Thứ Ba, 26 tháng 9, 2023
Sức sống mới ở Rào Tre
Những phong tục tập quán lạc hậu dần được loại bỏ; những nếp nhà sàn vững chãi, sạch đẹp được mọc lên, nằm san sát, tạo nên diện mạo mới về cuộc sống của đồng bào dân tộc Chứt ở bản Rào Tre, xã Hương Liên (Hương Khê, Hà Tĩnh).
“Nâng bước tương lai” học trò nghèo Côn Đảo
Đầu tháng 9-2023, Chi bộ Đại đội 7, Ban CHQS huyện Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu) tổ chức trao Quỹ “Nâng bước tương lai”, tặng cháu Nguyễn Thị Mỹ Thuận, sinh năm 2018, ở khu dân cư số 1 (huyện Côn Đảo). Cháu Thuận là con gái chị Nguyễn Thị Thảo, mẹ đơn thân, bị bệnh nan y, không có việc làm ổn định nên kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn.
Cựu chiến binh "hai giỏi"
Cựu chiến binh “hai giỏi” là cách gọi của người dân ở xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang dành cho cựu chiến binh Cao Văn Hoàng - một người vừa giỏi làm kinh tế, vừa giỏi giúp đỡ người khác.
Trăng thu biên cương lấp lánh nghĩa tình
“Chú Cuội” hiện ra trong hoạt cảnh mô tả sự tích chú Cuội cung trăng, chú Hề với những màn trình diễn ảo thuật đặc sắc, những chiến sĩ cảnh sát biển đồng ca bài hát về tình yêu biển đảo, tiết mục biểu diễn múa lân vui nhộn, lấp lánh lồng đèn Trung thu... đã tạo không gian cuốn hút, rộn vang tiếng cười trẻ thơ trên đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.
Nâng cao lập trường giai cấp công nhân trong tình hình hiện nay
Trong tình hình hiện nay, cần thường xuyên tăng cường giáo dục giác ngộ giai cấp, nâng cao ý thức tự lực, tự cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức cảnh giác cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Kiên quyết không chấp nhận đa nguyên, đa đảng đối lập. Ngăn ngừa ảnh hưởng của tư tưởng tiểu tư sản, lối sống thực dụng, tư tưởng phong kiến, nhất là ở các đơn vị sản xuất khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Trong tình hình hiện nay, cần coi trọng giáo dục lập trường, quan điểm giai cấp, nhưng không phải bằng những bài lý luận chung chung, mà phải trên cơ sở thông tin, giáo dục, hướng dẫn khoa học để xây dựng niềm tin khoa học vững chắc cho công nhân. Cần giúp cho công nhân hiểu sự thật về chủ nghĩa tư bản hiện đại, cả mặt phải và trái của nó. Cách tuyên truyền theo kiểu “bôi đen” hoàn toàn, phủ định sạch trơn, hoặc “tô hồng”, ca ngợi chủ nghĩa tư bản hiện đại hết lời, đều không khoa học, phản tác dụng trong công tác tuyên truyền, giáo dục. Xây dựng niềm tin khoa học cho công nhân về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở giáo dục bằng những nội dung, hình thức, phương pháp khoa học, bằng thực tế trong nước và thế giới. Trang bị cho công nhân phương pháp xem xét khách quan, toàn diện, khoa học.
Nâng cao trách nhiệm đội ngũ công nhân các doanh nghiệp ngoài nhà nước
Ở khu vực kinh
tế ngoài nhà nước, cần làm cho công nhân và NLĐ hiểu được: làm việc ở các thành
phần kinh tế ngoài nhà nước cũng có giá trị như ở khu vực kinh tế nhà nước. Sự
phát triển của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước góp phần vào sự phát triển
nền kinh tế đất nước. Vì vậy, một mặt, công nhân cần tích cực tham gia vào việc
phát triển các thành phần kinh tế này; lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, đạt
năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, nhằm mang lại lợi ích cho bản thân, gia
đình, góp phần vào sự phát triển của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, tôn trọng
quyền và lợi ích hợp pháp của giới chủ. Mặt khác, nêu cao vai trò của người làm
chủ xã hội, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn và báo cáo với Đảng và Nhà
nước những việc làm sai trái của các chủ sở hữu, làm cho các thành phần kinh tế
này chấp hành đúng chính sách, chế độ, quy định của Đảng và Nhà nước, phát
triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nâng cao trách nhiệm cho đội ngũ công nhân ngoài nhà nước trong thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình
Ở khu vực kinh
tế ngoài nhà nước, cần làm cho công nhân và NLĐ hiểu được: làm việc ở các thành
phần kinh tế ngoài nhà nước cũng có giá trị như ở khu vực kinh tế nhà nước. Sự
phát triển của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước góp phần vào sự phát triển
nền kinh tế đất nước. Vì vậy, một mặt, công nhân cần tích cực tham gia vào việc
phát triển các thành phần kinh tế này; lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, đạt
năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, nhằm mang lại lợi ích cho bản thân, gia
đình, góp phần vào sự phát triển của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, tôn trọng
quyền và lợi ích hợp pháp của giới chủ. Mặt khác, nêu cao vai trò của người làm
chủ xã hội, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn và báo cáo với Đảng và Nhà
nước những việc làm sai trái của các chủ sở hữu, làm cho các thành phần kinh tế
này chấp hành đúng chính sách, chế độ, quy định của Đảng và Nhà nước, phát
triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đổi mới hình thức giáo dục cho giai cấp công nhân
Cần phải đổi mới
cả về nội dung, hình thức, phương pháp và biện pháp giáo dục dưới ánh sáng của
quan điểm đổi mới và hiện đại hoá. Cần làm
cho công nhân nhận rõ: Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quyết định đúng đắn, là một chủ
trương chiến lược lâu dài, nhất quán nhằm khai thác nguồn tiềm năng to lớn
trong việc giải quyết các vấn đề về việc làm, thu nhập và đời sống cho người
lao động (NLĐ), phát triển kinh tế đất nước, giải phóng triệt để sức sản xuất,
khai thác tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài phục vụ cho sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong tình hình hiện nay. Vì vậy, công nhân và
NLĐ cần phải ủng hộ chủ trương này của Đảng và Nhà nước, góp phần tích cực vào
việc phát triển các thành phần kinh tế vì lợi ích của bản thân, gia đình và xã
hội. Trong khu vực kinh tế nhà nước, công tác giáo dục công nhân phải nhằm mục
đích: bồi dưỡng tinh thần làm chủ, nhiệt tình lao động, kích thích và khơi dậy
được tính năng động, sáng tạo, sự quan tâm đến năng suất lao động, chất lượng
sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh cho đội ngũ người thợ. Trên cơ sở ấy góp
phần làm cho kinh tế nhà nước vươn lên, đứng vững và phát triển trong môi
trường cạnh tranh, thực hiện vai trò chủ đạo, hướng dẫn các thành phần kinh tế
khác. Cần làm cho người công nhân hiểu rõ cuộc sống của bản thân, gia đình và
sự hưng thịnh của đất nước, trước hết phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của
từng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, đơn vị. Trong cơ chế thị trường, người công
nhân làm chủ sức lao động của mình, tự do chọn việc làm và nơi làm việc; đồng
thời cũng chịu sự lựa chọn của người sử dụng lao động (cả trong khu vực nhà
nước và ngoài nhà nước).
Sự phi lý của luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”
Nâng cao trình độ chính trị cho công nhân
Cần nâng cao trình độ chính trị, ý thức giác
ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, gắn bó
thiết tha với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với chế độ xã hội chủ
nghĩa; xây dựng cho giai cấp công nhân ý chí quyết tâm vươn lên thoát khỏi
nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, có quyết tâm làm giàu
chính đáng cho bản thân, gia đình, góp phần làm giàu cho xã hội, đất nước. Làm
thất bại mọi âm mưu và hoạt động tiến hành “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa
đế quốc và các thế lực thù địch. Tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng,
các hình thức sinh hoạt của các đoàn thể, các tổ chức xã hội và các hoạt động
văn hoá để tuyên truyền, giáo dục công nhân. Đưa vào chương trình giảng dạy của
các trường phổ thông và dạy nghề nội dung giáo dục về công nhân.
Nhận diện và đấu tranh với các thủ đoạn chống phá trên không gian mạng
Phát huy hơn nữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong thực hiện dân chủ hiện nay
Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật
làm công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng
pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng luật, pháp 1ệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể, tăng
tính khả thi đề đưa nhanh vào cuộc sống. Tăng tính ổn định, bền vững của pháp
luật.
Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước.
Đây là biện pháp để hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền và là cơ sở khách quan yêu
cầu phải có cơ chế, phương thức kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước. Kiểm
soát, giám sát cả từ các nhánh quyền lực lẫn nhau, cả từ nhân dân và các tổ chức
của nhân dân. Ở đây, nhân dân vừa ủy quyền, vừa kiểm soát, đánh giá hiệu lực,
hiệu quả việc thực hiện các quyền mà mình đã ủy thác. Tăng cường các biện pháp
tuyên truyền, giáo dục, áp dụng các hình thức thưởng phạt nghiêm minh đối với
người được ủy quyền. Cán bộ, công chức cần được giáo dục tốt, nhận thức được đầy
đủ quyền và nghĩa vụ; vinh dự với vị trí công tác của mình được nhân dân giao
phó, lường trước được hậu quả bất lợi khi vi phạm lợi ích chính đáng của nhân
dân... để họ có năng lực tự điều chỉnh hành vi, thực hiện đúng chức trách được
giao, phục vụ lợi ích của nhân dân.
Xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng nền dân chủ hiện nay.
Thể
chế hóa quan điểm của Đảng về phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp; bảo hộ
các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản thuộc các hình thức sở hữu, loại hình doanh nghiệp trong
nền kinh tế. Xây dựng hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các tài sản mới
như sở hữu trí tuệ cồ phiếu, trái phiếu... quy định rõ, quyền trách nhiệm của
các chủ sò hữu đối vói xã hội.
Thể
chế môi trường kinh doanh cũng như thể chế kinh tế nói chung chỉ phát huy tác dụng
có hiệu quả khi tạo được sự đổi mới triệt để nhận thức đúng đắn của xã hội về
vai trò quan trọng của thể chế, “...phấn đấu đến năm 2030 môi trường kinh doanh
của Việt Nam được xếp vào nhóm 30 quốc gia hàng đầu” đồng thời xây dựng và hoàn
thiện thể chế phải được tiến hành đồng bộ cả ba khâu: 1) Ban hành văn bản, quy
định của thể chế 2) Xây dựng cơ chế vận hành, thực thi thể chế trong hoạt động
kinh doanh cụ thể; 3) Hoàn thiện tổ chức bộ máy theo dõi, giám sát việc thi
hành thể chế, xử lý vi phạm và tranh chấp trong thực thi thể chế. Trong khi triển
khai đồng bộ thể chế môi trường kinh doanh phải tập trung cải cách hành chính,
từ bộ máy hành chính đến thủ tục hành chính để tạo môi trường
kinh doanh thuận lợi đúng pháp luật.
Phát triển đồng bộ các yếu tố thi trường
và các loại thị trường. Sớm hình thành việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện các
quy định pháp luật về kinh doanh phù hợp với Việt Nam. Trong điều kiện hiện
nay, để hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh dân chủ, cần tập trung khắc phục
thực trạng yếu kém của một số văn bản luật pháp. Đôi mới, hoàn thiện các quy định
về giá, canh tranh, kiểm soát độc quyền, về ký kết, thực hiện hợp đồng và giải
quyết tranh chấp. Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của
Nhà nước.
Quân đội xây dựng thế trận bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng
Phân biệt rõ và phù hợp giữa dân chủ XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH và dân chủ trong điều kiện CNXH đầy đủ (đích thực)
Trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn,
cần phân biệt dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là chể độ dân chủ đầy đủ của chế độ xã hội chủ nghĩa đã
phát triển tương đổi toàn điện với dân chủ trong giai đoạn thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội. Đây là hai trình độ phát triển
khác nhan của xã hội. với các đặc điềm kinh tế, chinh trị, văn hóa xã hội khác nhau.
Do đó, đặc điểm, tính chất, hình thức thực hiện cũng khác nhau. Trong thời
kỳ quá độ, Việt Nam tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, cơ cấu xã hội,
quan hệ giai cẩp đa dạng, phức tạp; từ đó cũng dẫn đến sự đa dạng về nhu cầu dân chủ.
Dân chủ theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin
Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn hệ thống quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa; kinh nghiệm
xây dựng nền dán chủ ở các quốc gia trên thể giới.
Một
mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội
chú nghĩa trong kho tàng chủ nghĩa Mác - Lênin; mặt khác, làm rõ giá trị hợp lý
của các nền dân chú khác để kế thừa, học hỏi.
Cho đến nay việc làm sáng tỏ hai vấn đề
nêu trên vẫn còn hạn chế, nhất là việc kế thừa những giá trị, học hỏi kinh nghiệm
của nền dân chủ trên thế giới vẫn chưa thoát khỏi lối tư duy cũ; hoặc ca ngợi một
chiều; hoặc phủ định sách trơn, làm cho sự khác biệt của các nền dân chủ càng
doãng xa hơn. Do vậy một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về
dân chủ, dân chủ XHCN trong kho tàng chủ nghĩa mác- Lênin, chỉ ra những điểm
còn nguyên giá trị, những điểm đã bị lịch sử vượt qua do bối cảnh lịch sử đã
thay đổi; mặt khác làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chủ khác để kế thừa, học
hỏi
Đánh giá khách quan thành tựu dân chủ tư sản,
tính chất, trình độ dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam là cơ sở khoa học để tiếp thu có chọn lọc các giả trị
dân chủ của nhân loại được biểu hiện trong chủ nghĩa tư bản. Phải làm rõ sự
phát triển trình độ dân chủ của văn minh nhân loại được biểu biện ở chủ nghĩa tư bản
chứ không phải là sản phẩm riêng của chú nghĩa tư bản. Một số giá trị của dân
chủ tư sản cần thiết cho thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Việt Nam không tiếp thu bản chất giai cấp của dân chủ tư sản, nhưng tiếp thu, học
tập các hình thức thực hiện để đảm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.
Những yếu tố thuận lợi tác động đến xây dựng nền dân chủ ở nước ta
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ra
đời từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, là kết
quả trực tiếp của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và phát triền trong
những điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt. Bước vào xây dựng nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa, Việt Nam có những thuận lợi cơ bản sau:
Một
là, học thuyết
Mác-Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa là cơ sở lý luận và phương pháp
luận để xây dựng nền dân chủ và thực hiện quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam, góp
phần thực hiện mục
tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Hai
là, kế tục những giá
trị của dân chủ trong lịch sử Việt Nam đã được xây dựng
ngay từ buổi đàu dựng
nước và nâng lên một chất lượng mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Xây dựng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện đất nước độc lập, thống nhất, nhân dân
được tự do và trở thành người chủ đất nước, được tự quyết định vận mệnh và
tương lai của mình.
Ba
là, hoàn thành cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam tiến
lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đã mang lại nhiều thuận lợi
rất quan trọng trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Bỏ qua sự
thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ người bóc lột người; bỏ
qua sự thống trị cùa một nhóm người đối với đa số nhân dân lao động.
Bốn là, nền dân chù xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
được xây dựng trong điều kiện có Đảng Cộng sản do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập
và rèn luyện, là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, là đại
biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và toàn thể
dân tộc.
Kế
tục tư
tưởng vi
dân của Hồ
Chí Minh, Đảng ta chủ trương xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước ta thừa nhận nhân dân là cội nguồn
của quyền lực, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Hệ thống chính trị gồm: Đảng,
Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội được thiết lập từ
Trung ương tới địa phương là cơ sở bảo đảm cho việc xây dựng nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa.
Năm
là, cơ sở xã hội của nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng là lực lượng đông đảo những
người lao động được giải phóng đã vào vị trí người chủ của chế độ mới, nòng cốt
là khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Đây chính là những cơ sở quan trọng, những thuận lợi cơ bản trong việc xây dựng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Quan điểm của Đại hội VII về dân chủ
Đại hội VII của Đảng (1991) dã thống qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ XHCN (cương lĩnh năm 1991),
trong đó đã rút ra bài học lớn “ sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân”. Cương lĩnh năm 1991 đã pháp họa 6 đặc trưng của xã hội
XHCN mà nhân dân ta xây dựng, trong đó đặc trưng đầu tiên là: Do nhân dân lao động
làm chủ. Đặc biệt Cương lĩnh năm 1991 đã khẳng định “Toàn bộ tổ chức và hoạt động
của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước
hoàn thiện nề dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ gắn
lièn với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất
cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà
nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đi đôi
với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo
đảm”
Có thể khẳng định dại hội VII đã có bước
tiến lớn trong nhận thức về dân chủ. Đảng ta không sử dụng khái niệm “làm chủ tập
thể”, “chế độ làm chủ tập thể” từ đại hội này.
VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA THẾ HỆ TRẺ ĐỐI VỚI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO
Bảo vệ
vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam, bảo đảm quốc phòng – an ninh trên biển
là nội dung chiến lược, mang tính cấp bách, then chốt hiện nay. Trách nhiệm
thiêng liêng này thuộc về mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, trong
đó trách nhiệm, nghĩa vụ và vai trò xung kích thuộc về thế hệ trẻ, đây là nhân
tố quan trọng bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng đất nước và phát triển bền vững
hiện nay và trong tương lai. Để thế hệ trẻ làm tốt việc bảo vệ chủ quyền biển,
đảo cần phải tập trung vào một số nội dung sau:
Thứ
nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quan điểm, đường lối của Đảng và chính
sách, pháp luật của Nhà nước về chủ quyền biển, đảo, quyền tài phán quốc gia
trên các vùng biển, đảo và quần đảo.
Công tác
tuyên truyền biển, đảo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho thanh niên cần bám sát
thực tiễn tình hình, không ngừng đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức,
phương pháp tuyên truyền phù hợp với trình độ, đặc điểm của từng địa bàn nhằm
đáp ứng thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, đồng thời tận dụng có
hiệu quả các phương tiện kỹ thuật và chú trọng mở rộng phạm vi tuyên truyền.
Công tác
tuyên truyền về chủ quyền quốc gia trên biển cần có sự phối hợp đồng bộ giữa
các cấp, các ngành và địa phương trong việc phát huy các tổ chức, đoàn thể,
nhất là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp
trong công tác tuyên truyền và gắn kết chặt chẽ với việc học tập và làm theo
tấm gương, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo dục truyền thống,
các bài học kinh nghiệm và gương các anh hùng trong kháng chiến chống xâm lược
trong thanh niên.
Thông qua
các cuộc vận động và chương trình hành động của thanh niên với cách làm thiết
thực, như: “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”, “Tuổi trẻ giữ
nước”, “Năm xung kích phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Doanh
nhân trẻ khởi nghiệp”, “Nghĩa tình biên giới, hải đảo”, “Vì Trường Sa thân
yêu”, “Góp đá xây Trường Sa”, “Đồng hành cùng ngư dân trẻ ra khơi”, “Tuổi trẻ
hướng về biển, đảo của Tổ quốc”… Phối hợp giữa các cấp, ngành, tổ chức đoàn
thể, gia đình, nhà trường, xã hội (nhất là Đoàn Thanh niên) và các hoạt động
văn hoá, các phương tiện thông tin đại chúng tạo sức mạnh tổng hợp, hướng thanh
niên chung sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Đối với
các cấp Đoàn, cần chú trọng tổ chức các hoạt động thi tìm hiểu, tọa đàm về chủ
quyền biển, đảo trong thanh niên bảo đảm thiết thực, chất lượng tốt; tăng cường
tổ chức cho thanh niên đi thăm và tiến hành các hoạt động nghiên cứu thực tế
trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.
Đồng
thời, cần tổ chức cho thanh niên tham gia tìm hiểu về pháp luật Việt Nam, pháp
luật quốc tế để các thế hệ thanh niên hiểu và nắm vững các vùng, khu vực thuộc
chủ quyền có lịch sử lâu đời của Việt Nam cũng như chủ quyền và quyền chủ quyền
đối với biển, đảo Việt Nam được xác lập trên cơ sở các điều khoản quy định
trong Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982; khẳng định, củng cố
niềm tin cho nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế nói chung cũng như đối với
thanh niên về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Thứ
hai, cần có sự quan tâm và chính sách đãi ngộ cụ thể đối với thanh niên
khi tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Cùng với
việc thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với các huyện đảo xa bờ và các địa
bàn trọng điểm, chiến lược; coi trọng giải quyết tốt mối quan hệ và sự phối hợp
hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở mỗi huyện đảo và giữa các
huyện đảo với nhau, tạo ra thế trận liên hoàn trên biển để có thể nhanh chóng
tập hợp và sử dụng hiệu quả sức mạnh của các lực lượng tại chỗ phục vụ cho quốc
phòng – an ninh trên biển, thì rất cần thiết để cho thanh niên nắm rõ được
tính chất phức tạp của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, vừa nhận thấy nhân
dân ta, đất nước ta có đủ ý chí, quyết tâm và sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững
chắc biển, đảo của mình, qua đó, củng cố thêm niềm tin, thái độ, động cơ và ý
chí vững vàng cho thanh niên về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc một cách
bền vững, để “không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu
cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập”8.
Động viên
thế hệ trẻ nâng cao quyết tâm và hành động thiết thực để xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, trong đó đang nổi lên vấn đề bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ và chủ
quyền quốc gia trên các vùng biển đảo. Nhưng muốn có được quyết tâm và hành
động để bảo vệ, trước hết phải có đủ tri thức hiểu biết và lòng tự hào về những
điều mình sẽ dám bảo vệ, để thế hệ trẻ Việt Nam có ý thức về chủ quyền quốc gia
nói chung, chủ quyền biển đảo nói riêng. Đó là những cơ sở tri thức tiền đề
quan trọng giáo dục lòng tự hào dân tộc, bồi đắp tinh thần yêu nước, nâng cao ý
thức về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đồng thời chống lại âm mưu
xuyên tạc lịch sử, âm mưu thôn tính từng bước, dưới nhiều hình thức của các thế
lực xâm lược.
Một trong
những nền tảng quan trọng trong việc củng cố niềm tin, thái độ, động cơ và ý
chí cho thế hệ trẻ đối với vận mệnh của đất nước, đó là cần nắm vững tư tưởng,
phương châm chỉ đạo giải quyết các vấn đề về biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta,
để thanh niên thực sự là một lực lượng to lớn và vững chắc trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế các vùng
đảo, quần đảo phù hợp với vị trí, tiềm năng và lợi thế của biển đảo Việt Nam.
Thứ
ba, chú trọng xây dựng quyết tâm cao, định hướng hành động thiết thực
trong thanh niên đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ
quốc.
Để xây
dựng quyết tâm cho thanh niên, cần làm cho thanh niên thấy được sự khó khăn,
gian khổ đối mặt với nguy hiểm, sự phức tạp của các hoạt động trên biển, đảo
(đặc biệt là ở một số đảo có vị trí quan trọng về quốc phòng – an ninh như:
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…), đòi hỏi thanh niên phải dũng cảm, mưu trí, chủ
động, sáng tạo, tự lực tự cường, sẵn sàng hy sinh xương máu, kiên quyết đứng
lên bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đặc
biệt là đối với thế hệ trẻ là lực lượng kiểm ngư; hay thanh niên ở các địa
phương ven biển, huyện đảo tích cực tham gia vào lực lượng dân quân tự vệ để vừa
tham gia sản xuất, khai thác hải sản, vừa làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự
trên biển.
Bên cạnh
việc bảo vệ chủ quyền, thanh niên cần phải tiếp tục gìn giữ và phát triển những
tiềm năng của biển đảo Việt Nam, để Việt Nam có thể làm giàu từ biển, mạnh về
biển, củng cố vị trí của Việt Nam giữa các quốc gia trên thế giới để sớm đưa
đất nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, sánh vai với cường quốc năm châu như Bác
Hồ hằng mong muốn.