Thứ Hai, 2 tháng 10, 2023

Phát huy giá trị bộ bản đồ và tư liệu "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý" trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay.

 Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” đóng vai trò rất quan trọng trong đấu tranh khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Những tư liệu, bản đồ có tính xác thực lịch sử cụ thể và giá trị pháp lý cao đã thể hiện một cách minh định lịch sử khai phá, xác lập, quản lý và thực thi chủ quyền hợp pháp của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa qua các thời kỳ. Do đó, phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu trong công tác thông tin, tuyền truyền là rất cần thiết, đặt trong bối cảnh công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là trên mặt trận thông tin - truyền thông.

 

Phát huy giá trị bộ bản đồ và tư liệu "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý" trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay

Triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Ảnh: TTXVN

1. Tổng quan về Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”

Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” là hệ thống các bản đồ, tư liệu, hình ảnh đặc sắc, có giá trị lịch sử và pháp lý cao, thể hiện chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu, tìm kiếm công phu, kỹ lưỡng; được Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với các bộ, ngành và các nhà khoa học, các nhà sưu tầm trong và ngoài nước tiến hành sưu tầm, thẩm định các tư liệu, bản đồ của Việt Nam, nước ngoài để xây dựng Bộ bản đồ và tư liệu này. Nguồn tư liệu và bản đồ có sự đóng góp rất lớn từ các đơn vị như Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I; Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, Ủy ban Nhân dân huyện Hoàng Sa... cùng một số tổ chức, cá nhân khác.

Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” gồm các bản đồ, tư liệu, hình ảnh được sắp xếp thành các nhóm chính: Hoàng Sa, Trường Sa trong thư tịch cổ và bản đồ cổ Việt Nam; Bản đồ xuất bản tại phương Tây (thế kỷ XVI - XIX) ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Bản đồ Trung Quốc do phương Tây và Trung Quốc xuất bản (thế kỷ XVI - XX) xác nhận hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về Trung Quốc; Hoàng Sa, Trường Sa trong thời kỳ Pháp thuộc và cho đến trước năm 1975; Một số tư liệu, hình ảnh về biển, đảo và công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” thể hiện qua các nội dung chính sau:

Trước hết, Bộ bản đồ và tư liệu đã cho thấy, Nhà nước Việt Nam là chủ thể duy nhất đã khai phá, xác lập và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ thế kỷ XVII bằng con đường hòa bình, liên tục và không có tranh chấp đến năm 1909. Điều này đã được thể hiện qua các nguồn sử liệu phong phú như Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá soạn năm 1686; Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776; Hoàng Việt địa dư chí (1833); Đại Nam thực lục chính biên (1844 - 1848); Việt sử cương giám khảo lược (1876); Quốc triều chính biên toát yếu (1910)… Các tài liệu chính sử của Nhà nước Việt Nam như Đại Nam thực lục.

Đặc biệt, nội dung về các hoạt động quản lý và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn được phản ánh đậm nét và cụ thể trong các Châu bản triều Nguyễn. Đây là các văn bản hành chính chính thức của triều đình nhà Nguyễn, có dấu phê duyệt của Hoàng đế và ấn tín các cơ quan nhà nước nên mang tính pháp lý rất cao.

Thứ hai, Bộ bản đồ và tư liệu đã cho thấy chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định và ghi nhận tại các hội nghị quốc tế quan trọng mà không có bất kỳ sự phản đối nào từ các quốc gia tham dự.

Tại hội nghị San Francisco (từ ngày 4 đến 8-9-1951, với sự tham dự của 51 quốc gia), Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng chính quyền Bảo Đại, ông Trần Văn Hữu đã tuyên bố: “...để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, những quần đảo luôn thuộc về Việt Nam”(1) mà không gặp bất cứ sự phản đối hoặc bảo lưu quốc tế nào.

Theo diễn tiến lịch sử, từ Tuyên bố Cai-rô ngày 27-11-1943 và Tuyên ngôn Hội nghị Postdam ngày 26-7-1945 khẳng định lại nội dung Tuyên bố Cai-rô cho đến Hòa ước San Francisco (ký ngày 8-9-1951), các văn kiện pháp lý quốc tế nói trên đã không xác nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Thứ ba, các tư liệu, bản đồ từ phương Tây đã mặc nhiên khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những thực thể địa lý thuộc lãnh thổ của Việt Nam; đồng thời, những bản đồ vẽ lãnh thổ Trung Quốc do phương Tây và chính Trung Quốc xuất bản đều xác nhận lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam, không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Tiêu biểu như bản đồ của anh em nhà Van Langren (người Hà Lan) vẽ năm 1595. Bản đồ vẽ khá chi tiết, hình vẽ Hoàng Sa rõ ràng và điển hình, ghi rõ I.de Pracel. Quần đảo Hoàng Sa cùng với dải bãi ngầm và bãi cát Hoàng Sa được phân biệt rõ ràng với các đảo Pulo S.polo (Cù Lao Chàm), Pulo Catam (Cù Lao Ré), Pulo Cambir (Cù Lao Xanh)… ở ven bờ.

Bản đồ An Nam đại quốc họa đồ, do Giám mục người Pháp Jean Louis Taberd vẽ và nằm trong phụ bản của cuốn sách Dictionarium latino-anamiticum (Từ điển Latinh - An Nam), được xuất bản tại Calcutta (Ấn Độ) năm 1838 có ghi dòng chữ Latinh: Paracel seu Cát Vàng, nghĩa là “Paracel hoặc là Cát Vàng” để chỉ quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam. Đặc biệt là bộ Atlas Universel do Philippe Vandermaelen (1795 - 1869), nhà địa lý học người Bỉ, người sáng lập Viện Địa lý Hoàng gia Bỉ biên soạn, xuất bản tại Bruxelles (Bỉ) vào năm 1827(2). Tờ bản đồ Partie de la Cochinchine ở tập 2 khẳng định Paracels (quần đảo Hoàng Sa) là thuộc Việt Nam. Điều này cho thấy sự thống nhất giữa bản đồ quốc tế và Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhiều bản đồ Trung Quốc do phương Tây vẽ đều ghi nhận lãnh thổ cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam. Bản đồ Trung Quốc do các nhà nước Trung Quốc xuất bản và phát hành chính thức cũng đều thể hiện nhất quán như vậy. Đáng chú ý là bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ (do nhà Thanh xuất bản năm 1904), thể hiện lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc chỉ giới hạn ở đảo Hải Nam. “Tấm bản đồ hơn trăm năm này không chỉ mang đến những thông tin lịch sử giá trị mà tự thân nó nói lên một thông điệp rằng, từ năm 1904, trong nhận thức của người Trung Quốc, cực nam đất nước của họ chỉ đến đảo Hải Nam. Đồng nghĩa, đây là một bằng chứng tư liệu do chính Trung Quốc xuất bản khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc chủ quyền của Trung Quốc”(3).

Ngoài ra, Bộ bản đồ và tư liệu còn có các bản đồ Việt Nam từ thế kỷ XVI - XIX ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tiêu biểu như Đại Nam nhất thống toàn đồ do vua Minh Mạng cho vẽ vào năm 1838, có thể hiện hai địa danh Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa bằng chữ Hán. Bản đồ vẽ hình thế tỉnh Quảng Ngãi trong tập Nam Việt bản đồ, biên soạn vào thế kỷ XIX. Chú dẫn phía trên bản đồ này có miêu tả địa danh Bãi Cát Vàng bằng chữ Nôm, ở ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi.

Các tư liệu của phương Tây xuất bản từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, trong đó có những trang văn bản miêu tả về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như quá trình người Việt đến hai quần đảo này để khai thác hải sản, cắm mốc chủ quyền và thực thi chủ quyền. Tiêu biểu như sách Tableau de la Cochinchine do E. Cortambert và Léon de Rosny biên soạn, xuất bản tại Paris năm 1862, viết về vương quốc Cochinchine. Trang 7 liệt kê Paracel trong bảng miêu tả về Cochinchine và ghi rõ: “đối diện với Huế là quần đảo Paracels tức là Kat-vang (Cát Vàng)”, khẳng định Paracels (tức quần đảo Hoàng Sa) chắc chắn thuộc về Việt Nam.

Về thời kỳ Pháp thuộc và cho đến trước năm 1975, Bộ bản đồ và tư liệu có các hình ảnh về quá trình chiếm giữ và thực thi chủ quyền của chính quyền Việt Nam và chính quyền Pháp ở Đông Dương trong những năm 1936 - 1954. Đây là những tư liệu được Ủy ban Biên giới Quốc gia - Bộ Ngoại giao cung cấp và một số hình ảnh hiện đang được lưu trữ tại UBND huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng. Tiêu biểu như Nghị định số 4702-CP ngày 21-12-1933 của Thống đốc Nam Kỳ M.J. Krautheimer ký (Nghị định sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ vào địa phận tỉnh Bà Rịa). Hình ảnh tấm bia khẳng định chủ quyền do một đơn vị lính bảo an người Việt dựng trên đảo Hoàng Sa vào tháng 6-1938. Trên bia có khắc dòng chữ: “République Francaise - Empire d’Annam - Archipels des Paracels 1816 - Ile de Pattle 1938” (Cộng hòa Pháp - Đế chế An Nam - Quần đảo Hoàng Sa 1816 - Đảo Hoàng Sa 1938).

Thời kỳ Việt Nam Cộng hòa có các công văn, phiếu trình, văn bản hành chính liên quan đến công tác quản lý, thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa như cử quân đội bảo an người Việt ra đóng giữ ở các đảo Hoàng Sa, Trường Sa; công văn và tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa về việc vi phạm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

Cùng với đó, Bộ bản đồ và tư liệu còn có những tài liệu, hình ảnh, thể hiện sự quan tâm, tình cảm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, quân đội, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài với những hành động thiết thực, chung sức bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Điều này đã khẳng định sự đoàn kết, quyết tâm, ý chí trước sau như một của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc Việt Nam đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2. Công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”

Trong những năm qua, Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” đã được giới thiệu, thông tin, tuyên truyền rộng rãi trên cả nước; đồng thời giới thiệu đến đông đảo bà con người Việt ở nước ngoài và bạn bè quốc tế. Trong đó, “Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 63 tỉnh thành, phố trực thuộc Trung ương; 24 đơn vị lực lượng vũ trang, lực lượng kiểm ngư; 11 huyện, thành phố”(4).

Tính riêng trong năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông đã “tổ chức triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 5 đại học, trường đại học trên toàn quốc”(5), thu hút sự tham gia tìm hiểu về biển, đảo đất nước ở giới trẻ, đặc biệt là sinh viên.

Để lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam gắn với biển, đảo đến bạn bè quốc tế, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức 3 triển lãm ảnh, tư liệu với chủ đề “Việt Nam đất nước, con người - Nhìn từ biển, đảo” tại nước ngoài (Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Séc và Liên bang Nga), trong đó có những tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bên cạnh đó, để đổi mới, đa dạng hóa phương thức tuyên truyền qua ứng dụng công nghệ thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng nội dung triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”; từng bước nâng cấp công nghệ, chất lượng đồ họa, bổ sung tư liệu dựa trên cơ sở dữ liệu được số hóa nhằm thực hiện có hiệu quả việc thông tin, tuyên truyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông đến các đối tượng tuyên truyền ở mọi lúc, mọi nơi, thông qua mạng internet, thiết bị di động thông minh.

Giai đoạn 2015 - 2020, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức 61 cuộc triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn 21 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Trong năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông đã “Tổ chức triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 28 trường trung học phổ thông trên địa bàn 10 tỉnh trên toàn quốc”(6).

Trên cơ sở dữ liệu của Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” được Bộ Thông tin và Truyền thông cung cấp, trao tặng (là bản sao chụp và phần mềm số của Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”), nhiều địa phương, đơn vị đã chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu đến đông đảo cán bộ, đảng viên, người lao động và nhân dân trên địa bàn.

Đơn cử như tại Khánh Hòa, “Giai đoạn 2017 - 2020, Sở Thông tin và Truyền thông đã tổ chức triển lãm lưu động và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa tại 7 huyện, thị xã, thành phố. Qua 7 đợt triển lãm (triển lãm kéo dài 3 ngày tại mỗi địa phương), đã đón tiếp 12.229 lượt người đến tham quan, tìm hiểu về triển lãm… Tổ chức 3 đợt triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 3 trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Nha Trang, thu hút 4.750 giáo viên và học sinh tham dự”(7).

Nguồn tư liệu quý từ Bộ bản đồ và tư liệu đã được sử dụng trong các công trình nghiên cứu khoa học, xây dựng nội dung tuyên truyền về biển, đảo… góp phần không nhỏ nhằm lan tỏa giá trị Bộ bản đồ và tư liệu này đến mọi tầng lớp nhân dân những năm gần đây. Ngoài ra, những bản đồ, tư liệu quý này đã được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các nhà báo, phóng viên… lựa chọn, sử dụng trong các bài viết, nghiên cứu cũng như đấu tranh với những luận điệu sai trái, xuyên tạc chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt là trên không gian mạng, góp phần không nhỏ vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay.

Nhìn tổng thể, công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng:

Một là, Bộ bản đồ và tư liệu là những minh chứng sống động, xác đáng, giúp cho đông đảo nhân dân có một cái nhìn đầy đủ, trung thực về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng các tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, phù hợp với các quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Hai là, Bộ bản đồ và tư liệu đã góp phần khẳng định lập trường chính nghĩa của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Qua đó khắc sâu ý thức về chủ quyền quốc gia trên biển đối với mỗi người dân Việt Nam; nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn dân trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Ba là, Bộ bản đồ và tư liệu đã giúp đồng bào ta ở nước ngoài cũng như bạn bè quốc tế có cách nhìn khách quan, trung thực về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông. Điều này góp phần gắn kết bà con kiều bào với nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo quê hương cũng như tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với lập trường, ứng xử và hành động của Việt Nam liên quan đến vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bốn là, những bằng chứng lịch sử và pháp lý mà Bộ bản đồ và tư liệu thể hiện là căn cứ vững chắc để Việt Nam đấu tranh bằng con đường ngoại giao, pháp lý, bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; đồng thời bác bỏ những yêu sách chủ quyền vô căn cứ từ phía Trung Quốc.

Bên cạnh đó, công tác thông tin, tuyên truyền giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” cũng có một số nội dung cần quan tâm:

Thứ nhất, bản sao chụp Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” đã được Bộ Thông tin và Truyền thông trao tặng cho nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị trên cả nước. Tuy nhiên, phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu vào hoạt động triển lãm, thông tin, tuyên truyền chưa có sự đồng nhất, mà còn tùy thuộc vào cách thức tổ chức và sự quan tâm của mỗi tổ chức, đơn vị.

Thứ hai, Bộ bản đồ và Tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” hiện có là những bản đồ, tư liệu đã được thẩm định nghiêm túc, kỹ lưỡng. Tuy nhiên hiện nay, trên thị trường và không gian mạng có rất nhiều tư liệu trôi nổi liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa chưa được kiểm chứng về giá trị và tính xác thực. Điều này ảnh hưởng không nhỏ về tính đồng nhất đối với những bản đồ, tư liệu thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ ba, nội dung bộ bản đồ và tư liệu trong những năm qua thường được tập trung trưng bày, giới thiệu tại các địa phương, đơn vị, các trường học, trường đại học… còn tại các diễn đàn học thuật, hội thảo khoa học các cấp chưa được chú trọng thông tin, tuyên truyền; mặc dù đây là kênh có thể phổ biến, lan tỏa những bằng chứng lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa đến công chúng cũng như giới học thuật.

Thứ tư, hệ thống các quan điểm, chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề Biển Đông, đặc biệt là lập trường, quan điểm về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa chưa được xây dựng thành một chủ đề riêng, trình bày đầy đủ và bao quát.

Thứ năm, công tác thông tin, tuyên truyền về giá trị Bộ bản đồ và tư liệu đối với đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế chưa được tổ chức nhiều để tạo sự lan tỏa mạnh mẽ về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như lập trường, quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông.

3. Một số giải pháp phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay

Hiện nay, các nước trong và ngoài khu vực đều có chiến lược tuyên truyền về bảo vệ các chính sách của mình tại biển Đông, phản bác yêu sách của các nước khác, làm dư luận hiểu không đúng bản chất vấn đề Biển Đông. Thực tế này đặt ra những yêu cầu mới về công tác thông tin, tuyên truyền về biển, đảo nói chung và phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” nói riêng, do đó cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” một cách bài bản, chắc chắn ngay từ cấp cơ sở. Theo đó, tại mỗi đơn vị hành chính cấp xã, cần có một bản sao Bộ bản đồ và tư liệu, đồng thời bố trí không gian trưng bày phù hợp, tùy điều kiện mỗi địa phương. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về tuyên truyền biển, đảo cho cán bộ cấp cơ sở phụ trách công tác thông tin, tuyên truyền nhằm thông tin sâu rộng về giá trị Bộ bản đồ và tư liệu đến đông đảo nhân dân.

Về lâu dài, đây là điều cần thiết để những tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được đông đảo nhân dân dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từ đó, giúp mỗi người dân có được những kiến thức cơ bản về chủ quyền quốc gia trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Đồng thời, những tư liệu sinh động từ Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” là điều kiện cần thiết để mỗi người dân nhận thức sâu sắc hơn giá trị thiêng liêng về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc đã được định hình xuyên suốt chiều dài lịch sử; từ đó bồi đắp ý chí, nuôi dưỡng quyết tâm đối với công cuộc đấu tranh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay.

Hai là, kịp thời chuẩn hóa tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong những năm qua, đặc biệt là khi Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 11-12-2012 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác sưu tầm, thẩm định, công bố, sử dụng các tài liệu, bản đồ, ấn phẩm và khen thưởng đối với các cá nhân, tổ chức đã sưu tầm và hiến tặng tài liệu liên quan đến chủ quyền biển, đảo Việt Nam được ban hành, công tác sưu tầm, thẩm định các tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã được tiến hành nghiêm túc, cẩn trọng, với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân, chuyên gia nghiên cứu về biển, đảo.

Trên cơ sở những kết quả sưu tầm, thẩm định, cần chuẩn hóa các tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa cả về hình thức lẫn giá trị khoa học, pháp lý; đồng thời bổ sung vào Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” một cách đầy đủ, toàn diện.

Bên cạnh đó, nguồn tư liệu, bản đồ sau khi được chuẩn hóa cần được xây dựng thành cơ sở dữ liệu số một cách hệ thống và được cập nhật trên các trang thông tin của các cơ quan, tổ chức nhà nước có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, nghiên cứu, tuyên truyền về biển, đảo. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, tra cứu tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa một cách nhanh chóng, dễ dàng; tránh được việc viện dẫn, sử dụng tư liệu về Hoàng Sa, Trường Sa trôi nổi trên không gian mạng, chưa được kiểm chứng hoặc chứa yếu tố phản ánh sai lệch chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.

Ba là, thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu một cách khoa học, có trọng tâm, trọng điểm. Trong bối cảnh hiện nay, ngoài việc trưng bày, triển lãm Bộ bản đồ và tư liệu theo kế hoạch thường niên và các sự kiện quan trọng hằng năm của mỗi tổ chức, đơn vị; cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, giới thiệu Bộ bản đồ và tư liệu, đặc biệt là các tư liệu mới phát hiện, bổ sung… tại các diễn đàn học thuật. Đây là một kênh quan trọng giúp cho việc lan tỏa những bằng chứng lịch sử và pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đến giới nghiên cứu… từ đó thúc đẩy việc minh chứng, khẳng định chủ quyền hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông trên các diễn đàn, ấn phẩm khoa học.

Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tổ chức các đợt trưng bày, triển lãm Bộ bản đồ và tư liệu tại nước ngoài nhiều hơn, hướng đến đối tượng là bạn bè quốc tế và đồng bào ta ở nước ngoài. Trên cơ sở Bộ bản đồ và tư liệu hiện có, nên có sự lựa chọn những tư liệu, bản đồ, hình ảnh tiêu biểu của mỗi chủ đề; đồng thời biên dịch sang ngôn ngữ các nước có đông người Việt Nam đang sinh sống, công tác, học tập và lao động để xây dựng thành ấn phẩm thông tin phù hợp. Qua đó, mỗi người Việt ở nước ngoài đều có thể sử dụng, giới thiệu về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đến bạn bè quốc tế một cách thiết thực, hiệu quả.

Bốn là, bổ sung, hoàn thiện hệ thống tư liệu về chủ trương, quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông cũng như chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Đây là một nội dung rất quan trọng, cần được sắp xếp khoa học, hợp lý theo diễn tiến lịch sử, thể hiện lập trường nhất quán của Việt Nam đối với vấn đề chủ quyền trên Biển Đông. Đồng thời, quan điểm, chính sách và hành động của Việt Nam giai đoạn gần đây cần được khắc họa cụ thể, rõ nét nhằm thể hiện tính chính nghĩa, tôn trọng luật pháp quốc tế cũng như tinh thần hòa hiếu của Việt Nam trong giải quyết các bất đồng, tranh chấp trên Biển Đông.

Điều này góp phần thể hiện ý chí, quyết tâm trước sau như một của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; qua đó vừa củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân với công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước trên Biển Đông, vừa lan tỏa tính hợp pháp, chính nghĩa, chủ trương giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình của Việt Nam đến bạn bè quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế đối với Việt Nam trong chính sách, lập trường, hành động và ứng xử đối với các vấn đề liên quan đến chủ quyền trên Biển Đông.

Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” là bằng chứng xác đáng, đanh thép khẳng định chủ quyền hợp pháp, không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng, góp phần củng cố, nâng cao nhận thức của nhân dân về vấn đề chủ quyền biển, đảo đất nước; thể hiện chủ quyền hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông đến đông đảo bạn bè quốc tế; đồng thời đấu tranh, phản bác với những quan điểm xuyên tạc chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là cơ sở vững chắc nhằm góp phần thực hiện tốt công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng trong bối cảnh hiện nay.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 544 (tháng 6-2023)

Ngày nhận bài: 8-5-2023; Ngày bình duyệt: 23-6-2023; Ngày duyệt đăng: 26-6-2023.

(1) Bộ Ngoại giao, Ủy ban Biên giới quốc gia: Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2013, tr.42

(2) Bộ Atlas Universel do Philippe Vandermaelen (1795 - 1869) biên soạn, gồm 6 tập: Châu Âu (tập 1), Châu Á (tập 2), Bắc Mỹ (tập 3), Nam Mỹ (tập 4), Châu Phi (tập 5) và Châu Úc (tập 6).

(3) Mai Hồng - Lê Trọng: Hoàng Sa, Trường Sa là máu thịt Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2015, tr.57.

(4) Bộ Tài Nguyên và Môi trường: Thuyết minh Chương trình truyền thông về biển và đại dương đến năm 2030, Hà Nội, 2022, tr.15

(5) (6) Bộ Thông tin và truyền thông: Báo cáo số 12/BC-BTTTT ngày 13-3-2020, Báo cáo kết quả triển khai thực hiện Đề án tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam năm 2019 theo Quyết định số 930/QĐ-TTg ngày 28-7-2018 của Thủ tướng Chính phủ, tr.2.

 

(7) Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Khánh Hòa: Báo cáo Kết quả thông tin, tuyên truyền chủ quyền biển, đảo, ngày 22-6-2022 (gửi Đoàn công tác Học viện Chính trị khu vực III).

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TẤN RA MẮT SÁCH ẢNH "ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP"!

     Cuốn sách ảnh tập hợp hơn 250 bức ảnh mang đến cho bạn đọc những hình ảnh sinh động, những chú giải chi tiết tái hiện cuộc đời, sự nghiệp vị danh tướng của thời đại - Đại tướng Võ Nguyên Giáp. 

Trọn cả cuộc đời với hơn 80 năm hoạt động cách mạng, Đại tướng-Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã có nhiều công lao to lớn và cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc Việt Nam.

Tên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với thắng lợi vĩ đại của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đánh giá cao công lao của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Các thế hệ cán bộ, chiến sỹ suy tôn ông là Anh Cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Con người, nhân cách và những cống hiến to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp in đậm trong lòng dân, là vị tướng của nhân dân, mãi mãi lưu danh trong lịch sử dân tộc.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp không được đào tạo tại bất kỳ trường quân sự nào, nhưng trong cuộc đời binh nghiệp của mình, ông đã chạm trán với nhiều vị tướng được đào tạo bài bản từ những học viện quân sự nổi tiếng của quân đội đối phương và ông luôn là người chiến thắng.

Ông đã học nghệ thuật quân sự ngay trong thực tế khói lửa của chiến trường, không chỉ trở thành nhà chỉ huy quân sự có tài thao lược kiệt xuất, bậc thầy về chiến lược, chiến thuật quân sự mà còn có công lao to lớn góp phần vào việc hình thành và phát triển học thuyết quân sự - đường lối chiến tranh nhân dân độc đáo Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Năm 2023, nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hướng tới 80 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2024), 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2024), 112 năm ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nhà xuất bản Thông tấn biên soạn và xuất bản cuốn sách ảnh “Đại tướng Võ Nguyên Giáp."

Sách in song ngữ Việt-Anh, thiết kế mỹ thuật trang trọng, đẹp mắt gồm 3 phần, phần 1: "Quê hương-Gia đình-Tuổi thơ" (1911-1940); phần 2: "Nhà quân sự thiên tài" (1940-1975); phần 3: "Vị danh tướng của thời đại."

Với hơn 250 bức ảnh được sưu tầm, tuyển chọn từ Thông tấn xã Việt Nam, các bảo tàng, gia đình cùng những nhà nhiếp ảnh có thời gian dài gắn bó cùng Đại tướng…, sách ảnh “Đại tướng Võ Nguyên Giáp” sẽ mang đến cho bạn đọc những hình ảnh sinh động, những chú giải chi tiết tái hiện về cuộc đời, sự nghiệp của Đại tướng gắn với những biến thiên của lịch sử, với cuộc chiến đấu và chiến thắng của quân đội và nhân dân Việt Nam trong thế kỷ 20 - những chiến thắng ghi đậm dấu ấn cá nhân của một con người vĩ đại đã được lịch sử gọi tên: Đại tướng Võ Nguyên Giáp./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA HỘI NGHỊ LẦN THỨ 8 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII!

         Sáng 2/10/2023, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. 

Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Trung ương sẽ bàn và cho ý kiến kết luận về các vấn đề: Tình hình kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023, kế hoạch năm 2024; kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm 2024-2026 và lộ trình thực hiện chế độ tiền lương mới; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020; tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và một số vấn đề quan trọng khác./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 02 THÁNG 10 NĂM 1961!

     “Địch công thành, ta công tâm, phải lấy được lòng dân”!
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại cuộc họp Bộ Chính trị bàn về cách mạng miền Nam, Báo Nhân dân, đăng số 2750, ngày 02 tháng 10 năm 1961. Bác nêu rõ quan điểm: “Nói miền Nam, cần nhận định thêm tình hình quốc tế để có chính sách đối phó cho khéo, cần phải nhân sự phát triển của tình hình sau Nghị quyết 15... Nó phá hoại miền Bắc. Nó sợ mình đánh nó. Địch, quân sự mạnh nhưng chính trị yếu. Ta, chính trị mạnh nhưng quân sự yếu. Nếu lấy sức đọ sức để tiêu hao thì không lợi. Ta không lấy đấm chọi đấm mà lấy mưu mẹo để diệt nó, trừ bọn ác đi để bảo vệ cơ sở, phong trào dần sẽ lên. Địch công thành, ta công tâm, phải lấy được lòng dân. Tổ chức du kích cho đều, dễ hoạt động, giúp được dân mà phân tán địch. Đồng thời, ta phải có một vài cú đấm, đánh rồi ta luồn đi. Ta không để lộ lực lượng, phải tự lực cánh sinh, hoạt động dẻo dai. Không phải chỉ có đấu tranh chính trị. Hoạt động sản xuất, văn hóa cũng cần kịp thời chuyển hướng”...

Đây là sự thể hiện nhất quán quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc phải luôn luôn lấy dân làm gốc, phải thấy được sức mạnh vô địch từ nhân dân: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng qua”. Đây cũng là đặc trưng tiêu biểu về bản chất của Quân đội ta - quân đội cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về việc luôn coi trọng và đặt lên hằng đầu sức mạnh của quần chúng nhân dân, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng xây dựng "thế trận lòng dân" là một bộ phận của tiềm lực chính trị tinh thần; dựa vào nhân dân, được nhân dân ủng hộ, che chở giúp đỡ; đồng thời, huy động và khai thác tiềm lực to lớn từ nhân dân, sức mạnh vô địch của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhờ xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, biết khơi dậy và phát huy lòng yêu nước, căm thù giặc và sức mạnh của lòng dân, các lực lượng cách mạng đã tổ chức đấu tranh bằng nhiều hình thức, thực hiện Đảng bám dân, dân bám đất, lực lượng vũ trang bám địch, liên tục vây ép, tiến công địch cả về chính trị, quân sự, tiêu hao từng bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh, "căng, kéo, kìm, giữ địch", buộc chúng phải phân tán đối phó, góp phần làm cho địch sa lầy bị động, tạo thế cho cấp trên và cùng bộ đội chủ lực ta tiêu diệt địch, giành thắng lợi. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, "thế trận lòng dân" tiếp tục được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chăm lo xây dựng và củng cố vững chắc; kết hợp chặt chẽ với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, được dân tin, dân mến, dân yêu, dân giúp đỡ là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc... Cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm, vượt mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chấp nhận hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” và niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, nhân dân.

_________

Ngày 02-10-1928, Tập san Inprekorr của Quốc tế Cộng sản đăng bài “Chủ nghĩa tư bản đế quốc Pháp ở Đông Dương” của Nguyễn Ái Quốc phân tích một cách chi tiết tình hình kinh tế ở xứ thuộc địa này và bài báo kết luận: “... Đế quốc Pháp ở Đông Dương luôn luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ về một cuộc cách mạng sắp tới. Việc đó tạo ra một giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc tự mình đào hố để chôn mình”.

Ngày 02-10-1950, nhân dịp Tết Trung thu, Bác Hồ lại viết “Thư gửi Nhi đồng cả nước” khích lệ: “Trung thu này, các cháu tiến bộ nhiều, cũng như kháng chiến ta tiến bộ nhiều... Nhưng Bác chắc rằng: Bất kỳ ở đâu, tinh thần các cháu cũng đều hăng hái vui vẻ. Vì các cháu đều biết rằng: Giặc Pháp và phản động Mỹ không thể ăn cướp ông trăng Trung thu của các cháu. Cũng như chúng nó không thể ngăn trở cuộc thắng lợi của kháng chiến ta. Vì các cháu đều chắc rằng kháng chiến nhất định thắng lợi và đến ngày kháng chiến thắng lợi, thì Bác cháu ta sẽ cùng nhau ăn những cái Tết Trung thu rất vui vẻ, sung sướng, tưng bừng”.

Đầu tháng 10-1953, tại Khuối Tát trên Chiến khu Việt Bắc, Bác gặp các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng để nghe Tổng Tư lệnh báo cáo tình hình địch và công tác chuẩn bị lực lượng của ta cho Chiến dịch sắp tới. Bác chỉ thị: “Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn”.

Đầu tháng 10-1966, Bác Hồ góp ý kiến cho nội dung bức trướng của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam dự kiến tặng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Tự tay Bác viết nội dung như sau: “Phụ nữ Việt Nam/Dũng cảm đảm đang/Chống Mỹ, cứu nước”.

Ngày 02-10-1968, Bác tiếp tục họp Bộ Chính trị thảo luận đề án đấu tranh ngoại giao sau Tết Mậu Thân, lưu ý rằng, nếu Mỹ ngừng ném bom nhưng chiến tranh vẫn diễn ra ở miền Nam, thì Mỹ vẫn có thể ném bom trở lại miền Bắc nên ta phải chuẩn bị sẵn sàng./.
Môi trường ST.

KHAI MẠC HỘI NGHỊ LẦN THỨ 8 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII!

         Hội nghị Trung ương lần thứ 8 xem xét, quyết định nhiều vấn đề trọng đại, phức tạp, nhạy cảm, có ý nghĩa rất quan trọng với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. 

Sáng 2/10, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng điều hành Phiên khai mạc.

Mở đầu Hội nghị, Trung ương dành một phút tưởng niệm Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành và các nạn nhân đã bị thiệt mạng trong các đợt thiên tai, hỏa hoạn.

Tại hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Trung ương sẽ bàn và cho ý kiến kết luận về các vấn đề: Tình hình kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023, kế hoạch năm 2024; kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm 2024-2026 và lộ trình thực hiện chế độ tiền lương mới; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020; tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và một số vấn đề quan trọng khác.

Hội nghị Trung ương lần này xem xét, quyết định nhiều vấn đề trọng đại, phức tạp, nhạy cảm, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII từ nay đến hết nhiệm kỳ.
Theo chương trình, Hội nghị làm việc đến ngày 8/10./.
Ảnh: Một phiên họp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
Yêu nước ST.

Tự hào lịch sử, Hà Nội vững bước tiến vào tương lai!


Hà Nội đang trong những ngày Thu tháng 10 lịch sử, gợi nhớ ngày cách đây 69 năm, lớp lớp đoàn quân tiến vào Thủ đô từ 5 cửa ô, hân hoan đi giữa phố phường rợp cờ hoa, rộn rã tiếng cười để tiếp quản Hà Nội. Dù hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng cứ vào thời khắc này, những người Hà Nội thế hệ cũ lại bâng khuâng nhớ về giờ phút thiêng liêng đó, với những cảm xúc khó tả.

Ngày nay, Hà Nội đã trải qua một chặng đường dài phát triển, hình hài của một Thủ đô hiện đại ngang tầm với các nước trong khu vực cũng đang dần hiện ra. Nhưng chưa khi nào người Hà Nội quên được truyền thống đáng nhớ trong quá khứ, tự hào về lịch sử để thêm tự tin bước vào tương lai.

Kể từ mùa Thu của 69 năm trước cho đến nay, Hà Nội vẫn nỗ lực không ngừng trong xây dựng và phát triển Thủ đô, xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước, đưa thành phố hội nhập sâu rộng với thế giới. Truyền thống của mảnh đất ngàn năm văn hiến, tinh thần quả cảm được hun đúc qua hai cuộc kháng chiến, khát vọng vươn lên, là nền tảng vững chắc góp phần tạo ra thế và lực để Hà Nội có bước chuyển mình mạnh mẽ như ngày hôm nay.

Kinh tế Thủ đô đạt mức tăng trưởng tốt. Công tác xây dựng nông thôn mới đạt kết quả nổi bật. Sự nghiệp văn hóa xã hội, y tế, khoa học công nghệ tiếp tục phát triển và đạt nhiều thành quả quan trọng. Ðời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện, an sinh xã hội được bảo đảm.

Mục tiêu đến năm 2025, sẽ xây dựng, phát triển Thủ đô nhanh và bền vững theo hướng đô thị xanh, thành phố thông minh, hiện đại, có sức cạnh tranh cao trong nước và khu vực; tạo bước chuyển căn bản sang mô hình tăng trưởng dựa trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tiến bộ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đến thời điểm này, thành phố cơ bản hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, GRDP/người đạt 8.300-8.500 USD.

Thành phố vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu “Thủ đô Anh hùng,” 3 lần được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, được các tổ chức quốc tế vinh danh là “Thành phố Vì hòa bình,” “Thành phố sáng tạo.” Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Thủ đô đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện, có nhiều dấu ấn nổi bật.

Những ngày này, Hà Nội đang tổ chức các hoạt động kỷ niệm 69 năm Ngày Giải phóng Thủ đô. Các hoạt động diễn ra có trọng tâm, trọng điểm, gọn nhẹ nhưng vẫn đảm bảo trang trọng, khơi dậy niềm tự hào trong nhân dân. Truyền thống lịch sử, khí chất, tinh thần Hà Nội và những thành quả Thủ đô đạt được trong 69 năm qua là động lực khích lệ các tầng lớp nhân dân Hà Nội tin tưởng, chung tay xây dựng và phát triển Thủ đô ngày càng vững mạnh./.   

Ngày Giải phóng thủ đô 10/10/1954 - Mốc son lịch sử

 

 

Kể từ “Chiếu dời đô” của Vua Lý Thái Tổ năm 1010 đến nay, Thăng Long - Hà Nội đã trải qua và chứng kiến nhiều thăng trầm lịch sử. Quân, dân Hà Nội, thế hệ sau tiếp bước thế hệ trước kiên cường tranh đấu, bền bỉ lao động, sáng tạo nền văn hiến rực rỡ, lập nhiều chiến công hiển hách lưu danh muôn đời. Trong tiến trình lịch sử phát triển Thủ đô Hà Nội, ngày 10-10-1954 là một mốc son lịch sử, đánh dấu thất bại hoàn toàn của thực dân Pháp ở Việt Nam, mở ra thời kỳ phát triển mới của Thủ đô và đất nước.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân Thủ đô Hà Nội và cả nước không có ước nguyện nào hơn là được sống trong không khí hòa bình để xây dựng, phát triển. Nhưng thực dân Pháp dưới sự ủng hộ của đế quốc Mỹ, đã dã tâm cướp nước ta một lần nữa, gây hấn ở Nam Bộ (23-9-1945) và phát động chiến tranh ra cả nước. Ngày 19-12-1946, hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, quân, dân Hà Nội đã cùng với nhân dân cả nước nhất tề đứng lên đánh giặc cứu nước.

Với cuộc chiến đấu 60 ngày đêm vô cùng oanh liệt, Hà Nội đã mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, kìm chân và tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện để cơ quan đầu não và các lực lượng kháng chiến của ta tạm rút khỏi Hà Nội an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ do Trung ương giao. Sau 9 năm chiến đấu ngoan cường, thông minh, gan dạ, đầy sáng tạo của quân và dân ta, đặc biệt là sau thất bại trong trận quyết chiến chiến lược tại Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ (20-7-1954) công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia; chấp nhận rút quân khỏi miền Bắc Việt Nam.

Theo Hiệp định Giơnevơ, Hà Nội nằm trong khu vực tập kết 80 ngày của địch. Biết trước âm mưu của Pháp lợi dụng thời gian này để phá hoại các cơ sở kinh tế, văn hóa của ta, lôi kéo người di cư vào Nam, làm cho Hà Nội trở thành trống rỗng, mọi công việc bị đình trệ. Chúng ta đã chủ động có kế hoạch đề phòng, đấu tranh, đồng thời chuẩn bị lực lượng về mọi mặt để tiếp quản Thủ đô một cách trọn vẹn.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và trực tiếp là Đảng ủy tiếp quản, các tầng lớp nhân dân Thủ đô, nòng cốt là công nhân, tự vệ các nhà máy, xí nghiệp, công sở, đã đấu tranh quyết liệt với địch, bảo vệ gần như nguyên vẹn máy móc, thiết bị, hồ sơ, nguyên vật liệu; đồng thời đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư vào Nam. Cùng thời gian này, cuộc đấu tranh của ta trên bàn Hội nghị ngoại giao ở Phù Lỗ cũng giành thắng lợi, buộc thực dân Pháp phải chuyển giao thành phố cho ta theo đúng nguyên tắc đã quy định tại Hiệp định Giơnevơ.

Đúng 16 giờ ngày 9-10-1954, những tên lính Pháp cuối cùng đã rút qua cầu Long Biên; quân ta hoàn toàn kiểm soát thành phố. Sáng ngày 10-10-1954, Ủy ban Quân chính thành phố và các đơn vị quân đội nhân dân gồm cả bộ binh, pháo binh, cao xạ, cơ giới,... chia làm nhiều cánh lớn đã mở cuộc hành quân lịch sử vào Hà Nội. Hai mươi vạn nhân dân Thủ đô náo nức trong rừng cờ đỏ sao vàng, với niềm vui sướng tột độ của những người đã gần 9 năm bị kìm nén dưới gót sắt của giặc nay được giải phóng, đã đón mừng đoàn quân chiến thắng trở về. 15 giờ chiều cùng ngày, hàng vạn nhân dân trang nghiêm dự lễ chào cờ do Ủy ban Quân chính tổ chức với sự có mặt của các đơn vị quân đội nhân dân tham gia tiếp quản thành phố. Cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trên đỉnh Cột cờ cổ kính... Cả Hà Nội rạo rực niềm vui giải phóng, tự hào về sức mạnh hùng hậu kháng chiến, vô cùng biết ơn Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Hà Nội được giải phóng không chỉ là niềm vui mừng của người dân Thủ đô mà còn là một sự kiện lịch sử, một ngày hội lớn của nhân dân cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Nhân dân các tỉnh, thành phố trong cả nước đều họp mít tinh, liên hoan chào mừng Thủ đô giải phóng. Bạn bè quốc tế, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới cùng chia vui, đưa tin và giới thiệu về chiến thắng vang dội của chúng ta./.

LỄ CHÀO CỜ ĐẦU TIÊN TRONG NGÀY “GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ”

 

Vào lúc 15 giờ ngày 10/10/1954 một đơn vị của Trung đoàn Thủ đô với lá cờ "Quyết chiến, quyết thắng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng đã tham dự Lễ chào cờ đầu tiên trong Ngày giải phóng Thủ đô, diễn ra tại sân Cột Cờ (nay là Đoan Môn-Hoàng thành Thăng Long).

Cuộc kháng chiến ở Hà Nội tiêu biểu cho tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Trước kẻ thù xâm lược có quân đội được trang bị hiện đại, có bộ máy thống trị với những thủ đoạn đàn áp tàn bạo, nhân dân Hà Nội chỉ với vũ khí thô sơ trong tay, đã dũng cảm đứng lên quyết chiến và quyết. Biết bao người con ưu tú của Thủ đô đã chiến đấu kiên cường bất khuất, lớp trước ngã xuống, lớp sau tiến lên, quyết tâm đánh bại kẻ thù xâm lược.

Chiến đấu ở nơi trung tâm đầu não xâm lược của thực dân Pháp, cuộc kháng chiến ở Hà Nội là một nét tiêu biểu của sức mạnh chiến tranh nhân dân, là một điển hình kháng chiến toàn dân trên mặt trận đô thị. Cuộc kháng chiến toàn dân trong lòng thành phố còn làm phong phú thêm kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo quân dân Thủ đô đấu tranh vũ trang chống đế quốc xâm lược.

Để đưa cuộc kháng chiến ở Thủ đô đến thắng lợi, xuất phát từ vị trí, đặc điểm và những điều kiện cụ thể của chiến trường Hà Nội - một căn cứ quân sự, một địa bàn chiến lược quan trọng nhất của miền bắc Đông Dương, Đảng bộ Hà Nội đã vận dụng đúng đắn đường lối, chính sách, chủ trương kháng chiến, đặc biệt là phương châm nhiệm vụ công tác trong vùng bị địch tạm chiếm; đoàn kết, huy động sức mạnh toàn dân đánh giặc, chăm lo xây dựng, bồi dưỡng lực lượng trong suốt quá trình kháng chiến, trước hết là lực lượng chính trị quần chúng, trên cơ sở đó tổ chức lực lượng vũ trang (bao gồm bộ đội địa phương và dân quân, du kích, tự vệ); kết hợp chặt chẽ phong trào đấu tranh kinh tế, chính trị của quần chúng với đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao; vừa đẩy mạnh tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân, vừa tuyên truyền vận động ngay trong hàng ngũ địch tạo nên sức mạnh tổng hợp giành chiến thắng.

Tuy nhiên, phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn, ác liệt, Đảng bộ Hà Nội có nơi, có lúc không tránh khỏi những thiếu sót do phân tích thiếu chính xác tương quan lực lượng giữa ta và địch, do mắc sai lầm trong phương pháp công tác trên địa bàn thành phố bị địch chiếm đóng lâu dài, dẫn đến phong trào có những tổn thất.

Trong muôn vàn khó khăn, thử thách, nhờ có đường lối kháng chiến sáng suốt và sự chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, sự ủng hộ và quyết tâm kháng chiến của nhân dân Thủ đô, Đảng bộ Hà Nội đã vượt qua mọi gian nan, sóng gió, cùng cả nước đánh bại thực dân Pháp xâm lược.

Tám năm lãnh đạo quân dân Hà Nội kháng chiến trong lòng địch, mặc dù còn những hạn chế nhưng Đảng bộ ngày càng trưởng thành cả về chính trị tư tưởng và tổ chức.

            Từ thực tiễn của cuộc kháng chiến, cán bộ đảng viên ngày càng hiểu sâu sắc đường lối kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện, đoàn kết rộng rãi nhân dân chống đế quốc xâm lược, giành độc lập thống nhất và dân chủ thực sự. Cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong gương mẫu, không ngại gian khổ, không sợ hy sinh, có tinh thần trách nhiệm cao, gắn bó mật thiết với quần chúng. Đó là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh để Đảng bộ đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân Thủ đô tới thắng lợi./.

Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2023

 

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM MÃI MÃI LÀ ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM


Trên thế giới không có một chính đảng nào được nhân dân tự nhận là “Đảng ta”, trừ Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi lẽ, mục đích duy nhất và cao cả của Đảng là giành độc lập cho dân tộc và đem lại ấm no hạnh phúc cho Nhân dân. 

Đảng ta ra đời ngày 03/2/1930 đã chấm dứt sự bế tắc, khủng hoảng kéo dài về đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của Đảng là kết quả tất yếu khách quan của lịch xã hội Việt Nam cuối những năm 20 đầu những năm 30 của thế kỷ XX. Sau 15 năm ra đời, với mục tiêu và đường lối đúng đắn, Đảng đã tập hợp và lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân phát triển rộng khắp trên cả nước, làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất”, tạo nên kỳ tích trong lịch sử của dân tộc ta. Đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, đưa dân tộc Việt Nam sang một kỷ nguyên mới - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. 

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với đường lối kháng chiến và kiến quốc, Đảng ta đã phát huy cao nhất chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, lãnh đạo toàn dân, toàn quân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tạo nên những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc bằng những chiến thắng lẫy lừng: thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ (7/5/1954) và Đại thắng mùa Xuân với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày (30/4/1975), kết thúc 21 năm kháng chiến trường kỳ, thu non sông về một mối. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với bản lĩnh và trí tuệ, Đảng ta đã lãnh đạo giành được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 35 năm tiến hành thành công đổi mới, tạo cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước ngày càng cao trên trường quốc tế 

Tuy nhiên, các phần tử cơ hội, thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước luôn xuyên tạc những thành tựu của Đảng và Nhà nước ta, triệt để tận dụng những hạn chế, khuyết điểm trong phát triển kinh tế và quản lý xã hội ở nước ta để xuyên tác, bôi nhọ, vu cáo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Song sự thật, chân lý luôn được chứng minh và tỏa sáng trong thực tiễn cuộc sống. Đó là đông đảo nhân dân tin tưởng, hoan nghênh, ủng hộ đường lối của Đảng; đó là các nước trên thế giới tin tưởng, công nhận và tôn trọng. Chính vì thế Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là ánh sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam; là niềm tin, là chỗ dựa vững chắc, là niềm tự hào của dân tộc ta, Nhân dân ta./.

 

 

ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”

TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG - TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Điều dễ nhận thấy hiện nay là sự phát triển ngày càng nhanh, mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng. Ngoài báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng, các trang web, blog, các mạng xã hội lớn như Facebook, Instagram, Zalo… cũng góp phần không nhỏ tạo ra sự bùng nổ thông tin.

Với ưu thế tốc độ lan truyền nhanh, tiếp cận đến từng cá nhân, Internet và mạng xã hội là công cụ hữu hiệu để tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cùng với đó, Internet, mạng xã hội còn cung cấp nhiều thông tin và tư liệu bổ ích, kịp thời tới từng cá nhân và tập thể; ký kết các văn bản hợp tác và mua bán, trao đổi hàng hóa giữa các đối tác, các tổ chức trong nước cũng như quốc tế. Ngoài ra, mạng xã hội còn cung cấp nhiều dịch vụ giao lưu, vui chơi và giải trí phù hợp với nhiều lứa tuổi, từ thiếu niên đến các bậc cao niên.

Chúng ta không phủ nhận những lợi ích to lớn mà các phương tiện thông tin và mạng xã hội đem lại. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, sự phát triển ngày càng đa dạng, hiệu quả và thiết thực của các phương tiện thông tin cũng được các thế lực thù địch, phản động triệt để khai thác nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Các thế lực thù địch chống phá Việt Nam toàn diện trên mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, nhất là quốc phòng, an ninh và đối ngoại; cả về lý luận cũng như thực tiễn. Mục tiêu không bao giờ thay đổi của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh của Đảng, phủ định thành quả đấu tranh cách mạng, cũng như xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Để thực hiện mục tiêu đen tối ấy, các thế lực thù địch không từ bỏ bất cứ âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm, tinh vi nào.

Do vậy, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên các phương tiện thông tin, đặc biệt trên không gian mạng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên và lâu dài của các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị và từng người dân. Đây được coi là một mặt trận đấu tranh rất quan trọng, nhằm giữ vững nền hòa bình, độc lập dân tộc, cũng như bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN ở nước ta trong bối cảnh mới. Để đấu tranh có hiệu quả với ý đồ khai thác triệt để thế mạnh trên không gian mạng nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, chúng ta cần tiến hành đồng bộ các giải pháp.

Trước hết, trên lĩnh vực chính trị và tư tưởng, các cấp, các ngành cần đẩy mạnh tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và mọi người dân trong và ngoài nước, cũng như bạn bè quốc tế hiểu rõ vai trò lãnh đạo, chủ trương, đường lối, chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhất là thành quả đấu tranh giành độc lập, thành tựu sau hơn 35 năm đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đây là yếu tố quan trọng để chúng ta đấu tranh làm thất bại mưu đồ phủ nhận thành quả cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã giành được.

Đồng thời, chúng ta phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, nhân viên; trước hết lag lực lượng chức năng có lập trường tư tưởng vững vàng, trình độ lý luận và chuyên môn kỹ thuật và đấu tranh trên các phương tiện thông tin, nhất là trên không gian mạng.

Nâng cao bản lĩnh, trình độ lý luận và chuyên môn kỹ thuật cao cho đội ngũ cán bộ, công chức, nhân viên và toàn dân chính là phát huy sức mạnh tổng hợp, động viên sức mạnh toàn dân đấu tranh làm thất bại mọi ý đồ và những luận điểm tuyên truyền và xuyên tạc của các thế lực thù địch; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ và Tổ quốc XHCN. Chủ động chiếm lĩnh trận địa thông tin kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với những dòng thông tin xấu độc trên không gian mạng; tích cực bồi dưỡng Lực lượng 47 của các cơ quan, đơn vị tích cực tham gia đấu tranh với những luận điệu sai tái, thù địch trên không gian mạng, đồng thời lan tỏa các thông tin tích cực, tô thắm hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới./.

 

Vạch trần luận điệu lợi dụng việc Tổng thống Mỹ thăm Việt Nam

để xuyên tạc chống phá

                                             Lợi dụng chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ, mấy trang mạng Việt Tân, RFA, “Thanh Hiêu Bui”, “Lê Trung Khoa”, “Nguyễn Văn Đài …đang ra sức phát tán các tin bài xuyên tạc, bịa đặt chống phá quan hệ đối ngoại của Việt Nam, đòi hỏi yêu sách trả tự do cho các “tù nhân chính trị”, thay đổi quy định pháp luật… Chúng loa cho “12 tổ chức quốc tế thúc giục TT. Biden gây áp lực Hà Nội chấm dứt đàn áp chính trị”, với luận điệu bịa đặt, vu cáo “Việt Nam đã lợi dụng các điều luật để bỏ tù những người bất đồng chính kiến và hạn chế đáng kể quyền tự do báo chí, cũng như quyền tự do ngôn luận và quyền thông tin”, “Điều 117 (tuyên truyền chống nhà nước) và điều 331 (lạm dụng các quyền tự do dân chủ) của Bộ luật Hình sự Việt Nam đã được sử dụng rộng rãi để bắt giữ bất cứ ai dám công khai chỉ trích các hành động chính trị của chế độ”… Chúng đòi “trả tự do cho tất cả 41 nhà báo bị giam giữ chỉ vì họ làm công việc đưa tin và ngừng bắt cóc, bắt giữ, ngược đãi, lục soát và quấy rối các nhà báo và những người bảo vệ tự do báo chí”; “RSF và 11 tổ chức nhân quyền quốc tế đã gửi một thư chung đến người đứng đầu Nhà Trắng, thúc giục gây sức ép buộc Việt Nam chấm dứt đàn áp chính trị đối với các tiếng nói thực hiện quyền tự do ngôn luận một cách ôn hòa, trong đó có nhắc đến hai blogger của RFA”…

Ở mặt khác, chúng xuyên tạc mối quan hệ đối ngoại Việt - Mỹ, bày trò “hoan hô sự đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam”, cho rằng “Hà Nội mời TT Mỹ Joe Biden đến Việt Nam là hoàn toàn đúng” vì “đi theo con đường TBCN là hợp thời thế”… Chúng phát những thông tin “bài Trung”, “thoát Nga”, “kiến nghị” với Đảng, Nhà nước “từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ”!.

https://nhanquyenvn.org/wp-content/uploads/2023/09/Loi-dung-chuyen-tham-cua-TT-My-de-chong-pha.png

Các luận điệu trên nghe chỉ là sự lặp lại thủ đoạn xưa cũ nhằm quy kết những nội dung sai sự thật, phủ nhận thành tựu nhần quyền ở Việt Nam, suy diễn, vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền. Việc làm này cho thấy, chính họ không biết mình đang đứng ở đâu, nhân danh cái gì để đòi hỏi những điều phi lý đó, và phải chăng trong mắt họ, nước Mỹ một tay che trời, có sức mạnh toàn năng phủ cả thế giới?

Ở Việt Nam không có cái gọi là “bắt cóc, bắt giữ, ngược đãi, lục soát và quấy rối các nhà báo và những người bảo vệ tự do báo chí”, chỉ có những kẻ bị bắt vì vi phạm pháp luật, lạm dụng quyền tự do báo chí để đưa tin sai sự thật, chống phá chế độ - đây cũng là điều tất yếu ở mọi quốc gia. Luật pháp luôn bảo vệ những ý kiến phản biện, với mục đích xây dựng, động cơ đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước để sửa đổi chính sách và làm tốt hơn vai trò lãnh đạo, quản lý đất nước. Mọi người dân đều có quyền tự do đưa ra ý kiến, kể cả những ý kiến khác nhau, thậm chí trái với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước là chuyện bình thường. Nhưng đối với bất kỳ kẻ nào lạm dụng tự do, dân chủ để vi phạm pháp luật, chống phá Nhà nước và Nhân dân thì cần phải được xử lý nghiêm minh.

Những cái tên đòi trả tự do như Phạm Thị Đoan Trang… chính là những kẻ cực đoan, bất mãn, biến chất, cơ hội chính trị, thường xuyên viết và phát tán tài liệu xuyên tạc sự thật, chống phá chế độ; cấu kết với các thế lực bên ngoài để chống phá Đảng, Nhà nước; hoặc phạm tội trốn thuế như Hoàng Thị Minh Hồng, Đặng Đình Bách, Ngụy Thị Khanh… đều đã được điều tra, truy tố và xét xử theo đúng quy định pháp luật, khách quan, đầy đủ chứng cứ.

Trong lịch sử loài người, vấn đề dân chủ, nhân quyền là một vấn đề lớn, không nước nào dám tự coi là đã thực hiện một cách hoàn hảo. Ngay ở nhiều nước phát triển còn nhiều những sự kỳ thị, phân biệt chủng tộc, xung đột tôn giáo… Nhà nước Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tự do, dân chủ, báo chí, về bảo vệ quyền con người, tăng cường thể chế thúc đẩy thực thi quyền con người ngày càng đầy đủ hơn và trên thực tiễn đã đạt nhiều thành tựu trong thực hiện an sinh xã hội, bảo đảm quyền tự do thông tin nhất là trên Internet, mạng xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững…

Trước những âm mưu, hoạt động đó, Việt Nam rút ra nhiều bài học như từ xung đột Nga-Ukraine, những điểm nóng trên thế giới hiện nay thì trách nhiệm phải giữ gìn hòa bình để phát triển càng thấy rõ. Để giữ được đất nước bình an, bảo vệ được thành quả cách mạng, thành quả của công cuộc đổi mới, kiên định với mục tiêu, con đường đã chọn đòi hỏi Đảng ta phải rất bản lĩnh, trí tuệ; kiên quyết đấu tranh vạch trần cái sai, bảo vệ cái đúng và lẽ phải, khẳng định thiện chí hợp tác Việt - Mỹ tốt đẹp.

Chính trong bối cảnh thế giới hiện thời, Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có những đối sách phù hợp để ứng xử khôn khéo, “thêm bạn, bớt thù”, được người, được việc, né tránh nguy cơ xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm từ xa. Với chủ trương “khép lại quá khứ, hướng về tương lai”, “đường lối ngoại giao cây tre”, mối quan hệ Việt - Mỹ đã và đang phát triển tốt đẹp, xứng tầm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, nhất là qua các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai bên đến nhau và chuyến thăm của TT Joe Biden lần này là ví dụ sinh động cho hợp tác vì hòa bình, phát triển đem lại lợi ích cho cả hai dân tộc Việt - Mỹ…/.

 

 

  Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh


“Xem xét nơi nào quân địch có thực lực mạnh để tránh và nơi nào quân địch yếu để tiến công, như thế là xem xét tình hình hư thực của bên địch. Biết rõ được thế hư thực của địch, mới có thể bày được mưu kế tiến thoái”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài viết giới thiệu “Binh pháp Tôn Tử” với nhan đề “Bàn về kế hư thực”, ký tên Q.Th, đăng trên Báo Cứu quốc, số 358, ra ngày 27/9/1946.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghệ thuật quân sự là bài học vô giá, là nền tảng tư tưởng cơ bản để Đảng, Nhà nước, Quân đội ta tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển trong Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược Quân sự Việt Nam… Đặc biệt, việc tổ chức, triển khai, bố trí lực lượng và tăng cường tiềm lực quốc phòng trên địa bàn cả nước theo ý định chiến lược được thực hiện tốt, nâng cao đáng kể khả năng phòng thủ của đất nước, đảm bảo đối phó thắng lợi với mọi âm mưu và hành động của các thế lực thù địch xâm phạm độc lập, chủ quyền lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc. Lực lượng trên các hướng chiến lược được bố trí, điều chỉnh hợp lý. Hệ thống công trình phòng thủ được triển khai theo quy hoạch, kế hoạch thống nhất, tập trung cho địa bàn chiến lược trọng điểm.

 

Chủ động, tích cực đấu tranh ngoại giao trong các vấn đề

nhân quyền, dân tộc, tôn giáo

            Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo đến việc bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của mọi người dân, phát triển toàn diện mọi năng lực vốn có của mỗi cá nhân và nhóm xã hội, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Việc thúc đẩy và bảo đảm quyền con người nói chung, bảo đảm quyền tự do tôn giáo, quyền của các dân tộc nói riêng, trước hết là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu, động lực của sự phát triển, đồng thời cũng là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi quốc gia thành viên Liên hợp quốc.

          Nhằm góp phần thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đối với vấn đề dân tộc, tôn giáo, cần tích cực và chủ động trong đấu tranh ngoại giao, chủ động triển khai các hoạt động hội nhập quốc tế mạnh mẽ, toàn diện hơn, phát huy tư cách là thành viên tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam; đồng thời, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động lợi dụng dân chủ, nhân quyền để can thiệp công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam.

          Trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Bên cạnh những cơ hội hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm để tăng cường năng lực bảo đảm các quyền của người dân, còn nảy sinh những thách thức từ việc một số thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá ta, nhất là trong vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

          Với phương châm chủ động trong công tác đấu tranh ngoại giao trên lĩnh vực nhân quyền, Việt Nam tăng cường chủ động thông tin đối ngoại về vấn đề dân tộc, tôn giáo, thông qua các cơ chế đối thoại đa phương và song phương. Việc nghiên cứu về dân chủ, nhân quyền trong quan hệ quốc tế và rút ra bài học kinh nghiệm trong hoạt động ngoại giao trên các lĩnh vực này là vấn đề cấp thiết hiện nay nhằm góp phần nâng cao tính chủ động, hiệu quả trong đấu tranh trên lĩnh vực đối ngoại. Cụ thể, Việt Nam đã ứng cử và đang tham gia nhiều cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như Hội đồng Nhân quyền (nhiệm kỳ 2014 - 2016), Hội đồng Kinh tế - Xã hội (nhiệm kỳ 2016 - 2018) và Hội đồng Bảo an (nhiệm kỳ 2020 - 2021). Bên cạnh công tác vận động ứng cử, việc nghiên cứu, chuẩn bị kỹ các nội dung, chủ đề được cộng đồng quốc tế quan tâm tại các diễn đàn quốc tế và khu vực đã được đặt ra, trong đó có vấn đề dân chủ, nhân quyền cũng như cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của các cơ chế này để có thể tham gia đóng góp hiệu quả, có trách nhiệm vào công việc chung; đồng thời, bảo đảm các quan điểm, sự quan tâm của Việt Nam về vấn đề này.

            Chủ động và tích cực trong đấu tranh ngoại giao trên lĩnh vực nhân quyền nói chung, dân tộc, tôn giáo nói riêng là phương thức hiệu quả trong tình hình hiện nay, đặc biệt thông qua các kênh ngoại giao chính thức (ngoại giao nhà nước), ngoại giao Đảng (đối ngoại Đảng) và ngoại giao nhân dân. Đây là các kênh quan trọng trong việc đấu tranh nhằm bảo vệ và khẳng định các giá trị nền tảng của chế độ, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, tôn giáo. Đồng thời, tăng cường đối thoại chính sách và học thuật giữa chính giới, các nhà thực thi chính sách và pháp luật, các nhà khoa học trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, thông qua các kênh chính thức và không chính thức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy và tăng cường đấu tranh hiệu quả đối với các vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.

Đối thoại về dân tộc, tôn giáo tại các diễn đàn đa phương, song phương, khu vực và quốc tế hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh nước ta đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, tăng cường hợp tác quốc tế, thường xuyên cung cấp thông tin, vừa vận động, vừa đấu tranh với các biện pháp nhằm vào từng đối tượng cụ thể để tranh thủ và phân hóa lực lượng; tích cực, chủ động tham gia sâu rộng các diễn đàn quốc tế và khu vực, các cơ chế quốc tế và khu vực về nhân quyền, qua đó thể hiện chính sách, quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đấu tranh chống các âm mưu lợi dụng các diễn đàn đa phương để vu cáo Việt Nam; chủ động xây dựng các báo cáo quốc gia về việc thực hiện các nghĩa vụ theo các điều ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên; thường xuyên cung cấp thông tin, trả lời đúng hạn các kháng thư của các cơ chế Liên hợp quốc; tích cực tham gia các hội nghị quốc tế lớn, các hội nghị khu vực về nhân quyền. Thông qua đó, mở rộng các kênh đối thoại (kênh học giả, đối ngoại nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội,...), tích cực tổ chức các hội thảo, hội nghị, hoạt động quốc tế về dân tộc, tôn giáo.

Chủ động lồng ghép các biện pháp và nội dung vận động đấu tranh về dân tộc, tôn giáo trong công tác đối ngoại, đặc biệt là trong các hoạt động ngoại giao quy mô lớn và trong lộ trình thúc đẩy quan hệ ổn định, lâu dài với Mỹ và phương Tây; tăng cường thông tin, tuyên truyền đối ngoại đề cao chính sách, luật pháp và thành tựu của Việt Nam, vừa kiên quyết đấu tranh, vừa bày tỏ thiện chí đối thoại và hợp tác về dân tộc, tôn giáo với các nước này trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và không can thiệp công việc nội bộ của mỗi nước; chủ động hơn đối với việc đưa nội dung dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo vào nội dung làm việc của lãnh đạo cấp cao của nước ta khi đi thăm các nước hoặc trong dịp đón lãnh đạo các nước thăm Việt Nam, qua đó quảng bá về các thành tựu bảo đảm quyền con người và chủ động đấu tranh trên các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo.

          Cùng với đó là việc chủ động và tích cực tham gia cuộc đấu tranh chung về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo tại các cơ chế và diễn đàn đa phương, đặc biệt là Liên hợp quốc, nhằm góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam; cùng các nước tích cực đấu tranh bảo vệ và phát huy các nguyên tắc, nội dung tiến bộ về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Đồng thời, tích cực sử dụng các cơ chế vận động (vận động hành lang) để tác động đến chính giới; vận động hình thành và thúc đẩy các nhóm nghị sĩ, chính khách ủng hộ Việt Nam.

 

HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG GÓP PHẦN ĐẤU TRANH BẢO VỆ

NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN INTERNET, MẠNG XÃ HỘI THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG


Trong những năm qua, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng môi trường Interrnet, mạng xã hội (MXH) và các phương tiện truyền thông khác để tuyên truyền chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục xác định: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng chống diễn biến hòa bình (DBHB), thông tin xấu độc trên Internet, MXH”[1]. Đây là nội dung quan trọng, nhất là việc xác định 02 nhiệm vụ ở cả thế “tấn công” và “phòng ngự” đó là: “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch”.

Âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch đang ngày càng phức tạp và rất rất tinh vi, thâm độc. Mục tiêu chống phá xuyên suốt, không thay đổi của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, lái Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Nội  dung chống phá tập trung vào phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin (CNMLN), tư tưởng Hồ Chí Minh; chống phá chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; phủ nhận nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; chú trọng đẩy mạnh các hoạt động chống phá về đường lối phát triển kinh tế-xã hội, đường lối đối ngoại và quốc phòng, an ninh của nước ta… bằng nhiều chiêu trò, luận điệu.

Các thế lực thù địch cho rằng “CNMLN đã lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với Việt Nam”; cần bỏ cụm từ “nền tảng tư tưởng”, mà cứ lý thuyết nào đúng thì theo. Rõ ràng chúng đã cố tình lờ đi tính chất lý luận khoa học - hệ thống khoa học mở của CNMLN. Cần khẳng định rằng, lý luận của CNMLN là cơ sở trang bị phương pháp luận để mỗi quốc gia dân tộc vận dụng sáng tạo vào điều kiện đất nước mình, nên không thể có sự lỗi thời, lạc hậu. Về luận điểm cần bỏ cụm từ “nền tảng tư tưởng”, cứ lý thuyết nào đúng thì theo với ngụ ý là không cần phải kiên trì một nền tảng tư tưởng nữa, mà “cứ lý thuyết nào đúng thì theo là đủ”. Lý thuyết được các thế lực thù địch cho là đúng ở đây là lý thuyết của chủ nghĩa tư bản, hoặc các lý thuyết mà theo họ là đúng.

Có thể nói đây là một luận điệu ngụy biện, nguy hiểm và hoàn toàn sai trái, bởi vì một lý thuyết chỉ đề cập đến một vấn đề, một lĩnh vực cụ thể, còn hệ tư tưởng, nền tảng tư tưởng bao hàm nhiều lý thuyết, cho nên lý luận của CNMLN là nền tảng tư tưởng của Đảng là nguyên tắc bất di bất dịch trong mọi hoạt động của Đảng. Về CNXH, chúng viện dẫn “Hiện nay loài người không còn chủ nghĩa tư bản nguyên nghĩa, mà cũng chưa từng có CNXH đích thực”. Đây là sự đánh đồng khái niệm giữa thời kỳ quá độ đi lên CNXH và CNXH để cổ súy cho “con đường thứ 3” là xây dựng “xã hội dân chủ”, nhưng thực chất là xã hội tư bản chủ nghĩa.

Chúng đã ráo riết bám sát và triệt để lợi dung các sự kiện, vụ việc nổi cộm, những vấn đề dư luận quan tâm, nhất là các vấn đề liên quan đến đất đai, môi trường, dân sinh, tôn giáo, tâm linh, các vấn đề liên quan đến Biển Đông, quan hệ ngoại giao, quan hệ quốc phòng của Việt Nam với các nước..., để đưa ra những bình luận, suy diễn “chính trị hóa các vụ việc”, kích động, hướng lái dư luận gây nghi ngờ, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Gần đây nhất, chúng lợi dụng việc Việt Nam cử lực lượng cứu hộ, cứu nạn động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, để tuyên truyền xuyên tạc đường lối đối ngoại, đường lối quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta, chia rẽ mối quan hệ Việt Nam với với các nước lớn, nước láng giềng, khu vực.

Đối với Quân đội, chúng thường đưa ra một số luận điểm “Quân đội trung lập, Quân đội chỉ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân, không bảo vệ Đảng…”. Điều này hết sức phi lý, bởi vì trong bất kỳ xã hội nào quân đội cũng mang bản chất của giai cấp cầm quyền, nên không thể có một quân đội nào lại đứng ngoài giai cấp,  không phục vụ giai cấp cầm quyền. Thực chất của những luận điểm trên là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với Quân đội.

Học viện Quốc phòng là đơn vị được thành lập Ban Chỉ đạo Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đây là vinh dự, đồng thời là trách nhiệm lớn lao của Học viện đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Để Học viện thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ này, trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian Internet, môi trường MXH như hiện nay, chúng ta cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng về âm mưu, thủ đoạn phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch; nâng cao chất lượng tham mưu giúp việc cho Thường vụ Đảng ủy và vai trò chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo, chất lượng đội ngũ và hoạt động của Lực lượng 47 Học viện; không ngừng nâng cao chất lượng tổ chức đấu tranh trực diện trên Internet, mạng xã hội.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung quan trọng được ghi trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Tham gia thực hiện nhiệm vụ này là trách nhiệm chung và là công việc tự giác, thường xuyên của lãnh đạo, chỉ huy, của cán bộ, đảng viên và quần chúng, trước hết là đội ngũ cấp ủy viên, bí thư, người chỉ huy cán bộ chính trị các cấp và thành viên BCĐ, LL47 Học viện để cổ vũ, động viên, định hướng mỗi tập thể, cá nhân tích cực góp phần đấu tranh bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.




 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUANG TRUNG (NGUYỄN HUỆ) LÀ MỘT THIÊN TÀI QUÂN SỰ, MỘT VỊ ANH HÙNG KIỆT XUẤT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM!

     Hình ảnh vua Quang Trung tiêu biểu cho tinh thần quật cường, bất khuất.

Mỗi chiến công trong cuộc đời Vua Quang Trung đánh dấu một mốc son trong Lịch sử hào hùng của cả Dân tộc.

Những sự kiện chính trong cuộc đời và sự nghiệp vua Quang Trung:
Năm 1753 - sinh ra tại thôn Kiên Mỹ, ấp Kiên Thành, huyện Hoài Nhơn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Thân sinh Quang Trung là ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng.

Năm 1771 - dựng Cờ khởi nghĩa, trở thành một trong ba lãnh tụ cao nhất của phong trào Tây Sơn.

Năm 1775 - Tổng chỉ huy xuất sắc trận đánh Phú Yên, tạo ra bước ngoặt quan trọng cho toàn bộ quá trình phát triển mạnh mẽ sau đó của phong trào.

Năm 1777 - Tổng chỉ huy cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ hai, lật đổ cơ đồ thống trị của họ Nguyễn.

Năm 1782 - Chỉ huy cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ tư, đánh cho Nguyễn ánh đại bại.

Năm 1783 - Tổng chỉ huy cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ năm, đuổi tập đoàn Nguyễn ánh ra khỏi bờ cõi.

Năm 1785 - Tổng chỉ huy trận Rạch Gầm - Xoài Mút, đánh tan 5 vạn quân Xiêm xâm lược.

Năm 1786 - Tổng chỉ huy các đợt tấn công tiêu diệt chính quyền họ Trịnh.

 Ngày 22/12/1788 - Lên ngôi Hoàng đế tại Núi Bân (Phú Xuân - Huế). Niên hiệu Quang Trung bắt đầu xuất hiện từ đây.

 Năm 1789 - Tổng chỉ huy trận Ngọc Hồi - Đống Đa, quét sạch 29 vạn quân Thanh và bè lũ tay sai phản quốc Lê Chiêu Thống ra khỏi bờ cõi.

Từ 1789 đến 1792  Ban bố Chiếu khuyến nông, Chiếu lập học, tiến hành những cải cách tích cực và táo bạo.

Ngày 15/9/1792 - Vua Quang Trung đột ngột băng hà ở tuổi 39, để lại niềm tiếc thương vô hạn!

Mười năm sau khi Hoàng Đế Quang Trung qua đời, Đất Nước rơi vào tay tên Hôn Quân vô đạo Nguyễn Ánh (Gia Long).
Nhân Dân ta lại lâm vào cảnh lầm than, cơ cực hàng trăm năm trường./.
Môi trường ST.