Thứ Hai, 2 tháng 10, 2023

VIỆT NAM - ĐIỂM HẸN HOÀ BÌNH

 

    Yêu chuộng hòa bình là nét văn hóa tốt đẹp, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong thời kỳ mới, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã không ngừng gìn giữ, bồi đắp, phát huy để giá trị thiêng liêng, cao quý đó càng tỏa sáng, vững bền.

    1. Những năm qua, trong xu thế hội nhập quốc tế, hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam diễn ra phong phú, đa dạng trên các trụ cột và nhiều phương diện, bình diện. Công tác đối ngoại đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, cũng trong quá trình đó, những đối tượng hiềm khích và lực lượng chống phá cách mạng Việt Nam không ngừng tung ra các chiêu trò, thủ đoạn bôi nhọ, bẻ cong sự thật. Đã có nhiều bài viết, bài báo đăng trên các diễn đàn, website, cơ quan báo chí địa chỉ ở nước ngoài... chủ ý bịa đặt nhiều thông tin, cố tình quy chụp, cho rằng Việt Nam đang tăng cường quan hệ với nước này nhằm chống nước kia, hoặc dựa vào nước này để tránh sức ép từ nước khác, cố tình gây dựng đồng minh, phe cánh... Cùng với đó, chúng cố gắng xuyên tạc, bôi nhọ những giá trị truyền thống và giá trị văn hóa yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

    Những luận điệu nêu trên tuy không mới nhưng xuất hiện dày đặc ở những thời điểm diễn ra các hoạt động đối ngoại quan trọng của Việt Nam, cũng ít nhiều gây xáo trộn, nhiễu loạn thông tin. Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với mưu đồ gây bất hòa trong mối quan hệ giữa Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới... Mặc dù chỉ là những luận điệu vô căn cứ, bịa đặt, là tiếng nói lạc lõng, yếu ớt của một số cá nhân... nhưng hệ quả của nó sẽ hết sức nguy hại, nếu không sớm được nhận diện, đấu tranh phủ nhận, bóc gỡ kịp thời.

    2. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của Việt Nam cho thấy: Dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Dù trải qua các cuộc trường kỳ kháng chiến, đối đầu với những kẻ thù hùng mạnh, nhưng dân tộc Việt Nam luôn khẳng định tính chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình bất diệt. Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động nhất cho khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, hòa bình là lợi ích của tất cả các dân tộc, do đó phải đấu tranh cho hòa bình trên thế giới được bền vững, “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí”. Cũng theo Người, trừ những người đi bóc lột, còn lại đều là bạn bè, là anh em, những người chung cảnh bị bóc lột. Người là hiện thân của tinh thần “Quan san muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” và lý tưởng “người với người là bạn”.

    Thực tiễn cách mạng cho thấy, mỗi người dân Việt Nam khi bước ra chiến trường là vì độc lập, hòa bình của dân tộc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân và thực hiện tinh thần quốc tế cao cả. Họ luôn anh dũng, kiên cường chiến đấu bằng tinh thần "sẵn sàng hy sinh khi Tổ quốc cần", thế nhưng đến lúc giành thắng lợi cuối cùng, người dân lại hồn hậu, lạc quan đón nhận cuộc sống thái hòa bình dị, sẵn sàng "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai", đúng như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã đúc kết trong bài "Việt Nam quê hương ta": Đất nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên/ Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa- Đây là sự khái quát đầy đủ, sinh động về tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

    3. Đã có không ít lãnh đạo của các cường quốc trên thế giới và tổ chức quốc tế ghi nhận, bày tỏ cảm phục về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình và hành động vì hòa bình thế giới. Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres từng khẳng định với lãnh đạo cấp cao Việt Nam trong một cuộc điện đàm: “Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới”. Đại sứ Barbara Woodward, Trưởng phái đoàn thường trực Anh tại Liên hợp quốc từng đánh giá: “... Những đóng góp của Việt Nam có giá trị cao, giúp giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với hòa bình và an ninh quốc tế”. Phát biểu khi đến thăm Việt Nam (năm 2016), Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama khẳng định: “Đối với các bạn, xung đột trong quá khứ là một ký ức không vui. Nhưng ngày hôm nay, Việt Nam và Mỹ đã cho thế giới thấy rằng, trái tim có thể thay đổi và hòa bình là điều có thể”. Đặc biệt, đã có đến 5 lần các Tổng thống Mỹ sang thăm Việt Nam và chứng kiến những đổi thay của mối quan hệ hai nước, song tình cảm thân thiện, yêu chuộng hòa bình của người dân Việt Nam là giá trị bền vững làm lay động trái tim của những chính khách, như Tổng thống Obama gửi lời cảm ơn trước lúc rời Việt Nam trong chuyến thăm năm 2016: “Sự thân thiện của các bạn đã chạm đến trái tim tôi”.

    Đã từ lâu, Thủ đô Hà Nội được bạn bè quốc tế biết đến là điểm đến hòa bình, thân thiện, mến khách. Hình ảnh lãnh đạo cấp cao của các quốc gia trên thế giới đi dạo trên phố phường Việt Nam thanh bình, thưởng thức ẩm thực đường phố, uống cà phê vỉa hè... từ lâu đã không có gì mới mẻ hay lạ lẫm với người dân Việt Nam, cũng trở nên rất đỗi thân quen với truyền thông quốc tế. Đặc biệt, không phải tự dưng mà cách đây mấy năm, lãnh đạo của hai nước Mỹ và Triều Tiên đều đề nghị Việt Nam đứng ra làm nước chủ nhà tổ chức Hội nghị thượng đỉnh lần hai (năm 2019). Hội nghị diễn ra an toàn tuyệt đối không chỉ đối với phái đoàn hai nước mà còn với gần 3.000 phóng viên đến từ hơn 200 hãng thông tấn, báo chí quốc tế từ nhiều châu lục đến đưa tin về sự kiện này. Việt Nam đã rất nỗ lực, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối cho hội nghị, thể hiện rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Cả hai nguyên thủ trước khi rời Việt Nam đều gửi lời cảm ơn Việt Nam vì sự tiếp đón ân cần, chu đáo, thịnh tình và vì trách nhiệm chung với cộng đồng quốc tế.

    Trong những năm gần đây, khi tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến mới, nhanh chóng và phức tạp, gây không ít khó khăn, thách thức lớn hơn so với dự báo, nhưng Việt Nam luôn là quốc gia giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển, đổi mới đất nước. Môi trường sống ở Việt Nam không ngừng được cải thiện, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, trong đó có nhiều tiêu chí gây ấn tượng, ngang với những nước phát triển. Môi trường ổn định, yên bình cùng người dân thân thiện đã thu hút các nhà đầu tư quốc tế, đồng thời thuyết phục rất nhiều người nước ngoài lựa chọn sinh sống và làm việc tại Việt Nam.

    Không dừng lại ở đó, Việt Nam đã và đang mang khát vọng hòa bình vươn xa bằng cách tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Mỗi sĩ quan được cử đi làm nhiệm vụ đặc biệt này chính là đại sứ hòa bình, nắm trọng trách truyền đi khát vọng hòa bình của dân tộc. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện để cứu trợ nhân đạo, tái thiết cơ sở hạ tầng, rà phá bom, mìn, giúp nhân dân bản địa ổn định cuộc sống... đã trở thành biểu tượng cao đẹp, khiến hai tiếng Việt Nam được vang lên đầy tự hào ở những đất nước xa xôi.

    4. Mới đây, phát biểu tại Lễ kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 / 2-9-2023), Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định: Việt Nam là đất nước của hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, là điểm đến tươi đẹp, an toàn, thân thiện, giàu lòng mến khách. Việt Nam luôn nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối cho hợp tác và đối thoại, củng cố chủ nghĩa đa phương, thúc đẩy giải quyết bằng biện pháp hòa bình thông qua đối thoại về các tranh chấp trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; sẽ luôn là người bạn chân thành, thủy chung, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

    Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thiết lập quan hệ song phương, đa phương với các quốc gia trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 192 quốc gia trên thế giới. Trong đó, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước; bao gồm 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu (G7) và tất cả thành viên ASEAN. Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, trong đó 96 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Các tổ chức hữu nghị nhân dân có quan hệ với 1.200 tổ chức nhân dân và phi chính phủ nước ngoài. Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 220 đối tác, 71 nước đã công nhận quy chế kinh tế thị trường đối với Việt Nam. Việt Nam là thành viên của hơn 70 tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và toàn cầu... Kết quả đó cho thấy thành tích to lớn của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thế nhưng, điều đáng ghi nhận hơn là các đối tác đều tích cực, chủ động, bày tỏ lòng mong muốn hợp tác với Việt Nam; thể hiện sự cảm phục, tình yêu và sự trọng thị dành cho Việt Nam-một người bạn thủy chung-một đối tác tin cậy, luôn nỗ lực hợp tác vì lợi ích chung và vì hòa bình của thế giới.

    Để tiếp tục khẳng định vai trò và sứ mệnh của một quốc gia yêu chuộng hòa bình, thời gian tới, Việt Nam tiếp tục nỗ lực giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm tốt an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra môi trường kinh tế-xã hội hòa bình, năng động, thân thiện. Việt Nam kiên định chủ trương: “Thêm bạn bớt thù, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, đẩy mạnh công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước để không ngừng khẳng định uy tín, vị thế của dân tộc; đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình của cả dân tộc và mỗi người dân Việt Nam.

    Đặc biệt, triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) và thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc (tháng 12-2021), đối ngoại Việt Nam cần tiếp tục kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược; chú trọng triển khai hiệu quả, đồng bộ, toàn diện, linh hoạt trên cả 3 trụ cột (đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân); nỗ lực thực hiện vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; huy động mạnh mẽ các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước; nâng cao vai trò, vị thế, uy tín quốc tế của Đảng và đất nước. Hơn bao giờ hết, Việt Nam tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Đẩy mạnh thực hiện tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

Đẩy mạnh thực hiện tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng 1 Vấn đề nêu gương, gương mẫu của cán bộ, đảng viên luôn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm; là một trong những biện pháp quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh vấn đề “tự giác nêu gương” của cán bộ, đảng viên. images2842170-1-1-.jpg Ảnh minh họa. Nguồn: Internet Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc nêu gương, gương mẫu của cán bộ, đảng viên Trong 91 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, “nêu gương” luôn được Đảng ta xác định là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó cán bộ, đảng viên phải “tự giác nêu gương” là luận điểm nổi bật. Những thành tựu vĩ đại, to lớn, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo tới nay đã khẳng định một trong những phương thức lãnh đạo đúng đắn của Đảng là vấn đề “tự giác nêu gương” của cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh: “… mỗi cán bộ phải làm gương mẫu”(1) mà còn chỉ ra nội hàm của “gương mẫu”, cụ thể là: “Người đảng viên ở bất kỳ đâu, bất kỳ làm việc gì, bất kỳ địa vị nào và hoàn cảnh nào, cũng phải luôn luôn: đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải gần gũi dân chúng, thương yêu, giúp đỡ dân chúng, tổ chức và lãnh đạo dân chúng. Phải giữ vững đạo đức cách mệnh, là chí công vô tư”(2). Đảng ta cũng chỉ rõ: “Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(3), coi đó là một nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Đảng viên tự giác nêu gương chính là làm gương trong mọi hành động, việc làm và thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên luôn là chuẩn mực đạo đức để quần chúng soi rọi, noi theo. Nếu đảng viên không gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, rèn luyện đạo đức, lối sống, thì chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước khó trở thành hiện thực, thậm chí bị thực hiện sai, khiến cho Nhân dân thiếu tin tưởng vào chủ trương, chính sách, pháp luật; do đó công tác tư tưởng chính trị, thuyết phục, vận động của Đảng sẽ mất đi ý nghĩa thực tiễn. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ta có được như ngày nay không chỉ là do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, sự hy sinh quên mình và những tấm gương mẫu mực, trong sáng về tinh thần tận trung với nước, với Đảng, tận hiếu với dân của lớp lớp thế hệ cán bộ, đảng viên; mà còn do “thực hiện đồng bộ với các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”(4). Vì vậy, hầu hết cán bộ, đảng viên lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, các ngành và địa phương đã nêu gương về đổi mới tư duy, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ do tổ chức phân công, được quần chúng yêu mến, tín nhiệm. Tuy nhiên, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu”(5); chưa tự giác nêu gương, chưa thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu trước quần chúng nhân dân; có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa xác định rõ trách nhiệm và chưa thật sự gương mẫu trong rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong với những biểu hiện như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, có cán bộ còn trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; có cán bộ lãnh đạo cấp cao, cả đương chức và đã nghỉ hưu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Điều đó đã gây ra dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng đến thanh danh, uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân, tổn hại đến mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, giảm sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Giải pháp tiếp tục phát huy vai trò nêu gương, gương mẫu của cán bộ, đảng viên Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trong đó có vấn đề tăng cường phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua “tự giác nêu gương” của cán bộ, đảng viên, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau: Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp về việc “tự giác nêu gương” của cán bộ, đảng viên. Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên không tự nhiên mà có, mà phải thông qua quá trình tự phấn đấu, tự tu dưỡng, rèn luyện hàng ngày. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Đảng về vấn đề này, như: Quy định số 101-QÐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Đặc biệt là Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 09/3/2021 của Bộ Chính trị “Về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”. Trên cơ sở quy định của Đảng, cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp cần quán triệt, cụ thể hóa, xây dựng thành những quy định cụ thể về “tự giác nêu gương” phù hợp với chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên. Hai là, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng tiến lên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người chiến sĩ gương mẫu thì không bao giờ tự mãn tự túc, mà cố gắng tiến bộ mãi”(6). Đảng viên tự giác nêu gương không chỉ là một yêu cầu đối với vai trò và phương thức lãnh đạo của Đảng, mà còn được đặt ra như là một chuẩn mực đạo đức - “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”(7). Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu chính là để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu của Đảng, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên. Cán bộ, đảng viên “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”(8) bởi vì họ là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì thế, hơn ai hết, cán bộ, đảng viên phải đi trước, lo trước Nhân dân và vui sau Nhân dân để dẫn dắt quần chúng, tạo ra phong trào cách mạng rộng lớn. Trong cuộc sống hàng ngày, cán bộ, đảng viên phải tự giác nêu gương toàn diện, không chỉ về tư tưởng chính trị mà còn về đạo đức, lối sống; không chỉ trong lời nói mà trong cả việc làm trên mọi lĩnh vực, trong mọi hoàn cảnh, cả trong tổ chức, xã hội và ở gia đình một cách tự giác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”(9). Như vậy, nếu cán bộ, đảng viên không có uy tín với xóm làng, khối phố, khu dân cư thì không thể nói họ gương mẫu được; cũng không thể nói là nêu gương, nếu người cán bộ, đảng viên đó chỉ thuyết giáo và yêu cầu mọi người hãy chấp hành pháp luật, còn mình thì “đứng ngoài pháp luật, đứng trên pháp luật”. Ba là, cán bộ, đảng viên “tự giác nêu gương”trong học tập lý luận chính trị. Để cán bộ, đảng viên “tự giác nêu gương”, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần phải tích cực tổ chức tuyên truyền học tập lý luận chính trị, có như vậy mới nâng cao được chất lượng giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Các nhà kinh điển mác xít khẳng định lý luận cách mạng là điều kiện tiên quyết để hình thành và thúc đẩy phong trào cách mạng. Theo V.I.Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng và chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong”(10), và khi nhận thức (lý luận) đã thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất to lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: có học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững được lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm tốt công tác mà Đảng giao phó cho mình. Người chỉ rõ: “vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”(11). Do đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và cán bộ, đảng viên cần “tự giác nêu gương” về học tập lý luận chính trị. Trước hết từ trong nhận thức, trách nhiệm đến giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, nhất là mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tính tích cực, chủ động trong tự học tập, tự nghiên cứu lý luận chính trị. Đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp cả về phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn sư phạm đến thực hiện nghiêm quy định, chế độ học tập lý luận chính trị; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá; lấy kết quả học tập lý luận chính trị là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên hàng năm, qua đó góp phần nâng cao tinh thần “tự giác nêu gương” trong học tập lý luận cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Ban Tuyên giáo Trung ương đã xây dựng Chuyên đề toàn khóa về "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc". Trên cơ sở đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần cụ thể hóa việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể hàng ngày, gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương mình; từ đó sẽ nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình trong hệ thống chính trị, tự giác nêu gương về mọi mặt, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, đảng viên học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ mọi mặt; quan tâm giúp đỡ, động viên cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, tạo điều kiện để mỗi cán bộ, đảng viên xây dựng kế hoạch tự phấn đấu vươn lên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần tự giác tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao tính tiên phong, gương mẫu trong thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố”(12). Cán bộ, đảng viên không chỉ tự học qua sách, báo, qua các phương tiện thông tin đại chúng, mà phải tự học tập lẫn nhau và thông qua hoạt động thực tiễn để thâm nhập vào phong trào cách mạng của quần chúng, làm cho phong trào đó phát triển đúng định hướng chính trị và qua đó tự rèn luyện mình. Qua hoạt động thực tiễn sẽ cung cấp nhiều loại thông tin đa dạng hơn, đồng thời kiểm định lý luận và càng nâng cao tầm hiểu biết, có thêm nghị lực để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao hơn và thời gian ngắn hơn. Do đó, cán bộ, đảng viên phải thực sự sâu sát với quần chúng, quý trọng Nhân dân, gương mẫu về mọi mặt, có như vậy mới tổ chức, tuyên truyền và vận động Nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đạt hiệu quả cao. Năm là, tiếp tục đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Cán bộ, đảng viên phải “tự giác nêu gương” trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch một cách gương mẫu nhất. Phải kết hợp đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc, thù địch với chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm chính trị của cán bộ, đảng viên. Trước những thông tin xuyên tạc, các quan điểm sai trái, từng cán bộ, đảng viên cần khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có trình độ lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác lại những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Để thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng “Kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”(13) và phương châm “mỗi đảng viên là một tuyên truyền viên của Đảng”, bằng kiến thức và hiểu biết của mình, mỗi cán bộ, đảng viên phải là những người đi đầu trong tuyên truyền, giải thích cho quần chúng ở địa phương, đơn vị hiểu rõ bản chất sai trái, không nghe, không tin theo các thông tin xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch với cách mạng Việt Nam. Để thực hiện điều đó, cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp cần cung cấp thông tin đầy đủ, toàn diện về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mỗi cá nhân để họ nhận diện đúng đối tượng và bản chất, âm mưu, thủ đoạn luận điệu chống phá của các thế lực thù địch. Mặt khác, cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức cảnh giác, không nghe, không tin, không làm theo các thông tin xấu độc; tuân thủ quy tắc ứng xử trên không gian mạng. Đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác chính trị nội bộ; dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Tích cực, chủ động đấu tranh trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, chủ động định hướng dư luận xã hội. Tăng tường các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn, xử lý các thông tin xấu độc trên không gian mạng; đồng thời xử lý nghiêm minh trước pháp luật các đối tượng đưa thông tin xấu độc trên không gian mạng. Bên cạnh đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải thường xuyên cung cấp thông tin chính thống, cung cấp luận cứ khoa học, chứng cứ thực tiễn để cán bộ, đảng viên có cơ sở đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Sáu là, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cán bộ, đảng viên phải “tự giác nêu gương” trong chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ, giữ gìn đoàn kết nội bộ; việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ “lợi ích nhóm” và những tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm về phẩm chất đạo đức, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát huy vai trò người đứng đầu cấp ủy về giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, vai trò, trách nhiệm nêu gương. Đảng ta chỉ rõ cần: “Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(14). Điều đó đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để phát hiện, uốn nắn và phải “xử lý kịp thời, kiên quyết, triệt để, đồng bộ, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm”(15). Đồng thời, cần xây dựng quy định cụ thể để mỗi cán bộ, đảng viên tự giác chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp ủy, chi bộ nơi công tác, nơi cư trú; ngăn chặn việc tự đặt bản thân lên trên tổ chức, lên trên tập thể; kiên quyết khắc phục tình trạng nể nang, bao che, lảng tránh trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát. Bên cạnh đó, cần phát huy và đề cao trách nhiệm của Nhân dân trong kiểm tra, giám sát, đánh giá, nhận xét năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống, các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên. Hiện nay, chúng ta đang xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục đề cao trách nhiệm nêu gương và tự giác nêu gương đi đầu trên mọi lĩnh vực, trong mọi hoàn cảnh, mọi lúc, mọi nơi; tự giác học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị cả về nhận thức và hành động. Thực hiện tốt điều đó sẽ có sức lan tỏa rất lớn trong xã hội, góp phần vào xây dựng, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Đại biểu thanh niên Quân đội đóng góp nhiều nội dung thiết thực

Đoàn đại biểu thanh niên Quân đội có 22 gương mặt điển hình ưu tú tham dự Đại hội Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác toàn quốc lần thứ VII, năm 2023. Phát huy nhiệt huyết, tinh thần trách nhiệm, trí tuệ của tuổi trẻ, các đại biểu thanh niên Quân đội có nhiều ý kiến đóng góp, hiến kế với Đại hội những giải pháp thiết thực trong đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thiếu tá HOÀNG ĐỨC DANH, Trợ lý công tác quần chúng, Phòng Chính trị, Sư đoàn 5, Quân khu 7: Cán bộ Đoàn cần nêu gương từ những hành động nhỏ Đội ngũ cán bộ Đoàn có vai trò rất quan trọng, là những người trực tiếp tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác Đoàn và phong trào thanh niên ở đơn vị. Vì vậy, để nâng cao chất lượng công tác Đoàn, một vấn đề hết sức quan trọng là nâng cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ Đoàn các cấp. Thời gian qua, chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn từng bước được nâng lên, có sự chuyển biến tích cực, toàn diện về nhận thức và kỹ năng hoạt động thực tiễn, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận, trong quá trình hoạt động, vẫn còn một số cán bộ Đoàn chưa thật sự nhiệt huyết, năng lực còn hạn chế, chưa phát huy tối đa sức trẻ, sự sáng tạo trong công tác. Chính vì vậy, hiệu quả của các phong trào chưa cao. Thiếu tá Hoàng Đức Danh. Trước thực trạng nêu trên, tôi cho rằng việc phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Đoàn các cấp không có gì là quá cao siêu, mà chính xuất phát từ những hành động đẹp nhỏ nhất trong công việc và đời sống thường ngày. Bản thân xin đề xuất một số giải pháp sau: Một là, tạo sự thống nhất nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Đoàn. Đây là biện pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu tạo nền tảng ban đầu, định hướng tổ chức, chỉ đạo việc phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Đoàn. Hai là, bồi dưỡng, sử dụng các điển hình tiên tiến, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Đoàn. Những tấm gương thực tiễn sống động của cán bộ Đoàn có vai trò to lớn trong giáo dục đoàn viên, có sức hấp dẫn cuốn hút mạnh mẽ có thể làm chuyển hóa, thay đổi nhận thức, tình cảm, ý chí và hành vi, hành động của đoàn viên, thanh niên theo hướng tích cực. Ba là, tổ chức có hiệu quả công tác đoàn và phong trào thanh niên để phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Đoàn. Đây là hoạt động thiết thực đáp ứng được nhu cầu tâm sinh lý của thanh niên - lứa tuổi đầy nhiệt huyết cách mạng, ưa thích các hoạt động bề nổi, sẵn sàng xung kích đi đầu thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ. Qua các hoạt động phong trào sẽ tập hợp được đông đảo đoàn viên hăng hái tham gia, tạo bầu không khí sôi nổi, sự đoàn kết gắn bó, chung tay, chung sức hướng đến những mục tiêu chung. ------------------ Đại úy NGUYỄN NGỌC LUÂN, Bí thư Liên chi đoàn Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312, Quân đoàn 1: Nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vì ngày mai lập nghiệp Thanh niên là lực lượng vô cùng quan trọng, vì thanh niên là rường cột của nước nhà, là chủ nhân tương lai của đất nước. Chính vì vậy, việc nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng tuổi trẻ vì ngày mai lập nghiệp là vấn đề cấp thiết hiện nay. Phần lớn thanh niên Việt Nam có trách nhiệm cao đối với Tổ quốc; luôn xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đảm nhận những công việc khó khăn, gian khổ, cấp bách khi Tổ quốc cần; đồng thời luôn có khát vọng cống hiến, lập nghiệp, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận thanh niên sống mờ nhạt, chưa xác định rõ mục tiêu phấn đấu, hoài bão và khát vọng của bản thân; không chịu rèn luyện, không lo lập nghiệp mà chạy theo lối sống thực dụng, ăn chơi, hưởng thụ, lao vào các tệ nạn xã hội... Từ thực trạng đó đặt ra yêu cầu ngày càng cấp thiết đối với việc bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Đại úy Nguyễn Ngọc Luân. Theo tôi, cần không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng các cấp trong phát huy vai trò của tổ chức đoàn thanh niên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, tổ chức các chương trình, hoạt động hướng nghiệp, giới thiệu việc làm cho thanh niên. Phát huy tính tích cực, tự giác của thanh niên trong quá trình tự học tập, rèn luyện, luôn "dưỡng tâm trong", "rèn trí sáng", "xây hoài bão lớn" và hình thành tác phong "dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hành động vì lợi ích chung" trong học tập, công tác, lao động sản xuất. Đẩy mạnh các hoạt động đào tạo nghề và giải quyết việc làm, cần có sự quan tâm đúng mức của các cấp, ngành, địa phương để có những chương trình, chính sách đồng bộ hỗ trợ thanh niên lập nghiệp. Mỗi thanh niên luôn có quan điểm riêng về khát vọng, hoài bão, ước mơ tùy thuộc vào hoàn cảnh, trình độ, năng lực của mình, nhưng những ước mơ, hoài bão đó phải vì mục tiêu lý tưởng "Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH", vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. ----------------- Thượng úy NGUYỄN VĂN HÙNG, Bí thư Đoàn cơ sở Phòng Kỹ thuật, Vùng Cảnh sát biển 4: Tạo môi trường để thanh niên học tập, nâng cao trình độ Tôi nhận thấy một số cơ quan, đơn vị, địa phương vẫn chưa phát huy tối đa khả năng, thế mạnh của mình trong các hoạt động giáo dục, tạo môi trường học tập cho thanh niên, chưa có nhiều giải pháp thiết thực phát huy vai trò đồng hành của tổ chức Đoàn đối với thanh niên. Đồng thời, công tác hỗ trợ thanh niên sau các hoạt động giáo dục ở một vài nơi chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức, vẫn chỉ dừng lại ở các hoạt động tuyên dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu trong học tập hoặc đoạt giải cao trong việc tham gia giải thưởng các cấp. Thượng úy Nguyễn Văn Hùng. Thực tế triển khai hoạt động tuyên truyền, định hướng giáo dục cho thanh niên còn những tồn tại, hạn chế cần được khắc phục, rút kinh nghiệm, như: Nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền, định hướng giáo dục cho thanh niên chưa thực sự phong phú, đa dạng, chất lượng và hiệu quả; thanh niên sau khi được giáo dục về khởi nghiệp gặp rất nhiều khó khăn khi tìm kiếm thông tin về các chương trình, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, đặc biệt là thông tin về các chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước dành cho thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp. Sự mạnh mẽ tìm tòi và tư duy, quyết tâm khởi nghiệp, xây dựng mô hình kinh tế của một số thanh niên chưa thực sự rõ ràng. Bên cạnh đó, trình độ kiến thức, kỹ năng, phương pháp của một số cán bộ Đoàn, Hội còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong việc tuyên truyền, định hướng, giáo dục, hỗ trợ thanh niên… Từ đó, mà hiệu quả và chất lượng thực tế còn chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Công tác giáo dục cho đội ngũ thanh niên có lúc chưa được coi trọng đúng mức; nội dung, hình thức giáo dục còn xơ cứng, chưa thật phù hợp đặc điểm tâm, sinh lý thanh niên. Một số chương trình giáo dục của tổ chức đoàn thanh niên chậm đổi mới, chưa mạnh dạn sáng tạo đề xuất và thực hiện nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động, vì thế, còn thiếu chiều sâu, chưa thực sự hấp dẫn thu hút đoàn viên, thanh niên. Theo tôi, bài học kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn là tạo môi trường giáo dục tốt cho thanh niên, thúc đẩy phong trào học tập, sớm triển khai các chương trình giáo dục, định hướng, hỗ trợ thanh niên với nhiều nội dung, hình thức phong phú và đa dạng. Chính những hoạt động giáo dục tốt cho thanh niên sẽ là nhân tố quyết định đến việc sẽ ra đời nhiều loại hình câu lạc bộ, tổ hợp tác, hợp tác xã thanh niên phát triển kinh tế được thành lập và đi vào hoạt động có hiệu quả, những mô hình thanh niên làm kinh tế giỏi. --------------- Trung úy LƯƠNG BÁ HIẾU, Phó đại đội trưởng Đại đội Thông tin, Lữ đoàn 215, Binh chủng Tăng thiết giáp: Nâng cao trách nhiệm của thanh niên tham gia bảo vệ Tổ quốc Trước tác động của nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng tới nhận thức của một bộ phận thanh thiếu niên về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nên công tác tuyên truyền, giáo dục cho thanh niên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới được chú trọng ở các tổ chức trong cả nước, có nhiều cách làm hay sáng tạo, đổi mới về mặt hình thức và nội dung như giáo dục quốc phòng, an ninh trong các nhà trường, tổ chức diễn đàn, hoạt động câu lạc bộ, sử dụng các trang mạng xã hội… Tuyên truyền, giáo dục cho thanh niên hiểu rõ về lòng yêu nước, trách nhiệm của mỗi bản thân trong xây dựng quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Trung úy Lương Bá Hiếu. Song công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho thanh niên còn một số hạn chế như: Phương pháp giáo dục còn chưa đổi mới về nội dung và phương pháp; còn chung chung, chưa chỉ rõ cụ thể vai trò, trách nhiệm của mỗi thanh niên trong nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh; công tác giáo dục chưa gắn với thực tiễn việc làm, hành động của mỗi thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; một số đoàn viên, thanh niên chưa hiểu rõ trách nhiệm trong xây dựng quốc phòng, an ninh; một số thanh niên không chịu khó học tập, rèn luyện bản thân, có lối sống buông thả, thiếu tôn trọng pháp luật, bị các đối tượng xấu xúi giục gây ra các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng tới an ninh trật tự. Giải pháp cho vấn đề trên, theo tôi, cần giáo dục cho thanh niên hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; ngăn chặn, đẩy lùi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, chống biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, vai trò của các ban, ngành, đoàn thể, thường xuyên củng cố, kiện toàn, phát huy hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thanh niên đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh. Cần gắn vai trò, trách nhiệm của mỗi thanh niên trong nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bằng hành động và việc làm cụ thể tại cơ quan đơn vị, địa phương mình sinh sống, công tác. ------------------ Thiếu tá VÕ THÀNH NHÂN, Trợ lý công tác quần chúng, Phòng Chính trị, Sư đoàn 330, Quân khu 9: Nhân lên sức mạnh đoàn kết Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Lời dạy của Người ngày càng mang tính thời sự, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ để đón nhận những cơ hội cùng thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu rộng. Trong những năm qua, mặc dù đất nước có nhiều khó khăn, thách thức, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường. Tuy nhiên, có lúc, có nơi chưa phát huy được vai trò, sức mạnh của nhân dân. Bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước đan xen cả thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn đối với sự nghiệp đổi mới nói chung và đường lối xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói riêng. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động, chia rẽ dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thiếu tá Võ Thành Nhân. Trước tình hình đó, việc đẩy mạnh tuyên truyền để các cấp, ngành, lực lượng nhận thức sâu sắc về sự cần thiết phải tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay trở nên cấp thiết. Để làm tốt công tác này, trước hết, công tác tuyên truyền cần phải làm cho nhân dân thấm nhuần lời dạy của Người. Tuyên truyền chính xác, đầy đủ, kịp thời, phản bác các thông tin xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tổ chức hiệu quả việc nghiên cứu, quán triệt, học tập các chủ trương, nghị quyết của Đảng, tạo sự thống nhất, đồng thuận trong nhân dân. Bên cạnh đó, đổi mới phương thức tuyên truyền trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện để bảo đảm truyền tải nhanh nhất, kịp thời nhất các nội dung và định hướng tuyên truyền tới cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân. --------------------------- Học viên VƯƠNG HOÀNG ĐẾ, Trung đội 7, Đại đội 18, Tiểu đoàn 6, Trường Sĩ quan Lục quân 1: Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch Hiện nay, các thế lực thù địch không ngừng chống phá khối đại đoàn kết dân tộc dưới nhiều hình thức và thủ đoạn quyết liệt, phức tạp hơn, đặc biệt đối tượng mà chúng quan tâm hướng đến là học sinh, sinh viên, đoàn viên, thanh niên. Thực tế đã cho thấy có những thanh niên bị các thế lực thù địch lợi dụng vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết dân tộc. Chính vì lẽ đó đã đặt ra những vấn đề cấp thiết cho thanh niên Việt Nam, nhanh chóng đề ra các giải pháp căn cơ đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Học viên Vương Hoàng Đế. Việc rất cần thiết là tăng cường bồi dưỡng, giáo dục quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới đông đảo đoàn viên, thanh niên, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, giúp tuổi trẻ nhận thức đúng đắn, nhận diện được những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa đoàn viên, thanh niên các địa phương trong việc đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại. Thông qua đó vừa củng cố tinh thần đoàn kết giữa thanh niên các địa phương trong cả nước, vừa nâng cao kinh nghiệm, trình độ đấu tranh của tuổi trẻ. Cần tiếp tục quan tâm xây dựng các chính sách đối với thanh niên đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để thanh niên có điều kiện được học tập, phát triển, nhận thức đúng đắn trước các quan điểm sai trái, thù địch. Tận dụng tối đa nền tảng mạng xã hội và các hình thức tuyên truyền như video, clip, hình ảnh, bài viết để tiếp cận và lôi cuốn, thu hút thanh niên trong đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái. Kịp thời nắm bắt, định hướng tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên trước các sự kiện chính trị quốc tế, khu vực và trong nước.

QUAN TÂM, BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

 

    Đảng và Nhà nước ta, trước sau như một, đều nhất quán khẳng định sự quan tâm, chăm lo, bảo vệ quyền con người; luôn đề cao sự tôn vinh, tôn trọng quyền con người; đã, đang và sẽ làm hết sức mình để thực hiện quyền con người thông qua việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, thông qua việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, làm cho “dân no, dân yên, dân tin”. Điều đó thể hiện rất rõ ở sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta là phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thực hiện tốt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; tạo cơ sở vững chắc để thực hiện đầy đủ quyền con người trên đất nước Việt Nam.

    Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, nhân quyền là vấn đề rất nhạy cảm và hết sức phức tạp, vì nó gắn liền với bản chất chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

    Có thể khẳng định rằng, bản chất của nhân quyền ở Việt Nam là thực hiện quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền tồn tại và phát triển của mọi công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, tự do và bình đẳng là đặc trưng bản chất và là yêu cầu nội tại của nhân quyền ở Việt Nam, còn tồn tại và phát triển là mục tiêu của nhân quyền mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang hướng tới, quyết tâm đạt bằng được. Nói cách khác, tính ưu việt của chế độ xã hội ta thể hiện rõ ở việc bảo đảm cho mọi công dân quyền tự do và quyền bình đẳng, quyền tồn tại và quyền phát triển. Đó là điều khác biệt căn bản nhất giữa quan điểm của Đảng, Nhà nước ta với quan điểm nhân quyền của giai cấp tư sản. Việc bảo đảm và bảo vệ nhân quyền ở nước ta gắn liền với quyền và nghĩa vụ của công dân được Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận, bảo vệ. Vì vậy, bản chất và giá trị đích thực của nhân quyền ở Việt Nam là quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc và bình đẳng…

    Rõ ràng, ở nước ta, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện Hiến pháp, pháp luật là vì con người. Đảng, Nhà nước ta luôn đề cao tính nghiêm minh của pháp luật, song pháp luật của nước ta không phải là cứng nhắc, áp đặt mà nó luôn được kết hợp chặt chẽ với đạo đức, với tình yêu thương con người và sự khoan dung, nhân đạo. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về nhân quyền không chỉ thấm nhuần sâu sắc truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam mà còn hàm chứa nội dung rộng lớn, theo quan điểm khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin. Vì vậy, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân chính là nền móng vững chắc nhất để thực hiện và phát triển nhân quyền ở Việt Nam. Trong quá trình khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước ta rất coi trọng việc bảo đảm thực hiện và bảo vệ quyền con người.

    Vì vậy, nước ta đã thông qua và ban hành hàng chục bộ pháp luật là nhằm thực hiện tốt quyền con người ở Việt Nam. Vì lẽ đó, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 đã khẳng định: Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) đã dành rất nhiều điều khoản để khẳng định quyền con người và quyền công dân. Đây là cơ sở lý luận, thực tiễn để đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở nước ta hiện nay.

    Người ta vẫn thường nói: tư pháp là thành trì bảo vệ tự do, tức là bảo vệ con người với những quyền của họ, chính xác hơn “tư pháp- tòa án chính là thành trì của bảo vệ công lý”. Con người khác động vật ở chỗ phải sống thành xã hội, bên cạnh những thành công của việc con người sống với con người và việc luôn xảy ra những mâu thuẫn, cần phải có sự phân giải đúng sai, để gìn giữ cuộc sống bình an giữa họ. Quyền của tôi phải được bảo vệ, quyền của người nào đó phải bị tước bỏ, nếu anh ta vi phạm quyền của người khác. Đó là lẽ công bằng, công bằng tức là công lý. Xét xử vì công lý khác với xét xử không vì công lý.

    Vì vậy, một khi quyền con người đã được ghi nhận, thì quyền đó phải được bảo vệ. Thiết chế bảo vệ quyền con người là nhà nước, với một bộ phận chuyên biệt được gọi là tòa án đảm nhiệm việc phân xử các vụ việc.

    Với những kết quả đạt được trong việc thực thi pháp luật về quyền con người, cùng với môi trường thiên nhiên tươi đẹp, chế độ chính trị văn minh, văn hóa đặc sắc, xã hội ổn định, con người thân thiện, cởi mở, Việt Nam đã lọt vào top 10 danh sách những quốc gia đáng sống và làm việc nhất thế giới.

Quan hệ Việt Nam-Đức còn nhiều dư địa, tiềm năng phát triển Thủ tướng đánh giá cao tiềm năng hợp tác với Đức và bang Hạ Saxony khi kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và bang Hạ Saxony năm 2022 đạt 1,4 tỷ euro, tương đương 1/10 tổng kim ngạch thương mại 2 nước.

Chiều 2/10, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp ông Stephan Weil, Thủ hiến bang Hạ Saxony của Đức, nhân dịp sang thăm Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính hoan nghênh Thủ hiến bang Hạ Saxony lần đầu tiên sang thăm Việt Nam cùng đoàn doanh nghiệp đông đảo trong bối cảnh Quan hệ Đối tác Chiến lược Việt Nam-Đức phát triển tích cực. Hai bên duy trì thường xuyên tiếp xúc, trao đổi đoàn cấp cao, đặc biệt chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Đức Olaf Scholz diễn ra vào cuối năm 2022 thành công tốt đẹp, tạo động lực thúc đẩy quan hệ hai nước trên mọi lĩnh vực. Đức là đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam trong EU và quan hệ hai nước còn nhiều dư địa, tiềm năng phát triển trong nhiều lĩnh vực hợp tác. Trao đổi về tình hình phát triển kinh tế-xã hội và triển vọng hợp tác song phương, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh Việt Nam chủ trương kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa; là bạn bè tốt, đối tác tin cậy của tất cả các nước và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. [Thúc đẩy mối quan hệ giữa Quốc hội hai nước Việt Nam-Đức] Trên tinh thần đó, Thủ tướng mong muốn phát triển quan hệ Đối tác chiến lược sâu sắc hơn với Đức nói chung và với bang Hạ Saxony nói riêng. Nhân dịp này, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng bày tỏ cảm ơn tới Chính phủ và nhân dân Đức đã đồng hành cùng Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh dành độc lập, xây dựng và phát triển đất nước, cũng như thể hiện tình đoàn kết trong giai đoạn đại dịch COVID-19, giúp Việt Nam kiểm soát dịch bệnh sớm mở cửa nền kinh tế. Trong bối cảnh quan hệ hai nước phát triển tích cực, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá cao tiềm năng hợp tác với Đức và bang Hạ Saxony khi kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và bang Hạ Saxony năm 2022 đạt 1,4 tỷ euro, tương đương 1/10 tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Đức. Quan he Viet Nam-Duc con nhieu du dia, tiem nang phat trien hinh anh 2 Thủ tướng mong muốn phát triển quan hệ Đối tác chiến lược sâu sắc hơn với Đức nói chung và với bang Hạ Saxony. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN) Thủ tướng Chính phủ đề nghị hai bên thúc đẩy hợp tác về chính trị-ngoại giao, thương mại-đầu tư, ứng phó với biến đổi khí hậu, đào tạo nghề, du lịch, giao lưu nhân dân, nhằm đem lại lợi ích cho mỗi nước, tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước và đóng góp cho hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Trên tinh thần chân thành, cởi mở và tin cậy, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Chính quyền bang Hạ Saxony khuyến khích các doanh nghiệp của bang đầu tư vào Việt Nam trong những lĩnh vực thế mạnh và nhu cầu của hai bên như công nghệ cao, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chống biến đổi khí hậu; đồng thời ủng hộ Quốc hội Đức sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA); thúc đẩy Ủy ban châu Âu gỡ bỏ thẻ vàng với thủy sản Việt Nam. Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng khẳng định Chính phủ, các bộ ngành và địa phương Việt Nam luôn ủng hộ và sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có các doanh nghiệp của Đức tìm hiểu cơ hội hợp tác, tăng cường hoạt động kinh doanh, đầu tư tại Việt Nam trên tinh thần hợp tác lâu dài, hài hòa lợi ích. Bày tỏ ấn tượng lần đầu tiên sang thăm Việt Nam cùng đoàn hơn 40 doanh nghiệp của Bang, Thủ hiến bang Hạ Saxony Stephan Weil chúc mừng những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại mà Việt Nam đã đạt được; khẳng định Chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp bang Hạ Saxony đánh giá cao những tiềm năng hợp tác giữa hai bên mong muốn thiết lập quan hệ trao đổi đoàn và xây dựng quan hệ đối tác với các bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp Việt Nam. Thủ hiến Stephan Weil nhất trí với đánh giá của Thủ tướng Phạm Minh Chính về các lĩnh vực hợp tác ưu tiên mà nước Đức nói chung và bang Hạ Saxony có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu, nhất là trong lĩnh vực thương mại-đầu tư, ứng phó với biến đối khí hậu, năng lượng tái tạo, đào tạo lao động có tay nghề, du lịch... Thủ hiến Stephan Weil chia sẻ và bày tỏ với Thủ tướng Phạm Minh Chính những ấn tượng tốt đẹp về những đóng góp tích cực của cộng đồng khoảng 10 ngàn người Việt Nam tại Đức vào đời sống kinh tế xã hội sở tại, đồng thời đóng vai trò là cầu nối hữu nghị và hợp tác giữa hai quốc gia. Thủ hiến khẳng định sẽ nỗ lực để thúc đẩy Quan hệ Đối tác Chiến lược Việt Nam-Đức ngày càng phát triển thiết thực và hiệu quả./.

Khai mạc tập huấn tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử toàn quân năm 2023

Sáng 2-10, tại Trung tâm Huấn luyện Quốc gia 4, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tổ chức khai mạc tập huấn tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử toàn quân năm 2023. Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam dự và chỉ đạo khai mạc tập huấn.


Đợt tập huấn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động huấn luyện, đào tạo, diễn tập; trinh sát thu thập thông tin tác chiến điện tử; khai thác trang bị khí tài mới. Trong thời gian tập huấn, các lực lượng sẽ được nghiên cứu, bồi dưỡng về phương thức tác chiến hiện đại và vai trò của lực lượng tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử; chuyển đổi số

Phát biểu khai mạc tập huấn, Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa nhấn mạnh, trong tác chiến hiện đại, vai trò của lực lượng tác chiến không gian mạng và tác chiến điện tử rất quan trọng; do đó mỗi cán bộ, chiến sĩ của mỗi lực lượng phải không ngừng rèn luyện, nâng cao năng lực khai thác làm chủ khí tài, thuần thục kỹ, chiến thuật tác chiến hiện đại. Để tiếp tục nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống, Quân đội cần nâng cao toàn diện chất lượng huấn luyện chiến đấu, nhất là các lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa chỉ rõ, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin hiện nay thì bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng càng trở nên cấp thiết, đặt ra yêu cầu cao đối với việc thực hiện nhiệm vụ thường xuyên cũng như đột xuất của lực lượng tác chiến không gian mạng.

Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa yêu cầu đợt tập huấn lần này cần tập trung nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của lực lượng tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử toàn quân, làm cơ sở vận dụng trong chỉ đạo, điều hành huấn luyện, giáo dục, đào tạo và tổ chức thực hành chiến đấu.

Người dẫn dắt Đại đoàn Quân tiên phong

Trung tướng Vương Thừa Vũ là một trong những danh tướng quân sự tài ba, chiến công đã gắn liền với lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Ông không chỉ có nhiều công lao trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, mà ông còn cống hiến hết mình cho nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại, luôn chăm lo tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, nâng lên thành lý luận và khái quát một cách cô đúc, giản dị, dễ nhớ để huấn luyện cán bộ và chiến sĩ.Trung tướng Vương Thừa Vũ tên thật là Nguyễn Văn Đồi, sinh ngày 24-12-1910 tại làng Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Quá trình hoạt động cách mạng, ông đã trải qua nhiều khó khăn gian khổ, từng bị thực dân Pháp giam cầm trong tù ngục, chịu sự tra tấn hành hạ dã man nhưng ông vẫn nhất mực kiên trung, vượt qua mọi thử thách, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao.  

Từ Mặt trận Hà Nội 60 ngày đêm khói lửa

Đối với Thủ đô Hà Nội, tên tuổi của Trung tướng Vương Thừa Vũ gắn liền với chiến công vẻ vang trong cuộc chiến đấu 60 ngày đêm “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” của quân và dân Hà Nội, khởi đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai ngày 19-12-1946.Giữ trọng trách là chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội, với thế trận “trong đánh, ngoài vây” (trùng độc chiến) do ông đề xướng và nhiều cách đánh thiên biến vạn hóa của chiến tranh nhân dân, Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội Vương Thừa Vũ cùng quân dân Thủ đô đã lập nên kỳ tích: Bằng một lực lượng vũ trang non trẻ nhưng chiến đấu thắng lợi, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giam chân đội quân chính quy nhà nghề với khoảng 6.500 binh sĩ của Pháp trong thành phố suốt 60 ngày đêm (gấp đôi thời gian quy định), tạo điều kiện cho ta có thời gian chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới.

Trong nhiều cuộc trò chuyện với chúng tôi, ông Vương Minh Tường (ở Tây Hồ, Hà Nội)-con trai Trung tướng Vương Thừa Vũ từng kể câu chuyện về cơ duyên để cha ông có được kế hoạch tác chiến từ một chuyến đi quan sát vị trí đóng quân của địch bảo vệ nhà viên tướng Morlié ở phố Hàng Trống (nay là tòa soạn Báo Nhân Dân).

Hôm ấy, Chỉ huy trưởng Vương Thừa Vũ đã hỏi chuyện một anh đội trưởng đội tự vệ. Sau khi nghe anh trình bày ý định chuẩn bị tác chiến, ông chợt nghĩ ra hướng chuẩn bị tích cực cho thành phố là cần xây dựng nhiều lớp chiến lũy, kết hợp với đào chiến hào và bố trí lực lượng chặn đánh thì mới có thể chống tăng, cơ giới và bộ binh địch hiệu quả. Vì đường phố đã có những chiến lũy chắn ngang nên cần đục tường từ nhà nọ thông sang nhà kia để bảo đảm sự cơ động cho lực lượng của ta. Từ suy nghĩ này, đồng chí Vương Thừa Vũ đã cùng với Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội xây dựng nhiều tầng lớp chiến lũy, có thể tổ chức cố thủ ngay trong thành phố dài ngày, hạn chế địch từ trung tâm đánh ra ngoại ô. Khi báo cáo kế hoạch, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tán thành ngay.

Với một kế hoạch chiến đấu được hoạch định cụ thể, tính toán kỹ số lượng đạn dược, lương thực, nước uống của bộ phận cố thủ tại Liên khu 1-khu trung tâm, chúng ta đã tiến hành một cuộc chiến đấu lớn với một tâm thế chủ động. Đến trung tuần tháng 12-1946, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã báo cáo với Bác có thể giữ Hà Nội từ một tháng trở lên. Và thực tế là, từ hiệu quả của nghệ thuật “trùng độc chiến” mà các lực lượng của ta đã giam chân địch tại Hà Nội lâu hơn dự kiến. Đặc biệt là việc sau đó, đồng chí Vương Thừa Vũ cùng với các cộng sự đã chỉ huy thành công cuộc rút lui thần kỳ của Trung đoàn Thủ đô, thực hiện xuất sắc chủ trương diệt địch đi đôi với giữ gìn lực lượng ta để kháng chiến lâu dài.Sau mặt trận Hà Nội, đồng chí Vương Thừa Vũ được cử vào Liên khu 4 với cương vị khu phó. Đến năm 1949, Đại đoàn 308 - Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập, ông đã được tin tưởng giao nhiệm vụ là Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn. 

Đến Đại đoàn Quân Tiên Phong

Cùng với các đồng chí lãnh đạo chỉ huy đại đoàn và các trung đoàn, Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ đã dày công rèn luyện, xây dựng nên mô hình binh đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội ta, dẫn dắt Đại đoàn 308 đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thực hiện xuất sắc khẩu hiệu “Hễ đánh là thắng, hễ đánh là quyết định chiến trường”.

Ngày ấy, nhiệm vụ mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao cho Đại đoàn 308 là “đi tiên phong trên con đường vận động chiến”. Từ đó, đại đoàn được mang danh hiệu “Quân Tiên Phong”. Nhiệm vụ đã nặng nề càng thêm khó khăn do bấy giờ thành phần hợp thành đại đoàn gồm các đơn vị tuy đã dạn dày lửa đạn nhưng trình độ tác chiến mới ở quy mô tiểu đoàn tập trung. Chỉ có Trung đoàn Thủ đô (Trung đoàn 102) là đã tác chiến ở quy mô trung đoàn trong trận Phố Lu (Lào Cai) tháng 1-1950. Thế nhưng với tài năng và bản lĩnh của một người cầm quân dày dặn kinh nghiệm, đồng chí Vương Thừa Vũ đã cùng tập thể Ban chỉ huy Đại đoàn hoàn thành nhiệm vụ. Ngay trong cuộc thử thách lớn đầu tiên sau khi thành lập là ra quân tác chiến ở quy mô đại đoàn tập trung trong Chiến dịch Biên giới năm 1950, Đại đoàn 308 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ngày càng có nhiều tiến bộ. Cùng với hai trung đoàn bạn là 174 và 209, Đại đoàn đã đánh một trận vận động chiến quy mô lớn giành thắng lợi rất to lớn, mở đầu cho giai đoạn cách mạng mới: Giai đoạn chuyển sang tiến công và phản công tiến tới toàn thắng.

Sinh thời Trung tướng Phạm Hồng Cư (1926-2021), nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam từng kể về kỷ niệm những ngày là Phó phòng Chính trị Đại đoàn 308. Khi ấy, ông được giao tiến hành công tác chính trị trong Chiến dịch Biên giới dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tư lệnh kiêm chính ủy Đại đoàn Vương Thừa Vũ: “Ngày 15-9-1950, tôi đang tham gia trực tại Sở chỉ huy đại đoàn bỗng chuông điện thoại reo. Điều vui mừng khôn xiết đến với tôi là ở đầu dây bên kia, đồng chí trực ban tác chiến chiến dịch truyền đi bức thư của Bác Hồ gửi các đơn vị tham chiến. Tôi sung sướng báo cáo ngay với anh Vũ. Trên gương mặt khắc khổ của Tư lệnh ánh lên một niềm vui, một niềm tin. Anh Vũ chỉ thị cho tôi bằng mọi cách nhanh chóng truyền đạt bức thư của Bác cho toàn đại đoàn. Ở khắp các đơn vị, khi biết tin Bác Hồ đi chiến dịch và nghe đọc thư Bác, mọi người như được tiếp thêm sức mạnh, càng thấm sâu ý nghĩa trọng đại của chiến dịch, càng tin tưởng hăng hái bội phần. Ngày 1-10-1950, tôi còn được chứng kiến Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ nghiêm khắc tự phê bình nhận lỗi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sự việc xảy ra như sau: Trong khi hai trung đoàn bạn là 174 và 209 tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê thì Đại đoàn 308 đảm nhiệm việc đánh viện ở Nam Đông Khê. Chờ đợi suốt 10 ngày không thấy địch động tĩnh gì, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho Đại đoàn 308 chuẩn bị đánh Thất Khê. Cán bộ cấp trưởng đi chuẩn bị chiến trường, cán bộ chính trị dẫn hai phần ba quân số đi lấy gạo, chỉ còn những người yếu mệt ở lại trận địa trông coi vũ khí. Giữa lúc đó, Binh đoàn Le Page  lặng lẽ trườn qua trận địa của Đại đoàn, đến sát Đông Khê thì chúng bị Trung đoàn 209 phát hiện và nổ súng chặn lại. Anh Vương Thừa Vũ nhận lỗi về mình, thiếu chỉ đạo chặt chẽ để xảy ra mất cảnh giác, lơ là cảnh giới nên không phát hiện được quân địch đi qua trận địa ban đêm. Anh Vũ tự phê bình với Đại tướng Võ Nguyên Giáp rồi lập tức ra lệnh cho các đơn vị dồn quân lại, có bao nhiêu đánh bấy nhiêu, khẩn trương xuất phát đánh địch. Toàn mặt trận sôi động, người ốm cũng bật dậy cầm vũ khí, các đơn vị đi lấy gạo hối hả chạy về. Toàn đại đoàn tiến quân ra Đường số 4, mặc cho những chiếc máy bay khu trục “cổ ngỗng” lồng lộn bắn chặn đường. Tinh thần thẳng thắn nhận khuyết điểm và tích cực sửa chữa của anh Vũ làm cho chúng tôi khâm phục”.

Từ ngày 2 đến 8-10-1950, chấp hành mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, với tinh thần tích cực chủ động, cơ động linh hoạt, Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ đã lãnh đạo, chỉ huy bộ đội phát huy sức mạnh chiến đấu kiên cường, không cho hai binh đoàn Le Page và Charton hội quân với nhau, chia cắt chúng ra và bao vây tiêu diệt từng binh đoàn. Binh đoàn Le Page bị tiêu diệt ở thung lũng Cốc Xá. Binh đoàn Charton bị tiêu diệt ở cao điểm 477.

CẢNH GIÁC VỚI HÌNH THỨC MỚI TRONG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUÂN CÔNG

Pháp luân công (PLC) còn có tên gọi khác là Pháp luân đại pháp do Lý Hồng Chí (sinh năm 1952 tại Cát Lâm, Trung Quốc) lập ra năm 1992. PLC không phải tôn giáo, không có giáo lý, giáo luật, cấu trúc tổ chức, nhà cầu nguyện…

Thời gian qua, bên cạnh việc sử dụng các hình thức tuyên truyền, lôi kéo người tham gia PLC như trực tiếp tán phát tờ rơi, tặng đĩa CD, sách, quà tặng qua bưu điện... thì hiện nay các đối tượng PLC còn sử dụng hình thức mới là gửi kèm "quà tặng" (đồ vật liên quan đến PLC) cho khách đặt mua hàng online. Với hình thức trên, sau khi chốt đơn hàng các đối tượng sẽ nhắn tin đường link về PLC và gửi "quà tặng" kèm theo hàng hóa được đặt mua, gồm một số đồ vật như: Chuỗi nhựa hình bông sen (dạng móc khóa) có gắn miếng nhựa mika có ghi chữ: “PHÁP LUÂN ĐẠI PHÁP HẢO”, dòng chữ tượng hình, đường link, tài liệu tuyên truyền về PLC.

Do vậy, cần nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện rõ bản chất của PLC, kịp thời phát hiện, trình báo với lực lượng Công an khi phát hiện người có hành vi truyền bá PLC trên địa bàn.

Vì sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?

 


Ngày 4-10-2016, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an đã đưa “Việt Tân” vào danh sách các tổ chức khủng bố, chống Nhà nước Việt Nam. Từ khi thành lập năm 1981 đến nay, tổ chức này đã có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhiều đối tượng đã bị bắt giữ, xét xử nhưng chúng vẫn không từ bỏ dã tâm lật đổ chính quyền XHCN ở Việt Nam.

Từ tàn quân lưu vong đến khủng bố “chuyển lửa về quê nhà”

Theo thông báo của Bộ Công an, Tổ chức phản cách mạng lưu vong “Việt Tân” là tên viết tắt của cái gọi là “Việt Nam canh tân cách mạng đảng”, trụ sở chính đặt tại 2530 đường Berryessa 234 San Jose, California, Mỹ và "Văn phòng 2" tại Bangkok, Thái Lan. Tổ chức này có cơ quan tuyên truyền là báo "Kháng chiến"; đài "Việt Nam kháng chiến" và "Chân trời mới". Đối tượng cầm đầu là Đỗ Hoàng Điềm, sinh 1963, quốc tịch Mỹ, "Chủ tịch Việt Tân" và Lý Thái Hùng, sinh 1953, quốc tịch Mỹ, "Tổng bí thư Việt Tân".

Năm 1981, Hoàng Cơ Minh (nguyên chuẩn tướng, Phó đề đốc hải quân chính quyền Việt Nam Cộng hòa) và một số đối tượng phản động lưu vong đứng ra thành lập tổ chức phản động "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam". Cái gọi là mặt trận ấy có cương lĩnh, có con dấu, hiến chương và vẫn một sắc màu ba que được Mỹ nuôi dưỡng, chỉ đạo, nhằm chống phá Việt Nam bằng các hoạt động vũ trang, khủng bố.

Với tham vọng ngông cuồng, đồng thời để lừa mị một bộ phận kiều bào ở hải ngoại, ngày 10-9-1982 tại căn cứ ở Thái Lan, Hoàng Cơ Minh lập ra tổ chức "Việt Nam canh tân cách mạng đảng" - gọi tắt là "Việt Tân", là cơ quan đầu não cực kỳ phản động, chỉ huy mọi hoạt động của “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” và một số tổ chức phản động khác tiến hành các hoạt động chống phá, tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân ở Việt Nam. Các thành viên của “Mặt trận” này đồng thời là thành viên của “Việt Tân”.   

Theo tài liệu tố cáo tội ác của “Mặt trận” và các thành viên “Mặt trận” nhận nhiệm vụ xâm nhập về nước hoạt động khủng bố phá hoại (Bộ Công an), Hoàng Cơ Minh từng huênh hoang tuyên bố mục tiêu “kháng chiến giải phóng Việt Nam” gồm các giai đoạn từ 30-4-1975 đến năm 1980, tập hợp lực lượng, đối tượng chủ yếu nhằm vào những người trong chính quyền cũ là sĩ quan cao cấp ở trong nước và những kẻ có nợ máu với nhân dân đang lẩn trốn ở nước ngoài. Năm 1980-1983, tuyển mộ lính đánh thuê ở các trại tị nạn người Việt để đào tạo huấn luyện. Năm 1984-1987, xây dựng cơ sở hạ tầng hạt nhân. Từ năm 1986-1990, là giai đoạn xây dựng vùng giải phóng tạm, lấy chỗ đứng chân đón các “kháng chiến quân” trở về. Đến năm 1992 là giai đoạn lật đổ và giành chính quyền.

Để thực hiện dã tâm đó, Hoàng Cơ Minh phái tay chân sục sạo các trại tị nạn người Việt tuyển mộ lính đưa về căn cứ huấn luyện gián điệp, biệt kích, tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại, bắt cóc, thủ tiêu con tin. Tuy nhiên, trong suốt 5 năm liền, y chỉ tuyển được 200 quân. Để lòe bịp dư luận và moi đô la từ bà con Việt kiều ở nước ngoài, Hoàng Cơ Minh thuê bọn phỉ Lào đóng giả các “kháng chiến quân”, quay phim gửi về Mỹ và tuyên bố đã dựng được cờ và tập hợp được các tổ chức kháng chiến, với đội quân 10.000 người.

Sự bịp bợm của Hoàng Cơ Minh không chỉ khiến bà con kiều bào mà ngay cả phe đối lập của hắn cũng phải lên tiếng. Chính Trần Văn Liễu, Tổng trưởng Tổng cục Hải ngoại của Minh từng công khai chỉ trích Minh là bọn tống tiền, là bọn buôn kháng chiến, bọn lừa đảo bà con người Việt sống xa xứ sở để móc túi moi đô la và vàng.

Kế hoạch ngông cuồng  

Hoàng Cơ Minh và đồng bọn xác định: Hướng xâm nhập, xây dựng "mật cứ" trong nội địa là các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Chúng hy vọng sẽ móc nối với các tổ chức phản động ở trong nước, đưa người vào rừng huấn luyện rồi tung trở lại thực hiện phương châm "Trong nổi dậy, ngoài đánh vào".

Tư liệu của Bộ Công an cho biết, từ năm 1982 - 1989, "Việt Tân" đã tổ chức nhiều đợt đưa người và vũ khí xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam; tiến hành các chiến dịch "Đông tiến 1", "Đông tiến 2", "Đông tiến 3"… qua đất Lào, Campuchia. Mặc dù Hoàng Cơ Minh cùng những kẻ cầm đầu "Việt Tân" xây dựng kế hoạch công phu, tổ chức xâm nhập với điều kiện, trang bị hoàn hảo, nhưng toán "Kháng quản" là toán xâm nhập mở đường, chưa kịp lập "mật cứ", thì đã bị cơ quan an ninh Việt Nam tóm gọn.

Tiếp đó, chiến dịch "Đông tiến 1" do Dương Văn Tư cầm đầu gồm 51 tên xâm nhập ngày 15-5-1986. Mục đích của chuyến đi mở đường là lập một “mật khu” khô tại Gia Lai-Kon Tum, móc nối với những tên làm việc cho chế độ Mỹ-ngụy chưa chịu cải tạo, tổ chức ám sát cán bộ, đánh phá các đồn biên phòng, các nông, lâm trường, chặn đánh xe vận tải trên các tuyến đường cao nguyên. Tuy nhiên, mọi chuyển động và những hành tung của toán biệt kích này không thoát khỏi tai mắt nhân dân trên đường xâm nhập Việt Nam. Trong suốt hơn 4 tháng hành quân, bọn chúng đi được không quá 300 cây số đường rừng và liên tục bị các lực lượng vũ trang Việt Nam, Lào và Campuchia truy đuổi, bao vây. Một số tên bị tiêu diệt, số còn lại đã giết lẫn nhau để đoạt tiền, vàng rồi bỏ trốn khỏi đội hình.

Đám tàn quân được phái đi nhiều tên bị diệt, một số bị bắt, những tên ngoan cố bỏ chạy cũng bị truy kích và phải đầu hàng, nhưng Hoàng Cơ Minh vẫn hò hét “Đông Tiến” giải phóng Việt Nam để tiếp tục lòe bịp dư luận và bà con kiều bào sống xa quê hương. Ngày 7-7-1987, Hoàng Cơ Minh đích thân chỉ huy toàn bộ lực lược gần 150 tên thực hiện chiến dịch "Đông tiến 2", xâm nhập vào Tây Nguyên để xây dựng "mật cứ". Nhưng khi mới vào đất Lào, chúng bị lực lượng vũ trang Lào phối hợp với bộ đội Việt Nam chặn đánh. Trong trận đánh cuối cùng ngày 28-8-1987, Hoàng Cơ Minh đã phải phơi xác cùng đám tàn quân. Kết cục, "Đông tiến 2" hoàn toàn thất bại với 60 tên bị tiêu diệt, 67 tên bị bắt sống…

Ngày 1-12-1987, Tòa án nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mở phiên tòa sơ thẩm đồng thời là chung thẩm xét xử công khai vụ án Hoàng Cơ Minh, với tội danh phản bội tổ quốc và hoạt động phỉ. Hàng ngàn người, trong đó có đoàn đại biểu Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân hai nước bạn Lào, Campuchia cũng có mặt theo dõi phiên tòa.

Mặc dù Hoàng Cơ Minh đã bị tiêu diệt, nhưng ảo vọng “lật đổ và giành chính quyền” vẫn được nhóm tàn quân của Việt Tân nhen nhóm thực hiện bằng chiến dịch "Đông tiến 3", do Trần Quang Đô chỉ huy. Ngày 22-8-1989 Trần Quang Đô cùng 68 tên khác âm mưu xâm nhập Quảng Trị - Quảng Nam - Đà Nẵng - Gia Lai - Kon Tum xây dựng căn cứ, sau đó phát triển lực lượng xuống đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, khi chúng vừa vào đất Lào thì bị quân và dân Lào truy quét quyết liệt phải chịu kết cục bi thảm với 30 tên ngoan cố bị tiêu diệt, 38 tên còn lại bị bắt sống.

Khủng bố “phiên bản 2.0”

Giai đoạn sau năm 1989, Việt Tân tiếp tục tuyển mộ, huấn luyện, chỉ đạo thành viên xâm nhập về Việt Nam kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, thủ tiêu, bắt cóc con tin; đưa người ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện, tổ chức các khóa đào tạo trực tuyến về phương thức, hoạt động khủng bố, phá hoại; tán phát lên mạng Internet hướng dẫn cách chế tạo bom xăng để phục vụ hoạt động khủng bố, phá hoại, ám sát…  Mặc dù năm 1987, Hoàng Cơ Minh bị thương và đã tự sát. Năm 1991, chiến dịch "Đông tiến 3"  cũng bị thất bại nhưng Việt Tân vẫn lừa dối nhiều người Việt Nam ở nước ngoài không công bố thông tin này để vận động quyên góp tiền cho “kháng chiến”, có thông tin cho biết số tiền lên đến hàng trăm triệu USD nhưng chủ yếu rơi vào tay các cá nhân cầm đầu tổ chức này.

Năm 2001, “tổ chức Mặt Trận” chính thức công bố sự thật về cái chết của Hoàng Cơ Minh. Năm 2004, tại Đức, tổ chức Mặt Trận tuyên bố giải tán và công khai hóa Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (gọi tắt là Việt Tân).

Tháng 8-2006, Việt Tân đã tổ chức nhóm “sang sông”, thực chất là chiến dịch “Đông tiến 7”, và nhóm “liên minh dân tộc” với ý đồ đưa người về nước tiến hành các hoạt động khủng bố. Để thực hiện âm mưu này, Việt Tân đã từng bước công khai hóa tổ chức. Từ tháng  3 đến tháng 11-2007, Nguyễn Kim - chủ tịch “Việt Tân” đã chỉ đạo Nguyễn Hải tên gọi khác là Khunmi Somsak, Nguyễn Quang Phục, Nguyễn Quốc Hải ở Thái Lan 4 lần về Việt Nam khảo sát, thiết lập tuyến đường bí mật xâm nhập vào Việt Nam, móc nối cơ sở, tán phát truyền đơn, thuê nhà tìm địa điểm ẩn náu cho đồng bọn.

Đồng thời, cử Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Quốc Quân về nước bằng con đường bất hợp pháp; Nguyễn Thị Thanh Vân và Trương Leon về Việt Nam bằng con đường công khai, có nhiệm vụ chỉ đạo số đối tượng trong nước biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn nhằm gây hoang mang, uy hiếp tinh thần của một bộ phận người dân..., nhưng đã bị cơ quan an ninh điều tra của ta phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Nhóm đối tượng này đã được đồng bọn trong nước cung cấp tên 40 công ty và 7.000 địa chỉ người thân nhận thư, 1.000 USD để mua thiết bị máy in, usb, tem, bì thư... để tin 7.000 tờ truyền đơn. 

Một vụ việc khác tinh vi hơn đã được Báo An ninh Thế giới Online đưa tin là việc “Việt Tân” tổ chức cho Phạm Minh Hoàng, thành viên của “Việt Tân” tại Pháp về Việt Nam làm giảng viên hợp đồng của một trường Đại học tại TP Hồ Chí Minh. Dưới bút danh Phan Kiến Quốc, tên Hoàng đã viết nhiều bài. Trong đó, 33 bài viết có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam rồi gửi cho tổ chức khủng bố Việt Tân đăng tin, tán phát trên mạng internet nhằm mục đích kích động, lôi kéo người dân biểu tình. Tháng 8-2011, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã đưa ra xét xử, tuyên bố Hoàng phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Sau khi ra tù, Hoàng tiếp tục hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia nên đã bị Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tước quốc tịch, trục xuất về Pháp vào giữa năm 2017. 

Tiếp đó, từ tháng 8-2009 đến tháng 11-2011, “Việt Tân” tổ chức đưa 17 đối tượng là cơ sở trong nước nhiều lần sang Thái Lan, Campuchia, Lào, Philippines và Mỹ để các thành viên của “Việt Tân” huấn luyện phương thức hoạt động. Ngày 2-8-2011, khi các đối tượng nhập cảnh về Việt Nam thì bị cơ quan an ninh Bộ Công an phát hiện, bắt giữ và khởi tố 17 bị can; đề nghị truy tố 14 bị can, truy nã 3 bị can.

Mới đây nhất là ngày 11-11-2019, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm 6 bị cáo về các tội: "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân," "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức." Trong vụ án này, 3 bị cáo: Châu Văn Khảm (sinh năm 1949, quốc tịch Việt Nam, Australia), Nguyễn Văn Viễn (sinh năm 1971, trú tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), Trần Văn Quyền (sinh năm 1999, trú tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh) bị truy tố về tội "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân" theo quy định tại Điều 113, khoản 2, điểm a, Bộ luật Hình sự năm 2015. Ba bị cáo còn lại là Bùi Văn Kiên, Trần Thị Nhài và Nguyễn Thị Ánh bị truy tố về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" do đã có hành vi làm giả nhiều chứng minh nhân dân, hồ sơ xin việc làm cho các đối tượng trong vụ án. Với những bằng chứng xác đáng, Hội đồng xét xử Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Châu Văn Khảm 12 năm tù; Nguyễn Văn Viễn 11 năm tù và Trần Văn Quyền 10 năm tù (cả hai bị quản thúc 5 năm sau khi mãn hạn tù). Các bị cáo còn lại Bùi Văn Kiên bị kết án 4 năm tù, Nguyễn Thị Ánh 3 năm tù, Trần Thị Nhài 3 năm tù.

Không dừng lại ở đó, trong năm 2019, số cầm đầu “Việt Tân” tại Mỹ còn chỉ đạo số đối tượng tại TP Hồ Chí Minh tính toán khả năng thực hiện một số hoạt động phá hoại ở Việt Nam vào các dịp lễ lớn. Ban đầu, Việt Tân chủ trương tiến hành đặt bom phá hoại một số tượng đài ở TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, sau đó, các đối tượng đã thay đổi kế hoạch nhằm vào TP Hà Nội theo 3 hướng. Hướng thứ nhất là đặt bom trong thùng rác công cộng ở một số địa điểm quan trọng, tập trung là khu vực trung tâm của Hà Nội. Phương án hai là kích động một số đối tượng cực đoan, quá khích tập trung gây “náo loạn” trước khu vực trung tâm chính trị nhằm tạo điểm nóng, thu hút sự chú ý của lực lượng an ninh để các đối tượng khác tiến hành đánh bom theo kế hoạch. Sau đó, bố trí ghi hình, tung lên mạng xã hội tất cả các hoạt động nhằm gây tiếng vang, vu cáo chính quyền Việt Nam “đàn áp khủng bố” các nhà “hoạt động dân chủ”, “bất đồng chính kiến”.

Đầu tháng 8-2019, trên cơ sở khuyến nghị của lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố và đề nghị của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Bộ Công an đã công bố danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố.

Ngoài danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố do Việt Nam chỉ định đã công bố là “Tổ chức khủng bố Việt Tân” và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, Bộ Công an bổ sung thêm Danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố và tài trợ khủng bố do Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc chỉ định. Danh sách những tổ chức, các nhân này đã được thông báo công khai trên trang web của Bộ Công an./.

Thấm nhuần quan điểm: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực sự là một đột phá lý luận của Đảng ta

 


 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định quan điểm “kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Bài viết đã lột tả đầy đủ được tính bản chất và sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trả lời câu hỏi định hình chủ nghĩa xã hội thế nào, và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam? Đặc biệt tôi rất tâm đắc khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích rất kỹ đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định, “một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển... Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”. Quả thực, chúng ta chưa bao giờ “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Một điển hình hết sức sinh động cho quan điểm này chính là công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại Việt Nam thời gian qua. Ngay từ đợt dịch đầu tiên, mặc dù nền kinh tế bị thiệt hại nặng nề nhưng để đảm bảo an sinh xã hội, gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng đã được ban hành, triển khai ngay nhằm hỗ trợ khoảng 20 triệu người dân đang gặp khó khăn bởi đại dịch Covid-19. Trong suốt hơn 1 năm ứng phó với dịch bệnh, Việt Nam luôn kiên trì thực hiện mục tiêu kép: “Vừa phòng, chống dịch bệnh hiệu quả, vừa phát triển kinh tế-xã hội”. Chính nhờ quan điểm “không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”,  trong cuộc chiến với dịch bệnh, Việt Nam đã nổi lên như một điểm sáng, một hình mẫu của thế giới.

Có thể khẳng định, những phân tích, luận giải về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa làm sáng rõ, là kim chỉ nam cho công cuộc Đổi mới của đất nước trong thời gian tới. Tôi tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta sẽ tiếp tục giành những thắng lợi mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Nhất quán quan điểm trong xây dựng “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

 


           Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), lần đầu tiên, Đảng ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền Việt Nam”: Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (sửa đổi, bổ sung 2011), Đảng ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này được Hiến pháp 2013 tiếp tục ghi nhận, đồng thời chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn coi trọng đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Thực tiễn qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng đầy đủ và phát triển hơn, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trên con đường đi lên CNXH.

          Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

Nhận diện: Lợi dụng vấn đề dân tộc trong chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch

 



        Tây Nguyên của Việt Nam là nơi quy tụ đồng bào thuộc nhiều dân tộc khác nhau sinh sống. Các thế lực thù địch đang tập trung vào địa bàn này để chống phá. Được thế lực phản động nước ngoài hỗ trợ, chúng tìm mọi cách vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và hiệu lực của chính quyền các cấp, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện âm mưu thành lập cái gọi là "nhà nước Đê Ga tự trị", tạo cớ để nước ngoài nhảy vào can thiệp. Chúng đã gây nên các cuộc bạo loạn chính trị ở nhiều nơi trên địa bàn Tây Nguyên (năm 2001 và 2004).

        Một số nét cơ bản về âm mưu, thủ đoạn chống phá hiện nay cho thấy, lợi dụng vấn đề dân tộc đã thực sự trở thành một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Qua công tác đấu tranh, chúng ta nhận diện âm mưu, thủ đoạn của địch trong "diễn biến hòa bình" về vấn đề dân tộc với một số nét cơ bản sau:

        - Vấn đề dân tộc là một trong những nội dung trọng tâm của "diễn biến hoà bình", được coi là vấn đề then chốt của địch nhằm phá vở khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, chia rẽ Nhân dân vvới Đảng, Nhà nước.

        - Trong vấn đề dân tộc, địch tập trung tuyên truyền nhằm "khoét sâu", "nới rộng" mâu thuẫn nội bộ dân tộc thông qua triệt để khai thác, nhào nặn thông tin, tuyên truyền tiêu cực về dân sinh, dân trí, dânchủ, môi trường tự nhiên và văn hóa, xã hội.

        - Kích động hình thành tâm lý kỳ thị, phân biệt trong một bộ phận Nhân dân; xây dựng 'ngọn cờ" nhằm tập hợp lực lượng trong đồng bào dân tộc thiểu số.

        - Tuyên truyền xuyên tạc về tình hình dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền ở các địa phương. Một mặt nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mặt khác vừa tạo 'tiếng vang', kêu gọi tài trợ, vừa thúc đẩy sự can thiệp, gây sức ép của các tổ chức Quốc tế vào đời sống chính trị nước ta.

        Thứ nhất, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiên lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch thống nhất với nhau về mục tiêu, nội dung, biện pháp chống phá cách mạng Việt Nam.

        Về mục tiêu, việc lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đều là loại hoạt động tiến công chông phá cách mạng nước ta, đi đến loại trừ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc.

        Về nội dung tiến công, phá hoại, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.

        Về biện pháp thực hiện, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ chủ yếu bằng các hoạt động phi vũ trang, bằng chính lực lượng từ bên trong có sự trợ lực, răn đe bằng sức mạnh toàn diện ở bên ngoài.

        Thứ hai, bắt nguồn từ đặc điểm Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và tầm quan trọng đặc biệt của các dân tộc trong cách mạng Việt Nam hiện nay.

        Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh (chiếm trên 86% dân số cả nước) là dân tộc đa số, còn lại 53 dân tộc (chiếm gần 16% dân số cả nước). Tuy là các dân tộc thiểu số nhưng 53 dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành bại của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, Đảng và Nhà nưởc ta luôn quan tâm sâu sắc đến vấn đề dân tộc, coi thực hiện tốt chính sách dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng.

        Thấy được tầm quan trọng của các dân tộc hợp thành quốc gia dân tộc Việt Nam, kế tục chính sách mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thực hiện trước đây, ngày nay các thê lực thù địch càng ráo riết, triệt đề khai thác, tận dụng vấn đề dân tộc, coi đó là một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nưởc ta.

        Thứ ba, vùng các dân tộc thiểu số ở nước ta đang có những khó khăn mà kẻ địch có thể lợi dụng chống phá.

        Mặc dù, đã có sự quan tâm toàn diện và sâu sắc của Đảng, Nhà nước, toàn dân, toàn quân ta, song do nhiều nguyên nhân về lịch sử, địa lý... và cả những hạn chế, sai sót trong tổ chức thực hiện, cho đến nay vùng các dân tộc thiểu số của nưốc ta vẫn còn nhiều khó khăn cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Đời sống của đồng bào các dân tộc thiêu số nhiều nơi còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hoá, đời sống và quốc phòng, an ninh còn nhiều bất cập. Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những hạn chế đó để chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, đây là một lý do giải thích vì sao lợi dụng vấn đề dân tộc trở thành một trọng điểm của chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thê lực thù địch đối vối cách mạng Việt Nam hiện nay. Từ đó, ta cần nhận thức sâu sắc và nêu cao cảnh giác, đối phó./.