Thứ Hai, 2 tháng 10, 2023

GIA ĐÌNH CÓ 3 MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

 Sống trong vùng kháng chiến ngay tại “đất thép thành đồng” Củ Chi, gia đình mẹ Nông từ già đến trẻ đều tham gia cách mạng. Cả nhà có 4 liệt sĩ và 3 Mẹ Việt Nam anh hùng.

4 NĂM CHIẾN TRANH ÁC LIỆT, NGƯỜI TRONG NHÀ HY SINH GẦN HẾT
Mẹ Việt Nam anh hùng Kiều Thị Nông năm nay đã 87 tuổi, ngụ tại ấp Đồng Lớn, xã Trung Lập Thượng, huyện Củ Chi, TPHCM, vẫn khỏe mạnh, minh mẫn.
Mẹ khoe đến giờ vẫn còn đủ sức dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng để tự phục vụ bản thân, không cần người chăm sóc. Tiếng mẹ vẫn to, vang, rõ ràng, dứt khoát. Chỉ là câu chuyện kể cho khách nghe có lúc không đầu không cuối, chắp vá những mẩu nhỏ ký ức hằn sâu trong trí óc, khó nhận ra trật tự, logic nào.
Nhưng qua những mẩu ký ức ấy vẫn đủ hiểu về cuộc đời sóng gió, đầy thử thách của mẹ. Chỉ trong 4 năm chiến tranh leo thang, chiến sự ác liệt xảy ra ở vùng kháng chiến Củ Chi đã cướp đi sinh mạng 4 người thân của mẹ.
Đó là ông Kiều Văn Phi, cha ruột của mẹ, hy sinh vào năm 1968; chồng của mẹ là ông Nguyễn Văn Lèo, hy sinh năm 1966; con gái của mẹ là bà Nguyễn Thị Nắng, hy sinh năm 1969; em trai của mẹ là ông Kiều Văn Niêu, hy sinh năm 1967.
Bởi vậy nên gia đình mẹ có đến 3 Mẹ Việt Nam anh hùng. Đó là bản thân mẹ Kiều Thị Nông, mẹ ruột của mẹ là cụ bà Lê Thị Tý, mẹ chồng của mẹ là cụ bà Nguyễn Thị Ớt. Đến nay, chỉ còn mẹ Nông còn sống.
Gia đình mẹ Nông vốn là cư dân lâu đời ở khu vực ấp Đồng Lớn. Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, vùng này thuộc xã Trung Lập, quận Củ Chi, là vùng tranh chấp ác liệt giữa bộ đội và chính quyền Việt Nam cộng hòa. Dân xứ này chưa kịp lớn là đã đi theo cách mạng. Gia đình mẹ Nông cũng vậy.
Chồng của mẹ, ông Nguyễn Văn Lèo (bí danh Tư Định) là cán bộ tiếp liệu của Ban Tuyên huấn Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, phục vụ cho nhà in đóng tại rừng Sến (Hố Bò, xã Phú Mỹ Hưng, Củ Chi) của đơn vị này. Không chỉ phục vụ nhà in tại căn cứ, ông Tư Định còn tổ chức nhà mình thành cơ sở bí mật hỗ trợ cho Ban tiếp liệu trong những đợt vận chuyển vật tư, vũ khí.
Năm 1966, trong một trận càn ác liệt, địch bắn pháo cấp tập vào căn cứ của nhà in ở Phú Mỹ Hưng, Củ Chi, hầm chứa vật tư của nhà in bị trúng pháo, ông Tư Định bị vùi lấp trong hầm.
Mẹ Nông kể: “Sau trận càn, địch vây căn cứ nhiều ngày nên phải 4 ngày sau khi chồng tôi mất, đồng đội mới xuống hầm đưa được thi thể anh ấy lên an táng”.
Đến năm 1967, em ruột của mẹ Nông là liệt sĩ Kiều Văn Niêu, chiến sĩ hậu cần của quân khu Sài Gòn – Gia Định cũng hy sinh trong một trận càn.
Cụ Kiều Văn Phi, cha của mẹ Nông là cán bộ địa phương. Nhà ông là nơi tập kết hàng hóa cung ứng cho bộ đội, nơi họp hành của chi bộ ấp, đảng bộ xã… nên thường xuyên bị địch tập kích.
Bản thân mẹ Nông và mẹ ruột của mình là cụ bà Lê Thị Tý đã nhiều lần bị địch bố ráp, bắt giữ. Cụ Kiều Văn Phi cũng hy sinh trong một trận tập kích bất ngờ của địch đúng lúc đang họp chi bộ ngay tại nhà vào năm 1968.
Còn con gái lớn của mẹ là bà Nguyễn Thị Nắng (SN 1954), chỉ vừa mới lớn đã tham gia cách mạng, làm nhiệm vụ canh cửa cho cha mẹ, ông bà, cô chú họp hành, tập kết vật tư…
Lớn hơn chút, khi mới 12 tuổi, liệt sĩ Nắng chính thức tham gia cách mạng và được giao nhiệm vụ làm giao liên, trinh sát, hướng dẫn các đoàn vận chuyển nguyên vật liệu từ vùng địch về vùng ta.
Ngày 14/1/1969, sau khi dẫn đoàn vận chuyển hàng hóa, liệt sĩ Nguyễn Thị Nắng đang trên đường về thì cuốn vào trận địa du kích địa phương phục kích Sư 25 chính quyền Việt Nam cộng hòa. Trận ấy, liệt sĩ Nắng hy sinh khi chưa tròn 15 tuổi.
VỪA CHIẾN ĐẤU VỪA NUÔI 8 MIỆNG ĂN
4 năm chiến tranh ác liệt, 4 người thân yêu nhất lần lượt hy sinh, nước mắt mẹ đã cạn trong những ngày tháng đau thương ấy.
Nếu không đủ kiên cường, mẹ Nông đã không thể tiếp tục hoạt động cách mạng, vừa nuôi 4 đứa con còn nhỏ dại của mình và 4 cháu con của liệt sĩ Kiều Văn Niêu, còn nhỏ hơn.
Mẹ Nông kể, ngày ông Tư Định hy sinh, mẹ đang mang thai người con thứ 5. Còn người con gái lớn Nguyễn Thị Nắng khi đó mới 12 tuổi, chính thức nối bước ông cha đi theo con đường cách mạng.
Một mình mẹ Nông khi ấy phải lao động vất vả để nuôi 4 con, 4 cháu nheo nhóc, vừa phải hoàn thành nhiệm vụ tổ chức giao.
Từ khi đến tuổi cập kê, mẹ Nông đã là chiến sĩ quan trọng trong gia đình Phó bí thư chi bộ ấp Kiều Văn Phi, chuyên phụ trách nuôi giấu cán bộ đến nhà họp hành, ẩn núp, hay đơn giản là cán bộ đến nghỉ chân trên đường công tác.
Sau này, khi chồng mẹ (ông Tư Định) tổ chức nhà mình thành nơi hỗ trợ, tiếp tế cho Ban tiếp liệu nhà in của Ban Tuyên huấn Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, mẹ Nông cũng phụ trách cơ sở này.
Đến tuổi thanh niên, mẹ Nông nhận thêm công tác mật, thu nhận xác và chôn cất cán bộ hy sinh trong những trận đánh xảy ra tại địa phương. Từ năm 1961, bà làm thêm nhiệm vụ đấu tranh tuyên huấn, lo công tác phụ nữ, thu mua lúa gạo cho chính quyền vùng bộ đội chiếm lĩnh, tham gia đội an ninh địa phương…
Công tác cách mạng vất vả như vậy nhưng mẹ Nông vẫn phải mưu sinh, đảm bảo miếng ăn, cái mặc và lo ăn học cho 8 con, cháu còn nhỏ dại. Bao nhiêu vất vả đè nặng lên vai người phụ nữ nhỏ bé, gian nan khó mà đo đếm hết được.
Thế mà, kể câu chuyện cuộc đời, mẹ không hề buông một lời thở than. Hồi tưởng những gian khó, những nỗi đau như vậy mà mẹ như kể lại chuyện của ai đó, không liên quan đến mình.
Mẹ chỉ bảo, đến nay, cuộc sống của mẹ khá ổn định, có trợ cấp chính sách của nhà nước để sống an nhàn tuổi già, con cháu đều đã lớn và gia đình êm ấm, công tác ổn định với thu nhập tốt là mẹ yên lòng.
Hiện mẹ Nông sống một mình trong căn nhà xưa của gia đình, vừa làm nơi thờ tự, vừa là nơi cất giữ những tài liệu, kỷ vật gắn liền với thành tích chiến đấu của cha, chồng và con của mẹ.
Trong chiếc tủ trưng bày hiện vật lớn, mẹ cất kỹ những quyển sách có nhắc đến thành tích chiến đấu của người thân trong gia đình, những tờ giấy báo tử… Còn kỷ vật được chia thành từng khu, nơi dành cho cha, nơi cho chồng, nơi cho con gái…
Trên 4 bức tường, mẹ Nông cũng chia từng khoang nhỏ để treo huân huy chương, bằng Tổ quốc ghi công, giấy chứng nhận Mẹ Việt Nam anh hùng… của bản thân, của mẹ ruột, của các liệt sĩ trong gia đình…
Thỉnh thoảng con cháu về thăm mẹ. Vào mùa hè, mẹ còn nhận các cháu sinh viên tình nguyện đến ở cùng để nhà có thêm tiếng nói, tiếng cười. Những đợt lễ tết, chính quyền địa phương, học sinh trong vùng thường xuyên lui tới thăm hỏi, mừng sức khỏe nên mẹ Nông cũng không buồn.
Gia đình có 3 Mẹ Việt Nam anh hùng - 16
Lọ mọ thắp 5 nén nhang, mẹ Nông cắm lên bàn thờ của cha, mẹ và chồng mình. Mẹ bảo: “Giờ già rồi, ăn uống đạm bạc, cũng không cần gì nhiều. Chỉ mong con cháu bình yên, mạnh khỏe là mẹ mừng”.
Chỉ là, thỉnh thoảng khi được hỏi về những trận chiến mà từng người thân lần lượt ngã xuống, mẹ lại nói lảng sang chuyện khác, vẻ như quên. Nhưng có lẽ mẹ nhớ lắm. Đôi mắt nhoèn nhoèn nước, mẹ đưa ánh nhìn xa xăm…

THIẾU TƯỚNG NGUYỄN THỊ ĐỊNH - NGƯỜI PHỤ NỮ HUYỀN THOẠI VIỆT NAM

 Những người từng biết đến Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, hay còn được gọi với cái tên trìu mến là “bà ba Định” đều cho rằng, bà thật xứng đáng với 8 chữ vàng mà Bác Hồ trao tặng phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Phó Tư lệnh giải phóng miền Nam là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho dân tộc ta”.

Ngày 15.3.1920 là ngày định mệnh đối với gia đình một nông dân trên bờ sông Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Trong căn buồng tối dành cho sản phụ ở nông thôn Nam bộ, nếu như hôm đó người chồng nghe theo lời bà mụ móc đầu đứa bé lôi ra để cứu sống vợ thì sau này Cách mạng miền Nam không có nữ tướng Nguyễn Thị Định. Ông đã động viên, thuyết phục bà mụ kiên trì chờ đứa bé ra đời. May sao, mẹ tròn con vuông. Vì lẽ đó, trong gia đình 10 đứa con, cô út Định được cưng nhất nhà.
Được anh ruột giác ngộ cách mạng, năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, đảm nhận nhiệm vụ giao liên, rải truyền đơn và tham gia vận động quần chúng đấu tranh. Hai năm sau bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre. Không lâu sau, ông bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gửi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia hoạt động cách mạng tại tỉnh nhà.
Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm họat động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù. Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8.1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện. Từ đó tên tuổi của bà gắn với con đường huyền thoại - “đường Hồ Chí Minh trên biển”.
Cuối năm 1959, Mỹ-Diệm cho xây khu trù mật ở Bến Tre và cho thực hiện luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam để khủng bố phong trào cách mạng. Nguyễn Thị Định là người khởi xướng và lãnh đạo chủ chốt phong trào Đồng Khởi ở Mỏ Cày, Bến Tre, mở đầu phong trào Đồng Khởi trong toàn tỉnh và vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Từ phong trào Đồng Khởi xuất hiện cái tên “đội quân tóc dài”, họ tổ chức thành đội ngũ, tiến hành cuộc đấu tranh trực diện với địch, đòi chấm dứt càn quét, bắn giết, bom pháo, đòi bồi thường nhân mạng…Cuộc đấu tranh chính trị thắng lợi rực rỡ, Mỹ-Diệm phải gờm trước sức mạnh lợi hại của đội quân mà chúng gọi là “đội quân đầu tóc”.
Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Năm 1965, bà được phong quân hàm Thiếu tướng quân đội nhân dân Việt Nam, và được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975.
Nhà văn Nguyên Ngọc nhận định rằng: “Có lẽ bà là người Việt Nam có nhiều bạn bè nhất trên thế giới, từ những người dân thường cho đến các nguyên thủ quốc gia nổi tiếng và thuộc nhiều chế độ chính trị khác nhau”. Bà - “một phụ nữ nhỏ nhắn, khiêm nhường mà uyên bác, gần gũi mà sang trọng” đại diện cho “một Việt Nam đang chiến đấu khốc liệt”, “sự kiên định không gì lay chuyển nổi lại được thể hiện chính bằng một vẻ thong dong đầy tự tin”. Bà đem bạn bè về cho dân tộc. Và đấy là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định thắng lợi kỳ lạ của Việt Nam trong thế kỷ qua”.
Giáo sư sử học Christine Whate trường đại học Tổng hợp Hawaii Mỹ đã viết thư gửi bà Nguyễn Thị Định, trong đó có đoạn viết: “Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi viết thư này gửi thăm bà - một người phụ nữ nổi tiếng và có một vai trò quan trọng trong lịch sử thế giới, một tấm gương của người phụ nữ chân chính. Tôi rất sung sướng khi sử dụng cuốn hồi ký của bà để dạy cho sinh viên nước mình về truyền thống cách mạng Việt Nam”.
Từ sau ngày đất nước thống nhất, bà giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Ngày 26.8.1992, bà vĩnh viễn ra đi. Trước lúc mất 2 ngày, bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Bà đã sống một cuộc đời trọn vẹn với non sông đất nước.
Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Ngày 30.8.1995, bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đền thờ bà đã được xây dựng và khánh thành vào ngày 20.12.2003 để nhân dân đến viếng và thắp hương tưởng niệm; nhân dân Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội nơi thờ Hai Bà Trưng đã rước bát hương thờ Bà Nguyễn Thị Định về thờ trong khu đền Hai Bà Trưng như một vị nhân thần mới.
Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị ba Định đã viết: “Chị Ba Đinh ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần”. Có lẽ, không một sự ngợi ca nào đẹp và chân tình hơn thế.

Nhận diện và đấu tranh với các tà đạo đội lốt tôn giáo hiện nay

 

Sự xuất hiện những tà đạo đội lốt tôn giáo được lập ra với mục đích xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, làm xáo trộn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở một bộ phận nhân dân. Hoạt động của các tà đạo đó đã vi phạm pháp luật, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội... Chính vì vậy, việc nhận diện, đấu tranh với các tà đạo đội lốt tôn giáo là rất cần thiết.

Đưa ra khỏi Đảng những đảng viên “hữu danh vô thực”

 

Làm trong sạch nội bộ Đảng là vấn đề được Đảng ta rất quan tâm, chú trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Tiến hành đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa, biến chất đang được Đảng ta đẩy mạnh, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng trong công cuộc phòng, chống tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu” (1).

Xứng danh Đoàn Hải Vân anh hùng

 

“Những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Công binh 414 (nay là Lữ đoàn Công binh 414, Quân khu 4) đã lập nhiều chiến công. Trong thời bình, đơn vị luôn tiên phong vào những nơi hiểm nguy, gian khổ, liên tục tiến công, mở đường thắng lợi, xứng đáng với truyền thống Đoàn Hải Vân anh hùng...”, Đại tá Mai Văn Thanh, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Công binh 414 tự hào nói.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển chiến đấu của lực lượng vũ trang (LLVT) tại chiến tr­ường Trị-Thiên-Huế vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 15-5-1972, tại khe Vàng (ngã ba Tà Trạch) trên đường 73 thuộc địa phận xã Dương Hòa, huyện Hương Thủy (nay là thị xã Hương Thủy), tỉnh Thừa Thiên Huế, Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên quyết định thành lập Trung đoàn Công binh 14 (sau đổi tên là Trung đoàn Công binh 414). Trong phiên họp đầu tiên, Đảng ủy Trung đoàn đề nghị cấp trên cho đơn vị lấy ngày 19-5 (sinh nhật Bác Hồ) làm ngày truyền thống và mang phiên hiệu Đoàn Hải Vân. 

Xứng danh Đoàn Hải Vân anh hùng

Cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 414 bắc cầu phao qua sông Luồng vào bản Sa Ná (xã Na Mèo, Quan Sơn, Thanh Hóa), tháng 8-2019. Ảnh do đơn vị cung cấp

Với phương châm “Đánh địch để mở đường, mở đường để đánh địch”, “Đường chờ xe, quyết không để xe chờ đường”, từ tháng 5-1972 đến tháng 5-1975, đơn vị tổ chức sửa chữa hơn 500km đường cũ và mở thêm các tuyến đường mới như 73A, 73B, Bạch Mã, Mỏ Tàu để nối với tuyến chi viện chiến l­ược Trư­ờng Sơn-Đường Hồ Chí Minh. Cùng với đó, đơn vị tham gia chiến đấu và bảo đảm giao thông vận tải, góp phần cơ động cho các đơn vị chủ lực tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, giành thắng lợi trong Chiến dịch Huế-Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975.

Giữ vững truyền thống, noi gương các anh hùng liệt sĩ và thế hệ cha anh, cán bộ, chiến sĩ lữ đoàn đã đoàn kết, nỗ lực khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Nhất là trong công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. Khi chúng tôi nhắc tới cơn đại hồng thủy diễn ra ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh tháng 10-2002, Đại tá Đậu Trung Thông, nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Công binh 414 nhớ lại: “Thời điểm đó tôi là Thiếu tá, Phó tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27 (nay là Tiểu đoàn 4) thuộc lữ đoàn.

Khoảng 11 giờ đêm 14-10-2002, tôi nhận được lệnh của cấp trên giao nhiệm vụ cùng với Trung tá Nguyễn Đình Oanh, Phó tiểu đoàn trưởng về Chính trị Tiểu đoàn 27 chỉ huy gần 30 cán bộ, chiến sĩ, cùng với một xe PAP, 2 xuồng cao tốc ST660 của đơn vị tham gia cứu hộ, cứu nạn tại địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Khoảng 12 giờ đêm hôm ấy, chúng tôi bắt đầu hành quân trong thời tiết mưa tầm tã, có nhiều đoạn bị ngập sâu, phải vừa đi vừa dò đường. Gần 4 giờ sáng 15-10, đơn vị có mặt tại khu vực núi Nầm, huyện Hương Sơn, vượt trước một giờ so với dự kiến. Đến ngày 17-10-2002, cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đã cùng các lực lượng trên địa bàn di chuyển hàng trăm gia đình cùng tài sản và gia súc tới nơi an toàn; đồng thời vận chuyển lương thực, thực phẩm cứu trợ đồng bào các xã Sơn Hòa, Sơn An (nay là xã An Hòa Thịnh), Sơn Lễ, Sơn Tiến... bị cô lập".  

Xứng danh Đoàn Hải Vân anh hùng
Người dân đi cầu phao qua sông Luồng vào bản Sa Ná (xã Na Mèo, Quan Sơn, Thanh Hóa), tháng 8-2019. Ảnh do đơn vị cung cấp

Tiếp lời Đại tá Đậu Trung Thông, Đại tá Mai Văn Thanh, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Công binh 414 xúc động kể về đợt đi bắc cầu, bảo đảm cho các lực lượng vào cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả trận lũ quét ở bản Sa Ná, xã Na Mèo, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa: “Sáng 6-8-2019, khi đó tôi là Phó lữ đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Lữ đoàn được cấp trên giao nhiệm vụ tổ chức chỉ huy lực lượng, phương tiện gồm: 40 cán bộ, chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 4, cùng 5 đầu máy đẩy, 12 bộ thuyền vượt sông nhẹ VSN-1500, 6 ô tô các loại và các trang thiết bị đồng bộ hành quân tới khu vực bản Sa Ná để bắc cầu phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn, hỗ trợ nhân dân. Sau gần 10 giờ cơ động trong điều kiện thời tiết mưa, gió, đường dốc, trơn trượt... chúng tôi đã đến địa bàn chia cắt. Do đã chủ động trao đổi, hiệp đồng chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, các cơ quan chức năng địa phương và lực lượng vũ trang trên địa bàn, chúng tôi khẩn trương triển khai lắp ghép các bộ thuyền vượt sông nhẹ VSN-1500 thành 30m cầu vượt sông Luồng để vào bản Sa Ná, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và phương tiện".  

Xứng danh Đoàn Hải Vân anh hùng
 Cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 414 tham gia tìm kiếm cán bộ hy sinh tại Tiểu khu 67, Trạm Kiểm lâm sông Bồ, tháng 10-2020. Ảnh do đơn vị cung cấp

Đại tá Mai Văn Thanh kể tiếp: “Tôi đã nhiều lần chỉ huy bộ đội tham gia cứu hộ, cứu nạn, nhưng lần làm nhiệm vụ ở Rào Trăng 3 thuộc xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế vào tháng 10-2020 không thể nào quên. Rạng sáng 12-10-2020, nhận được lệnh của thủ trưởng Bộ tư lệnh Quân khu 4, Ban chỉ huy Lữ đoàn đã nhanh chóng hội ý, phân công nhiệm vụ, tổ chức lực lượng, phương tiện hành quân vào Rào Trăng 3. Trưa hôm đó, trên cương vị là Phó lữ đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Lữ đoàn, tôi trực tiếp chỉ huy 65 cán bộ, chiến sĩ cùng nhiều phương tiện cơ động vào thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn tại khu vực Nhà máy Thủy điện Rào Trăng 3.

Chúng tôi làm việc trong điều kiện mưa lũ, ăn, ở khó khăn, thiếu thốn, hiểm nguy luôn rình rập, nhưng bằng nghĩa tình, trách nhiệm với đồng đội, với nhân dân, lực lượng cứu hộ, cứu nạn của đơn vị đã cùng với các lực lượng tìm kiếm cứu nạn khác đã khẩn trương hoàn thành tìm kiếm 13 cán bộ, chiến sĩ hy sinh tại Tiểu khu 67, Trạm Kiểm lâm sông Bồ. Sáng 18-10-2020, chúng tôi tiếp tục cơ động lực lượng, phương tiện tham gia khắc phục sự cố sạt lở đất tại Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 337 (Quân khu 4) và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ".

Những chiến công trong thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 414 góp phần tô thắm truyền thống của lữ đoàn, LLVT Quân khu 4 và truyền thống “Mở đường thắng lợi” của Bộ đội Công binh anh hùng; làm ngời sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong gian khó, xứng đáng với danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân trong thời kỳ đổi mới của Đảng, Nhà nước phong tặng cho Lữ đoàn ngày 31-7-1998. 

Sợ dòng họ mình "lép vế" (?)

 

Học xong trung cấp nông nghiệp, Mạnh chỉ có nguyện vọng về làm việc tại quê nhà. Quyết định của chàng trai thật đáng quý, bởi ở miền quê này, các thanh niên trưởng thành đều tìm cách “tung cánh bay xa”, những ngày thường ở quê chỉ toàn người già, trẻ nhỏ.

Khen thưởng cán bộ, chiến sĩ “nhặt được của rơi, trả người đánh mất”

 

Sáng 2-10, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) thành phố Đà Nẵng đã trao Giấy khen tặng 3 cá nhân vì đã có hành động “nhặt được của rơi trả người đánh mất”, góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Cụ thể: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27-9, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tổng dọn vệ sinh quanh doanh trại, Binh nhất Trương Văn Quốc, chiến sĩ thuộc Văn phòng, Bộ Chỉ huy BĐBP thành phố Đà Nẵng nhặt được một điện thoại di động hiệu Samsung trị giá hơn 10 triệu đồng trên đường Lý Thường Kiệt (phường Thạch Thang, quận Hải Châu). Binh nhất Trương Văn Quốc nhanh chóng báo cáo sự việc với chỉ huy đơn vị. Sau khi xác minh tìm được chủ nhân của chiếc điện thoại là ông Trần Minh Tuấn (trú tại xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng), đồng chí Quốc đã trao trả lại chiếc điện thoại.

Khen thưởng cán bộ, chiến sĩ “nhặt được của rơi, trả người đánh mất”
  Đại tá Đỗ Văn Đông trao Giấy khen tặng Thiếu tá Phan Văn Cảnh, Binh nhất Trương Văn Quốc và Trần Đức Mạnh.
Khen thưởng cán bộ, chiến sĩ “nhặt được của rơi, trả người đánh mất”
 Thiếu tá Phan Văn Cảnh và Trần Đức Mạnh trao lại chiếc nhẫn cho anh Phạm Thế Trường Chinh.

Trước đó, sáng 18-9, trong lúc thực hiện nhiệm vụ, Thiếu tá Phan Văn Cảnh và Binh nhất Trần Đức Mạnh (Trạm Biên phòng cửa khẩu cảng Tiên Sa, Biên phòng cửa khẩu cảng Đà Nẵng) đã nhặt được 1 chiếc nhẫn vàng. Ngay lập tức, đồng chí Cảnh đã báo cáo với chỉ huy đơn vị để thông báo tìm chủ tài sản trên. Tới sáng 20-9, anh Phạm Thế Trường Chinh (sinh 1995, trú tại phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng) tới Trạm Biên phòng cửa khẩu cảng Tiên Sa để nhận lại tài sản.

Khen thưởng cán bộ, chiến sĩ “nhặt được của rơi, trả người đánh mất”
 Binh nhất Trương Văn Quốc trao trả lại chiếc điện thoại cho ông Trần Minh Tuấn.

Đại tá Đỗ Văn Đông, Chính ủy BĐBP thành phố Đà Nẵng cho biết: Hành động của Thiếu tá Phan Văn Cảnh, Binh nhất Trần Đức Mạnh, Trần Văn Quốc có ý nghĩa lớn về lòng trung thực và tính nhân văn sâu sắc; là nét đẹp văn hóa truyền thống, đạo đức của người dân Việt Nam - nhặt được của rơi trả lại người đánh mất. Thường vụ Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP thành phố Đà Nẵng biểu dương và khen ngợi hành động cao đẹp của các đồng chí. Mong rằng trong thời gian tới, các đồng chí tiếp tục hăng hái phấn đấu, phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội, lực lượng, quê hương và đơn vị; là tấm gương tiêu biểu, có sức lan tỏa lớn trong đơn vị và trong đoàn viên thanh niên thành phố, cùng nhau hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới vùng biển...

PHÁT HUY PHẨM CHẤT "BỘ ĐỘI CỤ HỒ" - YÊU CẦU QUAN TRỌNG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ

 Từ lâu trong lịch sử, dân tộc ta luôn duy trì một truyền thống đẹp - đặt tên để ghi nhớ, tôn vinh những người có công với dân, với nước. “Bộ đội Cụ Hồ” cũng là một cái tên như thế và còn hơn thế nữa, bởi cái tên đó đã vượt qua ý nghĩa của một danh xưng thông thường để trở thành một kiểu mẫu nhân cách người lính của nhân dân (Bộ đội), nhưng được điển hình hóa theo nhân cách của một lãnh tụ vĩ đại, luôn gần gũi với nhân dân (Cụ Hồ).

1. Nguồn gốc, vinh dự và trách nhiệm khi được mang tên “Bộ đội Cụ Hồ”
Câu hỏi đặt ra là “Bộ đội Cụ Hồ” - cái tên rất thân thương và trìu mến dành cho Quân đội ta được xuất hiện đầu tiên ở đâu và vì sao Nhân dân lại gọi Quân đội ta là “Bộ đội Cụ Hồ”? Theo những sử liệu có được, tên gọi ấy xuất hiện và truyền tụng trong nhân dân được khởi nguồn ở Chiến khu Việt Bắc.
Để bảo toàn lực lượng chiến đấu cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, ngay sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều đơn vị bộ đội được lệnh cơ động lên Việt Bắc. Những ngày đầu trở lại Chiến khu, bộ đội tổ chức trú quân phân tán trong các bản, làng, thôn xóm, cùng ăn, cùng ở với nhân dân. Chính từ những năm tháng này, đã nảy nở và phát triển mối quan hệ quân dân “cá - nước” giữa nhân dân với những người lính do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Bằng những việc làm cụ thể thông qua thực hiện nghiêm kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, như: không lấy cái kim, sợi chỉ của dân, không gây phiền hà cho nhân dân, kính trọng dân, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân; vừa bảo vệ dân, vừa hết lòng giúp đỡ nhân dân,... cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã nhanh chóng chiếm trọn tình cảm mến mộ của nhân dân, giúp nhân dân nhận thức được sự khác biệt căn bản giữa những chiến sĩ cách mạng với binh sĩ của các đội quân mà trước đó họ đã từng tiếp xúc. Tình cảm và niềm tin của nhân dân được củng cố và nhân lên khi biết những chiến sĩ cách mạng ấy do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện - Người mà từ lâu đã được nhân dân ta hết lòng tôn kính, tin tưởng tuyệt đối vì lòng yêu nước, thương dân. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: ở khu giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc trìu mến gọi các đơn vị vũ trang ta là “Bộ đội Ông Ké” hay “Bộ đội Ông Cụ”, khi biết “Ông Ké”, “Ông Cụ” là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là Bác Hồ, mọi người đã gọi “Bộ đội Ông Ké” là “Bộ đội Cụ Hồ”. Và tên gọi yêu quý ấy từ Chiến khu Việt Bắc đã lan truyền đi khắp nơi và trở thành quen thuộc đến ngày nay.
Thật vinh dự, tự hào khi được nhân dân ta gọi quân đội của mình là “Bộ đội Cụ Hồ”, đó là tình cảm kính yêu lãnh tụ và lòng tin yêu đối với Quân đội, tình cảm gắn bó thiêng liêng, ruột thịt giữa người lính với lãnh tụ của mình. Nhân dân ta gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Cha già dân tộc” - Người tượng trưng cho những giá trị văn hóa cao đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Kính yêu lãnh tụ của mình, gửi gắm niềm tin vào Quân đội do chính Người giáo dục và rèn luyện, nhân dân đã lấy tên của lãnh tụ đặt tên cho Quân đội. Điều này có lẽ duy nhất chỉ diễn ra ở Việt Nam, bởi nó chính là cốt cách và nét đặc sắc của văn hoá quân sự Việt Nam. Tận trong sâu thẳm tấm lòng và tình cảm của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta chính là con em của họ, những người dân mặc áo lính dám chấp nhận hy sinh vì dân, vì nước.
Nhân dân gọi Quân đội là “Bộ đội Cụ Hồ” còn thể hiện mối quan hệ máu thịt giữa Nhân dân với Quân đội. Xét trong mối quan hệ giữa Quân đội và Nhân dân, đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta có một đội quân cách mạng của chính mình. Còn với Quân đội, đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử quân sự Việt Nam, một đội quân mà từ bản chất đến thực tiễn hành động đều chứng tỏ rằng đó là Quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đây là lý do giải thích vì sao hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam - những người “lính Cụ Hồ”, luôn luôn được khắc sâu trong tâm khảm mỗi người dân.
Được mang tên “Bộ đội Cụ Hồ” là một vinh dự lớn của Quân đội ta trước bè bạn quốc tế. Nhân dân thế giới không chỉ biết đến Việt Nam, khâm phục và kính trọng dân tộc Việt Nam bởi uy tín và đức độ của lãnh tụ Hồ Chí Minh - Người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cách mạng giải phóng các dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới kiệt xuất của Việt Nam; mà còn bởi một lý do, vì đất nước Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam đã sinh ra một Quân đội anh hùng, biểu trưng của lòng dũng cảm, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần quốc tế trong sáng; với chiến công vang dội “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, những chiến thắng có ý nghĩa quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc. Thật hiếm có một quân đội nào trên thế giới lại chiếm trọn tình cảm của bạn bè, nhân dân tiến bộ trên thế giới như Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngay cả những người lính, những chính khách bên kia chiến tuyến, sau cuộc chiến nhìn lại cũng phải thốt lời khâm phục về ý chí, bản lĩnh của một đội quân cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.
Được mang tên “Bộ đội Cụ Hồ” là một vinh dự lớn đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam; đồng thời, cũng là trách nhiệm hết sức nặng nề của Quân đội và mỗi quân nhân. Trao tặng cho Quân đội danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”, nhân dân luôn mong mỏi, kỳ vọng danh hiệu đó sẽ luôn tỏa sáng, là niềm tin, là sức mạnh, chỗ dựa của nhân dân. Với trách nhiệm đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội phải ra sức tu dưỡng và rèn luyện, không ngừng phấn đấu để giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó là giá trị tinh thần vô giá mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã dày công vun đắp, nhân dân gửi trọn niềm tin đối với “Bộ đội Cụ Hồ”.
2. Giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”- yêu cầu quan trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong giai đoạn hiện nay.
Thấu triệt lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại” và thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã khẳng định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là nguyên tắc, đồng thời là giải pháp cốt lõi, cơ sở nền tảng tạo sức mạnh tổng hợp, yếu tố quyết định bản chất cách mạng của Quân đội. Hiện nay, trước yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thì xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nhằm bảo đảm Quân đội bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân càng trở nên đặc biệt quan trọng, đòi hỏi phải tiến hành quyết liệt bằng nhiều giải pháp đồng bộ; trong đó, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giải pháp căn cốt với các nội dung cơ bản sau.
Một là, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phải đảm bảo giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu trong giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, phải đảm bảo mọi cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần, nắm vững những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân cũng như thường xuyên thấu suốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp là đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó để mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ và sâu sắc về sự thống nhất giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” với nâng cao giác ngộ bản chất giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội; phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới thống nhất với nội dung xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, trong đó phải lấy xây dựng về chính trị làm nền tảng. Từ đó luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng; luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ, Nhân dân ta đã lựa chọn; nêu cao lòng tự tôn, tự hào dân tộc, tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là những vấn đề cốt yếu, nhằm đảm bảo cho Quân đội luôn giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.
Hai là, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phải bảo đảm để Quân đội hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ; bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ cách mạng, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Chuẩn bị tốt về mọi mặt, tích cực huấn luyện, trau dồi phẩm chất chính trị, năng lực công tác, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, không để bị động, bất ngờ, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, kể cả với cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao. Trong mọi lúc, mọi nơi, nhất là những thời điểm cam go, thử thách, cán bộ, chiến sĩ phải đặt lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết; sẵn sàng xả thân hy sinh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân”. Thấm nhuần tư tưởng đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội không chỉ huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, chiến đấu thắng lợi,... mà còn làm tròn chức năng của “đội quân công tác”, “đội quân lao động sản xuất”. Phải tích cực học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, tri thức, có kiến thức về kinh tế, chính trị; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia giúp dân xóa đói giảm nghèo, phòng, chống và giải quyết hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn kết hợp với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là ở các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Cùng với đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải là người tiên phong, lực lượng nòng cốt trên mặt trận tư tưởng, lý luận, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, chống quan điểm sai trái, phản động, luận điệu đòi “phi chính trị hoá” Quân đội của các thế lực thù địch. Phải thực sự nhạy bén về chính trị, có ý chí, năng lực và phương pháp đấu tranh với kẻ thù; có khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, sự tấn công của các thế lực thù địch để tham gia tích cực, hiệu quả vào mặt trận đấu tranh phi vũ trang, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng.
Ba là, giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cần làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn có đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, kỷ luật nghiêm. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là tổng hòa các yếu tố hợp thành; trong đó và trước hết phải thể hiện ở đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, lành mạnh; luôn kiên định, vững vàng, không bị sa ngã, tha hóa trước mọi tác động tiêu cực của đời sống xã hội, mặt trái của kinh tế thị trường, sự cám dỗ của lối sống thực dụng, ích kỷ, hẹp hòi, những thị hiếu, dục vọng thấp hèn, không bị gục ngã trước sự tấn công của kẻ thù bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình”. “Bộ đội Cụ Hồ” phải là lực lượng tiên phong trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải luôn gương mẫu trong nhận thức, tư tưởng và hành động; nói, viết và làm đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, Điều lệnh, Điều lệ của Quân đội, các chế độ quy định của đơn vị và địa phương nơi đóng quân. Chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết, trước hết, không đắn đo, suy tính thiệt hơn, sẵn sàng có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ.
Bốn là, giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phải luôn giữ vững và tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế. Tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết cán binh được thể hiện ở việc giúp nhau khắc phục khó khăn, cùng hoàn thành nhiệm vụ; nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng chí, đồng đội; giúp nhau trong chiến đấu, công tác, lao động sản xuất và trong cuộc sống. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; quan liêu, xa rời quần chúng, bởi đó là những tác nhân làm rạn nứt đoàn kết nội bộ, đoàn kết cán binh, làm giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong đoàn kết (quan hệ) với nhân dân cần khắc ghi lời Bác dạy “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội, chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội. Muốn như thế thì phải đốc thúc bộ đội siêng giúp dân, hăng đánh giặc”, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy và chính quyền địa phương nơi đóng quân, gần gũi, gắn bó với nhân dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những khó khăn của nhân dân để có biện pháp giúp đỡ; không xâm phạm lợi ích của nhân dân, tích cực giúp đỡ dân phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, biên giới, hải đảo. Tích cực tham gia phòng chống thiên tai, dịch bệnh, thảm họa,... sẵn sàng hy sinh bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, chia sẻ những khó khăn, mất mát của dân khi gặp hoạn nạn. Cùng với đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải tăng cường củng cố tình đoàn kết với quân đội các quốc gia, không ngừng mở rộng quan hệ, hợp tác với quân đội, nhân dân và các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay phải phân biệt rõ đối tác, đối tượng; chủ động phối hợp đấu tranh giữ vững môi trường hòa bình ổn định, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hợp tác trong giải quyết các vấn đề toàn cầu; phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn,... như lời dạy của Bác: “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”.
Hiện nay, “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng..., làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của Quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, để giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cần sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, mà trước hết là trách nhiệm của hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy trong Quân đội và mọi quân nhân, làm cho những phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục tỏa sáng, nâng lên một tầm cao mới, xây dựng Quân đội vững mạnh, xứng đáng là “Quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng” và lòng tin tưởng của Đảng, Nhà nước, Nhân dân.

THỔI HỒN NHÂN CÁCH, ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH QUA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

 Môn Giáo dục công dân hướng tới một mục tiêu chung là rèn luyện nhân cách đạo đức cho học sinh song song với việc bồi dưỡng kỹ năng sống cho các em.

Là giáo viên đảm nhận dạy bộ môn Giáo dục công dân nhiều năm, tôi đã dành rất nhiều tâm huyết cho bộ môn của mình, bởi tôi hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của nó trong việc hình thành nhân cách đạo đức cho học sinh.
Tôi muốn thông qua bộ môn này để bồi dưỡng cho các em những tư tưởng lành mạnh, cảm hứng sống tích cực với phương châm: Suy nghĩ tích cực; lời nói tích cực và hành vi tích cực.
Bộ môn Giáo dục công dân hướng tới một mục tiêu chung là rèn luyện nhân cách đạo đức cho học sinh song song với việc bồi dưỡng kỹ năng sống cho các em. Giáo dục công dân (môn Đạo đức ở cấp tiểu học, môn Giáo dục công dân ở cấp trung học cơ sở, môn Giáo dục kinh tế và pháp luật ở cấp trung học phổ thông) giữ vai trò chủ đạo trong việc giúp học sinh hình thành, phát triển ý thức và hành vi của người công dân.
Thông qua các bài học về lối sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế, môn Giáo dục công dân góp phần bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi của người công dân, đặc biệt là tình cảm, niềm tin, nhận thức, cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật, có kĩ năng sống và bản lĩnh để học tập, làm việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.
Những bài học giáo dục từ trang sách công dân sẽ thấm dần vào tâm hồn, chuyển hóa các em tự rèn luyện cho mình những phẩm chất tốt đẹp. Tôi thường nói với học sinh lời của cố Giáo sư Văn Như Cương: “Cho dù sau này các em có là bất cứ ai thì trước hết, các em phải là những người tử tế!”. Và tôi đã lấy đó làm mục tiêu giáo dục học sinh của mình qua từng tiết học.
Có “yêu” thì mới “thích”
Kiến thức của bộ môn Giáo dục công dân không khó như một số môn học khác. Với bộ môn Giáo dục công dân thì không khó để dạy cho học sinh hiểu, nhưng phải dạy làm sao cho học sinh “thấm”. Các em phải thấm được vào mình những câu chuyện đạo đức, những câu chuyện pháp luật thì các em mới lấy đó làm bài học cho mình.
Phải dạy cho học sinh biết rung động trước những hành vi tốt, biết căm phẫn cái xấu, cái ác, biết sống bao dung, biết quan tâm, cảm thông và chia sẻ. Sống với lòng hiếu thảo, biết ơn… Dạy cho học sinh biết vui với cái vui của người khác. Đau với nỗi đau của người khác, không dửng dưng vô cảm với mọi người.
Muốn đạt được mục đích đó thì chúng ta cần phải thực sự đầu tư tâm huyết cho từng giờ học công dân để làm sao cho giờ học sinh động, không nhàm chán thì mới thu hút được sự tập trung chú ý học tập của các em.
Bởi dĩ, môn Giáo dục công dân vốn được nhiều thầy cô và các bậc phụ huynh xem là môn phụ, thậm chí một số người còn nói là: Nó là môn học phụ nhất trong những môn phụ. Với cách nghĩ đó đã phần nào ảnh hưởng đến thái độ học của học sinh với bộ môn này. Với các em, đây là một môn học khô khan, thiếu hấp dẫn, kiến thức thì lại dễ… nên đa phần các em thường có thái độ hời hợt khi học.
Nắm bắt được tâm lý đó của học sinh, nên tôi đã quyết tâm phải biến những giờ học công dân của mình thành những giờ học được các em yêu thích nhất. Có “yêu” thì các em mới “thích” được; mới cảm thụ và tiếp nhận được một cách có hiệu quả những bài học làm người được đúc kết trong từng trang sách. Phải để các em chuyển hóa được từng đơn vị bài học vào ngay trong cuộc sống thực tiễn của mình bằng hành động thiết thực hàng ngày.
Để dạy bộ môn Giáo dục công dân hiệu quả nhất, tôi luôn cập nhật những thông tin mang tính thực tế trong đời sống. Liên hệ thực tế là phương pháp tạo ra những điều kiện thuận tiện cho học sinh suy nghĩ đến những vấn đề đang diễn ra trong thực tế có liên quan đến nội dung bài học, thông qua các thông tin, hình ảnh, sự kiện, câu chuyện pháp luật có thật trong cuộc sống, mang tính thời sự, thực tiễn, các vấn đề bức xúc trong xã hội để phân tích, đối chiếu, minh họa cho bài giảng.
Trên cơ sở đó, học sinh được bộc lộ thái độ, ý kiến, cách làm riêng của mình, hoặc so sánh, đối chiếu với nội dung bài học để hiểu sâu sắc hơn điều cần học. Học sinh cũng có thể so sánh, đối chiếu thái độ, hành vi của mình với nội dung bài học để củng cố những mặt tốt, kịp thời sửa chữa sai lầm, điều chỉnh hành vi. Cứ như vậy, các em đã rèn được kỹ năng sống cho mình qua những trải nghiệm từ những câu chuyện.
Để giờ học sinh động, thì ngoài những dữ liệu trong sách giáo khoa đã được các nhà biên soạn chọn lọc rất kỹ càng và hiệu quả, tôi còn vận dụng thêm các tranh ảnh, video có nội dung liên quan đến bài học để minh họa cho học sinh dễ tiếp thu bài học.
Và đặc biệt hiệu quả hơn là tôi đã vận dụng những phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực vào giờ học để học sinh không bị nhàm chán khi cho rằng những bài học công dân chỉ mang tính giáo điều, khô khan. Tôi thường cho các em tổ chức các trò chơi đóng vai để giải quyết những tình huống thực tế trong cuộc sống, rồi từ đó rút ra bài học.
Hay cho các em thảo luận nhóm, đúc kết những bài học bằng cách cho các em liên hệ với thực tế để tự nói lên những suy nghĩ, những phản biện của mình trước một vấn đề xảy ra xung quanh các em, ngay trong cuộc sống thường ngày.
Hãy trở thành những công dân tốt
Với học sinh THPT, tôi còn có thêm những hoạt động trải nghiệm như tổ chức những “Phiên tòa giả định” do các em viết kịch bản, đóng vai theo những tình huống giả định giống thực tế, liên quan đến phòng chống m.a t.úy, hay bạo lực học đường để tuyên truyền pháp luật cho các em một cách thấm nhuần và sâu sắc nhất.
Lần lượt từ những bài học công dân trong chương trình các khối lớp, tôi đều lồng ghép vào cho các em những bài học làm người, định hướng cho các em sự hình thành nhân cách theo con đường hướng thiện.
Ví dụ như khi dạy bài: “Quyền và nghĩa vụ lao động của công dân” (GDCD 9), tôi đã cho các em đúc kết bài học sau 2 tiết dạy bằng cách các em vẽ sơ đồ minh họa nói lên ước mơ về một nghề nghiệp của mình trong tương lai.
Tôi nói với các em rằng, lớn lên, các con làm nghề gì cũng được nhưng nhất thiết các con phải gắn vào đó chữ “Tốt”. Là bác sĩ thì phải là bác sĩ tốt. Là giáo viên phải là giáo viên tốt; là người chủ nhà hàng thì phải là chủ nhà hàng tốt; là nông dân thì phải là nông dân tốt… Với từ khóa “Tốt” đó, học sinh phải suy nghĩ vẽ các nhánh ý tiếp theo của sơ đồ: Bác sĩ tốt là người bác sĩ như thế nào; Là giáo viên tốt thì phải có những phẩm chất gì?...
Nhưng vui và ý nghĩa nhất là những bài học từ trang sách, tôi đã chuyển hóa được tâm hồn các em. Bài tập về nhà môn Giáo dục công dân của tôi không chỉ là những bài tập trong sách giáo khoa, tôi còn ra rất nhiều bài tập ứng dụng thực hành trong đời sống hàng ngày.
Tôi khuyến khích các em có cuốn sổ mang tên: “Sổ tay rèn luyện” để ghi lại những việc tốt mình đã làm được, từ những việc nhỏ hàng ngày trong gia đình cho đến những việc nơi lớp học hay cộng đồng. Mục đích là để rèn luyện cho các em những thói quen tốt hàng ngày.
Nhiều em ở nhà làm được việc tốt nào đều đến kể với cô, nào là biết giúp đỡ người khác, biết chăm sóc ông bà khi về quê. Có em kể là hôm qua có bà ăn xin đi vào xóm em. Em đang chơi ngoài đường, em đoán thế nào bà cũng vào nhà em, thế là em chạy về nhà mở cửa lấy 1 bơ gạo và 10 nghìn đồng, ngồi đợi bà vào rồi đưa cho bà bằng cả 2 tay như lời cô dặn.
Có em kể: Hôm qua sinh nhật em, em nói với mẹ em rằng: Hôm nay, sinh nhật con, người đầu tiên con cảm ơn là mẹ. Con cảm ơn mẹ vì ngày này cách đây 12 năm, mẹ đã chịu bao đau đớn để sinh ra con, rồi chăm sóc con được như ngày hôm nay. Con biết ơn mẹ rất nhiều. Con yêu Mẹ! Em kể là em nói xong mẹ ôm chầm lấy em, rồi thơm vào má em rất nhiều. Và mẹ em đã khóc cô ạ.
Hay có học sinh đi học về trên đường đi thấy rác tắc cống nước chảy đã dừng lại để bới rác lên vứt đi cho thông cống nước, sau khi nghe, tôi cho các em đọc những câu chuyện kể về những thói quen tốt của con người, những hành động nhỏ nhưng thể hiện nhân cách tốt.
Những chuyển biến của các em như vậy làm tôi rất vui. Và vui hơn nữa khi thấy các em hào hứng, yêu thích những giờ học Giáo dục công dân hơn. Điều đó đã tiếp thêm động lực cho tôi miệt mài đầu tư hơn cho từng bài giảng. Tôi thấy vui và hạnh phúc vì đã làm được những điều ý nghĩa cho cuộc đời. Làm tròn sứ mệnh của nghề Thầy cao cả.
Tôi thực sự hạnh phúc khi được giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân. Như tên gọi của nó, tôi đã ý thức được sứ mệnh thiêng liêng cao cả của môn học này với trách nhiệm thổi hồn nhân cách, đạo đức cho học sinh qua bộ môn Giáo dục công dân.

KIỆN TOÀN LỰC LƯỢNG KIỂM NGƯ TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG

 Thời gian qua, lực lượng chức năng của 28 tỉnh, thành phố ven biển đã có nhiều cố gắng song tình trạng khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) vẫn diễn ra. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do chưa có lực lượng kiểm ngư - đơn vị chuyên môn thực thi pháp luật về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên biển ở các địa phương.

Trước tháng 7/2023, ở các địa phương ven biển, hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm soát công tác bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản trên các vùng biển đều do lực lượng thanh tra chuyên ngành của Chi cục Thủy sản các tỉnh, thành phố thực hiện. Sau khi Luật Thanh tra năm 2022 có hiệu lực từ ngày 1/7/2023, lực lượng thanh tra chuyên ngành tại các chi cục thủy sản không còn nữa. Điều này dẫn đến thực tế là năng lực thực thi pháp luật trong khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên vùng biển được phân cấp, công tác tuần tra, kiểm soát chống IUU tại các địa phương chưa bảo đảm và thiếu tính răn đe. Báo cáo về kết quả chống IUU, gỡ cảnh báo "Thẻ vàng" của Ủy ban châu Âu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cuối tháng 8 vừa qua cũng đã ghi nhận điều này.
Để nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển, Luật Thủy sản năm 2017 quy định, thành lập lực lượng kiểm ngư địa phương là lực lượng có chuyên môn cao thực hiện nhiệm vụ thực thi pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến cuối tháng 9 vừa qua có 15/28 tỉnh, thành phố ven biển trong cả nước thành lập tổ chức kiểm ngư. Trong đó, 14 tỉnh thành lập kiểm ngư cấp phòng, trạm thuộc Chi cục Thủy sản, riêng tỉnh Kiên Giang thành lập Chi cục Kiểm ngư thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Bên cạnh đó, 13 tỉnh ven biển chưa thành lập lực lượng kiểm ngư do còn băn khoăn về mô hình tổ chức, nhân lực và cách thức hoạt động, thậm chí còn chần chừ khi xem xét thành lập đơn vị chuyên ngành này.
Đơn cử tại tỉnh Quảng Bình, ngay từ quý I/2023, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình đã xây dựng dự thảo đề án thành lập Phòng Kiểm ngư trên cơ sở tách chức năng, nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về khai thác và bảo vệ, bảo tồn nguồn lợi thủy sản từ các phòng chuyên môn thuộc Chi cục Thủy sản; đồng thời bổ sung nhiệm vụ kiểm ngư theo quy định của Luật Thủy sản năm 2017. Cơ quan xây dựng dự thảo đề án đã tổ chức lấy ý kiến của các sở, ngành và địa phương liên quan để điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện đề án trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, song đến nay, công việc này chưa thông qua.
Do chưa thành lập được Phòng Kiểm ngư, hiện Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Bình phải huy động cán bộ, nhân viên từ các phòng chuyên môn khác để làm nhiệm vụ thanh tra hoạt động khai thác hải sản trên biển với phương châm, tuyên truyền, vận động ngư dân là chính, bởi họ không có thẩm quyền xử phạt hành chính đối với các trường hợp tàu cá vi phạm.
Thực hiện quyết tâm gỡ cảnh báo "thẻ vàng" tại đợt thanh tra lần thứ 4 dự kiến vào tháng 10 này, tại cuộc họp cuối tháng 8 vừa qua, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang đã chỉ đạo thực hiện các biện pháp mạnh không để xảy ra tình trạng tàu cá vi phạm khai thác hải sản bất hợp pháp ở vùng biển nước ngoài, trong đó có nội dung, bố trí đủ nguồn lực (nhân lực, kinh phí, trang thiết bị) cho các lực lượng chức năng có liên quan tại địa phương thực hiện nhiệm vụ chống IUU. Nhiệm vụ cụ thể là khẩn trương thành lập kiểm ngư địa phương theo quy định tại Luật Thủy sản và các văn bản hướng dẫn liên quan.
Có thể nói, thành lập lực lượng kiểm ngư thuộc Chi cục Thủy sản các tỉnh, thành phố ven biển là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách nhằm khắc phục các khó khăn, bất cập của lực lượng thanh tra chuyên ngành thủy sản tại địa phương./.
Theo Báo Nhân dân