xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xây dựng trong điều kiện có Đảng Cộng sản do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc.

Kế tục tưởng vi dân của Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước ta thừa nhận nhân dân là cội nguồn của quyền lực, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Hệ thống chính trị gồm: Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội được thiết lập từ Trung ương tới địa phương là cơ sở bảo đảm cho việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Năm là, cơ sở xã hội của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng là lực lượng đông đảo những người lao động được giải phóng đã vào vị trí người chủ của chế độ mới, nòng cốt là khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đây chính là những cơ sở quan trọng, những thuận lợi cơ bản trong việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Quan điểm của Đại hội VII về dân chủ

 


 

Đại hội VII của Đảng (1991) dã thống qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ XHCN (cương lĩnh năm 1991), trong đó đã rút ra bài học lớn “ sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Cương lĩnh năm 1991 đã pháp họa 6 đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng, trong đó đặc trưng đầu tiên là: Do nhân dân lao động làm chủ. Đặc biệt Cương lĩnh năm 1991 đã khẳng định “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nề dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ gắn lièn với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm”

Có thể khẳng định dại hội VII đã có bước tiến lớn trong nhận thức về dân chủ. Đảng ta không sử dụng khái niệm “làm chủ tập thể”, “chế độ làm chủ tập thể” từ đại hội này.

VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA THẾ HỆ TRẺ ĐỐI VỚI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO

 

Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam, bảo đảm quốc phòng – an ninh trên biển là nội dung chiến lược, mang tính cấp bách, then chốt hiện nay. Trách nhiệm thiêng liêng này thuộc về mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, trong đó trách nhiệm, nghĩa vụ và vai trò xung kích thuộc về thế hệ trẻ, đây là nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng đất nước và phát triển bền vững hiện nay và trong tương lai. Để thế hệ trẻ làm tốt việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần phải tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về chủ quyền biển, đảo, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo.

Công tác tuyên truyền biển, đảo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho thanh niên cần bám sát thực tiễn tình hình, không ngừng đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức, phương pháp tuyên truyền phù hợp với trình độ, đặc điểm của từng địa bàn nhằm đáp ứng thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, đồng thời tận dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật và chú trọng mở rộng phạm vi tuyên truyền.

Công tác tuyên truyền về chủ quyền quốc gia trên biển cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành và địa phương trong việc phát huy các tổ chức, đoàn thể, nhất là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp trong công tác tuyên truyền và gắn kết chặt chẽ với việc học tập và làm theo tấm gương, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo dục truyền thống, các bài học kinh nghiệm và gương các anh hùng trong kháng chiến chống xâm lược trong thanh niên.

Thông qua các cuộc vận động và chương trình hành động của thanh niên với cách làm thiết thực, như: “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”, “Tuổi trẻ giữ nước”, “Năm xung kích phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Doanh nhân trẻ khởi nghiệp”, “Nghĩa tình biên giới, hải đảo”, “Vì Trường Sa thân yêu”, “Góp đá xây Trường Sa”, “Đồng hành cùng ngư dân trẻ ra khơi”, “Tuổi trẻ hướng về biển, đảo của Tổ quốc”… Phối hợp giữa các cấp, ngành, tổ chức đoàn thể, gia đình, nhà trường, xã hội (nhất là Đoàn Thanh niên) và các hoạt động văn hoá, các phương tiện thông tin đại chúng tạo sức mạnh tổng hợp, hướng thanh niên chung sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Đối với các cấp Đoàn, cần chú trọng tổ chức các hoạt động thi tìm hiểu, tọa đàm về chủ quyền biển, đảo trong thanh niên bảo đảm thiết thực, chất lượng tốt; tăng cường tổ chức cho thanh niên đi thăm và tiến hành các hoạt động nghiên cứu thực tế trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Đồng thời, cần tổ chức cho thanh niên tham gia tìm hiểu về pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế để các thế hệ thanh niên hiểu và nắm vững các vùng, khu vực thuộc chủ quyền có lịch sử lâu đời của Việt Nam cũng như chủ quyền và quyền chủ quyền đối với biển, đảo Việt Nam được xác lập trên cơ sở các điều khoản quy định trong Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982; khẳng định, củng cố niềm tin cho nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế nói chung cũng như đối với thanh niên về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Thứ hai, cần có sự quan tâm và chính sách đãi ngộ cụ thể đối với thanh niên khi tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Cùng với việc thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với các huyện đảo xa bờ và các địa bàn trọng điểm, chiến lược; coi trọng giải quyết tốt mối quan hệ và sự phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở mỗi huyện đảo và giữa các huyện đảo với nhau, tạo ra thế trận liên hoàn trên biển để có thể nhanh chóng tập hợp và sử dụng hiệu quả sức mạnh của các lực lượng tại chỗ phục vụ cho quốc phòng – an ninh trên biển, thì rất cần thiết để cho thanh niên nắm rõ được tính chất phức tạp của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, vừa nhận thấy nhân dân ta, đất nước ta có đủ ý chí, quyết tâm và sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc biển, đảo của mình, qua đó, củng cố thêm niềm tin, thái độ, động cơ và ý chí vững vàng cho thanh niên về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc một cách bền vững, để “không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập”8.

Động viên thế hệ trẻ nâng cao quyết tâm và hành động thiết thực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó đang nổi lên vấn đề bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia trên các vùng biển đảo. Nhưng muốn có được quyết tâm và hành động để bảo vệ, trước hết phải có đủ tri thức hiểu biết và lòng tự hào về những điều mình sẽ dám bảo vệ, để thế hệ trẻ Việt Nam có ý thức về chủ quyền quốc gia nói chung, chủ quyền biển đảo nói riêng. Đó là những cơ sở tri thức tiền đề quan trọng giáo dục lòng tự hào dân tộc, bồi đắp tinh thần yêu nước, nâng cao ý thức về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đồng thời chống lại âm mưu xuyên tạc lịch sử, âm mưu thôn tính từng bước, dưới nhiều hình thức của các thế lực xâm lược.

Một trong những nền tảng quan trọng trong việc củng cố niềm tin, thái độ, động cơ và ý chí cho thế hệ trẻ đối với vận mệnh của đất nước, đó là cần nắm vững tư tưởng, phương châm chỉ đạo giải quyết các vấn đề về biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta, để thanh niên thực sự là một lực lượng to lớn và vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế các vùng đảo, quần đảo phù hợp với vị trí, tiềm năng và lợi thế của biển đảo Việt Nam.

Thứ ba, chú trọng xây dựng quyết tâm cao, định hướng hành động thiết thực trong thanh niên đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.   

Để xây dựng quyết tâm cho thanh niên, cần làm cho thanh niên thấy được sự khó khăn, gian khổ đối mặt với nguy hiểm, sự phức tạp của các hoạt động trên biển, đảo (đặc biệt là ở một số đảo có vị trí quan trọng về quốc phòng – an ninh như: quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…), đòi hỏi thanh niên phải dũng cảm, mưu trí, chủ động, sáng tạo, tự lực tự cường, sẵn sàng hy sinh xương máu, kiên quyết đứng lên bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đặc biệt là đối với thế hệ trẻ là lực lượng kiểm ngư; hay thanh niên ở các địa phương ven biển, huyện đảo tích cực tham gia vào lực lượng dân quân tự vệ để vừa tham gia sản xuất, khai thác hải sản, vừa làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự trên biển.

Bên cạnh việc bảo vệ chủ quyền, thanh niên cần phải tiếp tục gìn giữ và phát triển những tiềm năng của biển đảo Việt Nam, để Việt Nam có thể làm giàu từ biển, mạnh về biển, củng cố vị trí của Việt Nam giữa các quốc gia trên thế giới để sớm đưa đất nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, sánh vai với cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn.