Thứ Tư, 27 tháng 9, 2023

M Ngày 14 tháng 9 “Cán bộ phải đi đúng đường lối quần chúng, dựa vào nhân dân; trước hết phải tin tưởng lực lượng và trí tuệ của nhân dân là vô cùng vô tận”.


Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài nói chuyện tại “Hội nghị thủy lợi toàn miền Bắc”, ngày 14 tháng 9 năm 1959.

Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, qua thực tiễn hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh càng thấm sâu chân lý: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Quần chúng cách mạng chính là các tầng lớp nhân dân mà Hồ Chí Minh đã tìm thấy sức mạnh to lớn ở họ. Người cho rằng, nhân dân rất thông minh, sáng tạo; nhân dân là lực lượng đông đảo của toàn xã hội; nhân dân là người hiểu biết tất cả; nhân dân là nguồn sức mạnh vô tận ở mọi nơi, mọi lúc. Thực tiễn lịch sử đã minh chứng: Thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trong sự nghiệp đổi mới đất nước đều xuất phát từ đường lối “lấy dân làm gốc”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì vậy, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không phải chỉ là việc riêng của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, đảng viên, mà là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Thực hiện tốt phương châm này là nhằm phát huy vai trò của nhân dân lao động tham gia quản lý mọi hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, còn có tác động tích cực đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội vững mạnh. Hoạt động của quần chúng nhân dân theo phương châm đó, trước hết, là giúp cho các tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng và đề cao trách nhiệm trước nhân dân, tôn trọng ý kiến và nguyện vọng của nhân dân; qua đó, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ mình là “là người lãnh đạo; đồng thời là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; luôn biết trăn trở với những thắc mắc, những lo lắng của nhân dân; biết cầu thị và lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, vận động nhân dân chung sức, đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thấu triệt lời Bác dạy, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, thương yêu, tôn trọng bộ đội như “chân với tay”; luôn là hạt nhân đoàn kết, đã thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu, như óc”, như người thân trong gia đình; xây dựng tinh thần tự giác trong bộ đội, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”. Mối quan hệ cán - binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

M Ngày 13 tháng 9 “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

 

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người đến dự và phát biểu tại “Lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc”, ngày 13 tháng 9 năm 1958. 

Sự kế tục giữa các thế hệ nối tiếp nhau vốn là quy luật tồn tại, phát triển của mọi xã hội. Trong bất cứ một quốc gia, dân tộc nào tuổi trẻ đều là lực lượng lãnh đạo kế cận, là tương lai của đất nước. Do vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất kỳ một đất nước, một tổ chức nào muốn phát triển bền vững, muốn có một tương lai rạng rỡ phía trước thì đất nước, tổ chức đó phải biết quan tâm đến vấn đề “trồng người”, tức là phải luôn biết chăm lo, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, thế hệ kế tiếp. Đó là một quy luật phát triển tất yếu. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng, nhờ quán triệt sâu sắc lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác bồi dưỡng, chăm sóc thế hệ trẻ - thế hệ tương lai mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã luôn xây dựng được một lực lượng kế cận hùng hậu, trung thành, có đủ phẩm chất và năng lực đưa đất nước vượt qua những thời điểm gian khó, từng bước đưa cách mạng đến những thắng lợi vinh quang, ghi dấu ấn đậm nét vào tiến trình phát triển của dân tộc.

Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, nhưng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới là một sự nghiệp lâu dài, khó khăn, phức tạp, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các thế hệ người Việt Nam. Do đó, Đảng, Nhà nước cùng đội ngũ cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị cần luôn quán triệt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt quan tâm, đầu tư, chăm lo giáo dục cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai. Đào tạo họ thành những công dân, những cán bộ đủ đức, đủ tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đủ sức kế thừa và tiếp tục phát triển sự nghiệp cách mạng vinh quang mà các thế hệ cha anh đi trước để lại.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt công tác giáo dục - đào tạo, huấn luyện, rèn luyện bộ đội; không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, xây dựng đơn vị, quân đội. Đặc biệt, quan tâm chăm lo làm tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được coi trọng, bám sát mục tiêu, yêu cầu, định hướng chiến lược cán bộ và thực tiễn, yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; kết hợp đào tạo trong các học viện, nhà trường với tự đào tạo, bồi dưỡng tại đơn vị, đào tạo ở trong nước với đào tạo ở nước ngoài. Công tác quy hoạch cán bộ bảo đảm chặt chẽ, đúng quan điểm, phương châm, nguyên tắc, quy trình, quy định, sự kế thừa liên tục, vững chắc trong quá trình chuyển tiếp giữa các thế hệ cán bộ. Quy hoạch cán bộ chủ trì các cấp đảm bảo có kế tiếp, kế cận phù hợp, coi trọng chất lượng và bồi dưỡng nguồn cán bộ trẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng; tuyệt đối trung thành với lý tưởng chiến đấu của Đảng; vừa có đạo đức cách mạng trong sáng, vừa có năng lực chuyên môn vững vàng, xứng đáng là lực lượng kế tục sự nghiệp xây dựng quân đội trong thời kỳ mới “vừa hồng, vừa chuyên”.

M Ngày 12 tháng 9 “Chớ thấy thất bại mà nản, chớ thấy đắc thắng mà kiêu”.

 

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi đồng bào Khu 3”, ngày 12 tháng 9 năm 1947.

Sau hơn nửa năm kể từ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược chính thức bùng nổ, quân Pháp đã tạm thời chiếm được nhiều thành phố, thị xã lớn trên cả nước; đồng thời tích cực chuẩn bị lực lượng đánh ra vùng nông thôn rộng lớn. Tuy nhiên, thế trận chiến tranh nhân dân của ta đã và đang ngày càng phát triển rộng khắp; vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ; vùng rừng núi Việt Bắc và các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Định, Phú Yên vẫn là hậu phương an toàn của cuộc kháng chiến. Trước tình hình đó, trong Đảng, nhân dân và lực lượng vũ trang ta xuất hiện hai luồng tư tưởng: Một bộ phận nhỏ dao động, bi quan, mất niềm tin vào tương lai của cuộc kháng chiến; một bộ phận khác lại tự mãn, chủ quan, khinh địch, cho rằng thực lực của quân Pháp chỉ có vậy, khó có khả năng tiếp tục đánh chiếm các vùng hậu phương chiến lược của ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện và kịp thời chấn chỉnh nhằm khắc phục cả hai luồng tư tưởng trên, động viên đồng bào và chiến sĩ ta đừng vì những thất bại, khó khăn trước mắt của công cuộc kháng chiến mà nản lòng, thoái chí, cam phận trở lại kiếp sống nô lệ; đồng thời, cũng lưu ý toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta không được tự đắc, chủ quan, nóng vội, mà phải tiếp tục tích cực chuẩn bị, sẵn sàng cho những thử thách gian nan hơn nữa ở phía trước. Lời nhắc nhở trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào việc định hướng tư tưởng, củng cố quyết tâm, hướng dẫn hành động cho quân dân cả nước khắc phục mọi khó khăn, phát huy những thành quả đã đạt được tiếp tục xây dựng quân đội, củng cố hậu phương, từng bước đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng.

Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Khu 3 năm xưa đã ghi sâu vào tiềm thức của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và đã trở thành một trong những phẩm chất truyền thống tiêu biểu được kết thành 10 Lời thề danh dự của quân nhân; là niềm tự hào, nguồn cổ vũ, động viên thôi thúc các thế hệ cán bộ, chiến sĩ không ngừng rèn luyện ý chí chiến đấu kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Hơn 70 năm đã trôi qua, những phẩm chất tiêu biểu "...thắng không kiêu, bại không nản...” của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục được tỏa sáng trong mọi hoạt động chiến đấu, công tác, lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học... cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.

RẤT NHIỀU NGƯỜI CÓ TƯ DUY LỆCH LẠC, HẠ THẤP NỖ LỰC CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ!

         Nhiều người cứ đinh ninh rằng đám trẻ còn nhỏ, chúng chẳng biết gì, chỉ biết ăn biết học, biết chơi. Nếu chúng làm được gì thì đích thị là vì chúng nó là “con ông cháu cha”, “vì nhà chúng nó giàu”, “vì ba mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, chứ chẳng phải vì chúng nó giỏi, nỗ lực, phấn đấu và cố gắng. Nếu các bạn lướt Facebook hoặc TikTok những ngày gần đây, khi các phiên họp “Quốc hội trẻ em giả định” dành cho các em nhỏ từ lớp 6 - 9 diễn ra, rất nhiều người người vào bĩu môi, lên án, hạ thấp các em bằng đủ thứ ngôn từ rất là rác như mình đã nói ở trên.

Nhiều người tính nết rất kỳ. Thay vì chỉ trích, chê bai các em, chỉ cần lên mạng tìm thử một vài cái tên tham gia thôi, xem thành tích của mấy đứa nhóc thế nào rồi khi biết, tự nhìn lại bản thân xem hồi xưa ra sao, rồi bây giờ làm được gì mà đi nói các em.

Ví dụ như em Trương Phước Minh, đại diện cho tỉnh Quảng Trị, đạt thành tích tốt trong học tập, lao động, công tác đoàn đội, là thành viên của Hội đồng trẻ em tỉnh. Hay em Hồ Văn Sỹ, cùng tỉnh, là người đồng bào Vân Kiều xuất thân từ một gia đình đông con rất nghèo nhưng em đã vươn lên học tập và đạt thành tích cao tại Trường Nội trú Dakrong. Như cô bé Hoàng Trà My, đại diện Nghệ An, đạt giải nhất Sử học toàn quốc, vào danh sách 10 thiếu niên tiêu biểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từng tham gia Diễn đàn trẻ em Quốc gia, hội trại hè Đông Nam Á và nhiều giải cấp tỉnh khác. Đoàn Quốc hội nhí đại diện cho TP. Hồ Chí Minh đều đạt những giải quốc gia về học tập, rèn luyện đoàn đội và thậm chí cả em nhỏ được đánh giá là kiện tướng thể thao tương lai của Việt Nam...

Rồi các bạn khác đoàn Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Sơn La, Gia Lai, Kon Tum… đều là những đoàn viên vươn lên vượt khó từ những vùng núi của Tổ Quốc, có em còn sống trong những nơi vốn là tụ điểm ma túy, vươn lên học tập, đạt các giải quốc gia về học tập. Trong danh sách 263 em nhỏ tham gia sự kiện, có 203 em có thành tích học tập, rèn luyện, thể thao xuất sắc; 28 thiếu nhi có hoàn cảnh đặc biệt; 3 thiếu nhi khuyết tật; 21 thiếu nhi đang sinh sống tại khu vực đặc biệt khó khăn, biên giới, biển đảo; 5 thiếu nhi là con thanh niên công nhân, lao động trẻ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất; 61 thiếu nhi dân tộc thiểu số...

Nhiều người nói rằng đám trẻ “nói theo kịch bản đã dựng sẵn”, thế mấy người có được tham gia không mà khẳng định chắc nịch như thế? Mà tuy có rất nhiều thành tích, nhưng chúng vẫn là đám trẻ, vẫn cần sự dạy dỗ, chỉ bảo, hướng dẫn của người lớn. Đến người lớn chúng ta đứng lên phát biểu trước phòng ban còn phải chuẩn bị trước cả tuần, cả tháng, có khi còn nhờ người làm hộ. Rồi đứng lên phát biểu thì ấp a ấp úng, nói chẳng thành lời, nữa là một đám trẻ con.

Phiên họp Quốc hội trẻ em giả định mang ý nghĩa về quyền trẻ em, được nhiều nước trên thế giới tiến hành. Ngoài ra còn là nơi gặp gỡ của những đứa trẻ có đam mê, hoài bão, có năng lực, đến từ mọi vùng miền Tổ Quốc. Nhiều bạn nhỏ phấn đấu để ước mơ mong ngóng được thăm Lăng Bác, đi dạo chơi ao cá Bác Hồ… Chăm lo cho những đứa trẻ cũng chính là chăm lo cho tương lai của đất nước.

Với đám trẻ, chúng ta cần rộng lượng, khích lệ và hỗ trợ. Chứ không phải là những câu từ thù hằn. Suy cho cùng, chúng ta cũng đều từng là đứng đứa trẻ, từng có những ước mơ, hoài bão dù lớn, dù nhỏ.

Có những người lớn hơn các em ở độ tuổi, nhưng tâm địa, suy nghĩ còn chẳng bằng được các em./.
Yêu nước ST.

Rèn luyện cán bộ không sợ trách nhiệm không né tránh đùn đẩy...

     Đối với từng cá nhân cán bộ, đảng viên, phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh, đạo đức cách mạng, năng lực, trình độ. Khi người cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình sẽ luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Đồng thời, đạo đức cách mạng sẽ thúc đẩy người cán bộ, đảng viên nhiệt huyết trong thực hiện nhiệm vụ, không thể đành lòng nhắm mắt làm ngơ trước một núi công việc, không thể làm ngơ trước sự trông mong, tin tưởng của tổ chức, xã hội và nhân dân. Bản lĩnh của người cán bộ được thể hiện ở ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, kiên cường, dũng cảm, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung.

       Cùng với đó, người cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Người cán bộ có trình độ, năng lực, kinh nghiệm thực tiễn sẽ tạo ra niềm tin và chỗ dựa vững chắc cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền, làm cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền không hoài nghi, dao động trước những quyết định của mình. Từ đó, tổ chức, cơ quan, đơn vị luôn có bầu không khí sôi nổi, tự tin trong mọi hoạt động.

Trách nhiệm của người đứng đầu?

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo rất quyết liệt là: “Ai không dám làm thì mạnh dạn đứng sang một bên cho người khác làm”, tỏ rõ thái độ đối với những cán bộ trì trệ, sợ trách nhiệm, né việc. Do vậy, những đơn vị, địa phương nào bị phản ánh nhiều về sự trì trệ, biểu hiện né tránh trách nhiệm thì cần xem xét trách nhiệm của người đứng đầu và có giải pháp thay thế phù hợp. Phải đả phá để thay đổi hẳn quan niệm “không làm thì không sai” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thấy rằng: Không làm mà gây hậu quả nghiêm trọng thì sẽ bị quy trách nhiệm, bị xử lý.

 

Tái cơ cấu thị trường lao động để phát triển kinh tế Việt Nam

(LLCT) - Đại dịch Covid-19 đã tác động sâu rộng theo hướng tiêu cực và làm bộc lộ nhiều vấn đề bất cập của thị trường lao động ở Việt Nam. Tình trạng thiếu hụt lao động, mất cân đối về cơ cấu lao động đang là những rào cản đối với tốc độ phát triển kinh tế. Trên cơ sở đánh giá tình hình lao động Việt Nam hiện nay, bài viết đưa ra những phương hướng và giải pháp tái cơ cấu thị trường lao động, đáp ứng nhu cầu phát triển trong bối cảnh tình hình mới.


Cơ cấu lại nền kinh tế để đáp ứng nhu cầu phát triển, phù hợp với bối cảnh tình hình mới là điều cần thiết. Đặc biệt với “cú sốc” đại dịch Covid-19 hai năm nay, yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế gắn với cơ cấu lại lao động càng trở nên cấp thiết và cần được đẩy nhanh.

1. Tình hình cơ cấu lao động Việt Nam hiện nay

Theo Tổng cục Thống kê về tình hình lao động, việc làm Việt Nam, lực lượng lao động năm 2021 đạt 50,5 triệu người, giảm 791,6 nghìn người so với năm 2020. Lao động có việc làm là 49 triệu người, giảm 1 triệu người. Trong đó, giảm chủ yếu ở khu vực nông thôn và ở nam giới. Năm 2021, tình hình đại dịch Covid-19 kéo dài và phức tạp hơn đã khiến cho hàng triệu người mất việc, lao động trong các ngành tiếp tục giảm, đặc biệt là khu vực dịch vụ. Lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng là 16,3 triệu người (chiếm 33,2%), giảm 254,2 nghìn người; khu vực dịch vụ là 18,6 triệu người (chiếm 37,9%), giảm 800,8 nghìn người; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 14,2 triệu người (chiếm 28,9%), tăng 37,3 nghìn người. Số lao động có việc làm chính thức và phi chính thức đều giảm, cụ thể, lao động có việc làm chính thức là 15,4 triệu người, giảm 469,8 nghìn người so với năm 2020; lao động có việc làm phi chính thức là 19,8 triệu người, giảm 628 nghìn người(1)

Số người thiếu việc làm năm 2021 là hơn 1,4 triệu người, tăng 370,8 nghìn người so với năm 2020. Tỷ lệ thiếu việc làm là 3,10%, tăng 0,71 điểm phần trăm. Tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn. Điều này trái với xu hướng thị trường lao động thường được quan sát ở nước ta với tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị. Số người thất nghiệp năm 2021 là hơn 1,4 triệu người, tăng 203,7 nghìn người so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị là 4,42%, cao hơn 1,94 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (15-24 tuổi) là 8,48%, tăng 0,52 điểm phần trăm so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 11,91%, tăng 1,33 điểm phần trăm so với năm trước...(2).

Theo báo cáo của Chính phủ tháng 11-2021, hiệu suất về sử dụng lao động giai đoạn vừa qua có cải thiện; năng suất lao động có tốc độ tăng đạt kế hoạch nhưng giá trị tuyệt đối không cao. Thị trường lao động nhìn chung vẫn là một thị trường dư thừa nhân lực; chất lượng việc làm chưa cao; phát triển không đồng đều, mất cân đối nghiêm trọng về cung - cầu lao động giữa các vùng, khu vực, ngành nghề kinh tế. Các định chế trung gian, chính sách an sinh và bảo hiểm của thị trường lao động còn yếu, độ bao phủ thấp, chưa đạt hiệu quả cao. Cơ cấu lao động đã qua đào tạo vừa thấp, vừa chưa phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 67%, nhưng tỷ lệ đào tạo sơ cấp chiếm tỷ trọng cao; chỉ 26,1% có bằng cấp, chứng chỉ(3). Bên cạnh đó, lao động phi chính thức, lao động phổ thông vẫn chiếm chủ yếu, đây là khu vực được đánh giá yếu nhất về kỹ năng nghề.

Phân bổ lao động theo khu vực địa lý không đồng đều, còn bất hợp lý giữa các vùng. Lực lượng lao động tập trung đông nhất ở khu vực đồng bằng sông Hồng, thứ hai là Bắc Trung Bộ, thứ ba là duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi đó, theo CIEM, vùng đất rộng có tỷ trọng lao động thấp là trung du miền núi phía Bắc chiếm 13,87% lực lượng lao động và Tây Nguyên chiếm 6,25% lực lượng lao động. Vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ lại thiếu hụt lớn, thường thiếu 10% - 20% lao động so với nhu cầu tuyển dụng thực tế(4)

Xem xét theo hai khu vực thành thị và nông thôn, cơ cấu lao động cũng có sự chênh lệch lớn, khi gần 70% lực lượng lao động vẫn tập trung chủ yếu ở nông thôn. Con số này có xu hướng giảm qua các năm nhưng vẫn ở mức cao.

Tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động trên thị trường còn chậm, không theo kịp chuyển dịch cơ cấu kinh tế và vẫn còn tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động cục bộ giữa các vùng, các khu vực, ngành nghề kinh tế.

Theo Phòng Thương mại Việt Nam (VCCI), kết quả điều tra về dân số và lao động từ năm 2015 đến 2019, tỷ lệ lao động giản đơn chiếm vị trí cao nhất. Năm 2019, có 35% lao động đang làm việc trong khu vực “nghề đơn giản”, giảm 4% so với năm 2015; lao động nhóm ngành dịch vụ là 18%, tăng 1% so với năm 2015; nhóm thợ thủ công và thợ khác tăng từ 12% năm 2015 lên 14% năm 2019; thợ lắp ráp máy móc, thiết bị tăng từ 9% năm 2015 lên 12% năm 2019. Nhóm nghề truyền thống nông, lâm nghiệp chỉ còn chiếm 1/5 tỷ trọng cơ cấu lao động Việt Nam và giảm 3% từ năm 2015 đến 2019. Trong khi đó, nhóm lao động thuộc khu vực chuyên môn kỹ thuật bậc cao chiếm 8%, cao hơn 1% so với khu vực nông, lâm, thủy sản năm 2019. Các ngành chuyên môn kỹ thuật bậc trung, nhân viên và nhà lãnh đạo lần lượt chiếm 3%, 2% và 1% trong cơ cấu lao động(5).

Số liệu về lao động từ năm 2015 đến 2019 phản ánh xu hướng chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong trạng thái bình thường ở Việt Nam, theo 2 xu hướng: thứ nhất, sự chuyển đổi từ nhóm nghề giản đơn sang nghề nghiệp đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật. Thứ hai, tỷ trọng lao động làm việc trong những khu vực ngành nghề truyền thống như nông, lâm, ngư nghiệp giảm, nhường chỗ cho các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Cụ thể: lao động làm nông, lâm, ngư nghiệp giảm mạnh 26%, từ 5,3 triệu lao động năm 2015 xuống 4 triệu lao động năm 2019. Thay vào đó, nhóm lao động chuyên môn kỹ thuật có sự tăng mạnh. Năm 2019, lao động thuộc nghề đòi hỏi “chuyên môn kỹ thuật cao” và “thợ thủ công và các thợ khác có liên quan” tăng hơn 1/5 so với năm 2015; riêng “thợ lắp ráp và vận hành máy móc thiết bị” tăng hơn 2/5 ở mức 43%, từ 4,6 triệu lao động năm 2015 lên 6,6 triệu lao động(6)

Như vậy, xét cả yếu tố về cơ cấu lao động và yếu tố bối cảnh dịch bệnh, thị trường lao động Việt Nam đang có rất nhiều bất lợi, khó có thể đáp ứng mục tiêu CNH, HĐH đất nước trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay.

2. Phương hướng tái cơ cấu thị trường lao động

Ngày 5-02-2021, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 176/QĐ-TTg về việc ban hành “Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030” nhằm tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường lao động, góp phần huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng hiện đại, bảo đảm kết nối thị trường lao động trong nước với thị trường lao động của các nước trong khu vực và trên thế giới.

Chương trình đặt ra mục tiêu duy trì tỷ lệ thất nghiệp chung ở mức thấp, dưới 3%(7). Nhà nước sẽ giữ vai trò kiến tạo và hỗ trợ phát triển thị trường lao động thông qua việc hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ chế, chính sách, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phát triển thị trường lao động, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để hạn chế những rủi ro liên quan đến quyền lợi của người lao động trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đồng thời, chủ động hội nhập quốc tế, đẩy mạnh kết nối cung - cầu lao động trong nước gắn với thị trường lao động quốc tế. 

Cùng với đó, Nhà nước hỗ trợ phát triển thị trường lao động, bao gồm: hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật đồng bộ, thống nhất để thị trường lao động phát triển theo hướng hiện đại; hỗ trợ phát triển cung - cầu lao động; hỗ trợ phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, kết nối cung - cầu lao động; hỗ trợ phát triển lưới an sinh và bảo hiểm; hỗ trợ kết nối thị trường lao động trong và ngoài nước, phát triển các thị trường lao động đặc thù; nâng cao hiệu quả tổ chức, vận hành thị trường lao động. Trong đó, việc phát triển lưới an sinh và bảo hiểm được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Chương trình.

Việc cơ cấu lại thị trường lao động, cần thực hiện đồng bộ nhiều chính sách và giải pháp. Ba phương hướng chính là:

Thứ nhất, phân bổ lại lực lượng lao động theo khu vực địa lý, giữa các vùng miền; giữa các vùng kinh tế trọng điểm với các tỉnh thành khác, tránh dồn quá đông lực lượng lao động vào một số khu vực. Điều này sẽ góp phần giảm tải hạ tầng, nhà ở, không gian sinh hoạt, thiết chế sinh hoạt văn hóa cho công nhân; an ninh trật tự, vấn đề môi trường; điều kiện chăm sóc y tế, giáo dục con cái người lao động... Đặc biệt, tránh được hiện tượng di cư, nhập cư, tản cư ồ ạt, khó kiểm soát, như đợt dịch Covid-19 lần thứ tư vừa qua. Với hơn 1,3 triệu người di chuyển về quê, quan hệ cung - cầu lao động bị mất cân đối cục bộ. Các tỉnh, thành trọng điểm như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An thiết hụt lao động trầm trọng, trong khi một số tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh lại dôi dư lao động đột biến, thị trường việc làm không thể hấp thụ, dẫn đến tình trạng thất nghiệp.

Thứ hai, cơ cấu lại lĩnh vực đầu tư, phát triển. Về bản chất, đây là việc đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại và điều chỉnh chiến lược phát triển doanh nghiệp; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. 

Điều này xuất phát từ thực tế trong thời gian qua, một số tỉnh thành xác định phương hướng đầu tư phát triển dựa nhiều vào những ưu thế, lợi thế do điều kiện tự nhiên hoặc dựa vào các đặc điểm, thói quen, ngành nghề truyền thống sở tại, nhưng không có chiến lược cân đối, phòng ngừa rủi ro. Khi có biến động thị trường, hàng hóa bị đình trệ, sức tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ chậm, dẫn đến dư thừa, mất cân đối cung - cầu, đóng băng thị trường, có nguy cơ dẫn đến khủng hoảng. Đặc biệt, khi dịch bệnh bùng phát và kéo dài như 2 năm qua, nhiều ngành kinh tế lâm vào bế tắc, như lĩnh vực du lịch - lữ hành, giao thông vận tải, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ ăn uống... 

Do đó, cần có chiến lược đầu tư phát triển cân đối theo hướng có trọng điểm, nhưng khuyến khích phát triển đa ngành nghề, đa lĩnh vực, để vừa tranh thủ thu hút thêm vốn đầu tư, vừa phân bổ được lực lượng lao động, vừa có sự đón đầu xu hướng chuyển dịch sản xuất, khoa học công nghệ, vừa phòng tránh rủi ro...

Thứ ba, cơ cấu đào tạo theo ngành nghề bằng cách phân bổ cân đối giữa các cấp, các loại hình. Cần khắc phục tình trạng đào tạo không theo nhu cầu của thị trường, hay tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”. Trong thời gian qua, tình hình lao động các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ giảm mạnh, ngược lại, lao động ngành nông nghiệp lại có xu hướng tăng. Cơ cấu việc làm bị thay đổi đột ngột, dẫn đến dư thừa lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và giảm việc làm trong khu vực công nghiệp và dịch vụ. Cụ thể, số lượng lao động có việc làm quý III năm 2021 là 47,2 triệu người, giảm gần 2,6 triệu người so với quý trước, trong đó, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 14,5 triệu người, tăng 673.100 người; ngành công nghiệp và xây dựng là 15,7 triệu người, giảm 952.500 người; ngành dịch vụ là 17,1 triệu người, giảm 2,3 triệu người. Ngoài ra, số lao động khu vực chính thức giảm, lan rộng sang cả khu vực phi chính thức. 

Xét theo ngành, thiếu hụt lao động diễn ra theo hai nhóm. Thứ nhất, nhóm công nghệ kỹ thuật cao như điện tử (thiếu 55,6%), sản xuất thiết bị điện (thiếu 44,5%). Thứ hai, nhóm ngành thâm dụng lao động nhưng chủ yếu là lao động thủ công, như da giày (thiếu 51,7%), may (thiếu 49,2%), dệt (thiếu 39,5%)(8)... Do vậy, việc xây dựng chiến lược đào tạo và đào tạo nghề cần được gắn chặt với nhu cầu thị trường.

3. Giải pháp và trách nhiệm của các bên liên quan

Một là, cần xây dựng cơ sở dữ liệu về thị trường lao động

Sự linh hoạt, năng động và hiệu quả của thị trường lao động không chỉ dựa trên số lượng lao động cơ học đơn thuần. Trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giá trị của thị trường lao động còn được thúc đẩy dựa trên sự liên kết, việc khai thác mạng lưới liên kết phục vụ cho việc kết nối cung - cầu, hình thành trị trường số về lao động - việc làm, hoặc hướng đến việc nghiên cứu, nắm bắt thói quen, nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng... Dữ liệu lớn (Big Data), cùng với kết nối vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI) chính là ba trụ cột cơ bản của kỷ nguyên kinh tế số mà Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc. Cần phải có một hệ thống cơ sở dữ liệu bao quát, tin cậy và cập nhật về lao động, việc làm để kết nối, chia sẻ và khai thác. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở dữ liệu này còn có giá trị chủ động trong dự báo và xây dựng các kịch bản ứng phó trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho thị trường lao động. Do đó, cần đẩy nhanh tiến độ kết nối liên thông thị trường lao động, thậm chí cần sớm hơn Quyết định 176/QĐ-TTg về Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030. Bởi theo Quyết định này, việc kết nối liên thông cơ sở dữ liệu chỉ có thể thực hiện từ năm 2026 trở đi. Điều này là khá chậm so với sự vận hành, chuyển dịch của thị trường lao động. 

Hai là, thiết lập cơ chế phối hợp 

Sự phối hợp trách nhiệm, nhịp nhàng và tin cậy giữa các cơ quan nhà nước trong việc thiết kế, phân bổ, vận hành và điều tiết thị trường lao động. Thí dụ, việc xây dựng cơ sở dữ liệu về thị trường lao động cần được triển khai nhanh chóng, đồng bộ và nhịp nhàng giữa các ban, bộ, ngành, theo cả bốn cấp hành chính từ Trung ương xuống địa phương. Đặc biệt, cần đặt dưới sự chỉ huy, điều tiết của một ban cố vấn hoặc ban chuyên môn, do Thủ tướng, hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ chủ trì.

Ba là, triển khai thực hiện chính sách, pháp luật đồng bộ, thống nhất để thị trường lao động phát triển theo hướng hiện đại

Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 5-2-2021 đã quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, cần có chính sách hỗ trợ cũng như định hướng tốt cho việc phát triển thị trường lao động đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Cụ thể là cần rà soát, đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về cung - cầu lao động, kết nối cung - cầu lao động để phù hợp với quy luật của thị trường và với lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, triển khai thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch của Trung ương, của tỉnh hỗ trợ tạo việc làm, tham gia thị trường lao động cho các nhóm lao động đặc thù (người khuyết tật; người lao động dân tộc thiểu số; lao động khu vực nông thôn; học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp các trường đại học và hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp).

Bốn là, hỗ trợ phát triển cung - cầu lao động

Cần xây dựng và cung cấp các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề trước khi đi làm cho sinh viên mới tốt nghiệp; các chương trình đào tạo nâng cao kỹ năng lao động trong quá trình làm việc phù hợp với tính chất đặc thù của từng đối tượng lao động. Khuyến khích người sử dụng lao động tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp; nâng cao năng lực, hiệu quả các công cụ giám sát, đánh giá, công nhận kỹ năng nghề theo tiêu chuẩn quốc gia để người lao động được đánh giá và công nhận, phản ánh đúng năng lực làm việc thực tế. Xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng lao động dựa trên các tiêu chuẩn kỹ năng nghề, ứng dụng khoa học công nghệ số; xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề cho các nhóm lao động đặc thù. Khuyến khích tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số ngắn hạn theo hình thức thường xuyên, linh hoạt cho người lao động. Rà soát, đơn giản hóa thủ tục và tạo điều kiện thuận lợi để chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp; có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong thu, nộp và hoàn thuế để nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ cho các doanh nghiệp được chuyển đổi từ hộ kinh doanh.

Năm là, khuyến khích doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động tham gia vào quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp

Trong đó, nội dung đào tạo gắn liền với thực tiễn, đào tạo theo vị trí việc làm, theo nhu cầu thị trường lao động, đồng thời doanh nghiệp sẽ tham gia vào chương trình đào tạo và giám sát quá trình đào tạo.

Sáu là, tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ bảo trợ cho người lao động

Cụ thể là tiếp cận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động. Đặc biệt, cần tăng cường vai trò và hoạt động của Công đoàn Việt Nam cũng như các hội nghề nghiệp, để phát triển thành viên, kết nối, chia sẻ trao đổi thông tin giữa người lao động trong cùng lĩnh vực, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ quyền lợi cho lao động. Đồng thời, các cơ quan liên quan cần xây dựng cơ chế cung cấp thông tin và dịch vụ tư vấn pháp lý cho người lao động tham vấn khi cần thiết; đa dạng hóa các gói dịch vụ an sinh xã hội, cung cấp cho người lao động về hình thức, phương thức, mức đóng góp và mức được hưởng; đơn giản hóa thủ tục hành chính và xây dựng cơ chế cung cấp các hỗ trợ hành chính và pháp lý cần thiết cho người lao động tham gia các chương trình an sinh tự nguyện. Đây cũng chính là yêu cầu nhiệm vụ mà “Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030” của Chính phủ đã đặt ra.

_________________

(1), (2) Tổng cục Thống kê: Thông cáo báo chí Tình hình lao động việc làm quý IV và cả năm 2021, www.gso.gov.vn, 29-12-2021.

(3) Quốc hội: Nghị quyết số 31/2021/QH15 về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021-2025, https://quochoi.vn/, 12-11-2021.

(4) Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM): Hội thảo Phát triển thị trường lao động nhằm thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế ở Việt Nam, Hà Nội, 26-4-2021.

(5), (6) Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh: Những chuyển dịch trong cơ cấu lao động (trích kết quả Điều tra về dân số và lao động năm 2015 - 2019 của Tổng cục Thống kê), https://vcci-hcm.org.vn/, 6-12-2020.

(7) Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 176/QĐ-TTg ban hành “Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030”, Hà Nội, 5-02-2021.

(8) Tổng cục Thống kê: Thông cáo báo chí Tình hình lao động việc làm quý III và 9 tháng năm 2021https://www.gso.gov.vn.

Nguồn: ThS NGỌ DUY HIỂU

Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

TS NHẠC PHAN LINH

Viện Công nhân và Công đoàn


 

Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc các Học viện trong Quân đội đối với công tác nghiên cứu khoa học

(LLCT) - Nghiên cứu khoa học ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm ở các học viện trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Lãnh đạo tốt nội dung này có ý nghĩa to lớn, thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi quan điểm chỉ đạo về “Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học tại các nhà trường”(1), tạo cơ sở vững chắc cho công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng hệ thống tri thức lý luận, các phương tiện, khí tài công nghệ cao, phục vụ thắng lợi sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong tình hình mới mà Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đã xác định.

 

 

Với vai trò là cơ sở đào tạo nguồn cán bộ chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp xây công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; cũng như sự nghiệp dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, các học viện trong Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh thực hiện chức năng giáo dục và đào tạo, còn thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học. Đây được xác định là một nhiệm quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu kép, vừa góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, vừa trực tiếp đóng góp vào phát triển lý luận khoa học quân sự, củng cố và tăng cường tiềm lực khoa học khoa học quân sự quốc gia.

Những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp, các ngành, trực tiếp là Cục Nhà trường/Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, trong đó trực tiếp là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc các học viện trong Quân đội, vì thế công tác nghiên cứu khoa học không ngừng có sự chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng; cả về diện rộng cũng như chiều sâu. Đặc biệt, tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, cùng niềm say mê  trong nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, học viên liên tục có sự phát triển. Qua đó, thiết thực tạo ra khả năng giải quyết thành thạo, với chất lượng, hiệu quả cao nhiệm vụ khác, trực tiếp góp phầnxây dựng các học viện tiên tiến, chính quy, mẫu mực tiêu biểu.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác nghiên cứu khoa học ở một số học viện trong Quân đội nhân dân Việt Nam thời gian qua còn bộc lộ những hạn chế nhất định: tính nhạy bén, khả năng tư duy sáng tạo, phương pháp nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu khoa học còn hạn chế; động cơ, lòng say mê trong nghiên cứu khoa học của một số cán bộ, giảng viên, học viên chưa cao; số lượng, cũng  như chất lượng các công trình khoa học chưa tương xứng với tiềm năng của nhà trường; một số công trình chưa gắn với thực tiễn hoạt động quân sự nói chung, hoạt động giáo dục và đào tạo nói riêng; tính sáng tạo trong thực hiện các công trình khoa học còn chưa thực sự rõ nét; một số cán bộ, giảng viên, học viên thiếu tự tin, chưa mạnh dạn trong nghiên cứu, còn biểu hiện ngại khó, ngại khổ, thiếu quyết tâm và sự nỗ lực trong nghiên cứu;… thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan. Trong đó, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học của cấp ủy, người chỉ huy các cấp có thời điểm chưa thường xuyên, chưa sâu sát. 

Thời gian tới, để nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng, nhất là Đảng ủy, Ban Giám đốc các học viện đối với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nhằm đổi mới, tạo sự chuyển biến căn bản về chất lượng hoạt động này, đòi hỏi phải thực hiện nhiều giải pháp và biện pháp cụ thể. Trong đó, cần coi trọng thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản là:

Một là, thường xuyên giáo dục nâng cao ý thức, trách nhiệm, xác định rõ tầm quan trọng về nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho cán bộ, giảng viên, học viên

Giáo dục nâng cao nhận thức về công tác nghiên cứu khoa học cho cán bộ, giảng viên, học viên ở các học viện trong Quân đội là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, trực tiếp tác động đến chất lượng, hiệu quả thực hiện hoạt động này. Theo đó, Đảng ủy, Ban Giám đốc các học viện trong Quân đội cần nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác nghiên cứu khoa học trong mối quan hệ với nhiệm vụ giáo dục, đào tạo mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”(2).Trên cơ sở đó, xác định những chủ trương sát đúng, thể hiện trước hết ở sự định hướng về tư tưởng, khơi gợi những vấn đề cần nghiên cứu thông qua triển khai biên soạn hệ thống chương trình, đề tài, chuyên đề, tài liệu nghiên cứu khoa học hằng năm. Cùng với đó, cần quán triệt sâu, rộng các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học đến tất cả cán bộ, giảng viên, học viên, trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI) về “Phát triển khoa học và công nghệ”; Kết luận số 62-KL/QUTW, ngày 18/01/2019 của Quân ủy Trung ương về “Tiếp tục lãnh đạo công tác khoa học công nghệ và môi trường trong Quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo”;... Qua đó, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động của cán bộ, giảng viên, học viên; làm cho họ nhận thức đúng đắn việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học là yêu cầu khách quan, không thể thiếu và là tiêu chí thiết thực để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Quá trình triển khai thực hiện, cần cụ thể hóa vào các văn bản, nghị quyết chuyên đề lãnh đạo nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của tổ chức đảng các đơn vị ngay từ những ngày đầu năm học; đồng thời, thường xuyên quán triệt trong chương trình, kế hoạch công tác của người chỉ huy, hội đồng khoa học của từng khoa giảng viên, cơ quan, đơn vị. 

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và nghiên cứu khoa học vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng nhà trường, từng cơ quan, đơn vị trong từng giai đoạn, từng thời kỳ lịch sử

Thực hiện tốt giải pháp này là cơ sở quan trọng, bảo đảm cho hoạt động nghiên cứu khoa học ở các học viện trong Quân đội phát triển bền vững. Theo đó, cấp ủy và người chỉ huy các cấp cần quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 109-NQ/QUTW, ngày 11/02/2019 của Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, cũng như quan điểm về: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”(3) mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định; kịp thời nắm bắt nhu cầu nghiên cứu khoa học nảy sinh trong thực tiễn xã hội, Quân đội, cũng như lực lượng khoa học trong cơ quan, đơn vị để xây dựng kế hoạch quy hoạch đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học, nhất là lực lượng nòng cốt với cơ cấu phù hợp, đảm bảo tính khả thi, đáp ứng đúng các yêu cầu của lý luận và thực tiễn. Con đường biện chứng trong xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học là trên cơ sở biết coi trọng khoa học và nhân tài khoa học; biết đào tạo, bồi dưỡng đúng lúc, đúng cách theo qui trình chung và qui trình riêng đối với từng người; biết sử dụng, giao việc và tạo điều kiện cho cán bộ khoa học có tài năng phát triển, vươn lên cống hiến;... Cùng với đó, cần đặc biệt chú trọng xây dựng bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm phấn đấu, khắc phục khó khăn của đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên trong phong trào nghiên cứu khoa học; xây dựng kế hoạch phân bố thời gian và lực lượng lao động giữa công tác giáo dục và đào tạo với nghiên cứu khoa học một cách hợp lý.

Ba là, lãnh đạo, chỉ đạo phát huy tinh thần tự giác, tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, học viên

Hoạt động nghiên cứu khoa học là lĩnh vực khó, đòi hỏi sự tâm huyết, nhiệt tình và trách nhiệm cao của người nghiên cứu, vì vậy phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, độc lập, sáng tạo của cán bộ, giảng viên, học viên với sự hứng thú, nhiệt tình trong nghiên cứu; chủ động bố trí thời gian, xây dựng kế hoạch cụ thể và phù hợp. Thực tiễn công tác nghiên cứu khoa học của các học viện trong Quân đội những năm qua đã chứng minh, ở đâu và giai đoạn nào mà tập thể và cá nhân cán bộ, giảng viên, học viên có ý thức trách nhiệm, tích cực chủ động trong nghiên cứu khoa học, thì ở đó, giai đoạn đó công tác nghiên cứu khoa học đạt kết quả cao và ngược lại. Chính vì vậy, lãnh đạo, người chỉ huy các cấp ở các học viện trong Quân đội cần quan tâm xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách thích đáng cả về vật chất cũng như về tinh thần để khích lệ, động viên tính tích cực, say mê, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, học viên.

Bốn là, thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về hoạt động nghiên cứu khoa học

Đây là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng có ý nghĩa thiết thực nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, học viên các học viện trong Quân đội. Sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm hoạt động nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, học viên các học viện trong Quân đội cần được tiến hành một cách thường xuyên, linh hoạt, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng như: Kết hợp trong các buổi hội thảo khoa học, sơ kết học kỳ và tổng kết năm học,… Thông qua công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm mà cấp ủy, người chỉ huy các cấp cần rút ra những bài học kinh nghiệm quý trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học của cơ quan, đơn vị ngày càng tốt hơn; khắc phục những hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ nghiên cứu khoa học; kịp thời bổ sung cơ chế, chính sách cần thiết nhằm tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy phong trào nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, và học viên. Đồng thời, cấp ủy, người chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể và cá nhân có thành tích, góp phần tạo nên động lực thúc đẩy phong trào thi đua nghiên cứu khoa học chung của toàn đơn vị.

Năm là, đa dạng hóa quy mô, hình thức và tổ chức tốt công tác thông tin phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học 

Công tác lãnh đạo, quản lý khoa học ở các học viện trong Quân đội cần thường xuyên đa dạng hóa các sản phẩm nghiên cứu với nhiều cấp độ, phù hợp với nhu cầu thực tiễn cấp thiết của nhà trường và xã hội. Bên cạnh đó, cần tránh xu hướng thích chọn vấn đề nghiên cứu quá lớn khi điều kiện, khả năng nghiên cứu chưa tương xứng. Việc đa dạng hóa cần tiến hành đồng bộ cả về lực lượng nghiên cứu cũng như hình thức nghiên cứu. Trong đó, cùng một chủ đề có thể tổ chức nhiều người cùng tham gia thực hiện nghiên cứu; về hình thức tổ chức cũng cần phong phú, cả ở quy mô cấp bộ, ngành, học viện; cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng; cả thực hiện nghiên cứu đề tài cũng như tổ chức các buổi hội thảo, trao đổi, báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học.

Cùng với đa dạng hóa quy mô, hình thức nghiên cứu, cần thường xuyên tổ chức tốt công tác thông tin và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác nghiên cứu khoa học; quan tâm mở rộng mối quan hệ hợp tác, liên kết nghiên cứu khoa học với các cơ sở, trung tâm nghiên cứu cả trong và ngoài Quân đội. Qua đó, tạo môi trường thúc đẩy, không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học ở các học viện trong Quân đội.

Có thể thấy rằng, lãnh đạo, chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học ở các học viện trong Quân đội không chỉ trực tiếp tác động đến chất lượng công tác giáo dục, đào tạo, mà còn đóng góp quan trọng vào sự phát triển của nền khoa học quân sự Việt Nam, phục vụ kịp thời, hiệu quả cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay. Để quá trình lãnh đạo, chỉ đạo mang lại hiệu quả thiết thực, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp và biện pháp và vận dụng linh hoạt, phù hợp trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

_________________

(1) Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị (2020): Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 (Dùng cho cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội), Nxb Quân đội nhân dân,Hà Nội, tr.56.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.77.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.115.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. ĐCSVN (2012): Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 01/11/2012 của Ban Chấp hành Trung ương (khoá XI) về “Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Hà Nội.

2. ĐCSVN (2013): Nghị quyết số 29, Hội nghị Trung ương tám khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Hà Nội.  

3. ĐCSVN (2016): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 

4. ĐCSVN (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

5. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (2014): Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong các học viện trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

NCSThS HOÀNG CHUNG HIẾU

Học viện Chính trị

 

Vận dụng mô hình kinh tế chia sẻ trong phát triển kinh tế nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp

(LLCT) - Mô hình kinh tế chia sẻ đã bắt đầu xuất hiện trong một số lĩnh vực ở Việt Nam. Trong lĩnh vực nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã sớm ban hành các chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên đến nay, trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và các hợp tác xã nông nghiệp vẫn chưa có một văn bản hướng dẫn, đánh giá, định vị việc thực hiện kinh doanh theo mô hình này. Trên cơ sở đánh giá tình hình ứng dụng mô hình kinh tế chia sẻ, bài viết đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2025. Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp quốc gia: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp ứng dụng mô hình kinh tế chia sẻ vào hoạt động của hợp tác xã trong sản xuất nông nghiệp”, do PGS, TS Đỗ Minh Cương làm Chủ nhiệm.


1. Tình hình ứng dụng mô hình kinh tế chia sẻ trong ngành nông nghiệp Việt Nam

Mô hình kinh tế chia sẻ (Sharing Economy Model - sau đây viết tắt là MHKTCS) là một phương thức kinh doanh khai thác, quản trị các nguồn lực kinh tế, tài sản đang dôi dư của xã hội, theo các nguyên tắc cùng kết nối, chia sẻ (share), hợp tác (collaborative), cùng có lợi, cùng đạt được mục tiêu giảm chi phí, tăng hiệu quả và phát triển bền vững. Nó kết nối, trao đổi các thành viên trên một nền tảng công nghệ (platform) nhanh, tiện lợi và minh bạch thông tin.

Tại Việt Nam, kinh tế chia sẻ có thể hiểu là một phương thức kinh doanh mới mà ở đó tài sản và dịch vụ được chia sẻ cho nhiều người sử dụng trên thị trường thông qua sử dụng các nền tảng số(1).

Các loại hình kinh tế chia sẻ đã xuất hiện phổ biến ở Việt Nam là: (1) Lĩnh vực vận tải với dịch vụ chia sẻ phương tiện giao thông (như Grab, Go Viet, Dichung, Fastgo, Be, v.v..); (2) Dịch vụ lưu trú, du lịch (như Airbnb, Travelmob, Luxstay); (3) Lĩnh vực tài chính với dịch vụ cho vay ngang hàng (chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp Fintech). Ngoài ra, nhiều dịch vụ khác cũng đã được hình thành như chia sẻ không gian làm việc (coworking space), chia sẻ lao động và việc làm v.v..(2)

Ngày 12-8-2019, Chính phủ ban hành Quyết định số 999/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án Thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ” với mục tiêu bảo đảm môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp theo MHKTCS và kinh tế truyền thống. Chính phủ đã công nhận hình thức kinh doanh mới này với mục tiêu quản lý, thúc đẩy việc tận dụng các nguồn lực, tài nguyên còn dư thừa hoặc đang bị sử dụng lãng phí trong xã hội nhằm phát triển các hoạt động kinh tế dựa trên ứng dụng công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Quyết định số 999/QĐ-TTg tạo nền tảng pháp lý, một sân chơi chung, có sự hậu thuẫn của Nhà nước, giúp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, kinh doanh theo MHKTCS được thừa nhận và cạnh tranh bình đẳng với các công ty kinh doanh theo mô hình truyền thống. Điều quan trọng nhất trong phát triển của mô hình kinh tế này là mang lại nhiều sự lựa chọn và lợi ích cho người dùng(3).

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhằm tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực cho sản xuất giai đoạn 2016-2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tập trung tổ chức triển khai các mô hình khuyến khích liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Ngày 5-7-2018, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trình Chính phủ ban hành Quyết định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Tuy nhiên, có thể thấy hiện nay, trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và các hợp tác xã nông nghiệp vẫn chưa có một văn bản hướng dẫn, định vị việc thực hiện kinh doanh theo MHKTCS là thế nào, xác định việc đánh giá theo mức độ ứng dụng ra sao. Đây được coi là khoảng trống chính sách đặt ra trong những năm tới.

Đến giữa năm 2021, cả nước có 57/63 tỉnh, thành phố đã ban hành nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố về chính sách khuyến khích liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; 48/63 tỉnh ban hành danh mục các ngành hàng, sản phẩm chủ lực quan trọng cần khuyến khích phát triển; 35/63 tỉnh ban hành phân cấp phê duyệt hỗ trợ liên kết; 19/63 tỉnh đã ban hành kế hoạch liên kết; 16/63 tỉnh phê duyệt đề án, dự án liên kết của tỉnh với 359 dự án được phê duyệt; 271 tổ chức khoa học, 586.585 hộ nông dân, 4.028 hợp tác xã nông nghiệp tham gia liên kết với 1.867 doanh nghiệp trong sản xuất, thu hoạch chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Có 1.644 chuỗi nông sản an toàn được chứng nhận với 2.346 sản phẩm, 823 hợp tác xã nông nghiệp sở hữu các sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm). Hiện đã xây dựng được 26/30 mô hình chuỗi liên kết giữa hộ nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ nông sản; xây dựng thí điểm 6 mô hình cơ giới hóa đồng bộ sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long và cà phê ở Tây Nguyên.

Việc tổ chức liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác và doanh nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt hơn so với sản xuất truyền thống. Ở đồng bằng sông Cửu Long, mỗi hécta lúa tham gia trong cánh đồng lớn có thể giảm chi phí sản xuất từ 10% đến 15% và giá trị sản lượng có thể tăng 20-25%, thu lời thêm từ 2,2 đến 7,5 triệu đồng/ha. Ở miền Bắc, giá trị sản lượng tăng trung bình từ 17% đến 25% tùy theo từng địa phương. Các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị đã trở lên khá phổ biến, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Tỷ lệ diện tích sản xuất theo mô hình cánh đồng lớn được ký hợp đồng bao tiêu trước khi sản xuất đạt 27%, trong đó có đến 12/48 tỉnh đạt 100%.

Các chính sách và hoạt động trên đã tiếp cận tới một số yếu tố và nội dung của KTCS nhưng về mặt quản lý nhà nước, vẫn chưa có một chính sách hay kế hoạch tập trung vào nghiên cứu, ứng dụng và thúc đẩy sự phát triển của MHKTCS trong nông nghiệp.

Hiện nay, trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nông nghiệp đang có nhu cầu lớn về hợp tác, chia sẻ giữa các chủ thể như: chia sẻ thông tin nguồn gốc sản phẩm (dùng QR code), chia sẻ thông tin thị trường, chia sẻ thông tin và dịch vụ về dùng chung công cụ sản xuất, xây dựng chuỗi giá trị, chia sẻ hoạt động tài chính... Tuy nhiên đến nay, việc xác định cấp độ, mức độ chia sẻ vẫn chưa có văn bản, cơ chế ban hành. Do đó, rất khó có thể xác định được các chủ thể tham gia loại hình chia sẻ này đang ở mức độ nào để từ đó nhận dạng, định chuẩn và có chính sách khuyến khích phát triển và quản lý phù hợp, hiệu quả. Quản lý nhà nước vẫn chưa có các chính sách, quy định hướng dẫn, hỗ trợ và thúc đẩy các hợp tác xã ứng dụng, phát triển các công nghệ và lợi thế của MHKTCS vào sản xuất, kinh doanh.

2. Các quan điểm và giải pháp thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ trong phát triển kinh tế nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp giai đoạn 2021-2025

Quan điểm, chủ trương, định hướng thúc đẩy việc vận dụng mô hình kinh tế chia sẻ trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp

Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động như hiện nay, với sự phát triển không ngừng của các công nghệ cao, công nghệ số, thì việc chấp nhận và phát triển các loại hình kinh tế mới trong đó có MHKTCS là xu hướng tất yếu. Quyết định số 255/QĐ-TTg ngày 25-2-2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2025 với mục tiêu chung “Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh nông sản; bảo vệ môi trường, sinh thái; nâng cao thu nhập cho người dân ở khu vực nông thôn; bảo đảm an ninh lương thực và an ninh quốc phòng. Đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp hiện đại, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, gắn với phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thích ứng với biến đổi khí hậu và kết nối bền vững với chuỗi giá trị nông sản toàn cầu”. Đây được coi là mục tiêu chiến lược đặt ra nhiều thách thức cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp giai đoạn 2021-2025.

Sau Đại hội XIII của Đảng, vấn đề xây dựng pháp luật, triển khai các chính sách nhằm phát triển nông nghiệp trong bối cảnh mới được coi là 1 trong 3 đột phá về mặt thể chế. Do vậy, để thúc đẩy việc ứng dụng, vận hành MHKTCS trong nông nghiệp, đặc biệt là trong các doanh nghiệp và hợp tác xã kinh doanh nông nghiệp, cần thống nhất các quan điểm sau:

Thứ nhất, đối với công tác quản lý nhà nước cần cụ thể hóa và hiện thực hóa các quan điểm trong Quyết định số 999/QĐ-TTg, đó là:

Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa KTCS và kinh tế truyền thống: rà soát, bãi bỏ các quy định điều kiện kinh doanh không phù hợp trong nền kinh tế hiện nay, đặc biệt là áp dụng cho MHKTCS.

Xây dựng các chính sách chủ động phát triển KTCS, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn phù hợp nhằm khuyến khích đổi mới và phát triển công nghệ, ưu tiên nghiên cứu phát triển các nền tảng công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng số và phát triển KTCS.

Đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế: các bộ, ngành tăng cường phối hợp trong công tác điều hành quản lý nhà nước; đẩy nhanh thực hiện xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số và nền kinh tế số.

Xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin và cơ sở dữ liệu giữa chính quyền các cấp và các doanh nghiệp, các hiệp hội ngành, nghề và các hộ kinh doanh, hợp tác xã...

Nâng cao năng lực quản lý nhà nước bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, bảo vệ quyền riêng tư của công dân, tổ chức, bảo đảm chủ quyền trên không gian mạng. Xây dựng cơ chế để các bên trong hoạt động KTCS có thể kiểm soát việc sử dụng thông tin theo đúng thỏa thuận; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ nhằm khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh tốt trên nền tảng công nghệ số.

Thứ hai, đối với các chủ thể, doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia thị trường:

Cá nhân, hợp tác xã và doanh nghiệp cần hiểu rõ trách nhiệm về khai báo thông tin liên quan đến các hoạt động của KTCS cho các cơ quan quản lý nhà nước, bao gồm các thông tin hoạt động, nghĩa vụ thuế và các quy định quản lý chuyên ngành.

Xây dựng cơ chế, chính sách giảm thiểu rủi ro cho các bên trong hoạt động KTCS bao gồm cảnh báo sớm cho người cung cấp dịch vụ, hạn chế nạn giả danh, lừa đảo, tống tiền trên môi trường mạng.

Giải quyết vấn đề nảy sinh trong KTCS như vấn đề lao động, việc làm, an sinh xã hội.

Tạo thị trường cho mọi công dân tham gia vào các hoạt động kinh doanh chia sẻ (bao gồm cả không gian, hàng hóa và kỹ năng). Khuyến khích các hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số trong nông nghiệp.

Có mục tiêu, kế hoạch sản xuất - kinh doanh nông nghiệp sạch, chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế (Viet Gap, Global Gap, nông phẩm hữu cơ...), xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý cho nông sản đủ điều kiện xuất khẩu chính ngạch, chiếm lĩnh các thị trường quốc tế khó tính.

Thứ ba, đối với bên cung cấp nền tảng công nghệ:

Bảo đảm dịch vụ được thông suốt và công khai các tính năng của dịch vụ.

Có chính sách cho phép thử nghiệm trong phạm vi hẹp đối với các hoạt động cung cấp nền tảng mới; tôn trọng tính mới, tính sáng tạo của hoạt động doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp cung cấp nền tảng, các công nghệ, mô hình kinh doanh mới. 

Thứ tư, đối với người tiêu dùng:

Giáo dục, truyền thông về kiến thức, kỹ năng sử dụng công nghệ số, dịch vụ kinh tế số, pháp luật về hợp đồng số cho người sử dụng dịch vụ. Xây dựng thói quen sử dụng nông sản sạch, ủng hộ sự phát triển nông nghiệp số hóa, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh doanh tử tế trong nông nghiệp Việt Nam.

Các bộ, ngành tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin và dữ liệu với nhau trong công tác điều hành quản lý nhà nước; đồng thời xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin và dữ liệu giữa các bộ, ngành với chính quyền các cấp, các doanh nghiệp, các hiệp hội ngành nghề.

Nhà nước cần xây dựng cơ chế, chính sách giảm thiểu rủi ro cho các bên trong hoạt động KTCS bao gồm cơ chế bảo vệ người tiêu dùng.

Giải pháp thúc đẩy MHKTCS phát triển kinh tế nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp giai đoạn 2021-2025 là:

Một là, Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống luật pháp quản lý KTCS, quy định rõ trách nhiệm giữa các bên, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý.

Hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia, cổng dịch vụ công trực tuyến số hóa quốc gia; thúc đẩy sự chia sẻ thông tin và dữ liệu giữa các bộ, ngành với chính quyền các cấp, các doanh nghiệp, hợp tác xã, các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác. Qua đó, mở rộng sự tham gia của xã hội vào xây dựng, phản biện chính sách, vào giám sát hoạt động KTCS và hoạt động quản lý nhà nước đối với KTCS nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và người cung cấp dịch vụ.

Khuyến khích ứng dụng công nghệ cao, các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo theo mô hình KTCS trong kinh doanh nông nghiệp. Thúc đẩy sự gắn kết, chia sẻ giữa doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp cung cấp nền tảng với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học trong quá trình nghiên cứu - thiết kế - ứng dụng các tiến bộ công nghệ, tiếp nhận và triển khai các công nghệ mới của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào sản xuất, kinh doanh nông nghiệp theo MHKTCS và mô hình kinh tế mới khác.

Ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn phù hợp cùng các phương pháp đánh giá để phổ biến rộng rãi nhằm phục vụ quản lý nhà nước về KTCS nói chung, về nông nghiệp nói riêng phục vụ hoạt động giám sát, đánh giá của cộng đồng về chất lượng dịch vụ, bảo vệ người tiêu dùng.

Tăng cường công tác dự báo sớm về tác động của sự phát triển các loại hình KTCS tới kết cấu kinh tế truyền thống ở một số ngành, nghề, lĩnh vực để có phương án điều tiết vĩ mô nhằm giảm thiểu những tổn thất cho kinh tế truyền thống; hỗ trợ các doanh nghiệp truyền thống chuyển đổi hình thức kinh doanh, ứng dụng công nghệ mới...

Hai là, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện khung khổ luật pháp, chính sách về tạo lập môi trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp hoạt động áp dụng MHKTCS và doanh nghiệp kinh doanh truyền thống, giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài theo MHKTCS.

Ba là, nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về thị trường lao động liên quan đến MHKTCS (quản lý, khai báo lao động, nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo hiểm...) để các doanh nghiệp theo MHKTCS hoạt động theo đúng pháp luật và quy định của Việt Nam

Bốn là, chủ động xây dựng điều chỉnh chính sách thuế (các biểu thuế, mức thuế suất, cơ sở tính thuế và lộ trình áp dụng các mức thuế suất...) đối với từng loại hình kinh doanh theo MHKTCS (bao gồm cả các biến tướng của nó) nhằm giải quyết các tác động ngoại ứng của mô hình này đối với nhu cầu huy động vốn đầu tư từ NSNN cho phát triển kinh tế trong tương lai để giải quyết các vấn đề về môi trường.

Năm là, hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền tài sản và cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến những tổn thất của doanh nghiệp kinh doanh truyền thống do bị cạnh tranh không lành mạnh, hoặc cạnh tranh không công bằng với doanh nghiệp KTCS gây ra.

Sáu là, xây dựng cơ chế đánh giá dịch vụ cung ứng từ 3 chiều: đơn vị cung ứng, người sử dụng sản phẩm/dịch vụ và đơn vị cung cấp dịch vụ nền tảng.

Đối với các lĩnh vực kinh doanh dựa trên nền tảng công nghệ như thương mại điện tử hiện nay, cần có cơ chế đánh giá điểm đối với từng chủ thể như:

Với nhà cung cấp nền tảng, bảo đảm sản phẩm cung cấp đúng chất lượng, tránh rủi ro cho người tiêu dùng, bảo đảm chi phí chi trả nền tảng hợp lý của nhà cung cấp sản phẩm/dịch vụ.

Với nhà cung cấp sản phẩm/dịch vụ, việc đánh giá bảng điểm sẽ cho biết mức độ chất lượng uy tín của chủ thể trên thị trường, tránh nạn buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng và lừa đảo trên thị trường.

 Với người sử dụng: tính điểm tín nhiệm và lịch sử tiêu dùng, hạn chế việc tranh chấp trong tiêu dùng, làm thay đổi chất lượng hàng hóa/dịch vụ, nhận biết được người sử dụng không trung thực, tránh lừa đảo.

Bảy là, thực hiện đồng bộ các giải pháp trong Chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp giai đoạn 2021-2025:

(i) Cần đẩy mạnh các giải pháp triển khai thực hiện các nội dung theo Kết luận số 70-KL/TW ngày 9-3-2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; Quyết định số 1804/QĐ-TTg ngày 13-11-2020 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021-2025 vào thực tiễn.

(ii) Xây dựng nghị quyết của Chính phủ về phát triển hợp tác xã nông nghiệp phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trong bối cảnh mới hiện nay.

(iii) Xây dựng kế hoạch hành động của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện Nghị quyết số 134/NQ-CP ngày 25-9-2020 của Chính phủ về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.

(iv) Xây dựng nghị định về phát triển hợp tác xã gắn với đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025.

(v) Xây dựng thông tư sửa đổi Thông tư số 09/2017/TT-BNNPTNT về hướng dẫn phân loại và đánh giá hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.

(vi) Xây dựng các đề án, dự án phát triển hợp tác xã nông nghiệp: Đề án Khởi nghiệp phát triển hợp tác xã nông nghiệp; Đề án Hợp tác xã nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long; Đề án Phát triển hợp tác xã nông nghiệp giai đoạn 2021-2025; Dự án đầu tư kết cấu hạ tầng hỗ trợ hợp tác xã phát triển vùng nguyên liệu liên vùng phục vụ chế biến và xuất khẩu nông sản.

(vii) Triển khai lựa chọn xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới trong lĩnh vực nông nghiệp theo Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 3-2-2021 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới hiệu quả tại các địa phương trên cả nước giai đoạn 2021-2025.

(viii) Tiếp tục đẩy mạnh phát triển các hình thức liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP; tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương xây dựng, triển khai sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp theo các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị tại các địa phương.

Bên cạnh đó, cần thực hiện các giải pháp cụ thể khác như: hình thành cơ chế xác định và nhận dạng các hình thức kinh doanh theo MHKTCS để phát triển kinh tế nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp; tạo dựng cơ chế, mức độ phát triển hoạt động kinh tế chia sẻ trong các hợp tác xã nông nghiệp, để từ đó có chính sách tương ứng nhằm khuyến khích và phát triển bền vững hợp tác xã; xây dựng các mô hình thực nghiệm, thí điểm ứng dụng MHKTCS vào hợp tác xã trong kinh doanh nông nghiệp để nhân rộng ra khi bảo đảm các điều kiện và yêu cầu.

__________________

(1) Trung tâm Thông tin - Tư liệu, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương: Chuyên đề số 14: Quản lý nhà nước trong nền kinh tế chia sẻ: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam, tr.4.

(2) TS Chu Thị Hoa: “Kinh tế chia sẻ trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và một số yêu cầu về xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghề luật số 7-2019, tr.24-31.

(3) Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Báo cáo đánh giá tác động của một số loại hình kinh tế chia sẻ chính tới nền kinh tế, tr.5.

Nguồn: PGS, TS ĐỖ MINH CƯƠNG

Đại học FPT

TS HOÀNG VĂN CƯƠNG

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Không làm gì cả là vi phạm pháp luật bởi không thực hiện bổn phận, nghĩa vụ mà Nhà nước trao

          Không làm gì cả là vi phạm pháp luật bởi không thực hiện bổn phận, nghĩa vụ mà Nhà nước trao. Như vậy là vô trách nhiệm và vi phạm pháp luật, phải xử lý. Tuy nhiên, tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện nay chưa thấy quy định cụ thể để xử lý cán bộ, công chức né việc, chỉ thấy các quy định xử lý khi cán bộ không chấp hành giờ làm việc, nghỉ việc không đúng quy định, làm việc riêng trong giờ hành chính… Còn khi cán bộ, công chức vẫn ở cơ quan theo đúng quy định thì không dễ để xử lý khi công việc chưa hoàn thành.

        Thời gian qua, xuất hiện một kiểu hành xử khá “cù nhầy” trong thực thi công vụ, ấy là cứ gửi văn bản lên hỏi cấp trên, hỏi các cơ quan quản lý ngành, mặc dù theo quy định của pháp luật thì cơ quan, địa phương ấy đủ thẩm quyền để quyết định, xử lý công việc và chịu trách nhiệm. Cơ quan quản lý ngành khi nhận được văn bản lại trả lời rất chung chung là: “Đề nghị thực hiện theo đúng quy định của pháp luật”.

        Như vậy là “quả bóng” trách nhiệm cứ được đá qua đá lại giữa các cơ quan, bộ, ngành, địa phương. Công việc cứ bị đình trệ, thiệt hại thì rất lớn, nhưng cũng không thấy ai phải chịu trách nhiệm. Bởi thực tế là với một cán bộ không tham mưu hay ký quyết định bị phát hiện là sai phạm pháp luật thì cũng không dễ để xử lý, kỷ luật họ. Công việc chưa thông nhiều khi được cán bộ giải thích rằng chưa đủ căn cứ pháp luật để giải quyết và việc gửi các văn bản hỏi lòng vòng một cách không cần thiết cũng được giải thích là quá trình thực thi nhiệm vụ, không dễ để bắt lỗi.