Thứ Tư, 27 tháng 9, 2023

 

Chuyển đổi số trong nông nghiệp nhằm phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt Nam

(LLCT) - Nông nghiệp là ngành kinh tế có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong GDP ngày càng giảm, song nông nghiệp vẫn giữ vai trò chiến lược trong dài hạn, là bệ đỡ quan trọng cho an ninh, an sinh, an dân của đất nước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, biến đổi khí hậu, dịch bệnh và nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì chuyển đổi số trong nông nghiệp là xu hướng tất yếu, là “chìa khóa” cho phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt Nam.


1. Vai trò của chuyển đổi số trong nông nghiệp và định hướng chuyển đổi số trong nông nghiệp ở Việt Nam

Cho đến nay, quan niệm về chuyển đổi số trong nông nghiệp cũng chưa nhất quán, song có thể hiểu: chuyển đổi số trong nông nghiệp là quá trình tích hợp và ứng dụng công nghệ số (dữ liệu lớn, điện toán đám mây, internet vạn vật…) vào toàn bộ hoạt động của ngành, làm thay đổi cách thức quản lý, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ truyền thống sang hiện đại và thông minh.

Chuyển đổi số sẽ mang lại lợi ích vượt trội và là tác nhân góp phần quan trọng vào phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt Nam, điều này được thể hiện qua các vai trò chủ yếu dưới đây:

Chuyển đổi số giúp ngành nông nghiệp Việt Nam giảm thiểu rủi ro, thiệt hại do biến đổi khí hậu. Nông nghiệp là ngành phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu. Việt Nam là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Thực tế cho thấy, biến đổi khí hậu với sự gia tăng nhiệt độ và thời tiết cực đoan đã và đang tác động trực tiếp đến tất cả lĩnh vực ngành nông nghiệp, như: giảm diện tích đất, giảm lưu lượng nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp; gia tăng cường độ các cơn bão, nước biển dâng và dịch bệnh; giảm đa dạng sinh học … Hệ quả tất yếu là làm giảm năng suất, chất lượng, thậm chí thất thu trong nông nghiệp. Ứng dụng công nghệ AI (trí tuệ nhân tạo), Data Analytics (phân tích dữ liệu) vào quản lý rủi ro sẽ giúp cảnh báo sớm (72 giờ trước khi cơn bão đi qua)(1), từ đó, các cấp, ngành, người nông dân sẽ có biện pháp ứng phó kịp thời, hạn chế được rủi ro do biến đổi khí hậu, sản xuất nông nghiệp hiệu quả và bền vững hơn.

Chuyển đổi số giúp ngành nông nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Ứng dụng công nghệ Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ sinh học đã giúp phân tích dữ liệu về môi trường, các loại đất, cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây. Dựa trên những dữ liệu được cung cấp, người sản xuất sẽ đưa ra những quyết định phù hợp (bón phân, tưới nước, phun thuốc bảo vệ thực vật, thu hoạch …), nhờ đó, giảm được chi phí, giảm ô nhiễm nguồn nước và đất đai, bảo vệ được sự đa dạng sinh học. Thực tế cho thấy, ứng dụng công nghệ số vào sản xuất nông nghiệp đã giảm được 1/2 chi phí và công lao động, giảm 50% khí thải nhà kính, tăng năng suất lên 30%, nhờ đó, tăng thu nhập cho nông dân(2). Hơn nữa, việc tích hợp và ứng dụng công nghệ số vào sản xuất giúp người tiêu dùng có thể truy xuất và theo dõi được các thông số này theo thời gian thực và yên tâm về chất lượng nông sản. Ngoài ra, ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp giúp tăng cường kết nối giữa người sản xuất, tiêu dùng, giữa cung - cầu, hạn chế được tình trạng “được mùa mất giá, được giá mất mùa”, nhờ đó sản xuất nông nghiệp hiệu quả và bền vững hơn.

Chuyển đổi số trong nông nghiệp giúp cho việc quản lý, điều hành ngành nói chung và doanh nghiệp nói riêng hiệu quả hơn. Đối với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), việc ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa vào trong điều hành, quản lý sẽ giúp cho việc ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn nhờ hệ thống báo cáo thông suốt kịp thời, làm tăng hiệu lực quản lý và hiệu quả điều hành. Đối với doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp, công nghệ số còn giúp tăng hiệu quả điều hành, cắt giảm chi phí vận hành, tiếp cận được nhiều khách hàng hơn. Nhờ đó, hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao. Vì vậy, chuyển đổi số trong nông nghiệp được xác định là tạo dựng môi trường, sinh thái số nông nghiệp làm nền móng, kiến tạo thể chế, thúc đẩy chuyển đổi từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” mà mục đích cuối cùng là nhằm phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững.

Nhận thức được tầm quan trọng của chuyển đổi số trong nông nghiệp, Chính phủ và Bộ NN&PTNT đã chủ động, quyết liệt thực hiện chuyển đổi số trong ngành nông nghiệp và coi đây là mục tiêu trọng điểm cụ thể:

Ngày 29-9-2019, Hiệp hội Nông nghiệp số Việt Nam (VIDA) được thành lập. Hiệp hội Nông nghiệp số có nhiệm vụ hoàn thiện hạ tầng công nghệ cho nông nghiệp, kết nối quốc tế và mở rộng thị trường; tìm kiếm, chọn lọc công nghệ phù hợp với từng mô hình canh tác, chế biến tại Việt Nam; thu hút đầu tư cho chế biến sâu, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp công nghệ số ở Việt Nam. Hiệp hội đã quy tụ được những doanh nghiệp, doanh nhân có tâm huyết, trách nhiệm để hiện thực hóa mục tiêu đưa nông nghiệp Việt Nam về đúng vị thế và tầm quan trọng trong nền kinh tế.

Ngày 3-6-2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó xác định, nông nghiệp là một trong 8 ngành được ưu tiên chuyển đổi số, với định hướng rõ chuyển đổi số của ngành. Cụ thể: (i) Phát triển nông nghiệp công nghệ cao theo hướng chú trọng nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác, tăng tỷ trọng của nông nghiệp công nghệ số trong nền kinh tế; (ii) Thực hiện chuyển đổi số trong nông nghiệp phải dựa trên nền tảng dữ liệu (đất đai, cây trồng, vật nuôi, thủy sản). Xây dựng mạng lưới quan sát, giám sát tích hợp trên không và mặt đất phục vụ các hoạt động nông nghiệp. Thúc đẩy cung cấp thông tin về môi trường, thời tiết, chất lượng đất đai để người nông dân nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, hỗ trợ chia sẻ các thiết bị nông nghiệp qua các nền tảng số; (iii) Ứng dụng công nghệ số để tự động hóa các quá trình sản xuất, kinh doanh; quản lý, giám sát nguồn gốc, chuỗi cung ứng sản phẩm, bảo đảm nhanh chóng, minh bạch, chính xác, an toàn, vệ sinh thực phẩm; …đào tạo ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, cung cấp, phân phối, dự báo (giá, thời vụ, ...) nông sản, đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử trong nông nghiệp; (iv) Thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ trong công tác quản lý để có các chính sách, điều hành kịp thời phát triển nông nghiệp như dự báo, cảnh báo thị trường, quản lý thu hoạch.

Trên cơ sở định hướng chuyển đổi số trong nông nghiệp của Chính phủ,  ngày 18-6-2021, Bộ NN&PTNT đã phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức Hội nghị trực tuyến về Chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tại Hội nghị, Bộ NN&PTNT đã đưa ra mục tiêu cho giai đoạn 2021-2025: Xây dựng 80% cơ sở dữ liệu về nông nghiệp, cập nhật trên nền tảng dữ liệu lớn. Cơ bản hoàn thành dữ liệu cây trồng, vật nuôi, thủy sản; xây dựng bản đồ số nông nghiệp sẵn sàng kết nối, chia sẻ và cung cấp dữ liệu mở phục vụ người dân, doanh nghiệp; xây dựng nền tảng ứng dụng công nghệ chuỗi khối để cung cấp thông tin môi trường, thời tiết, chất lượng đất đai(3).

Những định hướng, mục tiêu trên đã từng bước chuẩn bị điều kiện và tạo động lực để Việt Nam chủ động chuyển dần từ nền nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp công nghệ số.

2. Kết quả thực hiện chuyển đổi số trong nông nghiệp Việt Nam và một số rào cản

Trên cơ sở những định hướng trên, đến nay, hầu hết các công nghệ số cơ bản đã từng bước được ứng dụng trong các lĩnh vực của ngành nông nghiệp ở các địa phương. Một số doanh nghiệp lớn như VinEco, Hoàng Anh Gia Lai, Nafood, Dabaco, Vinamilk, TH True milk… đã ứng dụng công nghệ số vào điều hành sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Hiện cả nước có trên hai triệu hộ nông dân sản xuất nông nghiệp được đào tạo kỹ năng về chuyển đổi số, có gần 50 nghìn sản phẩm nông nghiệp được đưa lên các sản thương mại điện tử với hàng nghìn giao dịch được thực hiện(4). Ước tính hết năm 2021, cả nước có gần 12% tổng số doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ số vào sản xuất(5). Xét trên toàn ngành, đến nay, công nghệ số đã được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của ngành, từ quản lý đến sản xuất, tiêu thụ, cụ thể:

Thứ nhất, công nghệ số được ứng dụng trong quản lý, điều hành của Ngành

Để ứng dụng công nghệ số vào quản lý, điều hành các hoạt động của ngành, Bộ NN&PTNT đã số hóa văn bản chỉ đạo, cung cấp dữ liệu để kết nối, liên thông và chia sẻ với các địa phương, doanh nghiệp tham gia lĩnh vực nông nghiệp. Đến nay, Bộ NN&PTNT có 113 loại cơ sở dữ liệu và 32 phần mềm chuyên ngành phục vụ công tác quản lý, chuyên môn trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và thủy lợi đã được số hóa phục vụ quá trình chuyển đổi số ngành nông nghiệp. Ngoài ra, Bộ NN&PTNT còn ứng dụng công nghệ số vào tổ chức, chủ trì các Hội nghị trực tuyến giao ban của ngành; Hội nghị trực tuyến giữa lãnh đạo Bộ với các bộ, ngành liên quan và 63 điểm cầu cả nước nhằm thúc đẩy tiêu thụ nông sản trong điều kiện dịch bệnh Covid-19. Qua đó công tác quản lý, điều hành việc tiêu thụ nông sản thuận lợi, kịp thời và hiệu quả hơn..

Thứ hai, công nghệ số được ứng dụng vào lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Trong trồng trọt, công nghệ Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) được ứng dụng giúp phân tích dữ liệu về môi trường, các loại đất, cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây. Ở phía Nam, một số hợp tác xã, doanh nghiệp ở phía Nam đã thử nghiệm công nghệ máy bay không người lái để phun thuốc bảo vệ thực vật, bón phân; sử dụng robot để gieo hạt tự động, sử dụng tế bào quang điện để sản xuất điện năng từ năng lượng mặt trời phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Trong chăn nuôi, công nghệ IoT, Blockchain, công nghệ sinh học được ứng dụng rộng rãi ở trang trại chăn nuôi quy mô lớn. Trong đó, ngành chăn nuôi bò sữa ứng dụng công nghệ số nhiều nhất, nổi bật là các trang trại hiện đại của Tập đoàn TH True Milk và Công ty Vinamilk. Sử dụng công nghệ số trong chăn nuôi đã góp phần quan trọng trong giám sát dịch bệnh, sản lượng tiêu thụ, truy xuất nguồn gốc gia súc, gia cầm, quản lý chăn nuôi theo quy trình khoa học, an toàn dịch bệnh, nên lĩnh vực chăn nuôi ngày càng hiệu quả và bền vững hơn.

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, công nghệ DND mã vạch được ứng dụng trong quản lý giống lâm nghiệp và lâm sản; công nghệ GIS (công cụ dùng để thu thập, quản lý và phân tích dữ liệu từ không gian địa lý) và ảnh viễn thám dùng xây dựng các phần mềm cảnh báo cháy rừng từ ảnh vệ tinh, phần mềm giám sát trong quản lý rừng, phát hiện sớm suy thoái hay mất rừng, nhờ đó, góp phần đánh giá tài nguyên rừng một cách hiệu quả làm cơ sở phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

Trong lĩnh vực thủy sản, chuyển đổi số được thực hiện mạnh mẽ thông qua việc ứng dụng hệ thống sóng siêu âm, máy đo dòng chảy, hệ thống thu - thả lưới chụp, công nghệ GIS, thiết bị định vị toàn cầu (GPS) quản lý đội tàu khai thác hải sản xa bờ đã giúp cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy, hải sản hiệu quả. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo trong nuôi tôm đã giúp phân tích dữ liệu về chất lượng nước, quản lý thức ăn của tôm. Công nghệ tự động hóa được sử dụng trong chế biến thủy hải sản từ phân loại, hấp, đóng gói… cũng đã làm giảm chi phí, tiết kiệm nhân lực, thời gian, bảo đảm chất lượng nên tăng hiệu quả và bền vững.

Thứ ba, công nghệ số được ứng dụng trong tiêu thụ hàng nông sản

Hiện nay, công nghệ số đã được sử dụng trong kết nối tiêu thụ nông sản. Đặc biệt là trong đại dịch Covid 19 phải thực hiện giãn cách xã hội, làm đứt gãy chuỗi cung ứng hàng nông sản, công nghệ số đã được các địa phương sử dụng vào quảng bá, xúc tiến thương mại, đẩy mạnh phân phối và tiêu thụ nông sản, giúp cho ngành nông nghiệp vượt khó mùa dịch. Điển hình là tỉnh Hải Dương đã tổ chức Hội nghị kết nối, xúc tiến tiêu thụ vải thiều Thanh Hà và nông sản chủ lực của tỉnh qua hình thức trực tuyến với các tỉnh, thành trong nước và với 60 điểm cầu tại 22 quốc gia, vùng lãnh thổ cùng hàng trăm điểm cầu liên kết khác trong và ngoài nước(6) . Nhờ đó, đã mang lại kết quả tích cực cho nông sản trên địa bàn tỉnh: giá cao hơn hẳn so với trước đó và tiêu thụ dễ dàng hơn. Tại Bắc Giang, mùa vải thiều năm 2021 đúng lúc Bắc Giang là tâm dịch lớn nhất cả nước, được sự giúp đỡ của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Bộ Công thương, sản phẩm vải thiểu của địa phương đã được tiêu thụ trực tuyến ở 6 sàn thương mại điện tử lớn nhất của cả nước như: Sendo, Shopee; Tiki; Postmart ,ViettelPost (Voso), Lazada. Ngoài ra, còn được bán trực tuyến trên nền tảng online: facebook, zalo, youtube…Ứng dụng công nghệ số, đã giúp tiêu thụ 215 nghìn tấn, tăng 50 nghìn tấn so với kế hoạch, trong đó, xuất khẩu 89.300 tấn, còn lại tiêu thụ nội địa, giá ổn định từ đầu đến cuối vụ, thậm chí có thời điểm còn cao hơn những năm không có dịch và thu về 6.821 tỷ đồng, tương đương doanh thu năm 2020(7). Việc kết nối tiêu thụ nông sản trên nền tảng số đã tạo thuận lợi, minh bạch thông tin, giảm chi phí trung gian. Qua đó, tạo mối “liên kết - hợp tác” chặt chẽ, nhiều chiều giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp và nông dân, khắc phục điểm nghẽn của một nền sản xuất “manh mún, nhỏ lẻ, tự phát”; tạo ra các sản phẩm bảo đảm chất lượng, an toàn, trách nhiệm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường và người tiêu dùng.

Việc chủ động ứng dụng công nghệ số vào quản lý, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cho thấy, nông nghiệp Việt Nam đang dần chuyển từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại và sản xuất nông nghiệp ngày một hiệu quả và bền vững hơn.

Bên cạnh một số kết quả đạt được nêu trên, việc ứng dụng công nghệ số vào ngành nông nghiệp còn có những hạn chế như: không đồng bộ, khá manh mún, chủ yếu theo sáng kiến riêng lẻ của một số doanh nghiệp, địa phương và dường như vẫn làm theo tư duy cũ, chưa có chuỗi kết nối số, chưa có cách tiếp cận mới và toàn diện theo yêu cầu của chuyển đổi số. Ứng dụng công nghệ số vào nông nghiệp còn khiêm tốn, đến hết năm 2021, cả nước mới có khoảng 2.200/19.000 hợp tác xã nông nghiệp thực hiện chuyển đổi số, với gần 2% tổng số hộ nông nghiệp được tập huấn công nghệ số. Những hạn chế này xuất phát từ các rào cản sau:

Việc ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh nông sản ở Việt Nam khá mới mẻ nên nhận thức của phần lớn các địa phương, doanh nghiệp và nhất là nông dân còn hạn chế. Hầu hết các chủ thể chưa thấy được vai trò, tầm quan trọng cũng như áp lực phải ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Điều này gây khó khăn trong việc tiếp cận cũng như ứng dụng công nghệ số trong ngành nông nghiệp.

Hạ tầng công nghệ số còn lạc hậu, chi phí cao. Thực hiện chuyển đổi số trong ngành nông nghiệp đòi hỏi phải có hạ tầng số đồng bộ, hiện đại và hệ thống dữ liệu (cây trồng, vật nuôi, văn bản chính sách đã được số hóa). Song, hạ tầng kết nối của nước ta còn lạc hậu, không đồng bộ và chi phí 3G, 4G còn cao, chưa tạo cơ hội cho nông sản ở vùng sâu, vùng xa kết nối trực tiếp với hệ thống thương mại điện tử. Điều này gây khó khăn trong việc tiếp cận cũng như ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh nông nghiệp.

Hệ thống dữ liệu để tích hợp, chia sẻ hầu như chưa có hoặc chưa đáp ứng yêu cầu kết nối, liên thông, tích hợp. Hệ thống dữ liệu của bộ chưa tuân thủ Khung kiến trúc Chính phủ điện tử, vẫn chủ yếu dừng ở phiên bản 1.0. Ứng dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp, hộ sản xuất phần lớn cũng chưa đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số do thiếu cơ sở dữ liệu lớn cho sản xuất, thiếu minh bạch xuất xứ sản phẩm, thiếu kết nối chia sẻ thông tin của tất cả các khâu từ sản xuất, quản lý, logicstic, thương mại nông sản. Có thể nói, rào cản này là trở ngại lớn để thực hiện công nghệ số trong ngành nông nghiệp Việt Nam những năm tiếp theo. 

Trình độ nông dân - đội ngũ lao động trực tiếp đưa công nghệ số vào sản xuất còn thấp. Trong nông nghiệp công nghệ số, bên cạnh tư liệu sản xuất truyền thống, người nông dân còn phải sử dụng thêm dữ liệu số và công nghệ số. Do đó, bên cạnh kỹ năng sản xuất, nông dân phải có thêm tri thức, kỹ năng về thương mại, công nghệ nói chung, công nghệ số nói riêng và công nghệ sinh học… Tuy nhiên, trình độ khoa học học công nghệ của người nông dân nước ta còn thấp, năm 2020, cả nước mới có 16,3% lao động khu vực nông thôn đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật(8), riêng lao động nông, lâm, thủy sản trong độ tuổi chỉ có 10,03%(9) được đào tạo. Bên cạnh đó, hầu hết nông dân chưa được đào tạo bài bản về chuyển đổi số nên gặp khó khăn trong thao tác cũng như đánh giá hiệu quả. Có thể nói, rào cản này là trở ngại lớn nhất trong chuyển đổi số nông nghiệp trong giai đoạn tới.

Chính sách phục vụ chuyển đổi số trong nông nghiệp chưa phù hợp, chưa kịp thời. Các chính sách ban hành chưa phù hợp thực tiễn, chẳng hạn, chính sách tín dụng hỗ trợ nông nghiệp công nghệ cao mới chủ yếu hướng đến doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp cũng rất khó tiếp cận do thủ tục rườm rà, còn người nông dân - chủ thể trực tiếp sản xuất hầu như không được hưởng lợi. Bên cạnh đó, chưa có chính sách khuyến khích giao dịch điện tử tiếp cận khách hàng quốc tế…

3. Giải pháp đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam

Chuyển đổi số trong nông nghiệp là một tất yếu. Để chuyển đổi số trong nông nghiệp được thuận lợi cần sự vào cuộc, phối hợp của các cơ quan, ban ngành từ Trung ương đến địa phương và đặc biệt là người nông dân phải sẵn sang thay đổi tư duy, tiếp cận khoa học, công nghệ. Vì vậy, để chuyển đổi số trong nông nghiệp phát triển mạnh mẽ trong những năm tới đòi hỏi Nhà nước, Bộ NN&PTNT, các bộ, ban ngành có liên quan và đặc biệt là các địa phương, cần phải tập trung vào thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức của các địa phương, doanh nghiệp và nhất là người nông dân về vai trò, tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh trong ngành nông nghiệp. Đây là yếu tố tiên quyết trong chuyển đổi số. Chỉ khi nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của thực hiện công nghệ số trong ngành nông nghiệp thì các địa phương, doanh nghiệp và người nông dân mới tích cực học hỏi, ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Muốn vậy, phải đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông tuyên truyền trên các phương tiên thông tin dại chúng, các hội nghị, hội thảo, các mô hình khuyến nông về sự cần thiết cũng như vai trò, lợi ích của ứng dụng công nghệ số vào quản lý điều hành, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu, công nghệ 4.0 và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đó, nâng cao nhận thức cho các chủ thể sản xuất, kinh doanh nông nghiệp nhất là nông dân - chủ thể chính và trực tiếp của ngành nông nghiệp, tạo nền móng cho chuyển đổi số trong ngành nông nghiệp. 

Hai là, nâng cấp và tiến tới xây dựng hạ tầng công nghệ số hiện đại và đồng bộ với chi phí cạnh tranh. Thực hiện giải pháp này sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận và ứng dụng công nghệ số vào ngành nông nghiệp. Muốn vậy, Bộ NN&PTNT phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông phát triển hạ tầng và kết nối mạng internet băng thông rộng chất lượng cao (hạ tầng mạng di động 4G, 5G, hạ tầng kết nối IoT) đến tận xã, thôn, bản; nâng cao chất lượng và năng lực tiếp cận dịch vụ viễn thông cho người dân; nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ viễn thông, hỗ trợ người nông dân sử dụng thiết bị công nghệ thông tin (cung cấp mạng internet không dây) miễn phí tại trung tâm các xã, các điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng, điểm du lịch nông thôn; tiến tới, phổ cập hạ tầng số theo hướng mỗi hộ nông dân một điện thoại thông minh, một đường cáp quang phổ cập định danh số cho nông dân.

Ba là, đẩy nhanh xây dựng hệ thống dữ liệu ngành nông nghiệp, nhất là dữ liệu đất đai, cây, con, vùng trồng, người trồng, số lượng sản phẩm và dịch vụ nông nghiệp, số hóa văn bản điều hành của Bộ. Có thể nói, thực hiện giải pháp này tạo dữ liệu để ngành nông nghiệp tích hợp, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ số. Trước hết, Bộ NN&PTNT phối với với Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng và chuẩn hóa cơ sở dữ liệu của ngành, xây dựng bản đồ số nông nghiệp trên nền tảng dữ liệu lớn đồng bộ để kết nối, chia sẻ và cung cấp dữ liệu mở; xây dựng phần mềm quản lý, giám sát, đánh giá, phân loại sản phẩm nông nghiệp, nhất là sản phẩm đặc trưng của từng địa phương; khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, môi trường, thời tiết… cung cấp cho người dân và doanh nghiệp theo đúng mục tiêu đề ra. Bên cạnh đó, khuyến khích người dân, doanh nghiệp số hóa các quy trình sản xuất, tiến tới tích hợp, minh bạch sản phẩm bằng hệ thống quét mã QR. 

Bốn là, nâng cao trình độ, năng lực tiếp cận và đưa công nghệ số vào sản xuất nông nghiệp cho nông dân. Trước hết, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn và phổ biến nội dung chuyển đổi số, khai thác dịch vụ số an toàn trên không gian mạng vào chương trình học các bậc học phổ thông. Bên cạnh đó, Bộ NN&PTNT cùng Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công Thương phối hợp triển khai công tác đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ công nghệ thông tin, chuyển đổi số, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, khai thác dịch vụ số cho bà con nông dân, chủ trang trại. Từ đó, người sản xuất sẽ nâng cao kỹ năng quảng bá sản phẩm, kỹ năng livestream, tạo điều kiện để người nông dân tiếp cận trực tiếp với khách hàng, hiểu và nắm rõ nhu cầu, xu hướng tiêu dùng của thị trường để tổ chức sản xuất hiệu quả và đáp ứng nhu cầu của thị trường, khắc phục tình trạng “trồng chặt”. Ngoài ra, phát động doanh nghiệp công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn thông qua phổ biến một số nền tảng chuyển đổi số quan trọng, ứng dụng công nghệ số vào chăm sóc, truy xuất nguồn gốc, kết nối cung - cầu giữa người dân và doanh nghiệp.

Năm là, xây dựng và hoàn thiện chính sách phục vụ chuyển đổi số trong nông nghiệp phù hợp và kịp thời, tạo động lực thúc đẩy công cuộc chuyển đổi số ngành nông nghiệp đúng trọng tâm và hiệu quả. Trước hết, Bộ NN&PTNT chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan, tham mưu cho Chính phủ  xây dựng hệ thống chính sách phục vụ chuyển đổi số phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm theo hướng tạo điều kiện thuận lợi phục vụ chuyển đổi số của Ngành; hỗ trợ các chủ thể nông nghiệp có đủ nguồn lực để ứng dụng công nghệ số, phát triển nguồn nhân lực số, liên kết cộng đồng doanh nghiệp số; rà soát, sửa đổi bổ sung các nội dung, định mức hỗ trợ của Nhà nước cho ứng dụng các công nghệ cao, công nghệ số vào nông nghiệp; đơn giản thủ tục tiếp cận hạ tầng công nghệ, đất đai, nguồn vốn; rà soát, bổ sung chính sách khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ số về các lĩnh vực kinh tế, thương mại, y tế, giáo dục…đầu tư vào nông nghiệp.  

__________________

(1) Chu Khôi, Đức Long: Số hóa chuỗi giá trị sản xuất, tiêu thụ nông sảnhttp://vneconomy.vn, ngày 17-11-2021

(2) Ứng dụng công nghệ số vào canh tác nông nghiệp, Bản tin VTV6 ngày 08-6-2021.

(3) Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Hội nghị trực tuyến về chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thônhttps://www.mard.gov.vn, ngày 18-6-2021.

(4) Nguyễn Kiểm: Diễn đàn nông dân với chuyển đổi số trong nông nghiệphttps://www.qdnd.vn, ngày 02-12-2021.

(5) Ban Kinh tế Trung ương, Hội thảo: “Chuyển đổi số nông nghiệp - nông thôn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Hà Nội, ngày 17-12-2021. 

(6) Phương Thảo: Hội nghị kết nối, xúc tiến tiêu thụ vải thiều Thanh Hà và nông sản tiêu biểu tỉnh Hải Dương năm 2021https://moit.gov.vn, ngày 18-5-2021.

(7) Minh Anh, Sàn thương mại điện tử góp phần đẩy mạnh tiêu thụ vải cho người dân Bắc Gianghttps://dangcongsan.vn, ngày 13-7-2021.

(8) Tổng cục Thống kê: Niên Giám Thống kê 2020, Nxb Thống kê, Hà Nôi, 2021, tr.160

(9) Tổng cục Thống kê: Thông cáo báo chí vê Kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp giữa kỳ năm 2020.

Nguồn: TS NGUYỄN THỊ MIỀN

Viện Kinh tế,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


Thứ Ba, 26 tháng 9, 2023

Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch

 

Để tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch, đặc biệt là trên không gian mạng trong tình hình hiện nay, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

 

    Thứ nhất, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay. Mọi cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ thường xuyên nâng cao cảnh giác, nhận thức đúng đắn và thấy rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch để không bị mơ hồ, mất cảnh giác, vô tình tiếp tay cho chúng, luôn vững vàng trước sự chống phá của địch. Nội dung giáo dục nâng cao tập trung vào âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”  của các thế lực thù địch hiện nay; hoạt động chống phá trên không gian mạng; lợi dụng “phản biện” xã hội để phủ nhận chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Tổ chức học tập, nghiên cứu các tài liệu, chuyên đề liên quan đến âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch nhằm nâng cao cho mọi cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ ý thức cảnh giác cách mạng, nhận thức đúng bản chất hoạt động chống phá này, chủ động phòng ngừa, đấu tranh.

 

    Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, quy định về quan hệ, tiếp xúc với cá nhân, tổ chức nước ngoài của quân nhân như: Thông tư số 202/2016/TTBQP, ngày 12/12/2016 của Bộ Quốc phòng quy định về bảo đảm an toàn thông tin trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Công văn số 630/BVAN-P9, ngày 22/02/2019 của Cục Bảo vệ an ninh Quân đội về việc hướng dẫn thực hiện công tác Bảo vệ an ninh cá nhân, tổ chức nước ngoài của quân nhân; Quy chế tổ chức, quản lý và phối hợp các hoạt động đối ngoại quân sự ban hành kèm theo Thông tư số 88/2010/7TBQP, ngày 02/7/2010 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).

 

    Thứ hai, tăng cường vai trò cấp ủy Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp các tổ chức, các lực lượng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần thường xuyên quan tâm làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, xây dựng động cơ, thái độ đúng đắn trong bồi dưỡng; xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng, phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay. Ban Chỉ đạo 35 cần tiếp tục kiện toàn cơ cấu, tổ chức bảo đảm sự đồng bộ và hoạt động thường xuyên có hiệu quả. Thường xuyên bám sát tình hình thực tiễn tham mưu, đề xuất  với cấp ủy, tổ chức đảng chủ trương, biện pháp lãnh đạo tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Chủ động dự báo, nắm bắt, theo dõi, phát hiện những quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng để tổng hợp, phân tích, cung cấp những thông tin cần thiết, kịp thời, làm tư liệu, tài liệu đấu tranh có hiệu quả; định hướng dư luận nhân dân và cán bộ, đảng viên, quân nhân nhận thức đúng đắn về chức năng, nhiệm vụ của quân đội, bảo vệ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. 

 

    Thứ ba, thường xuyên rà soát, nắm và quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nhất là về chính trị tư tưởng của mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Từng cơ quan, đơn vị phải tích cực, chủ động, bổ sung kiện toàn kế hoạch bảo vệ chính trị nội bộ, phòng chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ của đơn vị mình; đồng thời, thường xuyên đánh giá quá trình tổ chức thực hiện một cách chặt chẽ, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những tư tưởng lệch lạc, sai trái, không để các thế lực thù địch móc nối, lôi kéo quân nhân tham gia vào hoạt động chống phá. Thực hiện phòng chống cả hai phía, phía địch tiến công ta bằng các thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và phía ta “tự diễn biến”. Phát huy vai trò, nâng cao hiệu quả Ban chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa. Thứ tư, tổ chức lực lượng nòng cốt đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

 

    Tích cực chia sẻ, lan tỏa các bài viết, hình ảnh tốt đẹp của các đơn vị quân đội; các cơ quan, đơn vị chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng của địa phương theo dõi nắm chắc tình hình, phát hiện các hoạt động tụ tập biểu tình trái pháp luật, kịp thời định hướng tư tưởng bộ đội và nhân dân; xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống có thể xảy ra; thường xuyên “bám mạng”, nắm, báo cáo kịp thời thông tin tình hình trên internet, mạng xã hội, chủ động báo cáo, cung cấp các thông tin về hoạt động của các thế lực thù địch để phối hợp, triển khai các biện pháp đấu tranh kịp thời; tập trung chia sẻ các tin bài, video clip theo chỉ đạo, định hướng của Trung ương, Ban Chỉ đạo 35 và cơ quan báo chí quân đội.

 

    Thứ năm, đẩy mạnh xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật và chấp hành pháp luật để tăng cường sức mạnh chính trị, tinh thần cho bộ đội. Coi trọng xây dựng ý thức tự giác của mỗi quân nhân trong chấp hành nền nếp chế độ; xây dựng mối đoàn kết tốt trong nội bộ, đoàn kết quân - dân, làm tốt công tác vận động nhân dân trong tình hình mới. Kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, hành vi sai trái trong đơn vị, thái độ thiếu trách nhiệm, ngại khó khăn gian khổ. Bằng nhiều hình thức, biện pháp, chủ động phối hợp, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn không để cho các “cơ sở xã hội” của các tổ chức “xã hội dân sự” tiến hành các hoạt động tuyên truyền, lôi kéo, tác động tới cán bộ, chiến sĩ, quần chúng nhân dần để thực hiện ý đồ của chúng. Mặt khác, tích cực phối hợp giữa các ngành, các cấp trong tham gia xây dựng, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở; kết hợp chặt chẽ với công tác xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng đơn vị an toàn gắn với địa bàn an toàn đủ sức ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

 

    Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay là một dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, là công việc tự giác, thường xuyên của các cấp ủy,

tổ chức đảng, các tổ chức quần chúng và của từng cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong quân đội. Sự quyết tâm thực hiện một số giải pháp nêu trên sẽ góp phần tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng, chỉ rõ vấn đề, giúp nâng cao nhạn thức, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Một số hoạt động mà các thế lực thù địch tập trung tăng cường chống phá đối với quân đội

 

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch tăng cường chống phá đối với quân đội, tập trung vào một số hoạt động sau:

 

    Thứ nhất, hoạt động tuyên truyền chống phá Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; với các luận điệu: Đưa ra những đồn đoán về nhân sự cấp cao và bộ máy Đảng và Nhà nước; xuyên tạc nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Quốc hội; tung tin xuyên tạc, nói xấu, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và một số cán bộ chủ chốt các cấp; đồng thời, khuyếch trương một số đối tượng tuyên bố ứng cử đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp. 

 

    Thứ hai, lợi dụng một số cán bộ có biểu hiện thoái hóa biến chất, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các đối tượng tán phát nhiều tài liệu, bài viết, “Thư ngỏ” trên các trang mạng xã hội tuyên truyên, kêu gọi cán bộ, đảng viên trong quân đội “từ bỏ chế độ”, “từ bỏ Đảng”, “ủng hộ” phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền của người dân, tham gia “phong trào đấu tranh lật đổ chế độ”. Điển hình là việc lợi dụng ông Chu Hảo tuyên bố “bỏ Đảng” và việc đối tượng Lê Văn Thương tự xưng là sĩ quan quân đội có quan điểm ủng hộ ông Chu Hảo, chúng tuyên truyền xuyên tạc vai trò của Đảng Cộng sản Vỉệt Nam và đã có nhiều quân nhân “tự nguyện xin rời bỏ quân đội”, “từ bỏ Đảng” để “tham gia đấu tranh dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam, qua đó kích động cán bộ, đảng viên, quân nhân “từ bỏ Đảng”.

 

    Thứ ba, lợi dụng các vấn đề nhạy cảm dễ gây bức xúc trong đời sống xã hội liên quan đến quân đội, các đối tượng tán phát tài liệu trên không gian mạng nói xấu nội bộ, lãnh đạo, chỉ huy quân đội, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta, gây hoài nghi, bức xúc trong xã hội, tác động xấu tới tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Đơn cử, lợi dụng sự việc liên quan đến đất quốc phòng tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội các đối tượng tán phát nhiều tài liệu tuyên truyền xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta, gây bức xúc và hoài nghi trong nhân dân về thực trạng quản lý, sử dụng đất quốc phòng, về vấn đề quân đội làm kinh tế và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội, tác động xấu tới tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Các đối tượng trong nhóm “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng”, “Câu lạc bộ Phan Tây Hồ” và một số cá nhân đã ký tên vào “Thư ngỏ” gửi Thủ tướng Chính phủ có nội dung xuyên tạc cho rằng trong quân đội có “nhóm lợi ích”, đề nghị Chính phủ tổ chức hội thảo về việc thu hồi sân golf, thu hồi toàn bộ đất quốc phòng sử dụng  không đúng mục đích để phục vụ công ích.    

 

    Thứ tư, lợi dụng các sự việc Bộ Chính trị xử lý kỷ luật một số cán bộ cấp cao của quân đội; lợi dụng các thông tin, tài liệu, hình ảnh có liên quan đến quân đội do báo chí phản ánh để lồng ghép các hình ảnh, bài viết nói xấu, hạ uy tín chỉ huy, tướng lĩnh và cán bộ, chiến sĩ, gây ảnh hưởng tới hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Một số đối tượng xấu ngoài xã hội giả danh cán bộ cấp cao quân đội, giả mạo tài liệu, con dấu để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người dân; mạo danh cán bộ cấp cao, nhà khoa học của quân đội để vận động thành lập “Ban liên lạc Người có công” nhằm trục lợi về kinh tế bị cơ quan chức năng phát hiện, điều tra làm rõ, báo chí phản ánh cũng được chúng triệt để lợi dụng để tán phát tài liệu chống phá. Thâm độc hơn, chúng móc nối, chỉ đạo một số đối tượng giả danh cán bộ, chiến sĩ trà trộn vào các cuộc tuần hành, biểu tình của người dân liên quan đến việc phản đối Dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt sau đó chụp ảnh, quay video clip tán phát trên không gian mạng, tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta, hô hào, lôi kéo người dân biểu tình gây ảnh hưởng tới uy tín của quân đội. 

 

    Thứ năm, làm mới thông tin cũ, bịa đặt thông tin mới được chúng tiến hành khá “bài bản”. Thông tin cũ được lựa chọn để “làm mới” và “thông tin mới được lựa chọn để bịa đặt” thường là những đoạn video clip hoặc hình ảnh có liên quan đến mối quan hệ cán bộ với chiến sĩ trong đơn vị; quan hệ quân - dân, v.v... các đối tượng lồng ghép, giật tít như “cán bộ hành hung chiến sĩ”, “chiến sĩ cũ đánh chiến sĩ mới”, “hành động trù dập”... hoặc khuấy lại các vụ việc đã được xử lý, giải quyết từ lâu nhưng chúng đưa ra “làm mới”; những thông tin mới, mặc dù đã có kết luận của các cơ quan nhưng chúng bịa đặt, xuyên tạc, bình luận một chiều. Thời điểm tán phát để “làm mới” hoặc bịa đặt thường là trước mùa tuyển quân, trước các sự kiện chính trị của đất nước, quân đội... nhằm mục đích tác động, tạo tâm lý lo lắng, kích động thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự, gây dư luận trái chiều trong xã hội, làm ảnh hưởng uy tín và giảm sức mạnh chiến đấu của quân đội.

 

    Thứ sáu, kích động chia rẽ nội bộ quân đội, chia rẽ quân đội với các bộ, ngành, địa phương. Thời gian qua, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của quân đội, kích động gây chia rẽ nội bộ quân đội. Điển hình như: Liên quan đến việc ngày 10/8/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về Dự án Luật Biên phòng Việt Nam, tại hội nghị này, đồng chí Thứ trưởng Bộ Công an và đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đưa ra các ý kiến về thẩm quyền duy trì công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới, cửa khẩu. Lợi dụng vấn đề này, trang phản động Việt Tân phát tán tài liệu “Bộ Công an giành quyền kiểm soát biên giới với Bộ Quốc phòng”. 

 

    Thứ bảy, móc nối, lôi kéo người trong nội bộ quân đội, cán bộ quân đội nghỉ hưu tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội. Tiêu biểu như: Đối tượng Phạm Thị Hoài Thương (nguyên là Nhân viên văn thư thuộc Phòng Tổ chức cán bộ, Cục Điều tra Hình sự, Bộ Quốc phòng) đăng tải video xuyên tạc nội dung liên quan đến tình hình chính trị trong nước; kêu gọi “dân oan, quân oan” tụ tập biểu tình ngày 19/5/2020 tại Văn phòng Tiếp công dân Trung ương (Số 1, Ngô Thì Nhậm, phường Quang Trung, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) thông qua mạng xã hội, đồng thời mặc quân phục tại buổi tụ tập. Đáng chú ý, đối tượng thường xuyên đăng tải video mang quân phục nói xấu lãnh đạo Bộ Quốc phòng. Ngoài ra, lợi dụng các hoạt động du lịch, đối ngoại, hợp tác, giao lưu quốc phòng, quân nhân ra nước ngoài học tập, công tác, các cơ quan đặc biệt nước ngoài đã tăng cường thâm nhập, thu thập tình báo; tác động, móc nối, lôi kéo quân nhân cộng tác, cung cấp thông tin, tài liệu mật. Đáng chú ý, đã phát hiện kẻ địch cài đặt thiết bị thu thập thông tin tại khu vực vành đai an toàn của đơn vị quân đội; phương thức, thủ đoạn, hoạt động của chúng rất táo bạo, lợi dụng đêm tối, khu vực vắng người, xâm nhập vào khu vực vành đai an toàn của đơn vị để cài đặt các thiết bị thu tin, máy quan sát và ngụy trang kín đáo, tinh vi tránh bị phát hiện.  

Đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng

 

Hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng internet, mạng xã hội để phát tán nhiều loại thông tin sai trái, thù địch, độc hại nhằm chống phá cách mạng nước ta, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, làm giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay là hết sức cần thiết.

 

    1. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với sự bùng nổ của internet, mạng xã hội và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường, hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch ngày càng gia tăng. Thủ đoạn hiện nay của chúng là triệt để lợi dụng không gian mạng, nhất là các trang mạng xã hội để tán phát các tài liệu, bài viết, lồng ghép các hình ảnh, tạo các video clip tuyên truyền các thông tin có nội dung xuyên tạc, nói xấu nội bộ, đả kích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; kích động, xuyên tạc bản chất cách mạng, chức năng, nhiệm vụ quân đội, bôi nhọ lãnh đạo, chỉ huy, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” nhằm từng bước thẩm thấu, tác động vào nhận thức, tình cảm, gây hoài nghi trong cán bộ, chiến sĩ về đường lối lãnh đạo của Đảng, thực trạng của xã hội, vai trò của quân đội hiện nay với mục đích làm cho nội bộ dao động về tư tưởng, giảm sút niềm tin và ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ tiến tới thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội. 

    

    Bên cạnh thủ đoạn trên, các đối tượng còn khai thác việc quân nhân có những phát ngôn hoặc trả lời phỏng vấn của các cơ quan báo chí, truyền thông có nội dung chưa chính xác về những vấn đề nhạy cảm để tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước; tạo ra những phản ứng trái chiều, phức tạp trong xã hội, tác động tiêu cực đến lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Đáng chú ý, khi các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là báo chí đưa thông tin về các vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật của quân nhân, các vấn đề được dư luận quan tâm trên lĩnh vực quốc phòng như: Việc sử dụng đất quốc phòng tại một số đơn vị; những sai phạm, khuyết điểm của một số cán bộ, chỉ huy quân đội... nhiều báo điện tử “rầm rộ” đưa lại thông tin với những tiêu đề “giật gân” nhằm thu hút sự chú ý của dư luận, tác động xấu tới tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ và dư luận nhân dân đối với quân đội, làm suy giảm uy tín của quân đội; tạo điều kiện cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để tuyên truyền chống phá.

Tăng cường quản lý nhà nước trong xây dựng giai cấp công nhân hiện nay

 

Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng giai cấp công nhân. Vai trò của giai cấp công nhân được thể hiện thông qua vai trò của Nhà nước của mình. Do đó, một mặt cần kiện toàn, xây dựng Nhà nước vững mạnh; mặt khác, Nhà nước cần tăng cường trách nhiệm của mình trong việc xây dựng giai cấp công nhân. Nhà nước ta, trong cơ cấu tổ chức cũng như trong hoạt động thực tiễn của mình cần thể hiện rõ hơn là Nhà nước của giai cấp công nhân. Các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước cần thể hiện quan điểm, lập trường, lợi ích và quyền lợi của giai cấp công nhân. Đường lối cán bộ cần quán triệt một cách sâu sắc lập trường giai cấp công nhân. Công tác tuyển chọn, đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý cần chú trọng đến những người ưu tú xuất thân từ công nhân, tăng cường tỷ lệ công nhân trong bộ máy nhà nước, sao cho “Nhà nước, tức là giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị”, phải được thể hiện bằng những việc làm thực tế. Các cơ quan nhà nước phải thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân thành cơ chế, chính sách và luật pháp. Với trách nhiệm quản lý điều hành, Nhà nước phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế với việc bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân; chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của giai cấp công nhân; bảo đảm cho Nhà nước thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Chỉ đạo, kiểm tra các cấp, các doanh nghiệp triển khai thực hiện nghiêm túc Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn, thực sự tôn trọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân và NLĐ, phát huy vai trò của Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Nghiên cứu bổ sung các quy định về trách nhiệm của các chủ doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp do nước ngoài đầu tư đối với tổ chức Công đoàn. Nhà nước cần tạo điều kiện để công nhân thật sự phát huy quyền làm chủ của mình, thực sự góp tiếng nói xứng đáng của mình trong hoạch định đường lối, chính sách và trong việc quản lý Nhà nước và xã hội, quản lý doanh nghiệp.

 

 

 

Đào tạo đội ngũ cán bộ công đoàn hiện nay

 

Phải đào tạo được một đội ngũ cán bộ công đoàn có năng lực và phẩm chất tốt đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ mới. Cán bộ công đoàn phải là người trưởng thành từ công nhân, từ phong trào công đoàn, am hiểu, gắn bó và gần gũi công nhân, giữ vững và phát huy được bản chất cách mạng của giai cấp công nhân; nắm vững pháp luật và chính sách, có năng lực và bản lĩnh đại diện cho công nhân; nắm vững và biết vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong công tác công đoàn; không bị những yếu tố tiêu cực của cơ chế thị trường làm cho biến chất trở thành tổ chức phường hội. Người cán bộ công đoàn phải biết động viên, tổ chức công nhân hợp lý hoá sản xuất, cải tiến kỹ thuật và công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, đạt hiệu quả kinh doanh lớn nhất tạo ra nhiều sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Thực hiện được những điều nói trên, Công đoàn sẽ góp phần thiết thực và đóng vai trò lớn trong công tác xây dựng đội ngũ công nhân Việt Nam, làm cho giai cấp công nhân Việt Nam thực sự thể hiện được vai trò của nó trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NGUYỄN PHÚ TRỌNG 
CHỦ TRÌ ĐÓN TỔNG THỐNG MỸ JOE BIDEN-  DƯ LUẬN  VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA BÁO CHÍ  THẾ GIỚI VỀ MỐI QUAN HỆ VIỆT - MỸ HIỆN NAY

 

Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Joe Biden có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10-11/9 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Kết quả nổi bật nhất của chuyến thăm chính là việc hai nước chính thức nâng cấp lên quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện, mở ra  một giai đoạn lịch sử mới của tình hữu nghị và hợp tác song phương.

Tổng thống Joe Biden thăm cấp nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10-11/9 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của Tổng thống Joe Biden kể từ khi ông nhậm chức đầu năm 2021. Sự kiện diễn ra vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện.

Tổng thống Joe Biden đến Việt Nam ngay sau khi dự Hội nghị thượng đỉnh G20 tại New Delhi, Ấn Độ. Chuyến thăm Việt Nam của ông Joe Biden thu hút sự chú ý từ truyền thông quốc tế, nhiều hãng tin lớn trên thế giới đăng tải những thông điệp tích cực của chuyến đi đến quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

AFP cho rằng, "chuyến thăm này là một bước tiến đáng chú ý trong việc tăng cường quan hệ ngoại giao giữa hai nước". Theo France 24, việc các đời Tổng thống Hoa Kỳ đều có chuyến thăm tới Việt Nam, kể từ chuyến thăm của Tổng thống Bill Clinton vào tháng 11/2000, đã phản ánh vai trò của Việt Nam trong mạng lưới đối tác của Hoa Kỳ ở khu vực.

Đưa tin về chuyến thăm, Reuters và NBC News đều nhận định Hoa Kỳ giờ đây coi Việt Nam là một "đối tác quan trọng trong khu vực".

"Chúng ta có mối quan hệ rất tốt với Việt Nam và mối quan hệ đó đang được cải thiện trên nhiều lĩnh vực. Vì thế, chúng tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm cơ hội để cải thiện mối quan hệ đó. Đây là mối quan hệ quan trọng ở một khu vực rất quan trọng trên thế giới", kênh CNN dẫn lời người phát ngôn Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ John Kirby nói, khi đưa tin về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Joe Biden.

Báo Economist, Anh, cho biết ông Biden là Tổng thống Mỹ thứ 5 tới Việt Nam trong thời gian tại nhiệm. Dù vậy, sự kiện lần này chắn chắn có ý nghĩa quan trọng nhất kể từ chuyến thăm của Tổng thống Bill Clinton năm 2000, do đây là lần đầu tiên một Tổng thống Mỹ thăm cấp nhà nước theo lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Báo Washington Post dẫn lời Thomas Vallely, người từng tham gia lên kế hoạch thăm Việt Nam cho nhiều lãnh đạo Mỹ cho hay, về mặt lịch sử, đây là chuyến thăm Việt Nam "có ý nghĩa lớn lao nhất từ trước đến nay của một tổng thống Mỹ" và sẽ góp phần tăng cường quan hệ giữa hai quốc gia.

Theo Diplomat, sẽ rất tuyệt vời nếu Tổng thống Hoa Kỳ có thể "ở lại Hà Nội lâu hơn, dạo quanh hồ Hoàn Kiếm và thậm chí ghé vào một quán ăn ven đường để thưởng thức hương vị địa phương, như Tổng thống Barack Obama đã làm cách đây 7 năm". "Dù vậy, chuyến thăm Hà Nội của Tổng thống Joe Biden vẫn được coi là một thời khắc lịch sử trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ", Diplomat bình luận.

Các trang tin, tờ báo ở khu vực cũng đồng loạt đưa tin về chuyến thăm với những nhận định tích cực.

Trích dẫn lời của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, The Business Times của Singapore khẳng định, chuyến thăm "sẽ phát triển quan hệ song phương một cách bền vững, thực chất và lâu dài, đóng góp cho hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực và trên thế giới", nhấn mạnh "Washington đang coi Việt Nam là một đối tác quan trọng".

 

TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NGUYỄN PHÚ TRỌNG CHỦ TRÌ ĐÓN TỔNG THỐNG MỸ JOE BIDEN

Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Joe Biden có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10-11/9 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Kết quả nổi bật nhất của chuyến thăm chính là việc hai nước chính thức nâng cấp lên quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện, mở ra  một giai đoạn lịch sử mới của tình hữu nghị và hợp tác song phương.

Chiều 10/9, chuyên cơ chở Tổng thống Joe Biden đáp xuống sân bay quốc tế Nội Bài. Sau đó, đoàn xe chở Tổng thống Joe Biden và Đoàn đại biểu cấp cao Hoa Kỳ di chuyển về Phủ Chủ tịch. Tại đây, Lễ đón chính thức Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden được tổ chức trọng thể theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Lễ đón. Đây là lần đầu tiên một Tổng thống Hoa Kỳ thăm cấp Nhà nước theo lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chuyến thăm diễn ra đúng dịp kỷ niệm 10 năm hai nước xác lập Quan hệ Đối tác Toàn diện. Đây cũng là sự tiếp nối truyền thống trong gần 30 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hoa Kỳ.

Tại hội đàm, trong không khí hữu nghị, bình đẳng, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, hai Nhà lãnh đạo đã trao đổi sâu rộng, toàn diện và đạt kết quả tốt đẹp.

Phát biểu tại gặp gỡ báo chí ngay sau hội đàm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Vì lợi ích của nhân dân hai nước và mong muốn tăng cường hợp tác nhằm các mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững trong bối cảnh mới, tôi và ngài Tổng thống Joe Biden đã thay mặt hai nước thông qua Tuyên bố chung, thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác, phát triển bền vững".

Quan hệ đối tác đó tiếp tục dựa trên cơ sở tôn trọng đầy đủ những nguyên tắc cơ bản định hướng cho quan hệ hai nước thời gian qua, trong đó có tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Tổng Bí thư mong muốn qua chuyến thăm quan trọng và đầy ý nghĩa này, Tổng thống Joe Biden và Đoàn đại biểu cấp cao Hoa Kỳ có thêm dịp để cảm nhận trực tiếp về đất nước Việt Nam đổi mới, phát triển năng động, có nền văn hiến, lịch sử lâu đời và người dân Việt Nam giàu tình cảm, hiếu khách, hữu nghị và yêu chuộng hòa bình.

Bày tỏ vui mừng khi hai nước nâng cấp quan hệ, Tổng thống Joe Biden nhấn mạnh đây là một bước đi vô cùng quan trọng cho cả hai quốc gia bởi nó thể hiện sức mạnh của bản thân mối quan hệ đó khi hai nước đang phải đương đầu với những thách thức có tác động to lớn đối với tương lai của khu vực và cả thế giới.

Theo Tổng thống Hoa Kỳ, để có được những tiến triển trong quan hệ hai nước hiện nay là những nỗ lực của lãnh đạo, người dân của cả hai quốc gia. "10 năm trước đây khi tôi là Phó Tổng thống, hai nước chúng ta đã đạt được một cột mốc lớn khi xác lập mối Quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước. Tổng thống Joe Biden nhấn mạnh: “Tôi vô cùng tự hào về cách thức mà hai quốc gia và nhân dân hai nước chúng ta đã tiến hành xây dựng lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau để có thể xử lý các hậu quả đau đớn mà cuộc chiến tranh đã để lại cho cả hai dân tộc chúng ta".

Sau chuyến thăm của Tống thống Mỹ Joe Biden và sự đón tiếp trọng thị của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sẽ có những chương mới mở ra trong quan hệ tốt đẹp của hai nước./.

Phát huy trách nhiệm công đoàn trong xây dựng giai cấp công nhân hiện nay

 

Công đoàn coi trọng tham gia củng cố, xây dựng các cơ sở kinh tế nhà nước, góp phần khắc phục yếu kém của nó để kinh tế nhà nước thực sự đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, từ đó mà nâng cao vai trò nòng cốt của đội ngũ công nhân khu vực kinh tế nhà nước. Công đoàn phải là nhân tố tích cực trong việc xây dựng khối liên minh công - nông - trí thức. Công đoàn phải là cầu nối giữa Đảng với giai cấp công nhân, là chỗ dựa về tổ chức để phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng công nhân, giới thiệu những công nhân ưu tú vào Đảng. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng với Công đoàn và ngược lại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, Công đoàn phải góp phần tích cực và đóng vai trò chủ đạo trong việc định hướng, quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức đại diện của NLĐ tại doanh nghiệp. Tổ chức bộ máy của công đoàn phải gọn nhẹ, hoạt động đúng với tính chất quần chúng, khắc phục bệnh quan liêu, hành chính hoá, nhà nước hoá trong công tác công đoàn. Phải đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của công đoàn, phát huy vai trò chủ động của các công đoàn cơ sở làm cho công đoàn gần gũi, gắn bó với công nhân, lôi cuốn được đông đảo công nhân vào các hoạt động của công đoàn. Phải xây dựng và phát triển tổ chức Công đoàn trong các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, thực hiện tốt chức năng của công đoàn trong các thành phần kinh tế, các loại hình sở hữu.

Phát triển công nhân lành nghề trong hoạt động công đoàn

 

Công đoàn chăm lo, củng cố, giữ gìn và góp phần phát triển lực lượng công nhân lành nghề trong các thành phần kinh tế. Tham gia với chủ doanh nghiệp và các cơ quan hữu quan trong việc tuyển chọn, đào tạo một đội ngũ công nhân trẻ, xuất thân từ thành phần công nhân. Chăm lo giáo dục, rèn luyện, khai thác, phát huy tiềm năng và bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đội ngũ công nhân trẻ, nữ công nhân.

Công đoàn có trách nhiệm cùng với Nhà nước, các cơ quan và người quản lý hữu quan chăm lo công tác bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường để thiết thực bảo vệ cuộc sống của công nhân trong điều kiện phát triển kinh tế nhiều thành phần. Cùng với các cơ quan Nhà nước thực hiện tốt cơ chế làm chủ, thực hành dân chủ, chống tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội làm trong sạch đội ngũ công nhân. Vận động công nhân thi hành Luật Công đoàn của công nhân, NLĐ, người quản lý và các cơ quan nhà nước.

Nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn trong xây dựng giai cấp nhân hiện nay

 Trong tình hình mới đòi hỏi Công đoàn phải đổi mới căn bản, toàn diện cả nội dung, phương thức hoạt động, cả mô hình tổ chức và cán bộ mới có thể làm tròn các chức năng là người đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng và quyền làm chủ của công nhân, NLĐ; tham gia quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước; tổ chức giáo dục và là trường học xã hội chủ nghĩa của đoàn viên, công nhân và NLĐ thuộc các thành phần kinh tế và trong cơ chế thị trường. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn phù hợp với biến đổi cơ cấu lao động, nhu cầu của công nhân và yêu cầu của hội nhập quốc tế; lấy nhu cầu quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân và tập thể công nhân làm cơ sở cho hoạt động. Công đoàn phải nắm vững chức năng, đổi mới nội dung, hình thức, phương thức hoạt động cho phù hợp với các loại hình, đơn vị kinh tế; với mọi loại hình sở hữu và đặc điểm, trình độ của mỗi đối tượng nhằm tập hợp đông đảo công nhân, lao động trong các thành phần kinh tế dưới những hình thức đa dạng, theo ngành nghề, trên cơ sở đó mà vận động công nhân, NLĐ nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển các thành phần kinh tế. Công đoàn tham gia vận động, phát triển các thành phần kinh tế đa dạng để có nhiều việc làm, thu nhập chính đáng cho công nhân. Tham gia vào việc soạn thảo, xây dựng, hoàn chỉnh và đồng bộ các chính sách đối với giai cấp công nhân trong loại hình sở hữu các các thành phần, đơn vị kinh tế. Công đoàn cần có nhiều hình thức tìm kiếm, giới thiệu việc làm, hướng dẫn công nhân tự tìm kiếm việc làm.

Đổi mới hoạt động công đoàn hiện nay

 Công đoàn cần đổi mới mạnh mẽ, căn bản, toàn diện nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh hoạt động về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của công nhân, viên chức, lao động để xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội làm mục tiêu hoạt động. Có cơ chế, chính sách động viên về vật chất, khuyến khích về tinh thần đối với đội ngũ cán bộ đảng, đoàn thể ở các doanh nghiệp, nhất là cán bộ đảng, đoàn thể ở doanh nghiệp ngoài nhà nước. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị, nhiệt tình và tâm huyết với công tác đảng, đoàn thể cho đội ngũ cán bộ ở doanh nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức Đảng, Công đoàn và các đoàn thể quần chúng góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình trong giai đoạn mới của cách mạng. Xây dựng giai cấp công nhân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó Công đoàn – tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của công nhân, lao động – có trọng trách lớn. Làm cho công đoàn thực sự là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của công nhân và những NLĐ; là trường học công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đối với giai cấp công nhân. Công đoàn phải đa dạng hoá các hình thức tập hợp quần chúng và tăng cường các hoạt động xã hội làm cho hoạt động của công đoàn sát với yêu cầu, trình độ, tâm lý của từng loại đối tượng công nhân. Phải đặc biệt coi trọng phát huy vai trò, chức năng của công đoàn ở các cơ sở công nghiệp, đặc biệt là các đơn vị sản xuất ngoài nhà nước.

Phát huy hơn nữa quyền làm chủ của công nhân trong tình hình hiện nay

 Quan tâm bồi dưỡng toàn diện cho đội ngũ công nhân để họ có kiến thức, thói quen và năng lực làm chủ. Do vậy, phải tạo điều kiện để nâng cao trình độ cho công nhân một cách toàn diện: trình độ chính trị, nghề nghiệp, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, kiến thức quản lý kinh tế, tổ chức sản xuất, hiểu biết về kinh doanh. Phải tạo ra những điều kiện và xây dựng cơ chế hữu hiệu để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của công nhân trong từng loại hình doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, trong các thành phần kinh tế và trên phạm vi toàn xã hội. Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật của công nhân. Cải tiến chế độ quản lý doanh nghiệp, có cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng và nhân cách của công nhân theo pháp luật, theo hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể. Có cơ chế và quy định hữu hiệu để thực hiện trên thực tế quyền kiểm tra, giám sát của công nhân và Công đoàn về tình hình thu chi tài chính, phân phối lương, phúc lợi, thưởng... của các doanh nghiệp để ngăn chặn, khắc phục tệ lãng phí, tham nhũng. Đổi mới và dân chủ hoá công tác thông tin cũng như quy trình ra và tổ chức thực hiện các quyết định, chủ trương, chính sách, các chương trình kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Sao cho công nhân có được những thông tin cần thiết để có thể thực sự tham gia vào các quá trình xây dựng và thực hiện các quyết định, chủ trương, chính sách ấy, phản ánh được trí tuệ của toàn Đảng và giai cấp công nhân. Họ không chỉ là người trực tiếp góp phần xây dựng lên, là người thực hiện mà còn là người giám sát, kiểm tra quá trình tổ chức thực hiện. Chỉ trên cơ sở đó, các quyết định, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mới phản ánh được một cách sâu sắc nguyện vọng và lợi ích của giai cấp công nhân. Và do đó, làm khơi dậy tính chủ động, sáng tạo, tinh thần làm chủ của giai cấp công nhân, tăng cường vai trò của họ trong việc tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật và các chương trình kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Cần khắc phục tình trạng dân chủ hình thức, đấu tranh ngăn chặn tệ quan liêu và những hành vi xâm phạm quyền làm chủ của công nhân, bóp nghẹt dân chủ, không thể có dân chủ, nếu không có đấu tranh ngăn chặn tình trạng này.

Phát huy dân chủ trong nâng cao đời sống giai cấp công nhân

 


Thực hiện trong cuộc sống quyền làm chủ thực sự của công nhân, thực hiện dân chủ, công khai, công bằng xã hội; đấu tranh khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi trong bộ máy Đảng và Nhà nước, trong các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, trọng tâm là các doanh nghiệp thuộc khu vực Nhà nước quản lý.

Dân chủ và công bằng xã hội là bản chất ưu việt của Chủ nghĩa xã hội, là động lực tinh thần khuyến khích mọi NLĐ sáng tạo xây dựng cuộc sống mới. Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

Có đấu tranh thực hiện dân chủ và công bằng xã hội, khắc phục tệ nạn quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi thì mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với giai cấp công nhân mới được củng cố, tăng cường, củng cố và nâng cao lòng tin của giai cấp công nhân với Đảng và Nhà nước, bảo đảm cho công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội đi đến thắng lợi.

Phát huy dân chủ trong Đảng làm trung tâm để thực hiên dân chủ ngoài xã hội.

 


Đảng cẩn tiếp tục đổi mới công tác lý luận, tư tưởng, tổ chức cán bộ, kiểm tra. phương thức lãnh đạo theo hướng mở rộng dân chủ hơn nữa. Đảng phải thường xuyên coi trọng việc xây dựng, cũng cố Đảng về tổ chức, chăm lo công tác cán bộ; nâng cao trinh độ tri tuệ và chất lượng công tác lý luận với sức sáng tạo cao. Đường lối, chủ trương, chính sách phải luôn luôn xuất phát từ lợi ích của nhân dân. Không giáo điều, báo thủ.

Đảng phi thật sự thm nhuần dân là gốc, dân là chủ và dân làm chủ: tránh dân chủ hình thức. Đảng phái giành thắng lợi trong cuộc đẩu tranh lảm trong sạch Đảng vả chống tham nhũng, lãng phí. Hiện nay, đang có những biểu hiện tiêu cực xuất hiện trong đội ngũ cán bộ. đảng viên ngày càng nhiều, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, phá hoại quan hệ máu thịt giữa Đàng vả nhân dân

Cùng với việc chủ động nâng cao đạo đức trong Đng, phải rất coi trọng việc nâng cao trình độ trí tuệ của Đàng và thu hút được nhiều nhân tài vảo Đảng; đề phòng tính kiêu ngạo cộng sản, biết lắng nghe ý kiến kế cả những ý kiến trái tai.

Thực hiện tốt Di chúc cùa Chủ tịch Hồ Chí Minh: ‘"Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế vả văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sng của nhân dần. Đây là điểm mấu chốt để tăng cường quan hệ máu thịt giữa Đảng vả nhân dân.

 

 

 

 

 

 



 

 

Nâng cao nhân thức cho toàn thể xã hội trong thực hiện dân chủ hiện nay

 


Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Trước hết, nhân dân cần hiểu (nhận thức được) mình có những quyền gì cả ở tầm tổng quát, lâu dài, lẫn quyền cụ thể. Đó mới là thông tin về chủ thể. Để có dân chủ, còn cần có thông tin về khách thể: đó là cái gì, tình hình gì đã diễn ra, sự biến đổi của tình hình đó, tác động của sự biến đồi ấy tới môi trường xã hội và tự nhiên, những thông tin khác nhau về các vấn đề đó. Đây chính là những thông tin “đầu vào” để chủ thề quyền lực - nhân dân - có thể phân tích, phát hiện tình huống có vấn đề nhằm tham gia giám sát, phản biện, đề xuất giải pháp...

Để dân “hiểu” rõ mọi vấn đề, họ cần có cơ hội tiếp cận thông tin như nhau, bình đẳng về thông tin (trừ những thông tin mật hoặc tuyệt mật) là điều kiện đầu tiên bảo đảm dân chủ khi tranh luận, thảo luận, tham gia vào việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Muốn vậy, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước là phải nâng cao dân trí, phải làm cho hoạt động của nhân dân mang tính tự giác ngày càng cao thông qua công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục. Sức mạnh thật sự của chế độ, của Đảng cầm quyền, của Nhà nước thề hiện ở trình độ dân trí cao, xã hội năng động, người dân biết phát huy tối đa năng lực của mình. Tất cả những điều đó chỉ trong chế độ dân chủ mới có khả năng tạo ra được. Không dựa trên cơ chế dân chủ thì không có một thứ pháp luật, đạo đức hay công cụ nào có thể ngăn chặn hữu hiệu sự thao túng của các nhóm lợi ích, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.

Chất lượng dân chủ của một xã hội phải được đo bằng chuẩn bị thông tin, cung cấp thông tin đầy đủ cho nhân dân đề nhân dân được biết. Khi dân trí được nâng lên, nhân dân sẽ tham gia bàn bạc các công việc của xã hội, đất nước.

Quan niệm của Đại hội XII, XIII về dân chủ

 


Tại Đại hội XII (2016), vấn đề dân chủ đã được Đảng ta đưa vào chủ đề của đại hội. Đồng thời trở thành một mục độc lập trong phần XIII của Báo cáo chính trị với tiêu đề: “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hieẹn quyền làm chủ của nhân dân” đồng thời bổ sung thành tố “hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân” trong mục tiêu, nhiệm vụ của đại hội. Điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc, đầy đủ của Đảng không chỉ về bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà còn về vai trò to lớn của dân chủ, vì không phát huy dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân sẽ không có chủ nghĩa xã hội.

 

Với phương châm: Đoàn kết – dân chủ - kỷ cương – sáng tạo – phát triển, Đại hội XIII của Dảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả các quyền lực nhà nước thuộc veef nhaan daan. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt có hiệu quả phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”

 

 

 

 

nâng cao chính sách, pháp luật trong xây dựng giai cấp công nhân

 

 Bảo đảm quyền lợi của công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Quan tâm chăm sóc và thực hiện đúng chính sách đối với những công nhân đã về hưu, nghỉ mất sức. Tổ chức thực hiện tốt pháp luật lao động. Đổi mới, hoàn thiện nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách, pháp luật. Kiên quyết xử lý nghiêm những vi phạm chính sách, pháp luật, nhất là chính sách, pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân, lập lại kỷ cương pháp luật, xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa, ổn định. Khẩn trương xây dựng, ban hành và thực hiện tốt Luật Kinh tế, Luật Cạnh tranh, Luật Phá sản, Luật về sức khỏe, Luật Giám đốc,…

Hoàn thiện chính sách nhà ở cho công nhân

 

Xây dựng, hoàn thiện chính sách nhà ở, phúc lợi xã hội và chính sách khuyến khích đẩy mạnh đầu tư phát triển nhà ở cho công nhân, theo hướng: Nhà nước miễn giảm thuế đất cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân, các doanh nghiệp đầu tư xây nhà ở cho công nhân được phép tính vào giá trị đầu tư. Nhà nước và doanh nghiệp cùng góp vốn, huy động thêm vốn của công nhân để xây dựng nhà bán trả góp cho công nhân hoặc cho công nhân thuê. Đồng thời, nghiên cứu chính sách hỗ trợ về nhà ở cho những gia đình công nhân nghèo, chính sách xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các thiết chế văn hoá ở các khu tập thể gia đình công nhân, bảo đảm cho công nhân có nơi ở ổn định, an toàn, có điều kiện thuận lợi khám chữa bệnh, có nhà trẻ, mẫu giáo, trường học thuận lợi cho con em công nhân. Triển khai thực hiện chính sách xã hội hoá quá trình xây dựng và hoàn thiện môi trường văn hoá - xã hội, xây dựng môi trường sống lành mạnh và đời sống văn hoá trong công nhân.