Thứ Ba, 26 tháng 9, 2023

 

Phản Bác Luận Điệu Xuyên Tạc, Chiêu Trò Chống Phá Của Các Tổ Chức Đội Lốt Nhân Quyền

 

Nhiều nhà nghiên cứu chính trị cho rằng, ở năm 2023 này việc phá hoại, xâm lược một quốc gia công chỉ đơn giản được thực hiện trên mặt trận quân sự như những giai đoạn trước, mà giờ đây còn được tiến hành một cách tinh vi hơn, thông qua lĩnh vực tuyên truyền bằng chiêu bài sử dụng các tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức phi chính phủ đội lốt nhân quyền. Việt Nam chúng ta vài chục năm trước đã từng rất ngạo nghễ khi đánh thắng được quân đội Hoa Kỳ hùng mạnh, nhưng giờ đây, một đạo quân khác của nước Mỹ cũng ở đẳng cấp hàng đầu thế giới, đó là nhân quyền, đã bắt đầu một cuộc chiến ngầm nhắm vào chúng ta. Và đó là thứ mà Việt Nam nên cảnh giác nếu không muốn bị rơi vào thảm kịch giống như Libya, Iraq hay Syria. Lâu nay, tổ chức theo dõi nhân quyền HRW (Human Rights Watch), đã nhiều lần đưa ra những thông tin sai trái bịa đặt nhằm phủ nhận thành quả bôi nhọ bức tranh dân chủ,  nhân quyền ở Việt Nam. Các luận điệu vu cáo của HRW gia tăng ngày càng tùy tiện, không chỉ thể hiện qua phát ngôn của đại diện Tổ chức này mà còn thể hiện qua các báo cáo, thông cáo báo chí. Trong một thông cáo phát đi vào ngày 8 tháng 6 năm 2023 (một ngày trước cuộc đối thoại nhân quyền Liên Hiệp Châu Âu Việt Nam tại Hà Nội), tổ chức HRW đã vu cáo rồi lấy cớ kêu gọi châu Âu gây áp lực để buộc Việt Nam chấm dứt các hành động vi phạm nhân quyền một cách có hệ thống.

Trước đó vào ngày 26 tháng 5 năm 2023, tổ chức này đã gửi đến Liên Hiệp Châu Âu một “tờ trình” về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, yêu cầu EU gây sức ép để Chính quyền Hà Nội trả tự do ngay lập tức cho những người đang bị giam giữ vì lý do chính trị. Tổ chức này còn lên tiếng đòi sửa đổi hoặc hủy bỏ một số điều khoản trong Bộ luật hình sự mà họ cho rằng “thường được viện dẫn để đàn áp các quyền dân sự và chính trị, hạn chế quyền tự do đi lại đối với các nhà hoạt động nhân quyền và dân chủ”. Tổ chức HRW, được thành lập vào năm 1988 trên cơ sở hợp nhất tổ chức Helsinki Watch (thành lập năm 1978, với mục đích giám sát Liên Xô bằng cách thu thập tư liệu liên quan tới việc Liên Xô thực hiện quy ước của Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), hỗ trợ các nhóm bảo vệ nhân quyền tại nước này) với một số tổ chức quốc tế khác có cùng tôn chỉ, mục đích nghiên cứu và cổ vũ cho phát triển nhân quyền. Nói là truyền nghiên cứu và cổ vũ cho nhân quyền. Nhưng nhìn vào hoạt động của HRW cho thấy, lời nói không đi đôi với việc làm, ngày càng xa rời, thậm chí đi ngược tôn chỉ, mục đích. Do bị chi phối bởi nguồn kinh phí hoạt động nên dễ hiểu là các phúc trình về nhân quyền của tổ chức này thường sai sự thật, thiên vị, mang màu sắc chính trị và chủ quan áp đặt, do đó các cáo buộc của HRW gây ra phản ứng tiêu  cực tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là với các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Sau mỗi cáo buộc, tổ chức này thường bị phản ứng tức thì, bị chỉ trích chịu quá nhiều tác động bởi Mỹ và các nước phương Tây, thường xuyên lợi dụng nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Chẳng hạn, Liên bang Nga đã nhiều lần chỉ trích HRW về những động thái tuyên truyền xuyên tạc, kích động tạo cớ can thiệp vào những vấn đề nội bộ của nước này. Tương tự, do có những hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và các quy tắc cơ bản của quan hệ quốc tế cũng như can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc nên chính phủ nước này đã áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với HRW. Và không phải ngẫu nhiên mà trang web của hacker HRW lại bị cấm hoạt động tại Thái Lan. Chính phủ nước này buộc phải cấm vì thông qua trang web, HRW thường xuyên đội lốt “theo dõi nhân quyền” để tuyên truyền xuyên tạc, phát tán những nội dung thông tin sai lệch, kích động, vi phạm các quy định về an ninh quốc gia họ. Ngoài ra, HRW còn bị nhiều quốc gia như Cuba, SriLanka, Triều Tiên, Syria, Ethiopia… chỉ trích, phản đối những nội dung và mức độ khác nhau Vì HRW đã can thiệp làm phức tạp tình hình, gây khó khăn cho việc bảo đảm nhân quyền ở các nước này.Thực tế đó cho thấy, mặc dù mang danh nghĩa là tổ chức hoạt động về nhân quyền nhưng hoạt động của HRW đều thể hiện ý đồ, động cơ chính trị. Nhìn vào các hoạt động của tổ chức này cho thấy sự bất hợp lý và ý đồ bôi nhọ, hạ uy tín, hình ảnh của Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Một tổ chức không hiện diện ở Việt Nam, không nắm được tình hình thực tiễn nhân quyền ở Việt Nam song lại tự cho mình quyền phán xét về nhân quyền. Riêng điểm này đã cho thấy sự suy diễn, áp đặt từ các thông tin mà tổ chức này công bố và nguồn thông tin HRW có được thực chất, là do các tổ chức cá nhân chống phá Việt Nam cung cấp nhằm tạo cớ bôi nhọ, chống phá. Sự ghi nhận của quốc tế trong nỗ lực đảm bảo nhân quyền của Việt Nam. Ngay sau khi Việt Nam là thành viên của Liên Hợp Quốc (năm 1977), vào những năm 80 của thế kỷ trước, Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia vào các công ước quốc tế về quyền con người của Liên hiệp quốc. Vào những năm 1981, 1982 và 1983 Việt Nam đã gia nhập 7 công ước quốc tế về quyền con người, bao gồm: Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt chủng; Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội ác Apartheid; Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc (CERD); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR); Công ước quốc tế về quyền kinh tế xã hội và văn hóa (ICESCR); Công ước quốc tế về không áp dụng thời hiệu tố tụng Đối với tội phạm chiến tranh và tội phạm chống lại nhân loại; Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW). Tính đến hết năm 2022 Việt Nam đã phê chuẩn gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên Hợp Quốc về quyền con người; phê chuẩn gia nhập 25 công ước của YLO, trong đó có 7/8 công ước cơ bản. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên của các cổng nước quốc tế về quyền con người. Ngay cả Mỹ hiện nay vẫn là nước duy nhất trên thế giới chưa phê chuẩn công ước quốc tế về trẻ em năm 1989. quốc gia này cũng chưa phê chuẩn công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966. Các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, chúng ta đều cam kết thực hiện và qua đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của nhà nước. Điều này là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, đó là coi trọng chăm lo hạnh phúc của sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền con người và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết. Cùng với việc tích cực tham gia điều ước quốc tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia trong đó tích cực nội luật hóa các nguyên tắc tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người; bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Hiến pháp năm 2013 là đỉnh cao của hoạt động lập hiến về quyền con người khi dành trọn 36 điều trong tổng số 120 điều để quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân; cùng với các luật, bộ luật được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý cho việc tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Điều này không chỉ xác lập cơ sở pháp lý về các quyền của chủ thể hưởng quyền (cá nhân, công dân, các nhóm yếu thế trong xã hội) mà còn đặt nghĩa vụ, trách nhiệm cho các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước và các tổ chức phi nhà nước phải nâng cao tinh thần trách nhiệm xã hội, trách nhiệm pháp lý tôn trọng bảo vệ bảo đảm quyền con người đã được hiến pháp quy định là nhà nước có trách nhiệm chấp nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân (Điều 3 và khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013). Một trong những thành tựu nổi bật về nhân quyền là Việt Nam đã quan tâm thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. Đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hơn 100 chính sách liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách đó, tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam giảm từ 9.88% (năm 2015) xuống còn 3.73% (năm 2019). Cả nước hiện có gần 3 triệu người nghèo, người yếu thế được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Đặc biệt, phong trào “cả nước chung tay vì người nghèo không để ai bị bỏ lại phía sau” trong những năm qua đã nhận được sự hưởng ứng sâu rộng, hiệu quả của toàn xã hội. Từ một nước lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, sau hơn 70 năm huy động sức dân, đồng lòng thực hiện sự nghiệp kháng chiến, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước tiên phong và là điểm sáng về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Ngày 11 tháng 10 năm 2022, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của hội đồng nhân quyền liên hợp quốc nhiệm kỳ năm 2023-2025. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc, lần đầu là nhiệm kỳ 2014-2016. Lá phiếu của mỗi quốc gia bầu chọn Việt Nam trúng cử thành viên của hội đồng nhân quyền liên hợp quốc là một chứng minh rõ ràng nhất và là sự khẳng định vị thế và uy tín của Việt Nam đối với quốc tế trong đảm bảo quyền con người. Sự ghi nhận của quốc tế không chỉ những đóng góp của chúng ta trong thúc đẩy quyền con người trên toàn cầu mà trước hết là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm các quyền cơ bản con người ở ngay trong nước. Theo đánh giá của chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) về phát triển con người toàn cầu từ năm 2021 - 2022, ngay cả trong giai đoạn khó khăn nhất của đại dịch Covid-19, Việt Nam vẫn thực hiện tốt việc đảm bảo quyền con người. Chỉ số phát triển con người tăng hai bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu lên thứ 115 năm 2021. Về chỉ số phát triển giới, Việt Nam đứng thứ 65 trong số 162 quốc gia, nằm trong nhóm cao nhất trong năm nhóm trên thế giới. Đặc biệt, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam nằm trong nhóm cao nhất toàn cầu với những thành tựu và kinh nghiệm thực tế có được sẽ là cơ sở để Việt Nam tiếp tục thể hiện trách nhiệm góp phần thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở khu vực và quốc tế. Vì vậy, dù tổ chức HRW hay một số tổ chức khác có hành động vu cáo Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền phúc cáo đàn áp mạng xã hội, đàn áp tôn giáo, không lo cho dân, bỏ mặc dân…thì chính những thành tựu về nhân quyền mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang làm được là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc. Bên cạnh các chiêu trò về nhà quyền các tổ chức phản động quốc tế cũng thường xuyên dùng chiêu bài “tự do báo chí” để xuyên tạc, chống phá Việt Nam. Lâu nay, các tổ chức như phóng viên không biên giới (RSF); của đài BBC, RFA, RFI, VOA tiếng Việt và một số sẽ tổ chức cá nhân phản động luôn tìm cách xuyên tạc, bịa đặt tình hình tự do báo chí tại Việt Nam. Mới đây RSF đã công bố cái gọi là báo cáo về “Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2023”. Trong bảng xếp hạng, RSF, xếp 3 nước đứng cuối bảng đều ở Châu Á, trong đó xếp Việt Nam hạng 178. Tổ chức phóng viên không biên giới hay ký giả không biên giới là một tổ chức phi chính phủ với phạm vi hoạt động trên toàn cầu. Mục đích của họ được cho là bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Tổ chức này lấy điều 19 của Tuyên ngôn quốc tế nhất quyền làm cơ sở để hành động. Phóng viên không biên giới được xác lập tại Montpellier, Pháp năm 1985. Hiện, tổ chức này có trụ sở tại quận 2, Paris, mở văn phòng tại Berlin, Brussels, Geneve, Madrid, Rome, Stockhlm, Tunis, Vienna và Washington DC. Văn phòng đầu tiên của họ ở Châu Á, đặt tại Đài Bắc, Đài Loan (Trung Quốc) vào tháng 7 năm 2017.  Ngoài ra, tổ chức này còn hoạt động chung với 150 thông tin viên, phóng viên trên khắp các châu lục cũng như với hàng chục tổ chức đảng phái độc lập với chính phủ. Nếu nhìn vào những thông tin trên thì nhiều người nghĩ RSF hoạt động “ngay hàng thẳng lối”, giúp thúc đẩy tự do và văn minh, thực sự vì sự phát triển của con người. Song thực tế thì lại hoàn toàn khác. Tuy viện dẫn Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc về nhân quyền, tự do ngôn luận nhưng RSF lại “hát theo người cho bánh mì”, bôi nhọ các nước khác trái, ngược với chủ trương của Liên hiệp quốc. nhiều quốc gia trên thế giới cáo buộc tổ chức RSF đứng đằng sau những vụ việc phức tạp, gây rối, bất ổn, kích động bạo lực. Thực chất, RSF tồn tại và hoạt động dựa vào một phần nguồn hỗ trợ kinh phí của một số chính giới phương Tây. Chính vì vậy, trong các bảng xếp hạng tự do báo chí hàng năm, thường tuân theo sự sắp đặt một cách có chủ ý của các chính phủ quốc gia tài trợ cho tổ chức này hoạt động. Những yếu tố được tổ chức này sử dụng để đánh giá tự do của một nền báo chí thiếu tính bao trùm, không cân nhắc đến các yếu tố văn hóa xã hội, nhận thức của từng Quốc gia riêng biệt. Phần lớn những thông tin được đưa ra là không khách quan, không có hoạt động khảo sát, kiểm chứng thực chất, mặc đó chỉ là những đánh giá thiếu căn cứ hoặc được suy diễn phóng đại. Về bản đánh giá tự do báo chí World Press Freedem Index hàng năm được RSF đưa ra, không khó để thấy căn cứ đánh giá xếp hạng của RSF không thuyết phục. Riêng đối với Việt Nam, RSF không có một nghiên cứu chưa sâu cụ thể nào về tình hình báo chí. Đồng thời tổ chức này cũng không sử dụng bất kỳ báo cáo của chính phủ Việt Nam để đưa ra đánh giá. Trái lại việc RSF xếp loại tự do báo chí ở Việt Nam lại thường dựa vào những thông tin do số tổ chức, cá nhân phản động thù địch, cơ hội chính trị, có các hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam cung cấp, do đó thông tin không khách quan sai thực tế về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Thực tế các đánh giá của tổ chức này thông qua bảng xếp hạng tự do báo chí thường niên không trung thực và không thể hiện được bản chất vấn đề. Chính vì vậy, mức độ tin cậy trong bảng đánh giá tự do báo chí được RSF đưa ra hầu như là không có. Với động cơ, cách làm như vậy, năm nay RSF vẫn xếp Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia đứng gần cuối trong “ Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên năm 2023”. Cổ súy cho bảng xếp hạng là những luận điệu cũ rích được các trang BBC tiếng Việt RFA, RFI, VOA tiếng Việt và một số tổ chức, cá nhân phản động triệt để sử dụng nhằm mục đích quy kết vu khống Việt Nam không có tự do báo chí nên xếp hạng tự do báo chí Việt Nam luôn ở vị trí áp chót bảng. Bên cạnh đó họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam Quảng báo chí theo chế độ “đăng ký”, “bị kiểm duyệt , “hà khắc”…Từ việc xuyên tạc trên, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội thù địch, phản động kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng thay đổi chính sách với những luận điệu xảo trá như” “Thể chế hiện nay không tạo môi trường để thay đổi báo chí được mà phải thay đổi thể chế sâu rộng”; “Nhà nước phải cho phép báo chí tư nhân hoạt động”. Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương tây thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, RFI, RFA, VOA và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên YouTube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí là lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ súy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng. Những thông tin mà “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí" năm 2023 một lần nữa khẳng định sự thiếu khách quan sai thực tế và quy chụp của RSF về tình hình tự do báo chí tại Việt Nam. Sự thật về tự do báo chí tại Việt Nam. Việt Nam luôn là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có điều 19, tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do dự ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và cộng giới hạn về biên giới”. Báo chí là diễn đàn của nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, để nhân dân Trình bày những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình, thông qua đó báo chí thực hiện chức năng phản biện xã hội, đề xuất những ý kiến đối với Đảng, Nhà nước; định hướng dư luận trong quá trình xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự về an toàn xã hội. Điều đó càng được khẳng định rõ về quyền con người, quyền công dân trên lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được nhà nước ta bảo đảm, phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và thông lệ quốc tế. Quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin là những quyền cơ bản của quyền con người. của mọi công dân. Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân đầy đủ, đồng bộ, hoàn toàn tương thích với pháp luật quốc tế về quyền con người. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Theo đó, khoản 1, điều 3, Luật tiếp cận thông tin năm 2016 cũng khẳng định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Bên cạnh đó Luật Báo chí năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cụm quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí. Tính đến năm 2022, cả nước có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (có 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học 72 tạp chí văn học nghệ thuật), 72 cơ quan đài phát thanh truyền hình, 77 kênh phát hành trong nước, 194 kênh truyền hình (7 kênh truyền hình thiết yếu Quốc gia 63 kênh truyền hình địa phương), 57 kênh nước ngoài. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có 41 nghìn; trong đó, khối phát thanh, truyền hình, xấp xỉ 16.500 người. Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí ngày càng phát triển theo hướng hợp tác đa quốc gia và đà lĩnh vực. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hạng lớn như CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga). Các cơ quan truyền thông quốc tế như CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Blooberg và hầu hết kênh truyền thông lớn trên thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều Nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới. Đến nay, Việt Nam nằm trong top 20 nước có số người sử dụng internet lên cao nhất thế giới với 68,7% người sử dụng ,cao hơn mức trung bình của thế giới (51,4%). Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam, internet đã trở thành công cụ rất quen thuộc, là “một phần tất yếu trong cuộc sống của mọi tổ chức và cá nhân, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; những tiện ích mang lại từ hệ thống Internet nhanh chóng được ứng dụng trong thực tiễn, nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi tổ chức cá nhân. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống chính trị trong những năm gần đây đã được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm; trong đó, công tác xây dựng Chính phủ điện tử, Quốc hội điện tử đã có bước tiến mạnh mẽ, hướng tới Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số là một trong những ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn năm 2016-2020 để tạo ra nền tảng vững chắc cho việc chuyển đổi số toàn diện trong giai đoạn năm 2021-2030. Đánh giá của Liên hợp quốc về phát triển Chính phủ điện tử, liên tiếp từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đều tăng hạng. Hiện, Việt Nam xếp thứ 86/193 quốc gia trên thế giới và đứng thứ 6 tại khu vực Đông Nam Á. Cùng với đó thông qua các trang mạng xã hội (Facebook, YouTube Viber,  Zalo, Instagram…), người dân Việt Nam có thể chia sẻ thông tin, hình ảnh, clip, bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về mọi vấn đề của đời sống xã hội. Trong hệ thống chính trị, bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương ở Việt Nam ngày càng có nhiều cơ quan, tổ chức sử dụng mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính, giữ mối liên hệ với người dân, nắm bắt và giải quyết kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm, Thực hiện đó bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.

 

NHÂN DANH KHOA HỌC ĐỂ XUYÊN TẠC LỊCH SỬ!

     Ngày 23.1.2023 trên tờ báo THANH NIÊN với nhan đề “Từ đứa trẻ tha hương tới giáo sư lập ngành Việt Nam học tại Mỹ”.

Đứa trẻ tha hương đó là bà Nguyễn Thị Liên Hằng. Năm 1975, khi tròn 5 tháng tuổi, bà này đã cùng gia đình rời khỏi Việt Nam, sau đó sang Mỹ sinh sống tại khu ngoại ô thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania (Mỹ). Bà Liên Hằng từng được phong hàm giáo sư ở Mỹ, bà còn là tác giả quyển “Hanoi's War- An International History of the War for Peace in Vietnam,” xin tạm dịch là “Chiến tranh của Hà nội – Lịch sử Quốc tế của cuộc chiến cho Hòa Bình ở Việt Nam” (như ảnh bìa). Cuốn này đã được trao Giải Edward M. Coffman 2012, một giải thưởng mang tên một nhà sử học quân sự nổi tiếng người Mỹ.
Trường Đại Học Tổng hợp Fulbright Việt Nam còn giới thiệu “Bà Hằng còn là Tổng biên tập cuốn sách Lịch sử Chiến tranh Việt Nam sắp xuất bản của Cambridge (3 tập). Bà này và Giáo sư Paul T. Chamberlin là Đồng biên tập của series “Các nghiên cứu của Cambridge về Quan hệ đối ngoại Hoa Kỳ”.
Khả năng các tài liệu đó cũng sẽ được giới thiệu và giảng dạy trong Trường Đại học Fulbright Việt Nam.

Để vạch trần thủ đoạn làm sai lệch lịch sử rửa mặt cho quân xâm lược và lũ tay sai VNCH trong cuốn sách “Hanoi's War- An International History of the War for Peace in Vietnam,” ngày 20/4/2015 báo NHÂN DÂN đã cảnh cáo hành vi này với tiêu đề, “Đừng nhân danh khoa học để xuyên tạc lịch sử” để nói lên sự sai trái của bà Liên Hằng tác giả cuốn “Hanois War ”.
Bài báo có đoạn viết “Ngày 16-11-2012, trong bài đã đăng trên BBC, tác giả Bùi Văn Phú cho rằng với cuốn sách, Liên Hằng đưa ra "một cách nhìn khác về cuộc chiến..., đó là chiến tranh do Hà Nội chủ động, từ khởi xướng vào những năm cuối thập niên 1950 cho đến lúc thành công vào tháng 4-1975".
Báo Nhân Dân kết luận: “Đúng vậy, qua tám chương và phần kết luận, Liên Hằng chỉ xăm xăm đạt tới mục đích duy nhất là huy động tài liệu chứng minh lãnh đạo miền bắc Việt Nam đã gây ra chiến tranh!”

“Do vậy, về bản chất, "cái nhìn" của Liên Hằng không có gì mới, chỉ là sự nối dài luận điệu "miền bắc cưỡng chiếm miền nam" mà một số kẻ vẫn rêu rao suốt 40 năm qua.”

GS Liên Hằng từng gặp GS John Phan thuộc Khoa Ngôn ngữ - Văn hóa Đông Á của trường. Năm 2017, hai vị này quyết định cùng nhau lập ngành Việt Nam học tại Đại học Columbia với tham vọng rất lớn là viết lại chương trình giảng dạy về Lịch sử Việt Nam ở Mỹ, (Tất nhiên với cái nhìn của bà ta và John Phan).
Bà Liên Hằng nói: ”Chúng tôi không chỉ nói về những cuộc chiến. Chương trình của chúng tôi bao quát cả tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam từ chính trị, xã hội, cho tới văn hóa, văn minh của Việt Nam”.

BÀ LIÊN HẰNG NGANG NHIÊN XUYÊN TẠC VAI TRÒ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC.
Với tiêu đề “Phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Liên Hằng, tác giả của 'Hanoi's War', ngày 12/1/2013 Hoài Hương, biên tập viên đài VOA khoe rằng “ Ngoài các tài liệu thu thập từ các văn khố quốc gia của nhiều nước, cuốn “Hanoi's War” của Giaó sư Nguyễn thị Liên Hằng độc đáo ở chỗ nó dựa trên một số tài liệu chưa từng được khai thác từ văn khố của Bộ Ngoại giao Việt Nam ở Hà Nội“.
Để chứng minh vấn đề này, trả lời VOA nội dung về cuốn sách “Hanois War”, bà Liên Hằng đã nói bừa rằng ” Một trong những nhận thức sai lầm lớn nhất là về vai trò của ông Hồ Chí Minh… trên thực tế ông Hồ Chí Minh chỉ đóng vai trò biểu tượng trong khi ông Lê Duẩn mới là nhân vật ngự trị trên Đảng Cộng sản Việt Nam, và là kiến trúc sư, chiến lược gia cũng như người lãnh đạo các nỗ lực chiến tranh của miền Bắc” (trích nguyên văn).
Bà Liên Hằng còn hùng hồn trên VOA “Chính ông Lê Duẩn đã gạt ông Hồ Chí Minh và Tướng Giáp cùng với các ủng hộ viên sang một bên, trong khi làm hầu hết các quyết định quan trọng nhất trong cuộc chiến”.

Thật bậy bạ hết chỗ nói.
Còn những chuyện như vào tháng 5/1968, đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi ông Lê Đức Thọ từ chiến trường Miền Nam về gấp Hà Nội, để chuẩn bị sang Paris làm cố vấn cao cấp Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris. Trong lá thư viết tay gửi Bộ Chính trị, Hồ Chí Minh ghi rõ: "…Anh Sáu (Lê Đức Thọ) nên về ngay (trước tháng 5/1968) để tham gia phái đoàn ta đi gặp đại biểu Mỹ". Hoặc như Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ký sắc lệnh cử ông Xuân Thủy làm Bộ trưởng, Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris. Rồi các sự kiện cực Nam kỳ quan trọng của Cách mạng Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo sách lược Ngoại giao là cân bằng quan hệ Xô – Trung, rồi mục tiêu chiến lược của Việt là “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” như lời thơ chúc tết năm 1969, hoặc Người chỉ thị cho Lực lượng phòng không không quân của ta chuẩn bị đề phòng Mỹ đem B52 ném bom Hà Nội, thì bà này không hề nhắc tới.
Chúng ta ai cũng biết rõ, trong sự nghiệp Giải phóng Miền Nam, để đối đầu với Đế Quốc với Mỹ, kẻ thù giầu có, nguy hiểm và hung bạo, chính là toàn thể quân dân cả nước đứng đầu là tập thể Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan trọng.
Đây là điều mà Liên Hằng cố cắt xén để phủ nhận.

Có dư luận cho rằng khi Việt Nam và Mỹ đã xác lập Quan hệ chiến lược toàn diện thì lợi dụng giao lưu nhân dân và liên kết Giáo dục đào tạo hai nước Việt - Mỹ, với danh nghĩa giáo sư này nọ nhiều người Mỹ gốc Việt vẫn còn thâm thù chế độ ta sẽ ngang nhiên đứng trên các giảng đường đại học Việt Nam giảng dạy cho con em ta những điều do họ viết ra. Thật nguy hiểm!


Ảnh của báo Thanh Niên
Ngày 17/8/2018, GS. Nguyễn Thị Liên Hằng (Khoa Lịch sử, Đại học Columbia, Hoa Kỳ) đã có bài thuyết trình với chủ đề “Tết Mậu Thân 1968: 50 năm nhìn lại” trước đông đảo cử tọa tại Trường Đại học KHXH&NV./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DANH SÁCH NHÓM 72, ĐÒI XOÁ BỎ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP!

1, Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội (Lộc cầm đầu nhóm 72, đã chết).

2, Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội (A là một trong những tên cầm đầu, y chống phá công khai & húng nhất).

3, Nguyễn Minh Thuyết, GS TS, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, Hà Nội (Tổng chủ biên chương trình Giáo dục phổ thông mới, tham gia biên soạn SGK, Thuyết chủ mưu “khai tử” môn Sử)

4, Trần Đình Sử, GS TS, Hà Nội (Chủ tịch Hội đồng thẩm định SGK, tham gia biên soạn SGK, có nhiều phát ngôn phi Giáo dục nhất)

5, Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức yêu nước TP Hồ Chí Minh, TP HCM (Báu làm Chủ tịch clb Lê Hiếu Đằng, đã gục xuống sùn bọt mép ra khi đang sinh hoạt clb chống phá ĐN, Báu nhiều lần mỉa mai, xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh)

6, Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hội An (Đất Nước đứng lên còn Nguyên Ngọc “đã chết” trong Rừng Xà Nu, hắn cùng đồng bọn xuyên tạc Anh hùng Võ Thị Sáu)

7, Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, 

8, Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

9, Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội 

10, Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao động, TP HCM

11, Phạm Vĩnh Cư, nhà nghiên cứu, Hà Nội

12, Nguyễn Xuân Diện, TS Hán Nôm (tên này gọi ngày giỗ Tổ Hùng Vương là giỗ cái đầu B.U.Ồ.I)

13, Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

14, Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM

15, Nguyễn Văn Dũng, nhà văn, võ sư, Huế

16, Hồ Ngọc Đại, GS TS, nhà giáo, Hà Nội (Hồ Ngọc Đại & Trần Đình Sử cãi nhau như dân bán cá)

17, Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP Hồ Chí Minh khóa 4, 5, TP HCM

18, Lê Hiền Đức, Giải thưởng Liêm chính 2007, Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Hà Nội

19, Phan Hồng Giang, TSKH, Hà Nội

20, Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Giám đốc Tổng công ty Du lịch Thành phố (Saigontourist), TP HCM

21, Nguyễn Gia Hảo, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Hà Nội (chồng của Phạm Chi Lan)

22, Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội

23, Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội

24, Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

25, Hồ Hiếu, cựu tù Côn Đảo, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Mặt trận, Thành uỷ TP Hồ Chí Minh, TP HCM

26, Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thừa Thiên - Huế, Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế

27, Nguyễn Văn Hồng (tức Cung Văn), nguyên Tổng Thư ký Ban chấp hành Sinh viên đoàn Đại học Văn khoa Sài Gòn 1964-1965, Đà Nẵng

28, Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh (phản động, công khai chống phá Đất Nước)

29, Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, Đà Nẵng

30, Trần Ngọc Kha, nhà báo, Hà Nội

31, Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM

32, Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới, TP HCM

33, Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội

34, Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận Trung ương, Hà Nội

35, Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM

36, Huỳnh Công Minh, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM

37, Phạm Gia Minh, TS, Hà Nội

38, Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP

39, Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM

40, Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

41, Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn, Hà Nội

42, Phạm Đức Nguyên, PGS TS, giảng viên cao cấp Đại học, Hà Nội

43, Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin sáng, TP HCM

44, Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu, Huế

45, Hoàng Xuân Phú, GS Viện Toán học, Hà Nội

46, Trần Việt Phương, nguyên trợ lý Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

47, Nguyễn Đăng Quang, nguyên Đại tá Công an, Hà Nội

48, Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội

49, Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM

50, Nguyễn Trọng Tạo, nhà văn, Hà Nội

51, Lê Văn Tâm, TS, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Nhật Bản, Nhật Bản

52, Trần Công Thạch, hưu trí, TP HCM

53, Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM

54, Trần Thị Băng Thanh, PGS TS, Hà Nội

55, Lê Quốc Thăng, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM

56, Đào Tiến Thi, thạc sĩ, Hà Nội

57, Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội

58, Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM 

59, Nguyễn Trung, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

60, Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội

61, Hoàng Tụy, GS, Viện Toán học, nguyên Chủ tịch Viện IDS, Hà Nội

62, Lưu Trọng Văn, nhà báo, TP HCM

63, Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội

64, Nguyễn Viện, nhà văn, TP HCM

65, Nguyễn Hữu Vinh, doanh nhân, Hà Nội

66, Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế

67, Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, Huế

68,Nguyễn Đông Yên, GS TS, Viện Toán học, Hà Nội

69, Nguyễn Phú Yên, nhạc sĩ, TP HCM

70,Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, Tp HCM

71, Lại Nguyên Ân nhà nghiên cứu, Hà Nội

72, Huỳnh Ngọc Chênh nhà báo, Tp HCM./.
Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: COI NHẸ MÔN LỊCH SỬ LÀ ĐẠP ĐỔ BÀN THỜ TỔ TIÊN!

         Nhiều nước trên thế giới họ coi trọng giá trị bộ môn Tự nhiên và Xã hội quan trọng ngang nhau. Bộ môn tự nhiên cho chúng ta giá trị về tư duy Logic, giúp học sinh trở thành những kỹ sư, chuyên gia công nghệ... Còn những môn như triết học, lịch sử, giáo dục công dân... lại cho chúng ta tư duy về xã hội.
Tiếng anh là nhu cầu ai muốn phát triển đều phải học, tiếng mẹ, lòng đất mẹ, hào khí ngàn năm của đất mẹ mới là cốt lõi tư duy để lớp trẻ bước ra thế giới không phải thẹn thùng mất gốc...
Có thể nói, niềm tự hào dân tộc, hướng về tổ tiên, nguồn cội đã được hun đúc từ những giờ học Văn, Lịch sử, Giáo dục công dân, và đó chính là bài học làm Người, coi nhẹ môn Lịch sử là đạp đổ bàn thờ tổ tiên!
Thế mà hôm rồi có một vị giáo sư nào đó phát biểu trong một cuộc hội thảo về thi tốt nghiệp THPT quốc gia lại đề xuất 2 phương án, một là cho học sinh thì 2 môn, môn Toán - môn Văn bắt buộc, hai là 3 môn, môn Toán, môn Văn, môn Anh bắt buộc(?)
Vậy thì bộ môn "hồn cốt dân tộc" để ở vị trí nào trong tư duy lớp trẻ hôm nay và mai sau???
Yêu nước ST.

BẠN CẦN BIẾT: TRƯỜNG SA - VÙNG LÃNH THỔ THIÊNG LIÊNG KHÔNG THỂ TÁCH RỜI CỦA TỔ QUỐC VIỆT NAM!

         Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển từ ngàn đời của dân tộc ta. Việt Nam là quốc gia ven biển, có bờ biển dài trên 3.260 km, từ tỉnh Quảng Ninh đến tỉnh Kiên Giang; trung bình, cứ 100 km2 đất liền thì có 1 km bờ biển (trung bình của thế giới là 600 km2 đất liền có 1 km bờ biển). Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 thì Việt Nam có vùng biển rộng trên 1 triệu km2, chiếm khoảng 30% diện tích biển Đông; diện tích biển gấp hơn 3 lần diện tích đất liền. Chính vì vậy, biển, đảo nước ta có vị trí chiến lược hết sức to lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng CNXH, có liên quan trực tiếp đến sự phồn vinh của đất nước và an ninh, chính trị.
Từ vị trí quan trọng của biển, đảo, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên các vùng biển, đảo, trong đó Trường Sa là vùng lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam.
Quần đảo Trường Sa nằm ở phía Nam Biển Đông từ kinh tuyến 111 độ 30 phút Đông đến kinh tuyến 117 độ 20 phút Đông; từ vĩ tuyến 6 độ 50 phút Bắc đến vĩ tuyến 12 độ Bắc; cách bán đảo Cam Ranh (tỉnh Khánh Hóa) 480 km; đây là vùng biển đảo có vị trí địa chiến lược cực kỳ quan trọng.
Quần đảo Trường Sa thuộc H.Trường Sa (Khánh Hòa) có trên 100 đảo, bãi cạn, cồn san hô và bãi ngầm, với diện tích vùng biển rộng 180.000 km2, được chia làm 8 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên.
Hiện nay, Việt Nam thực hiện chủ quyền và đóng giữ 21 đảo, gồm 10 đảo nổi (Trường Sa, Trường Sa Đông, An Bang, Sinh Tồn Đông, Phan Vinh, Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca, Đá Tây); 11 đảo đá ngầm (Đá Nam, Đá Lớn, Đá Lát, Đá Đông, Đá Thị, Thuyền Chài, Cô Lin, Len Đao, Tiên Nữ, Núi Le, Tốc Tan) với 33 điểm đóng quân.
Quần đảo Trường Sa án ngữ nhiều đường hàng hải quốc tế, ở đó có nhiều loại hải sản quý và là lá chắn quan trọng bảo vệ sườn phía đông của Tổ quốc.
Biển, đảo nước ta là không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng, an ninh của đất nước, hình thành nên tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, là những điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, đồng thời là lá chắn vững chắc từ hướng biển, tạo thế liên hoàn biển- đảo- bờ trong thế trận phòng thủ. 
Để giữ vững chủ quyền quần đảo trong điều kiện hiện nay, chúng ta cần tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, tăng cường hơn nữa phát triển kinh tế biển với chiến lược toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta thành một quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế./.
Yêu nước ST.

ĐỌC CÙNG BẠN: ĐẠI TƯỚNG LƯƠNG CƯỜNG "VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG "4 KHÔNG "!

         Đại tướng Lương Cường, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam nói về chính sách đối ngoại, quốc phòng "4 không" với Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Lào Thongloi Silivong!

Thượng tướng Thongloi Silivong, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Lào dẫn dầu đoàn đại biểu chính trị cấp cao QĐND Lào thăm chính thức Việt Nam từ ngày 25-28/9.

Sáng 26/9, tại Trụ sở Bộ Quốc phòng, Đại tướng Lương Cường, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam đã chủ trì lễ đón Thượng tướng Thongloi Silivong.

Đại tướng Lương Cường khẳng định, chuyến thăm sẽ góp phần thắt chặt hơn nữa tình cảm đoàn kết, gắn bó giữa hai Bộ Quốc phòng và Quân đội hai nước Việt Nam - Lào; đưa quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả.

Đại tướng Lương Cường chủ trì lễ đón Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Lào.

Đại tướng Lương Cường nhấn mạnh, Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng, cùng chế độ xã hội chủ nghĩa, có truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, "hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa" và luôn dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn, quý báu, chí tình, chí nghĩa, trong sáng và hiệu quả trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập trước đây, cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước ngày nay.

Đảng, Nhà nước và Quân đội Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Lào, coi đây là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình; luôn mong muốn cùng với Lào không ngừng củng cố mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội hai nước Việt Nam - Lào.

Thượng tướng Thongloi Silivong khẳng định quan hệ Lào - Việt Nam là tài sản vô giá, trong đó quan hệ hai quân đội "là đặc biệt của đặc biệt". Điều này thể hiện qua việc lãnh đạo cấp cao hai nước, hai quân đội thường xuyên gặp gỡ, thăm viếng lẫn nhau. Hợp tác hai nước là toàn diện, không có bất cứ giới hạn hay rào cản nào trong quan hệ hai nước, hai quân đội.

Đại tướng Lương Cường đánh giá cao ý nghĩa chuyến thăm của Thượng tướng Thongloi Silivong.
Đại tướng Lương Cường, Thượng tướng Thongloi Silivong và thành viên hai đoàn chụp ảnh chung.

Tại hội đàm, hai bên nhất trí đánh giá, hợp tác quân sự, quốc phòng thời gian qua đã tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ song phương Việt Nam - Lào.

Bộ Quốc phòng và Quân đội hai nước luôn tích cực, chủ động phối hợp chặt chẽ, hợp tác tin cậy, tham mưu hiệu quả với lãnh đạo cấp cao hai nước về công tác quân sự, quốc phòng, góp phần quan trọng vào giữ vững môi trường hòa bình ở mỗi nước để cùng phát triển...

Hợp tác giữa Tổng cục Chính trị Quân đội hai nước luôn bám sát và đóng góp quan trọng vào phát triển quan hệ hai nước, hai Quân đội.

Toàn cảnh hội đàm

Về phương hướng, hai bên thống nhất, hợp tác quốc phòng cần phối hợp triển khai hiệu quả theo nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước, kết quả cuộc gặp giữa ba lãnh đạo Đảng ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia (ngày 6/9).

Trước mắt, hai bên tập trung tuyên truyền ý nghĩa của Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia lần thứ nhất cấp Bộ trưởng Quốc phòng, dự kiến tổ chức vào tháng 12 tới đây.

Quân đội hai nước tăng cường giao lưu, hợp tác giữa cơ quan, đơn vị hai bên thông qua trao đổi đoàn, phát huy hiệu quả cơ chế, mô hình hợp tác như giao lưu sĩ quan trẻ, giao lưu phụ nữ quân đội, kết nghĩa quân - dân, hội nghị thường niên giữa các quân khu, quân chủng và lực lượng bảo vệ biên giới hai nước...

Bộ Quốc phòng và Quân đội Việt Nam sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ Bộ Quốc phòng và Quân đội Lào đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch các hội nghị quân sự, quốc phòng ASEAN 2024.
Hai bên duy trì có hiệu quả mô hình hoạt động kết nghĩa “Đồn-Trạm hữu nghị, biên giới bình yên”, phong trào kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới.

Hai bên cũng trao đổi về tình hình thế giới, khu vực và vấn đề cùng quan tâm.

Đại tướng Lương Cường nhấn mạnh, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và kiên định chính sách quốc phòng “4 không” (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế)./.

Trong sáng nay, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng đã tiếp Thượng tướng Thongloi Silivong.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÁI “TÔI” QUÁ LỚN!

         Người có cái tôi quá lớn là người luôn xem mình là nhất, không chịu thua kém bất cứ ai, họ thường không để tâm đến cảm xúc của người khác, không cần biết việc mình làm đúng hay sai, cứ tự hào một cách vô ý thức,… 

Chính cái tôi quá cao đó sẽ biến họ thành người láo toét, hống hách, coi thường người khác, đến mức ngồi xổm trên cả Luật pháp, trong cái tôi cao đó họ thường coi trọng giá trị bản thân mình hơn giá trị của người khác. 

Họ luôn cho mình là đẹp là sang là đỉnh là chóp, còn người khác không là gì, với họ chỉ nói một lời xin thôi cũng vô cùng khó khăn. Khiêm tốn mới là đỉnh cao của sự hiểu biết, người càng thành công càng tĩnh lặng, họ biết lắng nghe thấu hiểu lòng người, đó mới là đẳng cấp của phẩm giá - "Lúa chín luôn cúi đầu - Người giỏi luôn khiêm tốn"./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: “QUẦN CHÚNG KHÔNG PHẢI LÀ MỘT NGƯỜI”, “TỒN TẠI KHÔNG PHẢI LÀ HẠN CHẾ”!

         Không nên sử dụng “tồn tại” thay cho khuyết điểm, yếu kém hoặc khó khăn… Bởi, “tồn tại” là tồn tại, khuyết điểm là khuyết điểm. Không thể dùng “tồn tại” để làm “nhẹ đi” “giảm đi” hay “sang hơn” trong nói và viết!

Cách đây ít lâu, tôi được dự hội nghị sơ kết công tác Đảng giữa năm của một doanh nghiệp. Trong báo cáo sơ kết, tôi đặc biệt chú ý tới một số từ và cụm từ được sử dụng trong văn bản, xin trích dẫn lại:

- “Nhờ có sự định hướng, chỉ đạo sâu sát của đồng chí Giám đốc, nên Ban Chấp hành Đảng ủy Công ty đã tích cực, kịp thời triển khai những chủ trương phù hợp với đặc thù công tác Đảng trong doanh nghiệp...”.

- “6 tháng qua, đã có 24 quần chúng công nhân ưu tú được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng”.

- “Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác Đảng của Công ty vẫn còn một số tồn tại...”.

  Ba đoạn trích dẫn “nguyên văn” trên, nếu đọc lướt và không để ý, chắc chắn không ít người sẽ thấy bình thường và rất quen, không có gì phải “bàn cãi”. Tuy nhiên, dưới góc độ tổ chức Đảng và “ngôn ngữ học” thì rõ ràng là những từ và cụm từ này chưa đúng, chưa chuẩn.

1. Nội dung thứ nhất sai hoàn toàn về vai trò lãnh đạo. Đó là, “đồng chí Giám đốc”, dù đứng đầu về mặt tổ chức chính quyền, cũng không thể định hướng và chỉ đạo đối với Đảng ủy. Kể cả trong trường hợp Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy, thì những nội dung chỉ đạo, lãnh đạo, xây dựng chủ trương, kế hoạch liên quan đến công tác Đảng cũng phải là “sản phẩm” của tập thể Đảng ủy và Đảng bộ. Nếu lấy quyền giám đốc để chi phối công tác Đảng thì không chỉ sai về mặt nguyên tắc, mà còn cho thấy, tập thể Đảng ủy ở đơn vị đó không phát huy được hiệu quả hoạt động, thậm chí là thất bại về vai trò lãnh đạo của Đảng. Mặc dù, trên thực tế, vẫn còn hiện tượng, ở không ít nơi, tổ chức Đảng, đảng ủy hoặc chi ủy chỉ mang tính hình thức, khi người đứng đầu về mặt tổ chức chính quyền “thao túng” toàn bộ hoạt động liên quan đến công tác Đảng. Tuy nhiên, đây lại là câu chuyện khác, xin không bàn ở bài viết này.

2. Cũng trong trích dẫn thứ nhất, việc sử dụng cụm từ “Ban Chấp hành Đảng ủy Công ty” là sai về nghĩa. Lâu nay chúng ta vẫn nói hoặc viết “Đảng ủy”, “Chi ủy” (hoặc có thể gọi chung là “cấp ủy Đảng”) là cách “nói tắt”, viết rút gọn của “Ban Chấp hành Đảng bộ”, “Ban Chấp hành Chi bộ”. Do đó, chỉ có “Đảng ủy cơ quan A” hoặc “Ban Chấp hành Đảng bộ Công ty X” chứ không có “Ban Chấp hành Đảng ủy cơ quan A” hay “Ban Chấp hành Chi ủy tổ dân phố X”.

Mặc dù những “lỗi cơ bản” nêu trên đã được nhắc đến rất nhiều, nhưng đâu đó chúng ta vẫn bắt gặp, hoặc là trên văn bản, hoặc là trong “văn nói”. Đáng quan ngại là không chỉ với đảng viên, mà không ít đồng chí tham gia cấp ủy cũng chưa “sạch nước cản” về những “vấn đề sơ đẳng” này.

3. Trong trích dẫn thứ hai. Với cách viết “…đã có 24 quần chúng công nhân ưu tú…”, thì việc sử dụng cụm từ “24 quần chúng” để thay thế cho “24 người”, “24 cá nhân” hay “24 công nhân” là không chuẩn. Điều này gần như xảy ra phổ biến trong nhiều báo cáo, bài viết, bài nói hiện nay - khi nhắc đến kết quả của công tác phát triển đảng viên. 

Nếu “hiểu nôm na” thì có thể coi, trong văn cảnh trên, “quần chúng” là cá nhân một ai đó chưa được kết nạp Đảng - chưa là đảng viên (mà vẫn đang là “quần chúng nhân dân”). Vậy, nếu “suy diễn” ngược lại, chẳng lẽ đảng viên lại không phải là nhân dân, đứng ngoài quần chúng nhân dân (!).

Vì vậy, cần hiểu đúng “quần chúng” có nghĩa là đám đông, là nhiều người. Về mặt danh từ, “quần chúng” là tất cả những người dân trong xã hội (khi nói “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” thì cũng đồng nghĩa “cách mạng là sự nghiệp của toàn dân”). Nếu xét ở khía cạnh “trong Đảng”, “ngoài Đảng” thì “quần chúng” cũng nhằm nói đến số đông - nhiều người (chưa là đảng viên), chứ không phải một người, một cá nhân. Cho nên, thay vì nói hoặc viết “6 tháng qua, Chi bộ đã kết nạp được được 3 quần chúng vào Đảng” thì nên nói hoặc viết “… đã kết nạp được 3 người vào Đảng” (hoặc “3 đoàn viên”, “3 chuyên viên”, “3 công nhân”…). Tương tự, khi nhận xét một cá nhân trong diện “cảm tình Đảng” thì nên nói là “Anh Nguyễn Văn A…”, chứ không nên để là “Quần chúng Nguyễn Văn A…”.

4. Sử dụng từ “tồn tại” trong trích dẫn “…công tác Đảng của Công ty vẫn còn một số tồn tại...” là không đúng về mặt ý nghĩa. Mặc dù từ này đã và đang được dùng với “tần suất cao” trong nhiều bài viết, hội nghị, hội thảo đánh giá về một hoạt động của một tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương nào đó, nhưng về mặt khoa học thì “tồn tại” không thể đồng nghĩa với hạn chế, yếu kém, khuyết điểm như nhiều người đang hiểu.

Khi nói hoặc viết: “Bên cạnh những kết quả vượt bật, công tác thi đua của cơ quan vẫn còn những tồn tại…”, “Trong thời gian tới, một số tồn tại cần khắc phục là…”, “Cần nhìn thẳng vào sự thật để chỉ ra những tồn tại, khuyết điểm…”,v.v.. là chúng ta đang mặc nhiên hiểu sai, coi “tồn tại” là cái yếu kém, cái tiêu cực, cái chưa tốt..., và, “khắc phục hạn chế, sửa chữa khuyết điểm” cũng là “khắc phục, sửa chữa tồn tại” (!?).

“Tồn tại” là danh từ trong triết học chỉ tất cả những gì đang có, đang hiện hữu mà chúng ta có thể thấy được hoặc không thấy được bằng giác quan. Nói khác đi là “tồn tại” - tức những thứ đã xuất hiện - nằm ngoài ý thức chủ quan và tư tưởng của con người (chúng ta muốn hay không muốn thì “tồn tại” vẫn… tồn tại). Có những thứ “tồn tại” có thể nhìn thấy, nghe thấy, chạm đến và cảm nhận được (Ví dụ như: đất, nước, không khí, âm thanh…). Có những thứ “tồn tại” nằm ngoài giác quan thông thường của chúng ta (ví dụ như: sóng từ trường, những ngôi sao cách trái đất hàng trăm năm ánh sáng…). Và có những “tồn tại” mà nhiều khi người ta cố tình không thấy nhưng nó vẫn đang hiện hữu (Ví dụ như: Những thành tựu, kết quả to lớn trong sự nghiệp đổi mới của đất nước ta đã và đang tồn tại, diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội, nhưng có những kẻ lại cố tình không thấy, cố tình xuyên tạc và phủ nhận nó)…

Với ý nghĩa như vậy, cần khắc phục, không nên sử dụng “tồn tại” thay cho khuyết điểm, yếu kém hoặc khó khăn… Bởi, “tồn tại” là tồn tại, khuyết điểm là khuyết điểm. Không thể dùng “tồn tại” để làm “nhẹ đi” “giảm đi” hay “sang hơn” trong nói và viết./.
Yêu nước ST.

 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC PHÒNG, CHỐNG CHIẾN TRANH LY KHAI Ở VIỆT NAM

 Chiến tranh ly khai đã và đang xảy ra ở nhiều khu vực, tác động rất lớn đến các quốc gia trên thế giới. Các cuộc chiến để lại hậu quả hết sức tàn khốc, biến các quốc gia này trở thành đống đổ nát; làm kiệt quệ nguồn tài chính, cơ sở hạ tầng đất nước bị tàn phá nặng nề, tỷ lệ đói nghèo ngày càng gia tăng; hàng triệu người dân phải trốn ra nước ngoài, sống lưu vong ở các quốc gia khác do sự khắc nghiệt của đời sống vật chất và tinh thần. Nguyên nhân chủ yếu là do các thế lực thù địch, phản cách mạng đứng đầu là chủ nghĩa đế quốc luôn có những âm mưu, phương thức chống phá các quốc gia độc lập dân tộc không đi theo quỹ đạo của chúng. Đặc biệt, chúng tập trung chống phá các quốc gia có xu hướng chính trị tiến bộ, các quốc gia do Đảng Cộng sản, đảng cánh tả lãnh đạo, cầm quyền. Chúng lợi dụng các vấn đề hội nhập quốc tế, viện trợ nhân đạo, các vấn đề về tôn giáo, dân tộc, nhân quyền để kích động nhằm làm phân rã, chia rẽ các dân tộc, các quốc gia, tạo nên các cuộc bạo loạn mang màu sắc chính trị, tạo cớ, tạo áp lực và lợi dụng danh nghĩa các tổ chức quốc tế (trong đó có Liên Hợp quốc) tạo nên chiến tranh ly khai lật đổ chính quyền, thành lập chính quyền tự xưng do chúng chỉ đạo.
Đối với nước ta, xuất phát từ vị trí địa - chính trị, vị thế của Việt Nam ngày càng tăng cao trên trường quốc tế; do vậy, các thế lực thù địch luôn thực hiện âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hòng lập nên một thể chế chính trị đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa đế quốc và phương Tây điều khiển. Mặt khác, Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, tôn giáo; mỗi dân tộc, tôn giáo có phong tục, tập quán và giáo lý, giáo luật riêng; đặc biệt đồng bào dân tộc thiểu số và có đạo sống ở vùng sâu, vùng xa đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, có những vấn đề phức tạp do lịch sử để lại... Đây là những vấn đề hết sức nhạy cảm mà các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng để kích động, chia rẽ giữa các dân tộc, tôn giáo; kích động tính cực đoan, tự trị... (nóng bỏng nhất hiện nay là bốn vùng: Tây Bắc, Tây Nghệ An - Thanh Hóa, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ), nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta, phục vụ ý đồ thâm độc của họ.
Trong thời gian qua, các thế lực thù địch lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước của Việt Nam; lợi dụng những khó khăn, yếu kém trong quản lý, trong thực hiện chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; lợi dụng sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để thúc đẩy chiến lược “Diễn biến hòa bình” tạo nên “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong lòng chế độ xã hội của ta, nhất là trong đội ngũ cán bộ cao cấp, làm cơ sở để kích động, gây rối, biểu tình, bạo loạn lật đổ; tạo ra các điểm nóng, vùng nóng gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, cản trở và chống lại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của nhân dân ta. Mặt khác, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”, chống tham nhũng và bảo vệ chủ quyền biển đảo... để kích động bạo loạn chính trị, bạo loạn có vũ trang. Lợi dụng những vấn đề đó, các thế lực thù địch đang ngấm ngầm chuẩn bị lực lượng, đợi thời cơ; xây dựng kế hoạch, chỉ đạo các lực lượng, xây dựng tổ chức chính trị đối lập để tạo ngọn cờ, xây dựng lực lượng (nhất là lực lượng vũ trang), tiến hành các hoạt động phá hoại, có sự chi viện của các thế lực phản động bên ngoài; nhằm làm suy yếu Đảng, suy yếu chế độ ở các vùng có nhiều đồng bào dân tộc, tôn giáo sinh sống; xây dựng chính quyền phản động ly khai, chờ thời cơ tiến hành bạo loạn nhằm chia cắt đất nước, lật đổ chế độ Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo ý đồ của chúng.
Để giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vấn đề cấp bách hiện nay là phải đấu tranh phòng, chống chiến lược “Diễn biến hòa bình” quyết liệt, có hiệu quả, có chủ trương và giải pháp cụ thể; kịp thời ngăn ngừa và làm thất bại mọi mưu toan bạo loạn vũ trang, chiến tranh ly khai dẫn đến chia cắt đất nước.
Để làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận, thực tiễn và dự báo về chiến tranh ly khai; đặt ra những yêu cầu về phòng chống chiến tranh ly khai; quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc, phương pháp phòng chống, giải pháp chiến lược phòng ngừa, ngăn chặn chiến tranh ly khai ở Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Học viện Quốc phòng biên soạn và giới thiệu với bạn đọc cuốn sách “Một số giải pháp chiến lược phòng, chống chiến tranh ly khai ở Việt Nam”.

 Đẩy lùi những chiêu trò “bất tuân dân sự” ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hoạt động "bất tuân dân sự" đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành "phong trào" nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nếu không nhận diện và đấu tranh kịp thời...
Những năm gần đây, có một số vụ việc mang bóng dáng "bất tuân dân sự", như: "Bất tuân cưỡng chế" của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắc Nông, Gia Lai...; "bất tuân" quy định về thành lập hội (nhóm), đòi lập các tổ chức xã hội dân sự (thực chất là phản động trá hình) như "Hội anh em dân chủ", "Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam", "Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam", "Hội văn đoàn độc lập Việt Nam", "Hội nhà báo độc lập Việt Nam", "Mạng lưới Blogger Việt Nam"...; “bất tuân” để phản đối Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2014), Luật An ninh mạng (năm 2018)… Các hình thức như kích động tài xế phản đối trả phí BOT giao thông; từ chối đóng các loại quỹ phúc lợi xã hội; tẩy chay hàng hóa nước ngoài... cũng có nhiều vụ việc bị lợi dụng, biến tướng.
“Bất tuân dân sự" được tổ chức ngày càng chặt chẽ, được một số tổ chức phản động nước ngoài như Việt Tân, Voice công khai giật dây. Chúng lợi dụng các vấn đề dân sinh còn có hạn chế, khuyết điểm khiến người dân bức xúc để làm suy giảm niềm tin, tích tụ thêm mâu thuẫn của người dân đối với chính quyền, với Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng thông qua đó để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng, hợp thức hóa, công khai hóa việc chống đối chính quyền. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa "bất tuân dân sự" với "xã hội dân sự", sử dụng các tổ chức "xã hội dân sự" để chỉ đạo, điều hành "bất tuân dân sự". Thủ đoạn chủ yếu là tiếp tục sử dụng các chiêu bài "tự do", "dân chủ", "nhân quyền"; triệt để lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, những sơ hở, bất cập của ta trong quá trình triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại... để đẩy mạnh tuyên truyền chống phá; lôi kéo, kích động nhân dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, tạo dựng phong trào phản kháng trong quần chúng; phát triển lực lượng cốt cán, xây dựng "ngọn cờ"; tiến hành tập dượt các kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn...
Để đấu tranh làm thất bại "bất tuân dân sự", cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau đây:
Tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn hóa "thượng tôn pháp luật" cho mọi công dân. Trong đó, cần chú trọng nâng cao trình độ giác ngộ, niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật đối với mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục; làm cho mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành. Coi trọng tuyên truyền, hướng dẫn để người dân nắm vững các quy định về quy trình, thủ tục, phương pháp, cách thức tiến hành phản biện xã hội theo pháp luật; tránh để bị kẻ địch lợi dụng phát động "bất tuân dân sự". Tăng cường đấu tranh vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn sử dụng "bất tuân dân sự" để chống phá Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.
Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính của cơ quan hành chính các cấp, nhất là ở cơ sở. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường... Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm của cán bộ các cấp, củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước. Chính quyền các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm phục vụ nhân dân, tăng cường đối thoại, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc của nhân dân; giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn đọng về tranh chấp, khiếu kiện, không để âm ỉ, kéo dài…
Các cơ quan, đơn vị, địa phương tiến hành khảo sát kỹ lưỡng thực trạng "bất tuân dân sự" trên địa bàn quản lý; xây dựng kế hoạch phòng, chống chặt chẽ; bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng xử lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công an, quân đội, các lực lượng chức năng và cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện "bất tuân dân sự".
Khi xảy ra các vụ việc "bất tuân dân sự", cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo… Xử lý nghiêm minh số đối tượng cốt cán, cầm đầu, những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; có biện pháp phù hợp quản lý, giáo dục, động viên, giúp đỡ những đối tượng bị dụ dỗ, lôi kéo...

 Cảnh giác với những lời kêu gọi “bất tuân dân sự”

Những năm gần đây, thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng thủ đoạn kêu gọi người dân tham gia “bất tuân dân sự” nhằm tập hợp lực lượng để khi có thời cơ thì tiến hành các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, lật đổ chính quyền. Để không mắc mưu, chúng ta cần nâng cao cảnh giác với những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” dưới mọi hình thức.
Theo giải thích của Từ điển mở Wikipedia “Bất tuân dân sự là các hoạt động, công khai từ chối tuân theo một số luật lệ nhất định, yêu cầu và lệnh của chính phủ, hoặc của một quyền lực quốc tế chiếm đóng… Bất tuân dân sự đôi khi, mặc dù không phải luôn luôn, được định nghĩa như là phản kháng bất bạo động”. Cũng theo Từ điển này, những vụ bất tuân dân sự lớn, sớm nhất được thực hành bởi người Ai Cập chống lại sự chiếm đóng của Anh trong cuộc cách mạng Ai Cập năm 1919. Nó đã được sử dụng trong nhiều phong trào phản kháng bất bạo động tại nhiều quốc gia, như: chiến dịch của M. Gan-đi để giành độc lập từ đế quốc Anh ở Ấn Độ; cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc của N. Man-đê-la ở Nam Phi; “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Đông Đức; “cách mạng ca hát” ở các nước vùng Ban-tích (thuộc Liên Xô) vào những năm cuối thế kỷ XX. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, hình thức này được thực hiện trong “cách mạng hoa hồng” ở Gru-zi-a (năm 2003), “cách mạng cam” ở U-crai-na (năm 2004), “Mùa xuân Ả Rập” ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010, v.v.
Thời gian gần đây, nhận thấy sự lợi hại của phương thức đấu tranh bất bạo động, các thế lực thù địch ra sức cổ súy cho hình thức “bất tuân dân sự”, xem đó là con đường hữu hiệu để lật đổ chế độ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trên các trang mạng xã hội của các thế lực thù địch xuất hiện nhiều lời kêu gọi thực hiện “bất tuân dân sự” tại Việt Nam, như: “Lối thoát cho Việt Nam - bất tuân dân sự”, hoặc “Bất tuân dân sự - con đường tự do cho Việt Nam”(!), v.v. Họ ra sức tuyên truyền, cổ súy cho các phong trào “bất tuân dân sự” trên thế giới, như phong trào “cách mạng dù” gần đây ở Hồng Kông (Trung Quốc); qua đó, phổ biến kinh nghiệm, giới thiệu các nguyên tắc, hình thức tham gia, hướng dẫn cách đề ra khẩu hiệu, cách mang mặc trang phục và công cụ mang theo của những người tham gia,… với cái gọi là “cẩm nang cho bất tuân dân sự”(!). Các tổ chức phản động ở nước ngoài, như: Việt Tân, Voice cũng mở nhiều lớp huấn luyện nội dung, hình thức “bất tuân dân sự” cho các thành viên để đưa về Việt Nam thực hiện hành động phá hoại. Chúng lợi dụng bức xúc của người dân trước những vấn đề dân sinh, như: vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, ô nhiễm môi trường; những bất cập, chưa sát thực tiễn của một số chủ trương, chính sách cụ thể; hay những hạn chế, yếu kém của chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý xã hội; hoặc lợi dụng sự ngộ nhận của người dân trước những thông tin bịa đặt, xuyên tạc mà các thế lực phản động, cơ hội,… tuyên truyền để kích động họ tụ tập, phản đối, không thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Qua đó, thúc đẩy hình thành các mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền, hợp thức hóa việc thực hiện mưu đồ tập hợp lực lượng, chống đối chính quyền, để khi mâu thuẫn lên cực điểm, chúng sẵn sàng kêu gọi kết hợp đấu tranh bất bạo động với bạo động để chống chính quyền, như vụ gây rối trật tự công cộng, hủy hoại tài sản nhà nước ở Bình Thuận (tháng 6-2018).
Để ngăn chặn, làm thất bại thủ đoạn kêu gọi “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, cần quán triệt và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó, tập trung thực hiện tốt các nội dung trọng tâm sau:
Chủ động vạch trần bản chất của thủ đoạn “bất tuân dân sự”, làm cho người dân hiểu rõ những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” là một thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm, nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhằm phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước của nhân dân ta. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục làm cho người dân thấy rõ bản chất của thủ đoạn “bất tuân dân sự” là những hành động cố ý cản trở việc thực thi luật pháp, chính sách của chính quyền. Nói cách khác, đó là hành động vi phạm pháp luật có chủ ý, thể hiện tư tưởng cực đoan, “vô chính phủ” của cá nhân, tổ chức, hay của một nhóm người cụ thể; đi ngược lại lợi ích chính đáng của đại đa số quần chúng nhân dân. Ở nước ta, khi bị các thế lực thù địch lợi dụng, “bất tuân dân sự” trở thành công cụ để lật đổ chính quyền, thay đổi thể chế chính trị. Do đó, mọi người dân cần đề cao cảnh giác với những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” dưới mọi hình thức.
Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân; làm cho khẩu hiệu “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” đi vào thực tiễn cuộc sống, được nhân dân quán triệt và chấp hành nghiêm chỉnh ở mọi lúc, mọi nơi. Theo đó, cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn; trong đó, chú trọng nâng cao hiệu quả công tác này trong các nhà trường, ở các bậc học, từ bậc phổ thông đến đại học. Các cơ quan thông tin, truyền thông cần phát huy thế mạnh của mình, thường xuyên dành dung lượng phù hợp (số trang, số giờ phát sóng,…) để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; trong đó, cần đẩy mạnh hơn nữa tuyên truyền Nghị định 38/2005/NĐ-CP, ngày 18-3-2005 của Chính phủ “Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng”. Tập trung làm rõ những hành vi bị cấm, như: “(1). Lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân để thực hiện hoặc lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng ép người khác tập trung đông người nhằm gây rối trật tự công cộng hoặc để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác; (2). Tập trung đông người trái với quy định của pháp luật ở lòng đường, vỉa hè, trước trụ sở cơ quan, tổ chức, tại khu vực đang diễn ra các hội nghị quốc tế, kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc các hoạt động chính trị quan trọng khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hoặc nơi công cộng khác”, v.v. Hình thức, biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cần đa dạng, phong phú, dễ hiểu, dễ chấp hành, phù hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng cụ thể để nội dung mỗi luật và văn bản quy phạm pháp luật nhanh chóng được người dân tiếp nhận. Chính quyền cơ sở ở các địa phương cần coi trọng việc hướng dẫn người dân cách thức, quy trình, thủ tục khiếu nại, tố cáo, phản biện xã hội theo quy định của pháp luật để người dân thực hiện. Kiên quyết, kiên trì động viên, thuyết phục người dân tự giác chấp hành pháp luật theo đúng quy trình, trình tự; đồng thời, giải thích cho họ hiểu rõ lợi ích của việc tuân theo và hệ quả của việc bất chấp quy trình, thủ tục đã được pháp luật quy định.
Thực hiện tốt nền nếp chế độ tiếp dân của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các địa phương, kịp thời giải quyết các bức xúc của người dân, không để “việc bé xé thành to”, tạo cơ hội để các thế lực thù địch kích động phong trào “bất tuân dân sự”. Theo đó, cấp ủy các địa phương cần thực hiện nghiêm túc Quy định 11-QĐi/TW, ngày 18-02-2019 của Bộ Chính trị về “Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân”. Người đứng đầu cấp ủy các địa phương (tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn) không chỉ trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp dân, xử lý, giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân, mà còn phải trực tiếp thực hiện việc tiếp dân (theo định kỳ, hay đột xuất), kịp thời đối thoại với dân khi cần thiết và xử lý, giải quyết các phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân theo thẩm quyền. Cùng với đó, người đứng đầu chính quyền các địa phương phải coi trọng phát huy quyền làm chủ của người dân; nghiêm túc thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở và quy định của địa phương về tiếp công dân để kịp thời giải quyết các vướng mắc, bức xúc chính đáng của người dân. Việc tiếp dân, đối thoại và xử lý, giải quyết những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo phải trên tinh thần tôn trọng, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của dân; dân chủ, công tâm, khách quan, kịp thời, đúng phạm vi thẩm quyền; trình tự, thủ tục cần đơn giản, tạo thuận lợi cho người dân.
Tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; nâng cao năng lực nghiên cứu, ban hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đó là những biện pháp nhằm triệt tiêu các nguy cơ tiềm ẩn mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để kêu gọi người dân thực hiện “bất tuân dân sự”. Trong giai đoạn hiện nay, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp xây dựng Chính phủ “kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”; xây dựng nền hành chính phục vụ, trọng dân và gần dân. Đồng thời, nâng cao hơn nữa năng lực nghiên cứu, đề xuất, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo sát thực tiễn, có tính khả thi cao. Quá trình thực hiện, cần quán triệt tinh thần: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến”1; khắc phục triệt để việc đề xuất, ban hành những chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật xa rời thực tiễn, gây bức xúc dư luận, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng kích động. Muốn vậy, cần coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước thực sự tinh, gọn, hiệu quả; “Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức”2. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; xử lý nghiêm minh các cá nhân tham nhũng, không có “vùng cấm”; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); tích cực ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gắn với thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương để bám nắm cơ sở; sớm phát hiện và đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng lôi kéo người dân thực hiện “bất tuân dân sự” ngay khi mới manh nha. Các địa phương cần có các phương án, kế hoạch phòng, chống “bất tuân dân sự”, lồng ghép vào các đợt diễn tập khu vực phòng thủ để đánh giá mức độ sẵn sàng của địa phương. Khi có dấu hiệu xảy ra hiện tượng “bất tuân dân sự”, các lực lượng của địa phương cần bình tĩnh phân tích, đánh giá, xác định rõ nguyên nhân, đúng tính chất của tình hình, không nhầm lẫn giữa mâu thuẫn nội bộ nhân dân với mâu thuẫn địch - ta; đồng thời, khéo léo phân hóa, cô lập kẻ cầm đầu; kiên trì đối thoại, thuyết phục người dân bị lôi kéo không vi phạm pháp luật. Trên cơ sở hiểu rõ nguyên nhân vụ việc, có biện pháp đồng bộ, xử lý triệt để, có lý, có tình; xử lý nghiêm minh theo pháp luật những kẻ cầm đầu để răn đe và giáo dục, thuyết phục những người nhẹ dạ, cả tin, bị lôi kéo. Việc huy động các lực lượng tham gia giải quyết các “điểm nóng”, tụ tập đông người, cần thực hiện đúng quy định của Chính phủ, không tùy tiện.
Cùng với những giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, việc thực hiện đồng bộ các nội dung trọng tâm nói trên sẽ góp phần quan trọng làm thất bại mưu toan kích động “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam.
Bất tuân dân sự - một thủ đoạn nguy hiểm
Những năm gần đây, để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng một thủ đoạn mới mang tên "bất tuân dân sự". "Bất tuân dân sự" thể hiện tư tưởng cực đoan, "vô chính phủ", đang được lợi dụng gắn với cái gọi là xã hội dân sự để chống phá Đảng, Nhà nước, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.

BẢO VỆ TOÀN VẸN LÃNH THỔ CHỦ QUYỀN CỦA TỔ QUỐC

Ngày 25/9, trả lời câu hỏi phóng viên đề nghị cho biết phản ứng trước việc Trung Quốc lắp đặt và đưa vào sử dụng hai trạm nhận dạng tàu thuyền tự động tại Đá Bắc và Đá Bông Bay thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ:

“Việc Trung Quốc lắp đặt và đưa vào sử dụng hai trạm nhận dạng tàu thuyền tự động tại Đá Bắc và Đá Bông Bay thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

Mọi hoạt động trên quần đảo Hoàng Sa mà không được phép của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và hoàn toàn không có giá trị.

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng đầy đủ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, không tái diễn những vi phạm tương tự”.

Trước đó, theo đài truyền hình Trung Quốc CCTV, hoạt động của các trạm này bắt đầu hôm 15/9, để "giải quyết vấn đề điểm mù" ở vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa.

Hai trạm nằm trên Đá Bắc và Đá Bông Bay, được kết nối với hệ thống nhận dạng và theo dõi trên đất liền dành cho tàu thuyền (AIS). Nước này xây dựng hai trạm cho hệ thống vệ tinh BeiDou - tương tự hệ thống định vị toàn cầu (GPS) của Mỹ.

Cơ quan quản lý hàng hải Trung Quốc yêu cầu tất cả các tàu phải có bộ phát đáp AIS và luôn bật tín hiệu để có thể xác định và theo dõi. 

Việt Nam đã nhiều lần khẳng định có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế./.