Thứ Tư, 27 tháng 9, 2023

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG 35 NĂM ĐỔI MỚI

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “gia đình là hạt nhân của xã hội”. Người nêu ra và làm rõ các khái niệm về gia đình Việt Nam với nghĩa hẹp và nghĩa rộng, nghĩa cũ và nghĩa mới. Vận dụng tư tưởng của Người, trong 35 năm (1986-2021) thực hiện đường lối đổi mới, Đảng đã từng bước đề ra chủ trương xây dựng gia đình Việt Nam có cuộc sống no ấm, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Đó cũng chính là mục tiêu của cách mạng Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra ngay từ năm 1930, đó là: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.

1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về gia đình Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam gắn liền với truyền thống xây dựng và phát triển gia đình no ấm, hạnh phúc. Gia đình Việt Nam chính là một trong những cơ sở nền tảng để xây dựng nên con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đánh giá rất cao vai trò của gia đình trong mối quan hệ với xã hội, với cách mạng, với đất nước. Người cho rằng: “Gia đình là hạt nhân của xã hội.”; “Hạt nhân của xã hội là gia đình”3 và phân tích làm rõ khái niệm gia đình: “Gia đình có nghĩa cũ và nghĩa mới, nghĩa hẹp và nghĩa rộng. “Gia” là nhà. “Đình” là sân. Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp hòi trong một cái nhà, cái sân. Nghĩa là chỉ lo cho cha mẹ, vợ con trong nhà mình ấm no yên ổn, ngoài ra ai nghèo khổ mặc ai. Như thế là ích kỷ, không tốt. Theo nghĩa mới thì gia đình rộng rãi hơn, tốt đẹp hơn. Thí dụ, những người cùng lao động trong một nhà máy, trong một cơ quan, trong một hợp tác xã... đều phải đoàn kết và thương yêu nhau như anh em trong một gia đình. Rộng ra nữa là đồng bào cả nước đều là anh em trong một đại gia đình...
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Rộng hơn nữa, chúng ta có đại gia đình xã hội chủ nghĩa:
Lọ là thân thích ruột rà,
Công nông thế giới đều là anh em”.
Người cho rằng “Mỗi người chúng ta có hai gia đình: Gia đình riêng, nhỏ, và đại gia đình là Tổ quốc”. Người cách mạng phải sẵn sàng hy sinh gia đình nhỏ (gia đình riêng) cho gia đình lớn (Tổ quốc): “Gia đình to (là cả nước) và gia đình nhỏ: cái nào nặng, cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to. Vì người cách mạng biết nếu gia đình to bị áp bức, bóc lột thì gia đình nhỏ sẽ suy sụp, không phát triển được. Vì vậy, không thể bo bo giữ gia đình nhỏ mà không nghĩ đến gia đình to. Đấy là cách hiểu xa thấy rộng. Phải hy sinh cái nhỏ cho cái lớn. Phải hy sinh cái riêng cho cái chung. Chữ tình, chữ hiếu, cũng phải hiểu một cách rộng và hiểu như thế mới là đúng. Giữa lợi ích riêng và lợi ích chung phải chọn lấy một. Mà phải chọn cái ích chung... Nếu phải hy sinh gia đình nhỏ cho gia đình lớn cũng phải làm. Phải dứt khoát, tuyệt đối không được chọn gia đình nhỏ. Có một số cán bộ không yên tâm công tác là vì không hiểu cái đó. Phải hy sinh cái riêng, cái nhỏ để phục vụ cái chung, cái to” . Vì mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc và xây dựng một xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, mọi người dân đều có cuộc sống no ấm, tự do, hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đến chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản, gia đình chung đã có hạnh phúc thì gia đình riêng cũng có hạnh phúc”. Còn trường hợp giành được “tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”. Người nhấn mạnh: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Đối với cá nhân mình, Người tự nhận rằng, “Bác tuy không có gia đình riêng, nhưng Bác có một đại gia đình rất lớn, đó là giai cấp công nhân toàn thế giới, là nhân dân Việt Nam”.
Với quan điểm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể quần chúng cần phải chăm lo xây dựng gia đình Việt Nam cả theo nghĩa hẹp, nghĩa rộng và nghĩa mới.
Để có cơ sở vững chắc cho việc xây dựng gia đình nhỏ của mỗi người được hạnh phúc, Quốc hội đã xây dựng Luật Hôn nhân và Gia đình. Ngày 10-10-1959, nói chuyện tại Hội nghị Cán bộ thảo luận dự thảo luật này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”. Người cho rằng, trong xây dựng gia đình Việt Nam theo nghĩa hẹp, nghĩa rộng và nghĩa mới cần phải giải phóng phụ nữ vì phụ nữ chiếm phân nửa xã hội: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”. Người nhấn mạnh việc Quốc hội thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình “là một cuộc cách mạng”. Luật Hôn nhân và Gia đình “nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phân nửa xã hội. Giải phóng người đàn bà, đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông”. Việc thực hiện tốt Luật Hôn nhân và Gia đình “gia đình sẽ có hạnh phúc, và sẽ góp phần vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.
Người nhắc nhở chị em phụ nữ cần phải chủ động tự giải phóng mình: “Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh”. Muốn thuận vợ, thuận chồng, muốn gia đình hạnh phúc thì nam nữ kết hôn phải thực sự yêu đương nhau.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mỗi gia đình Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Cuộc đấu tranh giành thống nhất đất nước hiện nay của đồng bào miền Nam và miền Bắc cũng là để cho gia đình chúng ta sum họp”. Người nhắc nhở mọi gia đình Việt Nam đoàn kết thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam: “Mọi gia đình đều đoàn kết cộng lại thành xã hội đại đoàn kết. Đại đoàn kết là sức mạnh vô địch của nhân dân ta trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và trong sự nghiệp đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”.
Báo cáo tại Hội nghị Chính trị đặc biệt, ngày 27-3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Xã hội miền Bắc ngày nay là xã hội của những người lao động làm chủ tập thể, nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống mới cho mình và cho con cháu muôn đời mai sau. Xã hội miền Bắc ngày nay là một đại gia đình gồm mọi tầng lớp nhân dân, mọi dân tộc anh em thân ái đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, đồng cam cộng khổ, phấn đấu cho lợi ích chung của Tổ quốc. Chế độ ta là chế độ mới, nhân dân ta đang trau dồi đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa của những người lao động “ta vì mọi người, mọi người vì ta”. Trong khi xây dựng cái mới, chúng ta phát triển những đức tính tốt đẹp của tổ tiên ta và học tập những gương tốt của nhân dân các nước anh em”.
2. Sự vận dụng của Đảng trong xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng kể từ khi ra đời (năm 1930) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trong công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay, kế thừa và phát triển quan điểm của Hồ Chí Minh về Gia đình là hạt nhân của xã hội; Hạt nhân của xã hội là gia đình, Đại hội VI (1986) của Đảng xác định: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới”; “Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình”. Thực hiện những căn dặn của Người: “Đã là đại gia đình, thì sự săn sóc, dạy dỗ cũng không chỉ nhằm làm cho con cháu mình khỏe và ngoan, mà phải cố gắng giúp đỡ cho tất cả các cháu đều ngoan và khỏe”. Đại hội VI của Đảng khẳng định: “Nâng cao trình độ tự giác xây dựng những quan hệ tình cảm, đạo đức trong từng gia đình, bảo đảm sinh đẻ có kế hoạch và nuôi dạy con ngoan, tổ chức tốt cuộc sống vật chất, văn hóa của gia đình”.
Về văn hóa, Đại hội VII (1991) của Đảng nêu rõ: “Xây dựng gia đình văn hóa mới có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, thực hiện kế hoạch hóa dân số, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người. Kết hợp và phát huy vai trò của xã hội, các đoàn thể, nhà trường, tập thể lao động và tập thể dân cư trong việc chăm lo bồi dưỡng tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách con người mới và nền văn hóa mới”. Đại hội VII thông qua Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nêu rõ 6 đặc trưng của CNXH, trong đó nêu rõ: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Các chính sách của Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ. Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người. Đơn vị sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu phải là môi trường xây dựng phong cách lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất và hiệu quả cao, nơi thể hiện tình bạn, tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách con người mới và nền văn hóa mới”.
Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của gia đình đối sự phát triển nền kinh tế - xã hội đất nước, Đại hội VI của Đảng chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế gia đình. Năm 1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” xác định hộ gia đình là đơn vị kinh tế: “Các đơn vị quốc doanh, tập thể có trách nhiệm tạo điều kiện, hướng dẫn, giúp đỡ cho kinh tế gia đình phát triển”. Đây là quan điểm mới, tạo điều kiện để gia đình có nền tảng kinh tế làm cơ sở để xây dựng cuộc sống no ấm, hạnh phúc. Đến Đại hội VII (1991) của Đảng, kinh tế gia đình tiếp tục được khẳng định “Phát triển mạnh kinh tế gia đình bằng nhiều hình thức”. Đặc biệt, ngày 21-2-2005, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 49-CT/TW “Về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đã chỉ rõ: “Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình; nhân rộng các mô hình kinh tế hộ tiên tiến; bảo đảm kết quả bền vững của chương trình xoá đói, giảm nghèo và tạo việc làm, nhất là ở các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, quan tâm đặc biệt tới các gia đình có công với cách mạng, gia đình là nạn nhân của chiến tranh”.
Vận dụng và phát triển quan điểm của Hồ Chí Minh “Hạt nhân của xã hội là gia đình... muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”, sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội VIII (1996) của Đảng xác định: “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, ngày 16-7-1998, Ban Chấp hành Trung ương ra Nghị quyết số 03-NQ/TW (Nghị quyết HNTƯ 5) “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” xác định: “Gìn giữ và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa. Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội”.
Thực hiện quan điểm của Hồ Chí Minh: nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, Đại hội IX (2001) của Đảng nêu rõ trách nhiệm của gia đình trong việc giáo dục phát triển nhân cách, lối sống của các thành viên trong gia đình: “Nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hoá, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội”. Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21-2-2005, của Ban Bí thư Trung ương “Về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (Chỉ thị đầu tiên của Đảng chuyên bàn về xây dựng gia đình Việt Nam), nêu rõ gia đình là “nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; “Trải qua nhiều thế hệ, gia đình việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn học dân tộc. Những giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù và sáng tạo trong lao động, bất khuất, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam gìn giữ, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước”. Trên cơ sở đánh giá khái quát về gia đình Việt Nam, Chỉ thị xác định các nhiệm vụ xây dựng gia đình đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, trong đó xác định rõ đầu tư cho gia đình là đầu tư cho phát triển bền vững.
Triển khai thực hiện những chủ trương trên của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể đã ban hành nhiều chính sách, biện pháp thực hiện. Trong đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg lấy ngày 28-6 hằng năm làm “Ngày Gia đình Việt Nam”, nhằm đề cao trách nhiệm của lãnh đạo các ngành, các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể các gia đình thường xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Về tổ chức, ngày 11-11-2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2002/NĐ-CP Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em nêu rõ đây là cơ quan ngang bộ của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dân số, gia đình và trẻ em.
Đảng không ngừng chú trọng thực hiện quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng gia đình Việt Nam gắn với phải giải phóng phụ nữ, vì không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa nhân loại, là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa. Gia đình có trách nhiệm với các thành viên và với xã hội; Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ sự ổn định và phát triển của gia đình. Xây dựng gia đình phải luôn gắn với sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác gia đình, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên; chủ động rà soát, đánh giá tình hình gia đình tại địa phương, xây dựng và triển khai các kế hoạch, đề án cá thể giải quyết những khó khăn, thách thức về gia đình và công tác gia đình. Giáo dục và vận động mọi gia đình tự nguyện tự giác, tích cực thực hiện nếp sống văn minh. Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam gắn với xây dựng những giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển. Các ban, ngành, đoàn thể, cộng đồng và gia đình tham gia tích cực xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, khu phố văn hoá, cụm dân cư văn hoá. Xây dựng và triển khai chiến lược và chương trình mục tiêu về công tác gia đình...
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ, gia đình hạnh phúc sẽ góp phần vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội được Đảng kế thừa và phát triển trong thực tiễn. Vận dụng quan điểm của Người, Đại hội X (2006) của Đảng xác định: “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội XI (2011) của Đảng chỉ ra rằng: “Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hoá, con người Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”; “Quan tâm chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hóa, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc. Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập của người cao tuổi trong xã hội và gia đình. Tiếp tục xây dựng gia đình “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau”; giúp đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa”. Đại hội thông qua Cương lĩnh Xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) trong đó nêu rõ: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Đơn vị sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu phải là môi trường rèn luyện phong cách làm việc có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất và hiệu quả cao, bồi đắp tình bạn, tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách con người và nền văn hóa Việt Nam”. Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 3-1-2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2013/NĐ-CP “quy định về công tác gia đình”, nêu rõ: Công tác gia đình là hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, ngày 9-6-2014, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW (Nghị quyết HNTƯ 9 khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, xác định: “Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, có nền nếp, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau”. Đại hội XII (2016) của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh” và khẳng định lại những nội dung xây dựng gia đình Việt Nam được nêu ra tại Đại hội XI của Đảng.
Sau 35 năm (1986-2021) thực hiện đường lối đổi mới với quan điểm của Đảng: gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới, công tác xây dựng gia đình Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần vào những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, công tác xây dựng gia đình Việt Nam có cuộc sống ấm no, hạnh phúc vẫn còn có những hạn chế, đặc biệt là bệnh thành tích trong xây dựng gia đình văn hóa. Trước thực tế đó, Đại hội XIII (2021) của Đảng chỉ rõ cần phải khắc phục bệnh thành tích, bệnh hình thức trong xây dựng gia đình Việt Nam. Đồng thời, tập trung “phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”; “thực hiện các chuẩn mực văn hóa gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh”. Trong quá trình đó, “đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”; “Tiếp tục xây dựng gia đình kiểu mẫu “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau”; “Kính trọng, bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi. Bảo trợ, giúp đỡ người cao tuổi gặp khó khăn, cô đơn không nơi nương tựa”.
Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 30-12-2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2238/QĐ-TTg “Phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030”. Quyết định nêu rõ: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển bền vững; là trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội”; “Phát huy vai trò của gia đình nhằm tạo môi trường giáo dục sớm, góp phần xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, phát triển toàn diện, trở thành trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Mục tiêu chung của chiến lược này là: “Xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, là hạt nhân, tế bào lành mạnh của xã hội, tổ ấm của mỗi người; là nơi nuôi dưỡng, bồi đắp nhân cách, lối sống tôn trọng đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc; phát huy, nhân rộng các giá trị tốt đẹp góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước”.
Những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng gia đình Việt Nam đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức đoàn thể triển khai thực hiện đạt kết quảquan trọng. Đến giữa năm 2021, công tác xây dựng gia đình Việt nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Ban Bí thư Trung ương đã nhận định rằng “Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể đã xác định công tác xây dựng gia đình là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình công tác. Nhiều gia đình đã tiếp cận được những dịch vụ xã hội cơ bản, chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao. Kinh tế hộ gia đình đã đóng vai trò quan trọng trong thu nhập quốc dân; nhiều hộ gia đình đã nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng. Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và chăm sóc người cao tuổi trong gia đình được coi trọng và có nhiều tiến bộ. Bình đẳng giới, quyền trẻ em, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được đề cao. Chăm lo, vun đắp, xây dựng, giữ gìn hạnh phúc gia đình là giá trị cao đẹp mà mỗi người Việt Nam luôn quan tâm thực hiện và hướng tới. Các giá trị chung thủy, yêu thương, chia sẻ và bình đẳng trong hôn nhân luôn được coi trọng... Những thành tựu của công tác xây dựng gia đình đã góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam; thực hiện thành công Mục tiêu Thiên niên kỷ về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh”.
Kinh tế hộ gia đình đã đóng vai trò quan trọng tại các địa phương; nhiều hộ gia đình đã nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng. Công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và chăm sóc người cao tuổi trong gia đình được coi trọng. Bình đẳng giới, quyền trẻ em, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được đề cao. Các giá trị chung thủy, yêu thương, chia sẻ và bình đẳng trong hôn nhân được các gia đình coi trọng. Những thành tựu của công tác xây dựng gia đình đã góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam; thực hiện thành công Mục tiêu Thiên niên kỷ về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh.
Gia đình là hạt nhân của xã hội, tồn tại và phát triển trong suốt quá trình ra đời và phát triển của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình đó, khái niệm về gia đình được mở rộng, đó là gia đình nhỏ - gia đình hạt nhân và gia đình lớn mang tầm quốc, gia dân tộc. Trải qua các quá trình lịch sử, gia đình Việt Nam đã hun đúc nên nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới vấn đề gia đình Việt Nam. Người đã phân tích làm rõ các khái niệm về gia đình và mối quan hệ giữa các hình thức gia đình đó nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người, mọi gia đình của quốc gia dân tộc Việt Nam. Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng đã đề ra nhiều quan điểm, chủ trương phát huy vai rò của gia đình Việt Nam trong xây dựng và phát triển đất nước, trong đó, Đại hội XIII của Đảng xác định rõ hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới là xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Với những quan điểm, chủ trương đó, công tác xây dựng gia đình Việt Nam từ trong thời kỳ đổi mới đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần vào những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới./.
ST

CẢNH GIÁC VỚI BỆNH CÔNG THẦN VÀ KIÊU NGẠO CỘNG SẢN

 Bệnh công thần, kiêu ngạo cộng sản là những thói hư tật xấu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã từng được V.I Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo từ lâu. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu, tránh những căn bệnh ấy, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt cuộc đời, khi đương chức cũng như khi nghỉ hưu. Thế nhưng, vẫn có những người xao nhãng, để những căn bệnh ấy không chỉ làm méo mó hình ảnh, nhân cách, vinh quang của chính họ mà còn tạo ra dư luận xấu, ảnh hưởng đến niềm tin, tình cảm của nhân dân, đồng đội...

Họ đã và đang tự đánh mất chính mình
Chúng ta hẳn có nhớ một sự việc gần đây, từng có cựu Ủy viên Trung ương Đảng tuổi đời còn trẻ, tương lai đang rộng mở thì “dính chàm”, bị cách hết mọi chức vụ. Nguyên nhân do nhiều sai phạm, trong đó một phần do thói độc đoán, chuyên quyền, kiêu ngạo, không biết lắng nghe, không tôn trọng cả cấp trên và cấp dưới.
Lại có cán bộ cấp cao lúc nghỉ hưu vẫn không giữ được mình, có nhiều sai phạm ảnh hưởng đến thanh danh họ, như cựu quan chức mạt sát cảnh sát giao thông; cựu bộ trưởng đòi đặc quyền đặc lợi... Đáng buồn hơn, có cả cán bộ kinh qua rèn luyện, cống hiến, lập nhiều chiến công nhưng lúc nghỉ hưu lại thiếu tỉnh táo, nói và viết không đúng đường lối quan điểm của Đảng; tiếp xúc với nhiều đối tượng cơ hội chính trị, thậm chí cả đối tượng phản động, bị chúng lợi dụng, kích động, dẫn đến tán phát nhiều thông tin xấu, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận. Trước góp ý chân thành của đồng chí đồng đội, những người này lại không tiếp thu, sửa chữa, cho rằng cách nghĩ, cách làm của họ mới là cấp tiến, là “trở về với nhân dân”.
Họ còn tham gia các cuộc tọa đàm, trao đổi, tham gia xuất bản những ấn phẩm do một vài hội, nhóm tổ chức gây ra những tranh cãi, bất đồng chính kiến làm bức xúc dư luận. Rồi còn tham gia ký các đơn, tâm thư, thỉnh nguyện tập thể có nội dung trái với đường lối, quan điểm của Đảng, không có lợi cho đất nước, quân đội nhưng họ lại được kẻ xấu tung hô, ngợi ca nên ngày càng mù quáng... Ngay trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, văn hóa văn nghệ, nhiều năm qua, chúng ta không khỏi đau xót khi thấy có những nhà văn, nhà báo, nhà quản lý từng dạn dày kinh nghiệm, có tên tuổi nhưng khi nghỉ hưu đã đánh mất chính mình, đăng đàn nói, viết những điều sai trái, đi ngược với lý tưởng cả một đời theo đuổi. Có người còn tham gia thường xuyên viết bài, cộng tác cả cho những trang mạng phản động, có người bị kích động và bị lợi dụng để rồi xuất hiện trong những clip với nhiều nội dung sai sự thật, có cả thông tin xấu độc gây hoang mang dư luận. Có người để lại lời nói, việc làm thiếu trách nhiệm, tùy tiện đưa thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự, uy tín lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, quân đội...
Những căn bệnh cần tránh của người cộng sản
Cuộc sống luôn cần sự phản biện đa chiều nhưng nếu sự chỉ trích đi kèm bệnh kiêu ngạo cộng sản và công thần thì hậu quả vô cùng nguy hiểm.
Năm 1919, nhà văn Maxim Gorki đã viết thư đề nghị V.I Lênin ngừng “khủng bố” những trí thức bị bắt vì phản loạn. V.I Lênin đã viết bức thư trả lời, phân tích rằng không nên trộn lẫn “các lực lượng trí tuệ” của nhân dân với “lực lượng” trí thức tư sản. Ông còn lấy trường hợp tác giả cuốn sách với những mỹ từ “Chiến tranh, Tổ quốc và Nhân loại” nhưng thực ra là kẻ dùng lời đường mật đánh tráo khái niệm yêu nước đích thực; ông cho rằng những trí thức phản loạn, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia “bọn chúng không phải là bộ não ...”. Sau này, trong bài viết vào năm 1921, V.I Lênin đã vạch ra một trong 3 thứ kẻ thù chính-kẻ thù “nội xâm” mà những người cộng sản Nga phải kiên quyết đấu tranh tiêu diệt, kẻ thù đầu tiên, chính là “tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa”.
Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến bệnh công thần: “Cậy mình có một ít thành tích, thì tự kiêu tự đại, cho mình là “cứu tinh” của dân, “công thần” của Đảng. Theo Người: “… Có những người cậy mình là “công thần cách mạng”, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng...”. Người cũng chỉ ra nhiều thứ “bệnh” của cán bộ, trong đó có bệnh kiêu ngạo với những biểu hiện: “Tự cao, tự đại, hay lên mặt. Ưa người ta khen ngợi, tâng bốc mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo... Việc gì cũng muốn làm thày người khác”. Cùng với đó là bệnh hiếu danh, tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Rồi bệnh óc lãnh tụ: “Đánh được vài trận, hoặc làm được vài việc gì ở địa phương đã cho mình là tài giỏi lắm rồi, anh hùng lắm rồi, đáng làm lãnh tụ rồi. Nào có biết so với công cuộc giải phóng cả dân tộc thì những thành công đó chỉ là một chút cỏn con, đã thấm vào đâu!”.
Vi phạm cả pháp lý, đạo lý, xa rời nhân tâm, tự vùi danh dự
Soi rọi những lời căn dặn trên vào các biểu hiện mắc bệnh của một số cán bộ mà chúng tôi nêu ở phần đầu bài viết, có thể thấy rất rõ những điều các bậc tiền bối cách mạng căn dặn dường như đã nói đúng, nói trúng tim đen của ai đó xa rời đạo đức, danh dự người cộng sản chân chính. Người cộng sản cần có dũng khí để đấu tranh với những điều sai trái, những thói hư tật xấu trong xã hội nhưng phê bình phải trên tinh thần xây dựng, phải có cái tâm. Cuộc sống xấu đi bởi sự im lặng nhưng cuộc sống cũng xấu đi và tồi tệ hơn bởi những tiếng nói sai sự thật, phán xét hồ đồ, tùy tiện, vô trách nhiệm, giật gân, đao to búa lớn để nâng mình lên bằng cách bôi nhọ người khác, gắp lửa bỏ tay người. Đó là thói phê bình nói lấy được của kẻ không biết mình là ai, thậm chí “Chân mình thì lấm mê mê/Lại đi cầm đuốc mà rê chân người” như cha ông ta đã dạy. Đó là thói phê bình vơi tình cạn nghĩa, không thể chấp nhận đối với những người từng chung đội ngũ, từng thuộc lời thề thứ 7 về tình đồng đội.
Đã là người cộng sản, là đồng chí, đồng đội, thì khi góp ý, phê bình phải với tinh thần người cộng sản, đồng chí, đồng đội chứ không thể bịa đặt thông tin, đổi trắng thay đen, gây hoang mang, suy giảm niềm tin của nhân dân. Càng không thể phê phán khi chính mình chưa đủ tâm, đủ tầm, đủ thông tin và nhận thức về những lĩnh vực mình còn nông cạn, chưa trải nghiệm. Không thể chấp nhận những kiểu phê bình tùy tiện như biến người từng trải nghiệm, kinh qua chiến đấu, được đào tạo bài bản, có trình độ, năng lực chỉ huy quân sự cao thành người “không hiểu quân sự, không qua chiến tranh”. Không thể phê bình kiểu thầy bói xem voi phủ nhận cả thành tích, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng ý kiến chủ quan, lệch lạc.
Đây cũng là vấn đề mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đề cập, chỉ rõ để mỗi cán bộ, đảng viên không sai phạm. Nghị quyết chỉ rõ, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống có việc nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu... Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước, quân đội; Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội.
Nghị quyết cũng không cho phép “kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước...”.
Vậy thì rõ ràng, một vài hiện tượng cán bộ nghỉ hưu gần đây giao lưu, cấu kết với các thế lực phản động hoặc bị chúng lợi dụng để xuyên tạc, chống phá, tán phát thông tin sai sự thật trên mạng xã hội là điều không thể chấp nhận, chính là việc vi phạm Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng.
Nhìn ở góc độ pháp lý, những hành vi xuyên tạc, vu khống người khác thông qua cái gọi là phê bình, đấu tranh, bày tỏ chính kiến với nhiều trường hợp đã vi phạm Điều 155, Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, người vu khống, nói xấu, bôi nhọ danh dự, tuy tín của người khác còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về một trong các tội: Tội làm nhục người khác hoặc tội vu khống...
Đấu tranh và xử lý, không để tạo những tiền lệ xấu
Những hành vi vi phạm cả về pháp lý và đạo lý như vậy cần phải được đấu tranh, phê phán, lên án, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh. Tổ chức đảng, đoàn thể nơi quản lý những cán bộ đó phải tăng cường giáo dục, rèn luyện họ chấp hành đúng kỷ luật và các quy định của Đảng, đề cao lương tâm, trách nhiệm, danh dự của người đảng viên chân chính.
Đối với các cơ quan chức năng, nhất là cơ quan quản lý Nhà nước, phải có thái độ và biện pháp xử lý nghiêm minh, công bằng, không để nương nhẹ, hóa mù ra mưa với những trường hợp công thần, kiêu ngạo cộng sản dẫn đến những lời nói, việc làm sai phạm. Chúng ta từng có bài học kinh nghiệm sâu sắc về một số trường hợp tướng lĩnh quân đội, công an từng được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân nhưng vi phạm kỷ luật, pháp luật vẫn bị xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm.
Bác Hồ từng căn dặn: “Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng, là lãnh tụ”. Nhưng nhân dân và tổ chức cũng luôn rộng mở với những người biết khắc phục sửa sai. Thực tế đã có cán bộ tướng lĩnh có biểu hiện kiêu ngạo, được Bác Hồ nhắc nhở, rèn luyện sau trở thành vị tướng tài năng, đức độ, đảm nhiệm các chức vụ cao cấp của quân đội, sau đó ông tiếp tục sống cuộc sống khiêm nhường, cống hiến theo đạo đức cách mạng cho đến lúc nghỉ hưu, qua đời. Theo Người, để phòng trị bệnh kiêu ngạo, công thần, mỗi cán bộ, đảng viên phải: Rèn luyện đức khiêm tốn; thật thà tự phê bình và tiếp thu ý kiến phê bình của người khác; kịp thời phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm...
Với cán bộ cao cấp, càng đòi hỏi khi đương chức cũng như nghỉ hưu phải có sự tỉnh táo, cẩn trọng khi nói và làm, nhất là phát ngôn trên truyền thông và mạng xã hội, đặt lợi ích của đất nước, của cộng đồng lên trên; giữ gìn bản lĩnh, danh dự và uy tín người quân nhân cách mạng. Sinh thời, Bác Hồ từng gửi cho Thiếu tướng Nguyễn Sơn 12 chữ: “Đảm dục đại” (Gan phải to); “Tâm dục tế” (tấm lòng, tâm hồn phải trong sáng); “Trí dục viên” (Suy nghĩ trọn vẹn, toàn diện, chu đáo); “Hạnh dục phương” (Hành động đúng đắn, ngay thẳng, phân minh, đàng hoàng). Sau này, nói chuyện với các tướng lĩnh, Bác nói đến 6 đức tính cần phải có, gồm: Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung nhưng phẩm chất đầu tiên phải có là Trí. Người chỉ rõ Trí là phải có đầu óc sáng suốt, nhìn mọi việc để suy xét, rồi quyết định cho đúng. Suy nghĩ thấu suốt, nhìn xa trông rộng, phát ngôn rạch ròi, có thể định hướng dư luận, thế mới xứng tầm của những người từng ở vị trí lãnh đạo, chỉ huy.
Để tán phát những thông tin xấu, tiếp tay cho những căn bệnh kiêu ngạo, công thần, những điều sai trái có “cánh tay vô hình” của kênh truyền thông mạng xã hội và thủ đoạn lôi kéo của các đối tượng xấu, cơ hội chính trị thường lợi dụng những cán bộ nghỉ hưu, có tinh thần đấu tranh cao nhưng trong nhiều trường hợp lại thiếu thông tin; không sử dụng hoặc ít cập nhật mạng xã hội, internet... Vì thế, cũng cần có biện pháp thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin, ngăn ngừa các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng.
Các cơ quan chức năng cần có biện pháp tăng cường quản lý hiệu quả mạng xã hội, để các nhà cung cấp của Google, Facebook, YouTube... chấp hành nghiêm quy định của pháp luật Việt Nam; buộc họ chủ động và có biện pháp ngăn chặn, xử lý những thông tin chưa được kiểm chứng, tránh lăng mạ, xúc phạm uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân, chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội...
St

VIỆT NAM TRIỂN KHAI NHIỀU HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

 Trong hai năm 2022-2023, Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động thúc đẩy và bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em, trong đó nổi bật là phòng chống xâm hại tình dục trẻ em, chống bắt nạt trẻ em trên mạng.

Ngày 26/9 tại Hà Nội, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (cơ quan đầu mối phụ trách hoạt động của Ủy ban ASEAN về Thúc đẩy và Bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em - ACWC) đã tổ chức Hội thảo tham vấn của Ủy ban Thúc đẩy và Bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em trong ASEAN.
Hội thảo được tổ chức nhằm mục tiêu chia sẻ về các nỗ lực của ACWC trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em trong khu vực ASEAN; cập nhật về các hoạt động do Việt Nam chủ trì trong Kế hoạch công tác và các lĩnh vực ưu tiên của quốc gia về quyền của phụ nữ và trẻ em trong thời gian tới; chia sẻ những điển hình tốt của thế giới và các nước thành viên ASEAN trong việc bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và đề xuất các khuyến nghị và hoạt động hợp tác trong thời gian tới.
Phát biểu tại hội thảo, bà Hà Thị Minh Đức, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) đại diện ACWC về quyền trẻ em của Việt Nam đã giới thiệu về Kế hoạch hành động của ACWC giai đoạn 2021-2025 và việc thực hiện Kế hoạch cho đến thời điểm hiện tại. Theo đó, Kế hoạch công tác giai đoạn 2021-2025 tập trung vào tăng cường sự hỗ trợ đối với các vấn đề về phụ nữ và trẻ em thông qua cơ chế vận động hiệu quả; xây dựng quan hệ đối tác; nâng cao nhận thức và năng lực về lồng ghép quyền của phụ nữ và trẻ em trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình và chính sách liên quan.
Kế hoạch hành động của ACWC giai đoạn 2021-2025 bao gồm 29 hoạt động/dự án do các nước thành viên ASEAN chủ trì, tập trung vào các lĩnh vực sau: phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em; mua bán phụ nữ và trẻ em; thúc đẩy quyền phụ nữ và trẻ em di cư; bảo vệ trẻ em; phụ nữ, hòa bình và an ninh; tăng cường quyền năng kinh tế cho phụ nữ, đảm bảo quyền của phụ nữ và trẻ em trước những tác động của biến đổi khí hậu và nền công nghiệp 4.0.
Bà Trần Thị Bích Loan, Phó Vụ trưởng Vụ Bình đẳng giới (Bộ Lao độngThương binh và Xã hội) đại diện ACWC về quyền phụ nữ của Việt Nam cho biết ACWC đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ và trẻ em trong ASEAN thông qua việc thực hiện các Kế hoạch công tác 5 năm (giai đoạn 2012-2016 và 2016-2020) với các hoạt động về thúc đẩy bình đẳng giới, lồng ghép giới, xóa bỏ tất cả hình thức bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em, tăng cường hệ thống bảo vệ trẻ em cũng như giải quyết những vấn đề mới nổi ảnh hưởng đến phụ nữ và trẻ em ASEAN.
Trong hai năm 2022-2023, ACWC Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động, dự án thực hiện mục tiêu thúc đẩy và bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em, trong đó nổi bật là việc tổ chức các cuộc họp khu vực về thúc đẩy cơ chế phối hợp liên ngành trong phòng chống xâm hại tình dục trẻ em, hội thảo về phòng chống bắt nạt trẻ em trên môi trường mạng…
Tại hội thảo, các đại biểu tại hội thảo cũng đã lắng nghe chia sẻ của các nước thành viên ASEAN và các tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, đặc biệt là việc thực hiện Tuyên bố ASEAN về bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bóc lột và lạm dụng trực tuyến ở cấp quốc gia.
Đây là cơ hội để Việt Nam học hỏi các điển hình tốt và kinh nghiệm của các quốc gia khác trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, hỗ trợ cho việc tiếp tục thúc đẩy những hành động để đảm bảo quyền của trẻ em ở cấp quốc gia trong thời gian tới.
Theo bà Trần Thị Bích Loan, trong giai đoạn 2023-2024, Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp với xây dựng lộ trình thực hiện Tuyên bố về xóa bỏ bắt nạt trẻ em trong ASEAN; phối hợp với Ban Thư ký ASEAN và UN Women thảo luận về việc chủ trì dự án “Công bằng và Bình đẳng: Chuyển đổi việc tiếp cận thị trường cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ trong ASEAN trong quá trình phục hồi sau COVID-19”; tiếp tục triển khai hoạt động về “Khung giám sát và đánh giá của ACWC về áp dụng các phương pháp tiếp cận tập trung vào nạn nhân và có nhạy cảm giới trong các trường hợp mua bán người”.
Ủy ban ASEAN về Thúc đẩy và Bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em (ACWC) được thành lập từ năm 2010 với mục tiêu thúc đẩy, bảo vệ, tôn trọng và thực thi các quyền của phụ nữ và trẻ em trong ASEAN để họ được sống hòa bình, bình đẳng, công bằng và thịnh vượng.
ACWC bao gồm 20 Đại diện của các Quốc gia Thành viên ASEAN về quyền phụ nữ và quyền trẻ em, trong đó mỗi nước cử 2 đại diện. ACWC họp định kỳ 2 lần/năm./.
St

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ "NGƯỜI TRƯỚC, SÚNG SAU" TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TINH, GỌN, MẠNH

 Trong hệ thống di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về “người trước, súng sau” trong giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ khí có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Bài viết phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự góp phần làm nên những thắng lợi của cách mạng Việt Nam; đồng thời, làm rõ sự vận dụng vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, ông cha ta đã kết hợp chặt chẽ giữa con người và vũ khí trong hoạt động quân sự, hình thành sức mạnh tổng hợp đấu tranh chống lại kẻ thù có tiềm lực quân sự mạnh hơn ta nhiều lần. Những tư tưởng triết lý mang tầm thời đại như: đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, khoan thư sức dân, dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo... được phát huy mọi lúc, mọi nơi, đặc biệt là vào những giai đoạn đầy cam go, ác liệt, qua đó khơi dậy sức mạnh của nhân dân, trở thành cội nguồn của thắng lợi. Cùng với đó, ông cha ta rất coi trọng việc rèn đúc chiến cụ, chế tạo và sử dụng vũ khí để chống giặc. Chính những truyền thống, kinh nghiệm của ông cha được Hồ Chí Minh kế thừa, tiếp thu, hình thành nên tư tưởng “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự.
Trên hành trình ra đi tìm đường cứu nước, Người đã tiếp cận, nghiên cứu, tìm hiểu nhiều nền văn minh của nhân loại, tinh hoa tư tưởng quân sự; kinh nghiệm cách mạng và cách thức tổ chức của quân đội Pháp, quân đội Nga; kinh nghiệm chiến đấu của Hồng quân Liên Xô... với những tư tưởng độc đáo như: “biết mình, biết người”, “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, “thế, lực, thời”... Những tư tưởng đó được Người vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam như: “biết mình, biết giặc, trăm trận trăm thắng”; tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; náo phía Đông, đánh phía Tây; tránh trận gay go, không sống chết giữ đất... để chống lại kẻ thù xâm lược mạnh và trở thành một trong những cơ sở quan trọng hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự.
Đặc biệt, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân là cơ sở lý luận quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau”. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ mối quan hệ giữa con người và vũ khí: đây là hai yếu tố cơ bản trong hoạt động quân sự, có mối quan hệ qua lại, tác động biện chứng với nhau. Con người là chủ thể sáng tạo ra và sử dụng vũ khí. Vũ khí cần có sự điều khiển của con người mới phát huy được tính năng, công dụng.
Ph.Ăngghen khẳng định: “Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết... việc phát minh ra những vũ khí tốt hơn và việc thay đổi chất liệu người lính”. Cùng quan điểm này, V.I.Lênin viết: “Một đội quân giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ”. Những quan điểm đó được Hồ Chí Minh học tập, nghiên cứu, tiếp thu, vận dụng sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử cách mạng Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm tư tưởng “người trước, súng sau” của Người trong hoạt động quân sự.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, nhân dân ta liên tiếp chống lại kẻ thù xâm lược với tiềm lực kinh tế, quân sự hiện đại bậc nhất thế giới. Cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta là cuộc chiến tranh lấy yếu chống mạnh, lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy vũ khí thô sơ chống lại vũ khí hiện đại. Do đó, làm thế nào để khắc phục những khó khăn, bất cập về lực lượng, phương tiện chiến đấu và giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh không cân sức ấy là vấn đề cấp bách đặt ra cho cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Với trí tuệ sáng suốt và lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ và vạch ra tư tưởng “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự, có ý nghĩa to lớn đối với tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau”
Theo Hồ Chí Minh, trong hoạt động quân sự, con người giữ vai trò quan trọng, quyết định, vừa là chủ thể sáng tạo, cải tiến, sửa chữa, nâng cấp, vừa là chủ thể sử dụng, phát huy tính năng, công dụng của các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật trong chiến đấu. Do đó, để tạo sức mạnh quân sự, trước hết phải chú trọng xây dựng con người tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng độc lập dân tộc và CNXH, có bản lĩnh chính trị vững vàng...
Hồ Chí Minh khẳng định: “Vũ khí tốt mà tinh thần hèn, thì cũng vô dụng”; “Không thể cậy vũ khí mà có thể quyết định được thắng lợi. Phải xem những người cầm vũ khí có phải là những chiến sỹ hăng hái đánh trận không”. Vì vậy, “vũ khí là cần nhưng quan trọng hơn là con người vác súng”. Con người là vấn đề cốt lõi, tạo nên sức mạnh to lớn mà không một loại vũ khí nào có thể đánh bại được, giúp nhân dân Việt Nam chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Người khẳng định: “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”.
Cùng với việc đề cao vị trí, vai trò của con người trong hoạt động quân sự, Hồ Chí Minh khẳng định vũ khí là công cụ, phương tiện chiến đấu không thể thiếu được của chiến tranh cách mạng. Người chỉ rõ: “Khởi nghĩa thì phải có vũ khí. Đó là một trong những vấn đề rất quan trọng của cách mạng”. Đối với Hồ Chí Minh, vũ khí không thuần túy là những công cụ, phương tiện thông thường để đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, mà vũ khí hóa thân thành sức mạnh vật chất to lớn, giúp con người vượt ra khỏi giới hạn thông thường, cải tiến, sáng tạo và phát huy cao độ tính năng, tác dụng của từng loại vũ khí quân sự trong cuộc chiến tranh chính nghĩa vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vũ khí quân sự bao gồm vũ khí vật chất và vũ khí tinh thần. Về vũ khí vật chất, đó là gậy tầm vông, giáo mác, súng, mìn, bom, đạn, xe tăng, đại bác, máy bay, tàu chiến... Đây là những công cụ, phương tiện không thể thiếu được trong bất kỳ một cuộc chiến tranh cách mạng nào. Theo Hồ Chí Minh, những vũ khí vật chất đó thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc, vì con người, vì tính tự vệ, giải phóng dân tộc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, chứ không vì mục đích xâm lược.
Người khẳng định: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Người nhấn mạnh: “Cái gì đánh được giặc là phải dùng cả... khi có dịp phải rèn giáo, mác cho du kích”. Vì vậy, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Người đã tìm mọi cách cách để tạo ra vũ khí phục vụ cho hoạt động quân sự, như: chỉ đạo lực lượng quân đội tự sản xuất vũ khí, lấy vũ khí của giặc để tự trang bị cho mình, mua sắm vũ khí từ nước ngoài, tranh thủ sự giúp đỡ, viện trợ từ bạn bè quốc tế...
Về vũ khí tinh thần, theo Hồ Chí Minh, đó là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, sáng tạo, hy sinh... Vũ khí tinh thần đó đã hòa quyện, thống nhất với mục tiêu, lý tưởng cách mạng trở thành sức mạnh to lớn giúp nhân dân ta vượt qua khó khăn, thử thách với ý chí, quyết tâm cao độ: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”...
Đề ra tư tưởng “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự, Hồ Chí Minh cho rằng: phải luôn coi trọng và phát huy nhân tố con người, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ sức mạnh của quần chúng nhân dân trong hoạt động quân sự. Đồng thời, cần giải quyết linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả mối quan hệ giữa con người và vũ khí trang bị trong hoạt động quân sự vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở mỗi thời kỳ lịch sử. Bởi đây là mối quan hệ cơ bản nhất của hoạt động quân sự, sức mạnh của các yếu tố khác được phát huy thông qua mối quan hệ này.
Hồ Chí Minh cho rằng: “tinh thần của con người phải truyền qua súng”. Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo và sử dụng vũ khí, cần phát huy cao độ tính năng động, sáng tạo của bản thân trong sử dụng vũ khí, sử dụng đúng mục đích. Khi đó, vũ khí quân sự sẽ biến thành sức mạnh vật chất trong thực tiễn chiến đấu, làm cho con người và vũ khí trở nên mạnh mẽ hơn, vươn xa hơn.
Để giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong hoạt động quân sự, Hồ Chí Minh đề ra những chủ trương, biện pháp rất đúng đắn, khoa học, như: bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người trong hoạt động quân sự; nâng cao số lượng, chất lượng vũ khí trong hoạt động quân sự; tổ chức huấn luyện, biên chế các lực lượng phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
3. Vận dụng tư tưởng “người trước, súng sau” vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay
Tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước súng sau” có vai trò rất quan trọng đối với tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam; đặc biệt sự lớn mạnh, trưởng thành của Quân đội ta, từ 34 cán bộ, chiến sỹ, trang bị vũ khí thô sơ đến một đội quân “bách chiến, bách thắng”, “càng đánh càng mạnh, càng thắng lớn”. Thực tiễn gần 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta luôn “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã ban hành các chỉ thị, thông tư, như: Chỉ thị số 04/CT-BQP ngày 09-02-2012 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng “về việc tăng cường quản lý, giáo dục chấp hành kỷ luật; phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm pháp luật và vi phạm kỷ luật nghiêm trọng trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; Chỉ thị số 91/CT-BQP ngày 22-11-2016 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng “về việc tăng cường quản lý, giáo dục và chấp hành kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; Thông tư số 192/2016/TT-BQP quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục, thời hiệu, thời hạn và thẩm quyền xử lý kỷ luật trong Bộ Quốc phòng; Chỉ thị số 103/CT-BQP ngày 28-11-2019 “về tiếp tục tăng cường quản lý, giáo dục chấp hành kỷ luật và bảo đảm an toàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; thường xuyên quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17-01-2022 của Bộ Chính trị “về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 230-NQ/QUTW ngày 02-4-2022 của Quân ủy Trung ương “về lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”.
Nhờ vậy, cán bộ, chiến sỹ trong toàn quân luôn tự giác chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội và quy định đơn vị; tổ chức huấn luyện chặt chẽ, nghiêm túc, sát thực tế; các đơn vị chấp hành nghiêm mệnh lệnh, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”. Từ năm 2016 đến nay, quân đội đã điều chỉnh 1.286 tổ chức, giải thể các trường nghề và 61 trường quân sự cấp tỉnh; các cơ sở sản xuất, sửa chữa công nghiệp quốc phòng bảo đảm trang thiết bị, vũ khí cho các đơn vị trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; đặc biệt, công nghiệp quốc phòng từng bước phát triển theo hướng hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn; đẩy mạnh mua sắm vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại; tổ chức diễn tập quân binh chủng với các nước trong khu vực; tổ chức triển lãm quân sự, quốc phòng để quảng bá, giới thiệu tiềm lực quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam, tăng vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế...
Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; thời cơ, vận hội đan xen với nguy cơ, thách thức, song hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là dòng chảy chủ đạo trong quan hệ quốc tế. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển với sự ra đời của nhiều loại vũ khí công nghệ cao; những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh; sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; những mâu thuẫn, xung đột về tranh chấp chủ quyền, biên giới, lãnh thổ... ngày càng gay gắt, phức tạp.
Đối với nước ta, sau 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước ngày càng được củng cố và gia tăng trên trường quốc tế. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động với âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhằm thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, hòng trung lập, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với Quân đội... Thực tế đó đặt ra cho Quân đội nhiệm vụ phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc di sản lý luận về “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. Cụ thể:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội
Đây là biện pháp quan trọng, có ý nghĩa hàng đầu để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. Theo đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh đến cán bộ, chiến sỹ trong toàn quân; quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau”. Các cơ quan, đơn vị cần cụ thể hóa vào từng nhiệm vụ, bố trí, sắp xếp lực lượng phù hợp, hiệu quả, bảo đảm đủ về số lượng, chất lượng, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; cán bộ, chiến sỹ luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng độc lập dân tộc và CNXH, không ngại khó, ngại khổ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Kỷ luật là sinh mệnh của quân sự”, “Là sức mạnh của Quân đội”. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy đơn vị, chính ủy, chính trị viên và cơ quan chính trị các cấp tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; vận động phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân; đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”.
Hai là, tăng cường quản lý, giáo dục cán bộ, chiến sỹ, duy trì nghiêm kỷ luật quân đội, các chế độ, nền nếp chính quy trong đơn vị
Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì và cơ quan chính trị các cấp tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ, chiến sỹ; nắm chắc lý lịch cá nhân, thường xuyên gần gũi, lắng nghe tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của cán bộ, chiến sỹ để thấu hiểu, chia sẻ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về mặt tư tưởng; không dùng mệnh lệnh, quyền uy, hoặc có biểu hiện quân phiệt, quan liêu trong xử lý, giải quyết các tình huống xảy ra trong đơn vị. Cán bộ quản lý các cấp phải luôn gương mẫu trong lời nói và hành động, là tấm gương mẫu mực, là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của cán bộ, chiến sỹ; duy trì và thực hiện nghiêm túc các chế độ trong ngày, trong tuần như: đọc báo, xem thời sự, tự học, trực ban, trực chiến, đi báo công, về báo cáo, kiểm tra quân số thường xuyên, đột xuất kiểm tra... Cần đề cao vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong quản lý, giáo dục cán bộ, chiến sỹ thực hiện nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị chính quy, xanh, sạch, đẹp. Người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải bảo đảm sự thống nhất, nhịp nhàng, đồng bộ trong điều hành chế độ, nền nếp chính quy; phát hiện, ngăn ngừa, khắc phục triệt để những biểu hiện độc đoán, quân phiệt, thiếu quan tâm đến đời sống bộ đội, thiếu trách nhiệm trong quản lý đơn vị,... để vi phạm kỷ luật kéo dài. Khi đơn vị có vụ việc nghiêm trọng xảy ra, cần nghiêm túc kiểm điểm, làm rõ nguyên nhân, quy rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý kỷ luật nghiêm minh.
Ba là, phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác chấp hành kỷ luật quân đội của mỗi cán bộ, chiến sỹ
Mỗi cán bộ, chiến sỹ dù ở cương vị, chức trách nào cũng phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc kỷ luật quân đội, quy định đơn vị. Không ngừng tự giác tu dưỡng, phấn đấu rèn luyện về năng lực, phương pháp, tác phong công tác, phẩm chất đạo đức, lối sống, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Tích cực, chủ động, tự giác chấp hành kỷ luật quân đội, quy định đơn vị mọi lúc, mọi nơi, phát huy phẩm chất, uy tín “Bộ đội Cụ Hồ” được lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sỹ xây dựng, gìn giữ và vun đắp; có bản lĩnh chính trị vững vàng, bình tĩnh, chủ động trong mọi hoàn cảnh; thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” suy nghĩ, thái độ, hành vi, ứng xử phù hợp với môi trường công tác; xây dựng lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị; có ý chí quyết tâm khắc phục khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện, cần chủ động khắc phục, sửa chữa khâu yếu, mặt yếu của bản thân, phát huy ưu điểm, thế mạnh, sở trường trong thực hiện các nhiệm vụ; thường xuyên đối chiếu, so sánh những quy định, yêu cầu của đơn vị với thực tiễn rèn luyện của bản thân để điều chỉnh cho phù hợp; xây dựng đức tính cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, không giấu dốt, tự ti hoặc tự kiêu.
Bốn là, đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo”. Theo đó, các nhà máy, xí nghiệp của Bộ Quốc phòng cần tiếp tục nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật; phát huy truyền thống tự lực, tự cường của Quân đội; xây dựng những trung tâm nghiên cứu khoa học quân sự vững mạnh, toàn diện, làm nòng cốt trong tham mưu, đề xuất chế tạo, sản xuất vũ khí công nghệ cao, hiện đại.
Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng; đầu tư thích đáng cho ngành công nghiệp lưỡng dụng; tăng cường hợp tác với các nước có tiềm lực quân sự mạnh như Nga, Mỹ, Nhật Bản... để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, phương pháp, đào tạo nguồn nhân lực trong sản xuất, chế tạo vũ khí quân sự; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu nhà máy, xí nghiệp quốc phòng trong lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên nòng cốt thực hiện các nhiệm vụ chế tạo, sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật./.
St

"DƯA LEO" TIẾP TỤC KÍCH ĐỘNG PHÂN BIỆT VÙNG MIỀN, CHIA RẼ KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC!

     Đã từ lâu kẻ sở hữu tài khoản mạng xã hội mang tên: "Dưa Leo" (tên thật là Nguyễn Phúc Gia Huy) đã đăng tải nhiều bài viết có nội dung độc hại, lợi dụng các vấn đề xã hội để xuyên tạc theo hướng tiêu cực, trong đó có nhiều nội dung phân biệt vùng miền, kích động tư tưởng hận thù, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. 

Không khó để nhận ra, trong đám "fan", những kẻ ủng hộ hắn bao gồm rất nhiều kẻ "cùng chí hướng", mang nặng tư tưởng sân si, phân biệt vùng miền, thường xuyên bình luận mang tính thù hằn, miệt thị, xúc phạm nặng nề.

Nhớ lại hồi năm 2021, trong lúc cả nước gồng mình chống đại dịch, Dưa Leo đã đăng bài chê bai rồi kích động phân biệt vùng miền, gây chia rẽ, tranh cãi. Mới đây, sau khi chê "fan" donate cho tiền ít, Dưa Leo bị bị dư luận chê bai, phê phán thì hắn lại nhảy dựng lên và đổ thừa là "bọn mất dạy ngoài Bắc"!

Thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần tiếp tục có sự nhắc nhở, răn đe, giáo dục, cần thiết có chế tài nghiêm khắc hơn đối với "Dưa Leo". Không nên để một kẻ đầu têu phân biệt vùng miền, gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc nhởn nhơ tác quái và thách thức dư luận. Sự kích động, gây tranh cãi, chia rẽ, phân biệt vùng miền mang lại rất nhiều tác hại đối với xã hội, đất nước. Ở khía cạnh khác, nó là mối nguy cơ đe dọa đến chính bản thân Dưa Leo và những kẻ có tư tưởng phân biệt vùng miền./.




Yêu nước ST.

NGHỆ SĨ ĐAM MÊ VỚI NHỮNG CUNG ĐÀN

 Tôi đã nhiều lần xem anh chơi đàn nguyệt, đánh trống, thổi sáo... trong nhiều chương trình nghệ thuật. Mỗi tiết mục, anh để lại cho tôi một ấn tượng, cảm xúc riêng. Dù ở vai nào, chơi bất kỳ loại nhạc cụ nào, tôi cũng thấy anh đều rất “phiêu”. Người đam mê với những cung đàn ấy là Đại tá, Tiến sĩ, Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Xuân Bắc, Chủ nhiệm Khoa Nghệ thuật dân tộc và Miền núi, Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội.

Từ cái nôi văn hóa dân gian
Nguyễn Xuân Bắc được tiếp xúc với âm nhạc từ rất sớm. Năng khiếu âm nhạc và niềm đam mê với nhạc cụ dân tộc của anh được nuôi dưỡng từ hai cái nôi đậm đà bản sắc văn hóa dân gian. Quê nội ở Nghệ An nhưng anh sinh ra ở quê ngoại (huyện Quốc Oai, TP Hà Nội). Tuổi thơ anh gắn bó với cái làng nhỏ, nằm giữa cánh đồng trù phú thẳng cánh cò bay và giàu truyền thống nghệ thuật. Ngay từ bé, Nguyễn Xuân Bắc đã được nghe mẹ hát ru và dân ca Đồng bằng Bắc Bộ. Nằm trên cánh võng, giọng hát ngọt ngào của mẹ đung đưa theo anh vào giấc ngủ.
Thuở ấy, trong làng có một đội tuồng nam. Mỗi lần ông ngoại đi tập hát hay biểu diễn, cậu bé Bắc đều đòi đi theo. Nghe các cụ tập hát, anh thường lẩm nhẩm hát theo. Cứ thế, âm nhạc ngấm dần, ngấm dần vào tâm hồn anh một cách tự nhiên như hơi thở. Lên 6 tuổi, cả gia đình anh chuyển về TP Vinh (Nghệ An) sinh sống. Đây là một vùng quê nằm ven bờ sông Lam, nổi tiếng với các điệu ví, giặm câu hò sâu lắng. Đêm đêm, anh thường theo đám trẻ con trong làng đi xem hát phường vải ngoài sân đình. Tiếng nhạc réo rắt, dìu dặt, giọng hát mượt mà, da diết đã neo vào tiềm thức cậu bé Bắc.
Lớn lên, anh Bắc đến với nghệ thuật chuyên nghiệp như một cơ duyên của cuộc đời. Trước đây, bố anh công tác tại Trường VHNT Nghệ Tĩnh. Nhà ở trong khu tập thể, phía sau trường nên hằng ngày anh vẫn thường lẽo đẽo theo bố vào trường chơi. Trong khi bố làm việc, anh thơ thẩn, lang thang hết phòng nọ sang phòng kia, xem các anh chị tập hát, tập đàn, tập múa. Đặc biệt, âm thanh lúc trầm lặng, lúc thanh thoát, lúc trong sáng của tiếng đàn nguyệt và âm thanh dồn dập, âm vang của trống có sức hút kỳ lạ với anh. Mỗi lúc thầy dạy, anh thường nấp sau cánh cửa, chăm chú nghe, người nhún nhảy, những ngón tay dập dờn theo từng giọt thanh âm vọng ra. Anh có khả năng ghi nhớ âm thanh khá tốt. Nghe một đoạn nhạc, anh có thể đọc lại hoặc huýt sáo lại chính xác các nốt. Nhìn các anh chị lướt tay trên những phím đàn, tung dùi trên mặt trống, toàn thân lắc lư theo điệu nhạc, anh vô cùng thích thú và thầm ước ao. Cứ sau mỗi buổi học, anh lại sang trường, sà vào các lớp học đàn, say sưa với các giai điệu cho đến tối mịt mới trở về nhà. Trong một lần thấy thầy giáo ra ngoài, anh chạy vào lớp xem các anh chị tập trống. Nghe một học sinh đánh lại đoạn nhạc thầy giáo vừa hướng dẫn bị sai, anh nhanh nhảu đọc lại những nốt nhạc vừa nghe được. Đúng lúc đó, thầy giáo đi vào, nhìn anh tủm tỉm cười và động viên anh học thử.
Bất ngờ, mấy hôm sau thầy giáo xuống nhà gặp bố mẹ anh. Nhìn thấy thầy, anh băn khoăn, lo lắng không biết có chuyện gì. Anh nép vào cửa sổ, nghe cuộc nói chuyện của thầy giáo và bố mẹ. Thầy nói anh rất có năng khiếu, thẩm âm tốt, nhớ nốt nhạc nhanh và khuyên bố mẹ nên cho anh đi theo con đường âm nhạc. Sau này, anh mới biết, đó là nghệ sĩ Vũ Xuân Thành-người thầy đầu tiên của anh trên con đường âm nhạc. Nghe thế, Xuân Bắc vui mừng khôn xiết. Đứng sau cửa sổ, anh nhảy cẫng lên, chỉ muốn hét thật to nhưng sợ bị phát hiện nên phải cố nén lại. Sau khi thầy giáo về, bố mẹ gọi anh vào và hỏi ý kiến. Anh đồng ý ngay và xin bố mẹ dự thi luôn vào Trường VHNT Nghệ Tĩnh.
Năm 1983, Nguyễn Xuân Bắc đạt thủ khoa đầu vào hệ sơ trung (7 năm) của Trường VHNT Nghệ Tĩnh. Được thỏa chí, anh hăng say, miệt mài học tập. Trừ những lúc học văn hóa, thời gian còn lại, tay anh luôn gắn với cây đàn. Ngồi vào đàn, anh như quên cả thời gian, có nhiều hôm, bố mang roi ra dọa đánh mới thả đàn xuống để ăn cơm và học văn hóa. Cầm đàn đến trường, cứ góc nào vắng người là ngồi bệt xuống đất, dựa vào gốc cây mà đánh. Mỗi khi ở trường có phòng trống, anh lại trốn vào đó tập cả buổi. Đàn nguyệt dây cứng, da tay còn mỏng nên có lúc bị đứt tay, máu rỉ ra cả dây đàn. Những lúc đó, anh không có cảm giác đau mà vẫn say sưa tập tiếp. Không chỉ tập các bài thầy giao mà cứ nghĩ được đoạn nhạc nào, anh lại tự dò để tập. Giai điệu gì đập vào tai, anh cũng đều quy thành nốt, chuyển vào đàn để đánh. Vì thế, trong suốt 7 năm học, anh luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một học viên.
Sau khi học xong, năm 1989, Nguyễn Xuân Bắc về Đoàn Ca múa nhạc Hương Sen-Nghệ An. Anh tốt nghiệp chuyên ngành đàn nguyệt nhưng ở đoàn không có môn đàn nguyệt nên chuyển sang đánh trống nhạc nhẹ và cả ca kịch. Thời đó, anh rất ngưỡng mộ các nhạc sĩ: Mai Cường, Mạnh Chiến, Lê Hàm. Là nhạc công, anh luôn cháy hết mình trong từng đêm biểu diễn. Nhưng trong sâu thẳm lòng mình, anh vẫn luôn có một khát khao cháy bỏng là trở thành nhạc sĩ. Hai năm sau, anh xin bố mẹ cho thi vào Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam). Điều kiện kinh tế gia đình anh lúc đó rất khó khăn, cộng với việc không yên tâm khi để anh một mình ngoài Hà Nội nên lúc đầu bố mẹ anh không đồng ý. Nhưng với lòng quyết tâm, anh năn nỉ, thuyết phục bố mẹ bằng mọi cách. Dần dần, bố mẹ anh cũng xuôi lòng.
Năm 1991, bố con Nguyễn Xuân Bắc khăn gói ra Hà Nội đi thi. Mặc dù khát khao học đại học sáng tác nhưng chưa có điều kiện để thi thẳng vào nên anh quyết định thi nhạc cụ và đỗ thủ khoa chuyên ngành nhạc cụ dân tộc. Học nhạc cụ dân tộc nhưng anh vẫn ấp ủ ước mơ được học sáng tác để trở thành nhạc sĩ. Vì thế, song song với việc học đàn, anh lân la làm quen với các anh chị học sáng tác, nhờ họ chỉ bảo và giới thiệu thầy để học thêm về sáng tác. Năm 1995, sau khi tốt nghiệp đại học chuyên ngành nhạc cụ dân tộc, anh thi luôn vào đại học ngành sáng tác và chỉ huy của Nhạc viện Hà Nội (khóa 1995-1999).
Nỗ lực bảo tồn và phát triển âm nhạc dân tộc
Nếu như âm nhạc đến với anh từ niềm đam mê thì việc anh trở thành giảng viên Trường Đại học VHNT Quân đội lại là một cơ duyên. Anh bắt đầu giảng dạy tại Trường Trung cấp VHNT Quân đội từ năm 1994, với vai trò là giáo viên cộng tác của Khoa Nghệ thuật dân tộc. Nhưng với lòng say mê cùng khát vọng cống hiến, anh đã góp phần nhỏ bé vào sự phát triển của nhà trường và Khoa Nghệ thuật dân tộc và Miền núi. Từ một giảng viên cộng tác, anh được tuyển dụng vào biên chế, chuyển quân hàm sĩ quan và được bổ nhiệm chức vụ Chủ nhiệm khoa (năm 2011). Anh là một trong những người đặt viên gạch đầu tiên để Khoa Nghệ thuật dân tộc và Miền núi phát triển như ngày hôm nay.
Nhớ lại những ngày đầu mới về công tác tại khoa, anh trầm ngâm: “Khi khoa mới thành lập, mọi thứ đều thiếu: Thiếu giáo viên, thiếu giáo trình, tài liệu, thiếu nhạc cụ phục vụ giảng dạy và thực hành... Vì thế, để khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, anh cùng một số thầy cô vừa giảng dạy, vừa biên soạn giáo trình, tài liệu, vừa sưu tầm các loại nhạc cụ dân tộc truyền thống. Người ít, khối lượng công việc nhiều, khó khăn chồng chất nhưng anh và các đồng nghiệp đã nỗ lực hết mình, miệt mài “truyền lửa”, say mê nghiên cứu, chăm chỉ sưu tầm". Ngoài ra, anh còn tham gia công tác tuyển sinh của nhà trường. Suốt nhiều năm liền, anh cùng đoàn tuyển sinh không quản đường sá xa xôi, hiểm trở, lặn lội đi sâu vào các thôn xóm, bản làng thuộc các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để tuyển sinh con em của đồng bào các dân tộc thiểu số. Gian khổ không thể kể hết nhưng hạnh phúc vô biên khi anh góp phần phát hiện, đào tạo được nhiều tài năng âm nhạc cho đất nước.
Là một nghệ sĩ-chiến sĩ, anh vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu khoa học, vừa sáng tác, dàn dựng chương trình, vừa tham gia biểu diễn. Mỗi tác phẩm, mỗi tấm huy chương là bao sức lực, tâm trí của nhiều đêm anh trằn trọc tâm huyết. Có những tác phẩm viết xong rồi lại xóa, sửa đi sửa lại không biết bao nhiêu lần. Có những thời điểm vừa đi đường vừa nghĩ ý tưởng, nhiều đêm không ngủ, bỗng trong đầu lóe lên một ý tưởng là bật ngay dậy, ngồi vào bàn miệt mài làm việc đến tận sáng... Mười năm nay, trên cương vị là Chủ nhiệm khoa, dù đảm nhiệm cùng lúc nhiều chức trách, nhiệm vụ khác nhau nhưng ở vị trí nào, anh cũng hoàn thành tốt, nhiều năm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Với những nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ và cống hiến trong lĩnh vực văn hóa-nghệ thuật Quân đội, anh được Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý: NSND, Chiến sĩ thi đua toàn quân, Nhà giáo giỏi cấp Bộ Quốc phòng và nhiều hình thức khen thưởng khác. Mặc dù bận nhiều công việc nhưng anh vẫn dành thời gian học tập để nâng cao trình độ. Hoàn thành chương trình cao học năm 2007, đến năm 2018, anh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ “Đàn broh của người Ê Đê”, chuyên ngành văn hóa học tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Gần 30 năm trong sự nghiệp, anh được trao thưởng 8 huy chương vàng, 5 huy chương bạc, 2 giải nhì trong các kỳ liên hoan nhạc cụ truyền thống toàn quốc; bằng chứng nhận, bằng khen “Nhạc sĩ có nhiều sáng tác hiệu quả”... và nhiều giải thưởng âm nhạc.
Trò chuyện với Đại tá, TS, NSND Nguyễn Xuân Bắc, tôi cảm nhận được ở anh niềm đam mê bất tận đối với âm nhạc, nhất là nhạc cụ dân tộc. Nó là mạch nguồn của khát vọng, động lực của lao động nghệ thuật bền bỉ và là ngọn lửa thổi bùng lên khả năng sáng tạo trong anh. Nhờ có đam mê, anh đã “đốt cháy" được nguồn năng lượng dồi dào của bản thân, vượt lên mọi gian nan, thử thách để thành công và thành danh. Đặc biệt, anh đã truyền được ngọn lửa đó cho các thế hệ học trò; tìm kiếm, ươm mầm hạt nhân để bảo tồn, phát triển âm nhạc truyền thống, góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc./.
St

"BỆNH NGÁO QUYỀN LỰC" TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Trong thời đại công nghệ số, sự bùng nổ và tác động mạnh mẽ của mạng xã hội và các nền tảng giải trí, ai cũng có thể dễ dàng nổi tiếng với hàng trăm nghìn đến hàng triệu người theo dõi tài khoản mạng xã hội. Có lẽ cũng vì “hào quang” mà thế giới ảo mang lại, không ít kẻ bị “ngáo” quyền lực, tự cho mình quyền phán xét, đánh giá về cá nhân, tổ chức, thậm chí chà đạp các chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật. Họ sống trong thế giới ảo nhưng gây ra những hệ luỵ thật, nghiêm trọng cho đời sống xã hội.

Tối 21/9, trang Facebook có tích xanh (dấu hiệu nhận biết trang cá nhân chính chủ) tên Vo Quoc của đầu bếp Võ Quốc, đã chia sẻ lời xin lỗi của biên kịch B.B.B. kèm theo lời thóa mạ, xúc phạm báo chí. Ở phía dưới bài chia sẻ, người này còn dùng những lời lẽ tục tĩu để nói về những người làm báo. Một số nhân vật comment hưởng ứng, tài khoản Facebook Võ Quốc cũng có tương tác qua lại với các comment này. Nội dung nói trên nhanh chóng bị cộng đồng mạng phản ứng dữ dội.
Tương tự, Nờ Ô Nô là cái tên gây ra rất nhiều tranh cãi trong cộng đồng mạng Việt Nam vào cuối năm 2022, khi đoạn video “Người nghèo ăn gì - Nờ Ô Nô cho ăn đó" của TikToker (người sử dụng mạng xã hội TikTok) này, miệt thị người nghèo và người cao tuổi.
Các video thường bắt đầu kiểu: "Hello (xin chào) bà già nghèo khổ giữa trời đông cô đơn" hay thậm chí là "nghèo mà còn chê đồ ăn", "Bớt nghèo lại đi nha, không ai giúp hoài đâu"... Các video được lan truyền nhanh chóng trên các nền tảng mạng xã hội. Đáng chú ý, sau khi bị cư dân mạng chỉ trích, Nờ Ô Nô còn đăng tải một đoạn video, với lời lẽ đầy thách thức.
Và thật đáng buồn, những câu chuyện như trên không hề hiếm gặp. Mạng xã hội là nơi bày tỏ quan điểm cá nhân, thể hiện cái tôi của mỗi người. Nhiều người đã chú ý xây dựng hình ảnh cá nhân trên mạng xã hội để thu hút nhiều lượt theo dõi với mục đích trực tiếp hoặc gián tiếp để thu được lợi ích. Thế nên mới xuất hiện khái niệm influencer (người có ảnh hưởng) trên mạng xã hội với mỗi bài đăng có hàng nghìn lượt chia sẻ, bình luận. Không ít người còn đang lạm dụng quyền “tự do ngôn luận” trên không gian mạng để thỏa mãn khao khát nổi tiếng của mình.
Theo Hiệp hội Thông tin di động thế giới, Internet tại Việt Nam 2023 đang phát triển mạnh với 77 triệu người dùng (chiếm 79,1% dân số). Mạng xã hội cũng trở thành nền tảng quan trọng, với hơn 70 triệu người tham gia, trung bình mỗi người dùng Internet tại Việt Nam dành ra 2 giờ 19 phút mỗi ngày để truy cập mạng xã hội.
Nếu tìm kiếm từ khoá “ứng xử kém văn minh”, thì ngay lập tức kết quả trả về trên google là 17.400.000 trong vòng 0,36 giây. Theo khảo sát mới được công bố của Microsoft, Việt Nam nằm trong top 5 quốc gia có chỉ số mức độ văn minh thấp nhất trên không gian mạng (DCI).
Những con số trên chứng minh rằng, mạng xã hội tuy là ảo, nhưng những ảnh hưởng của nó đến cộng đồng là thật, tích cực cũng nhiều và tiêu cực cũng không ít. Căn bệnh háo danh đã “di căn và biến chứng” hết sức nghiêm trọng trong thời đại 4.0 ngày nay. Xu thế chửi bới, bôi nhọ, "bóc phốt", tấn công cá nhân trên không gian mạng là những biểu hiện "lệch chuẩn", đang thu hút một lượng lớn người theo dõi, lấn át các thông tin quan trọng của đời sống xã hội.
Một bộ phận người có ảnh hưởng ứng xử xấu xí trên không gian mạng, như tranh cãi, đấu tố đồng nghiệp, quảng cáo sai sự thật nhằm thu lợi… Thậm chí, có những người thường xuyên thể hiện sự trịch thượng, “chỉ bảo” cơ quan này, tổ chức kia phải làm thế này, thế khác bằng thái độ hết sức chủ quan. Tồn tại quá lâu trong một thế giới ảo đầy rẫy những lời ca tụng, họ càng ngày càng "ngáo quyền lực".
Tâm lý đám đông làm lan tỏa cực nhanh các thông tin gây sốc mà không cần phải đắn đo, suy xét, kiểm chứng, bởi vì họ đã sẵn có niềm tin rằng, những thông tin của những người ảnh hưởng ấy là sự thực, thậm chí là chân lý. Nó có tác động mạnh mẽ tới công chúng, đặc biệt là người trẻ - bộ phận chiếm số đông người dùng trên mạng xã hội, những người cởi mở, năng động, hướng ngoại, tuy nhiên sự trải nghiệm, hệ giá trị sống đang trong quá trình hình thành nên dễ dàng bị “rác” mạng tấn công.
Những người dù có sức ảnh hưởng thế nào, thì họ vẫn là một công dân, phải thượng tôn pháp luật, có văn hoá và đạo đức. Không thể lấy số lượng người theo dõi, lượt xem làm công cụ để làm càn. Giá trị của người nổi tiếng trên mạng xã hội nên được đo đếm bằng những điều tích cực mà họ đem đến cho cộng đồng.
Với những mặt trái của không gian mạng, việc sử dụng internet và mạng xã hội ở Việt Nam luôn có những nguyên tắc và quy định nhất định. Điển hình là phải tuân thủ Luật An ninh mạng, Luật Công nghệ thông tin, Luật Báo chí, Luật Xuất bản và Quy chế sử dụng mạng xã hội...
Để góp phần làm trong sạch không gian mạng, chống lại sự hoành hành của thông tin giả, xấu, độc nên nhiều người trên cộng đồng mạng không được tiếp tay phát tán những thông tin độc hại. Mỗi chúng ta phải là 1 người sử dụng mạng xã hội có bản lĩnh, có văn hóa, ứng xử văn minh thì mới mong xây dựng một cộng đồng mạng xã hội lành mạnh. Sự ảo tưởng sức mạnh từ ngoài đời thật cho đến môi trường mạng xã hội đều để lại những hậu họa khôn lường./.
St

TÌNH ANH EM SON SẮT, THỦY CHUNG GIỮA VIỆT NAM VÀ CU BA

 Mối quan hệ hữu nghị, thủy chung, trong sáng giữa Việt Nam và Cuba được Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ Fidel Castro và các thế hệ lãnh đạo, nhân dân hai nước kế tục và vun đắp đã trở thành tài sản quý báu đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.

Biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết anh em gắn bó.
Trong trái tim nhân dân Việt Nam, câu nói của lãnh tụ Fidel Castro: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình!” đã trở thành bất hủ và là biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết anh em gắn bó, thủy chung giữa hai dân tộc và nhân dân hai nước. Câu nói trong cuộc mít-tinh tại quảng trường cách mạng Jose Marti ở La Habana ngày 2/1/1966 đã thể hiện tình cảm ruột thịt, sự sẵn sàng hy sinh, sẻ chia của Cuba đối với người đồng chí, anh em Việt Nam.
Trong những thời khắc vô cùng cam go trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, lãnh tụ Fidel Castro đã biến những chuyến công du nước ngoài thành cơ hội vận động chính phủ và nhân dân các nước đoàn kết, ủng hộ Việt Nam. Những cuộc tuần hành quần chúng ở Cuba thể hiện đoàn kết với Việt Nam luôn có sự xuất hiện, đồng hành của nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước Cuba.
Vượt qua khoảng cách xa xôi về địa lý, hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, Cuba luôn sát cánh, hỗ trợ Việt Nam với tinh thần một người bạn chân thành, một người đồng chí tin cậy. Tháng 9/1973, sau khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, Fidel Castro là vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên và duy nhất trên thế giới tới thăm tỉnh Quảng Trị - vùng giải phóng miền Nam Việt Nam.
Chuyến thăm lịch sử của Lãnh tụ Cuba Fidel Castro lúc đó không chỉ thể hiện sự ủng hộ, động viên rất lớn về chính trị đối với cách mạng Việt Nam, là một dấu mốc lịch sử đặc biệt trong quan hệ hai nước, đồng thời là một biểu tượng của phong trào quốc tế đoàn kết và ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam.
Sau chuyến thăm này, Fidel Castro và nhân dân Cuba đã tặng Việt Nam nhiều công trình kinh tế - xã hội với tổng trị giá khoảng 80 triệu USD, gồm: Khách sạn Thắng Lợi (tại Hồ Tây, Hà Nội), Bệnh viện Việt Nam - Cuba (tại Đồng Hới, Quảng Bình), Đường cao tốc Xuân Mai, Trại bò giống Ba Vì, Xí nghiệp gà Lương Mỹ. Đặc biệt, Cuba còn cử chuyên gia về cầu đường sang Việt Nam cùng với bộ đội Trường Sơn mở rộng đường Hồ Chí Minh…; tặng bò giống, gà giống, chi hơn 6 triệu USD để Việt Nam mua nhiều thiết bị hiện đại. Tình cảm sâu sắc của Chủ tịch Cuba Fidel Castro đối với Việt Nam và sự giúp đỡ hết lòng của Cuba đã trở thành nguồn động viên to lớn tiếp thêm ý chí sức mạnh cho quân, dân Việt Nam, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Đáp lại chân tình của người đồng chí, anh em, Việt Nam luôn dành tình cảm hữu nghị đặc biệt, đoàn kết và hợp tác chân thành với Cuba. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ lãnh đạo và nhân dân Việt Nam luôn khẳng định, đoàn kết và ủng hộ Cuba là lương tâm và trách nhiệm của những người cộng sản và toàn thể nhân dân Việt Nam; là đạo lý, truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam thủy chung với đồng chí, bạn bè.
Việt Nam hết lòng chia sẻ với Cuba kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Tình cảm đoàn kết và ủng hộ Cuba cũng luôn được Việt Nam thể hiện nhất quán và mạnh mẽ trong lập trường tại các diễn đàn quốc tế.
Chặng đường viết tiếp tương lai.
Ngay sau ngày cách mạng Cuba thành công (1/1/1959), Cộng hòa Cuba là quốc gia Mỹ Latinh đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam (2/12/1960). Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba không ngừng được củng cố và phát triển trên mọi lĩnh vực.
Mối quan hệ tốt đẹp ấy được khẳng định bằng các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước. Trong đó, nổi bật là chuyến thăm Cuba của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng năm 2018 và chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc năm 2021. Lãnh đạo cấp cao Cuba cũng thường xuyên thực hiện các chuyến thăm đến Việt Nam mà gần đây nhất là của Chủ tịch Miguel Diaz Canel năm 2018.
Nhân dịp kỷ niệm sự kiện lãnh tụ Fidel Castro, khi đó là Thủ tướng nước Cộng hòa Cuba, tới vùng đất vừa được giải phóng ở Quảng Trị cách đây 50 năm (9/1973), ngày 24/9, Chủ tịch Quốc hội Cuba Esteban Lazo Hernandez đến Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm Việt Nam kéo dài 5 ngày, theo lời mời của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước đạt nhiều thành tựu. Trong đó, nhiều dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài và liên doanh giữa hai nước đã được thiết lập và đi vào hoạt động. Các doanh nghiệp quan trọng của Việt Nam quan tâm đến thị trường Cuba và đã đến Cuba để tìm cơ hội hợp tác, đầu tư. Ngày 1/4/2020, Hiệp định thương mại Việt Nam - Cuba (ký ngày 9/11/2018) chính thức có hiệu lực, với nhiều cam kết ưu đãi thương mại mới, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp hai nước và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa song phương.
Hai nước cũng ghi nhiều dấu ấn trong các dự án hợp tác về nông nghiệp, hợp tác về vaccine, hợp tác về dầu khí, hợp tác về giáo dục, hay hợp tác về viễn thông, xây dựng hạ tầng du lịch,…Trong lĩnh vực ngoại giao đa phương, Việt Nam và Cuba duy trì quan hệ hợp tác và ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên hợp quốc. Gần đây, Việt Nam ủng hộ Cuba ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2021 - 2023; tích cực thúc đẩy, hỗ trợ Cuba ký kết Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (11/2020). Cuba đã ủng hộ Việt Nam ứng cử vào vị trí ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021. Việt Nam nhất quán ủng hộ việc chấm dứt bao vây, cấm vận kinh tế - tài chính chống Cuba.
Cùng nhau bước đi trên chặng đường từ gian khó đến thắng lợi vinh quang, quan hệ đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước Việt Nam và Cuba luôn được khẳng định là mối quan hệ anh em mẫu mực, thủy chung. Mối quan hệ ấy được hai nước kế tục và vun đắp đã trở thành tài sản quý báu đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai./.
St