Thứ Hai, 2 tháng 10, 2023

Bác Hồ dạy đạo làm tướng

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm giáo dục, rèn luyện các vị tướng và coi đó là một nội dung quan trọng để quân đội thực sự là đội quân cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Những mẩu chuyện sau đây là những ví dụ cụ thể...

“Dĩ công vi thượng”

Nhân dịp Hội thảo kỷ niệm lần thứ 115 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 2005), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kể lại một hồi ức về lời dạy của Bác đối với Đại tướng.

Đó là một buổi tối mùa đông lạnh lẽo, trong hang Pác Bó (Cao Bằng), Bác Hồ giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ tổ chức “Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”. Hang nhỏ nằm sâu trong khe núi. Trong hang tối, không khí ẩm và lạnh. Đồng chí Võ Nguyên Giáp nhặt những cành củi khô nhóm một ngọn lửa sưởi ấm cho Bác. Khói bốc cay sè, củi nổ tí tách. Nằm bên Bác trên một chiếc giường lát bằng cành cây, đồng chí Võ Nguyên Giáp lắng nghe tiếng Người nói nhỏ nhẹ đều đều, giọng xứ Nghệ ấm áp. Câu chuyện đến quá nửa đêm, bàn về vấn đề chuẩn bị phát động vũ trang khởi nghĩa. Bỗng nhiên Bác dừng lại nói: “Chú Văn ạ, làm cách mạng là phải dĩ công vi thượng”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Bác chỉ nói ngắn bốn chữ như vậy thôi mà tôi nhớ mãi và phấn đấu làm theo lời Bác suốt đời cho đến tận ngày nay. Dĩ công vi thượng là cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích chung lên trên hết, tất cả vì nước vì dân, đặt lợi ích của dân, của nước, của Ðảng lên trên hết, đem lòng chí công vô tư mà đối xử với người, với việc, không mảy may có chút chủ nghĩa cá nhân”.

Sau đó, ngày 28-5-1948, tại lễ thụ phong quân hàm Đại tướng đối với đồng chí Võ Nguyên Giáp-Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ý nghĩa của việc phong quân hàm: “Hôm nay việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác cũng là kết quả của bao nhiêu hy sinh, chiến đấu của đồng bào, đồng chí”.

Lời nhắn nhủ của Bác trong lễ phong tướng đã đi theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp suốt cuộc đời. Sau này, rất nhiều báo chí nước ngoài tung hô ông là “vị tướng huyền thoại”, “thiên tài quân sự”... nhưng ông đã khiêm nhường trả lời: “Vị tướng tài nhất là Nhân dân Việt Nam”. Trong một cuộc hội thảo, Đại tướng cho rằng, ở Việt Nam, danh hiệu vẻ vang nhất là danh hiệu đảng viên và nhấn mạnh: “Chúng ta nhớ tới biết bao đảng viên ưu tú đã một lòng vì nước vì dân, nêu cao tinh thần gương mẫu trong cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc 10.000 ngày, không quản gian khổ hy sinh, sẵn sàng xả thân để giành chiến thắng. Tại mặt trận, trước tình huống khó khăn, gay go, quyết liệt đã vang lên tiếng thét: “Các đảng viên cộng sản tiến lên!”, “Ai là người theo Ðảng hãy tiến lên!”. Hai tiếng đảng viên thiêng liêng và hành động tiên phong gương mẫu của đảng viên đã có sức mạnh cổ vũ đồng đội xông lên tiêu diệt kẻ thù, giành thắng lợi”. Từ đó, Đại tướng cho rằng: “Cán bộ cấp càng cao thì tác dụng gương mẫu càng quan trọng. Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Ðảng, Nhà nước, quân đội, các đoàn thể, ở Trung ương và địa phương, thủ trưởng các ban, ngành, các đơn vị sản xuất và chiến đấu hãy nêu cao vai trò gương mẫu về đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Dĩ công vi thượng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

“Suốt đời phục vụ nhân dân”

Ngày 31-8-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 36/SL phong quân hàm cấp tướng cho 16 sĩ quan quân đội. Dự lễ phong quân hàm ngày 1-9-1959, Bác Hồ căn dặn: “Dù ở cương vị nào chúng ta cũng đều phải cố gắng để xứng đáng là người đầy tớ trung thành và tận tụy của nhân dân”. Thay mặt những đồng chí được phong quân hàm cấp tướng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã phát biểu và trân trọng hứa: “Luôn luôn làm đúng lời căn dặn của Bác, giữ vững lập trường trọn đời phục vụ nhân dân”.

Thực hiện lời hứa với Bác, suốt cuộc đời mình, bao giờ Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng giữ vững nguyên tắc lời nói đi đôi với việc làm. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 70 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có bài viết “Học tập tinh thần phục vụ nhân dân vô điều kiện của Hồ Chủ tịch” đăng trên Báo Quân đội nhân dân số 737 ngày 19-5-1960, trong đó khẳng định: “Cảnh nước mất nhà tan đã thôi thúc Hồ Chủ tịch ra đi làm cách mạng với tinh thần phục vụ nhân dân vô điều kiện làm tiêu chuẩn hành động và chiến đấu của mình. Cả cuộc đời của Hồ Chủ tịch gắn liền với đời sống vật chất, tinh thần, năng lực, trí tuệ tình cảm của nhân dân... Người chỉ và chỉ nghĩ đến việc phục vụ nhân dân, sống như nhân dân, nói và viết như nhân dân và vì nhân dân”. Đây là một trong những bài viết quan trọng, như một lời hứa của lực lượng vũ trang đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, cuộc đời “sáng trong như ngọc một con người” của ông chính là minh chứng sống động nhất về thực hiện lời hứa của một vị tướng với Bác Hồ.

“Cần nhiều nhân tướng”

Thượng tướng Đàm Quang Trung kể lại một kỷ niệm sâu sắc về một lần được Bác dặn dò khi ông nhận lệnh lên đường vào miền Nam chiến đấu: “Rồi tôi nhận lệnh vào miền Nam chiến đấu. Trước khi đi, Bác gọi tôi lên gặp để Bác dặn dò. Bác hỏi thăm tình hình gia đình tôi và hỏi chú có gặp khó khăn gì không. Tôi thưa với Bác là tôi đã chuẩn bị sẵn sàng... Trong phòng lúc ấy chỉ có hai Bác cháu. Tự nhiên tôi bỗng cảm thấy bùi ngùi. Ngày mai xa Bác, gần một năm được sống bên Bác, được Bác chăm sóc yêu thương, ân cần dạy dỗ. Thời gian một năm được sống gần Bác, tôi như được qua một trường huấn luyện đặc biệt hiếm có”.

Bác dạy đồng chí Đàm Quang Trung về đạo làm tướng: “Chú lên đường đi chiến trường xa xôi. Bác nói với chú về nhân cách một người làm tướng. Trong tướng có nhiều loại:  Mãnh tướng như Trương Phi, dũng tướng như Quan Vân Trường, hổ tướng như Triệu Tử Long. Các loại tướng như thế đều tốt. Nhưng theo Bác, cuộc chiến đấu của chúng ta cần nhiều nhân tướng, vì đây là cuộc chiến đấu vì con người. Nhân tướng là người tướng hiểu con người, biết quý con người, biết dùng người và được mọi người yêu quý. Chỉ có những vị tướng như thế mới trăm trận trăm thắng được”.

Không nên nóng nảy với cấp dưới

Năm 2007, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản sách “Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Trong đó có chuyện Thượng tướng Phùng Thế Tài được Bác rèn luyện, nhắc nhở sửa chữa tính nóng nảy với cấp dưới. Đồng chí Phùng Thế Tài vốn là chiến sĩ bảo vệ Bác trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng chí Phùng Thế Tài lúc này đã trở thành chỉ huy một đơn vị lớn, nhưng đôi khi, ông hay quát mắng, thậm chí bợp tai cấp dưới (bản tính ông ngay thẳng, tuy đôi lúc nóng nảy nhưng được cán bộ, chiến sĩ dưới quyền yêu quý-TG). Được nghe “dư luận” về Phùng Thế Tài, một hôm, Bác cho gọi lên Việt Bắc. Bác dặn Trạm đón tiếp khu ATK, dù có đến sớm, cũng giữa trưa mới cho ông vào gặp Bác.

Trời mùa hè, nắng chang chang, đi bộ giữa trưa, đồng chí Phùng Thế Tài vã cả mồ hôi, người như bốc lửa. Đến nơi, Bác đã chờ sẵn. Trên bàn đã đặt hai cốc nước, một cốc nước sôi có ý chừng vừa như mới rót, bốc hơi nghi ngút, còn cốc kia là nước lạnh. Sau khi chào hỏi xong, Bác chỉ vào cốc nước nóng nói: “Chú uống đi”. Đồng chí Phùng Thế Tài kêu lên: “Trời nắng thế này mà Bác lại cho nước nóng làm sao cháu uống được”. Bác mỉm cười: “Đấy nhé, nước nóng, cả chú và tôi đều không uống được. Khi chú nóng, cả chiến sĩ của chú và cả tôi cũng không tiếp thu được. Hòa nhã, điềm đạm cũng như cốc nước nguội dễ uống, dễ tiếp thu hơn”. Hiểu ra lời dạy của Bác, đồng chí Phùng Thế Tài nhận lỗi, hứa sẽ sửa chữa…

“Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung”

“Đạo làm tướng” đầy đủ nhất theo tư tưởng Hồ Chí Minh, được Người đưa ra tại Hội nghị Quân sự lần thứ V (tháng 8-1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dạy mỗi tướng lĩnh phải: “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung”.

Theo quan điểm của Bác: Làm tướng không phải để hưởng lợi cá nhân, mà phải tuyệt đối trung thành, phụng sự sự nghiệp cách mạng của Đảng, Tổ quốc và nhân dân được tốt hơn. Vinh dự thật to lớn nhưng trách nhiệm hết sức nặng nề. Mỗi sĩ quan cấp tướng phải thực sự tiêu biểu về trí tuệ, bản lĩnh và nhân cách, tuân thủ kỷ luật, Hiến pháp, pháp luật. Người làm tướng phải có tri thức, đạo lý, nhân cách, có dũng khí, sống nhân văn, liêm chính, chí công vô tư, thực sự là chỗ dựa đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Dưới con mắt của nhân dân, người làm tướng cũng phải thực sự là hình mẫu tiêu biểu của sự khiêm nhường, cầu thị, trọng dân, gần dân, vì nhân dân phục vụ, có khả năng dẫn dắt cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

MỘT NHÂN CÁCH LỚN - MỘT TẤM GƯƠNG SÁNG TRONG VIỆC HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - một nhà lãnh đạo có tâm, có tầm, luôn toàn tâm, toàn ý hy sinh cống hiến cho lợi ích chung của nước, của dân, của Đảng mà không hề màng quyền lực, bổng lộc, vun vén lợi ích cá nhân. Có thể nói người đứng đầu Đảng ta là điểm hội những tinh hoa của đất nước và con người Việt Nam trong hòa bình, hội nhập. Chỉ những con người như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - một người luôn biết yêu mảnh đất này, Tổ quốc này thì mới biết buồn nỗi buồn của dân, biết lo nỗi lo của dân và luôn đau đáu tìm tòi, sáng tạo, phấn đấu làm sao để giúp nhân dân mình, đất nước mình sớm thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, sánh vai với các cường quốc năm châu. Tình yêu Tổ quốc cao quý, thiêng liêng lắm và chính nó cùng với ý chí, nghị lực được tôi luyện trong những thăng trầm của lịch sử đất nước đã tạo nên nhân cách con người Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Những gì mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói và làm đã chiếm trọn niềm tin yêu, kính trọng của nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Sự ngưỡng mộ, lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc đối với đồng chí Tổng Bí thư của người dân Việt Nam trong và ngoài nước được tỏ bày qua nhiều bài viết, lời thơ. Những bài viết, bài thơ ấy không chỉ là thể hiện tấm lòng, tình cảm của cá nhân mình mà họ đã nói hộ tình cảm, tấm lòng của nhân dân Việt Nam dành cho người đứng đầu Đảng ta.

Lịch sử dân tộc Việt Nam thời nào cũng thế, mỗi khi đất nước đứng trước những thử thách lớn lao thì bao giờ cũng xuất hiện những anh hùng hào kiệt. Trong thời bình, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi đất nước ta đứng trước nhiều nguy cơ, khó khăn, thách thức. Nếu như thời chiến tranh cả dân tộc dồn tâm, dốc sức cho một mục tiêu là chống giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước, giữ gìn và bảo vệ giang sơn, bờ cõi thì nay trong điều kiện hòa bình chúng ta phải làm nhiều nhiệm vụ, thực hiện nhiều mục tiêu, đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức, trong đó nguy hiểm nhất sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đặc biệt là tệ tham nhũng, tiêu cực. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xem tham nhũng, tiêu cực là thứ “giặc nội xâm”. Cuộc đấu tranh phòng, chống loại giặc nguy hiểm này vô cùng khó khăn, phức tạp bởi nó ở ngay trong chính nội bộ ta.

Sau bao năm tưởng chừng như chúng ta bất lực trước sự hoành hành của loại giặc này thì ở vào thời điểm khó khăn, phức tạp nhất đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuất hiện. Những gì mà người đứng đầu Đảng ta đã làm và những kết quả quan trọng đạt được trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã khẳng định tinh thần chiến đấu kiên quyết, kiên trì, không ngừng, không nghỉ trong phòng, chống “giặc nội xâm” vì sự trong sạch vững mạnh của Đảng, của hệ thống chính trị, vì sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa và vị thế của dân tộc Việt Nam.

Tinh thần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chính là tinh thần của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và của toàn dân, của cả dân tộc Việt Nam. Từ những việc đã làm và kết quả đã đạt được, nhân dân ta đặt trọn niềm tin tuyệt đối vào người lãnh đạo cao nhất của Đảng ta - người đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo kiên trì, chắc chắn, kiên quyết và cũng rất nhân văn cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tinh thần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chính là kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong điều kiện mới, với đối tượng mới đó là chống “giặc nội xâm”.

Nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước đặt trọn niềm tin yêu ở đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mà cao hơn thế bạn bè quốc tế đặt trọn niềm tin và lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cả dân tộc Việt Nam, đặt trọn niềm tin ở công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang dày công xây dựng. Với những gì mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã làm và những thành tựu đã đạt được, bạn bè quốc tế tin tưởng rằng công cuộc đổi mới của nhân dân ta sẽ tiếp tục gặt hái thêm nhiều thành công mới, vị thế, uy tín của Việt Nam sẽ ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

KHI BÁO CHÍ QUAY LƯNG LẠI VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC

 

Nhìn lại, 20/07/2022, vào 68 năm về trước, Hiệp định Genève được kí kết giữa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Đây là kết quả của biết bao nhiêu nỗ lực, máu xương, mồ hôi, nước mắt… của người dân Việt Nam nói riêng và cả khối Đông Dương nói chung nhằm chấm dứt sự đô hộ của Thực dân Pháp. Cũng vào ngày này năm ấy, hơn 20 quốc gia châu Phi và nhiều quốc gia khác ở Nam Mỹ đã cùng tổ chức “Ngày Việt Nam” nhằm ủng hộ Việt Nam độc lập, tự do và mở ra phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa… Nhưng sự kiện này "lạc trôi" đi đâu mất và im lìm không được mấy quan tâm.

Lướt qua báo chí, chúng ta thấy gì? Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Dân Trí, Người Lao Động… đồng loạt đăng bài ca tụng tưởng nhớ Tô Văn Lai - sáng lập ra Thúy Nga Paris, người tạo ra những Đan Nguyên, Khánh Ly, Nguyễn Ngọc Ngạn… và những chương trình chống phá đất nước cực kỳ dữ dội trước năm 2010. Trong thời gian ở Paris, Tô Văn Lai được cho là có liên kết với Bùi Tín, quyên góp tiền cho Việt Tân, từng ủng hộ rất nhiều các “Chính phủ lâm thời Việt Nam hải ngoại”, đưa tin truyền thông cho bạo loạn FULRO ở Tây Nguyên… Trong khoảng ít năm trở lại đây, Tô Văn Lai lặng im và không tham gia bày tỏ quan điểm chính trị để Thúy Nga Paris ít bị ảnh hưởng và có cơ hội trở lại hoạt động ở quê nhà Việt Nam.

Một người như vậy, được xuất hiện đường hoàng trên trang nhất của những tờ báo lớn nhất Việt Nam. Người ta sử dụng những mỹ từ như “giáo sư Tô Văn Lai và những cống hiến cao đẹp”, “một người thầy của showbiz Việt” (?), “một người nghệ sĩ vì người hâm mộ”... Có cảm tưởng như người ta đang mô tả một vĩ nhân, một người nổi tiếng có ảnh hưởng trọng đại đến dân tộc, một người có công lao vô cùng to lớn đến Tổ Quốc…

Mình nhớ đến những ngày 22/12 năm ngoái, nhạc sĩ hải ngoại Lâm Phương mất và báo chí đồng loạt lên bài ca tụng, chúc mừng, thương tiếc... Và những tin tức về vị nhạc sĩ này còn lên tận trang chủ của nhiều tờ báo, mặc cho ngày 22/12 là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và hôm đó cũng là dịp kỉ niệm 110 năm ngày sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Báo chí lại đi tẩy trắng cho những người đã chống đối đất nước quyết liệt? Những người thậm chí còn không đường hoàng nói lời xin lỗi và hòa hợp dân tộc. Báo chí lại đi ca tụng một người vượt biên về ghi những thước phim chống phá đất nước và bị bắt rồi trục xuất khỏi đất nước?

Báo chí phải chăng là đang phản cách mạng?

Hãy nhìn báo chí Trung Quốc, Hàn Quốc nói gì về những con người quay lưng lại Tổ Quốc? Hãy nhìn cách họ đã và đang làm gì để bảo vệ lịch sử dân tộc.

Báo chí phải chăng là đang quay lưng lại với lịch sử? Báo chí phải chăng là là một kẻ thù ở ngay đằng sau?

ĐẠO LÀM TƯỚNG VÀ PHÉP DỤNG BINH CỦA TRẦN HƯNG ĐẠO

 


Đức Thánh Trần nêu ra quan điểm với lời lẽ rất cụ thể, dung dị nhưng bao quát được mọi vấn đề của cái đạo làm tướng và phép dụng binh mà hôm nay chúng ta có thể học để đào tạo cán bộ quân sự. 

VỀ ĐẠO LÀM TƯỚNG

Khí lượng của tướng lớn nhỏ khác nhau.

Tướng mà che điều gian, giấu điều họa, không nghĩ đến điều quân dân oán ghét - tướng ấy chỉ huy mười người.

Tướng mà sớm dậy khuya nằm, lời lẽ kín đáo - tướng ấy chỉ huy được trăm người.

Tướng thẳng mà biết lo, mạnh mà giỏi đánh - đó là tướng chỉ huy được nghìn người.

Tướng mà ngoài mặt hăm hở, trong lòng ân cần, biết người khó nhọc, thương kẻ đói rét - đó là tướng chỉ huy được vạn người.

Tướng mà gần người, tiến người tài, ngày thường cẩn thận, thành thực rộng rãi, giỏi việc dẹp loạn - đó là tướng chỉ huy được mười vạn người.

Tướng mà dùng nhân ái đối với kẻ dưới, lấy tín nghĩa để phục nước láng giềng, trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, giữa biết việc người, coi bốn biển như một nhà - đó là tướng chỉ huy được cả thiên hạ không ai địch nổi.

VỀ PHÉP DỤNG BINH

Về quyết tâm đánh giặc và thắng giặc: "Bệ hạ muốn hàng, trước hết hãy chém đầu thần đi đã”.

Về nguồn gốc làm nên sức mạnh đánh giặc: “Lấy khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.

Về đoàn kết nội bộ: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức", "quân cốt tinh không cốt đông, trên dưới một dạ như cha con…”.

Về tư duy quân sự lấy nhỏ thắng lớn, đem đoản binh chống trường trận: “Tiêu dân thanh dã, đoản binh phục hậu”, "dĩ đoản chế trường”..

Về tầm nhìn chiến lược và đánh giá địch ta: “Người giỏi thắng không cần thắng nhiều lần, mà cần toàn thắng, đảm bảo thắng”, "Năm nay thế nước đánh giặc nhàn”,

Về thế trận chiến tranh nhân dân: “Hình dáng trận như chữ nhân, tiến cũng là chữ nhân, thoái cũng là chứ nhân, họp lại cộng làm một người, tan ra cũng làm một người, một người làm một trận, nghìn muôn người hợp làm một trận, nghìn muôn người động làm một trận”.

NGHĨ VỀ PHƯƠNG PHÁP XEM NGƯỜI CHỌN TƯỚNG CỦA HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

 

Đức Thánh Trần nêu ra 8 điểm với lời lẽ rất cụ thể, dung dị nhưng bao quát được mọi vấn đề của cái đạo làm tướng mà hôm nay chúng ta có thể học để chọn người làm quan chức.

Trong 8 điểm ấy, hai cách đầu tiên có thể hình dung là một thử thách theo kiểu “trực quan sinh động”:

1-    Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không.

2-    Gạn cũng bằng lời lẽ xem có biến hóa không.

Phàm đã là người làm tướng (hay chuẩn bị bổ nhiệm làm quan chức) thì phải am hiểu lĩnh vực mà mình phụ trách. Đó phải là tiêu chí đầu tiên khi xem xét đến các tiêu chí khác. Không những thế, phải dự kiến cả những phương án hóa giải khó khăn, thử thách nếu gặp phải để bảo toàn lực lượng (nếu là người làm tướng), để giữ vững sự ổn định và phát triển của ngành, đơn vị, địa phương mà mình lãnh đạo (nếu là quan chức).

Hai cách tiếp theo đã được nâng lên một cấp độ cao hơn:

          3- Cho gián điệp thử để xem có trung thành không.

4- Hỏi rõ ràng tường tận xem đức hạnh thế nào.

Với người làm tướng (hay quan chức), mọi việc làm, quyết định của họ có ảnh hưởng lớn đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì vậy sự trung thành và lòng yêu nước phải được thử thách, kiểm chứng và bản thân họ phải chứng tỏ được tài năng, đức độ, có tấm lòng nhân hậu, bao dung.

Muốn chọn được tướng giỏi (hay chọn quan chức có năng lực) thì 4 điểm nêu trên mới chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn tiếp tục đưa ra những yêu cầu mới, cao hơn, nghiệt ngã hơn để thử thách người làm tướng:

5- Lấy của để mà thử xem có thanh liêm không.

6- Lấy sắc đẹp mà thử xem có đứng đắn không.

Có thể nói, đây là một thử thách thực sự phải vượt qua nếu muốn trở thành người làm tướng (hay quan chức) có tài, có đức. Từ cổ chí kim đã cho chúng ta thấy, nhiều bậc quân vương, nhiều công hầu khanh tướng cũng tài ba lỗi lạc, cũng muốn vì lợi ích quốc gia, dân tộc nhưng lại không đủ bản lĩnh vượt qua cái bẫy “tiền tài” và “gái đẹp”, trở thành bạo chúa, hại nước, hại dân để lại tiếng nhơ muôn đời.

Hai điểm cuối cùng mà Đức Thánh Trần đề ra để chọn tướng cho thấy yêu cầu vô cùng khắt khe trước khi quyết định giao sinh mệnh ba quân cho một con người:
          7- Lấy việc khó khăn mà thử xem có dũng cảm không.

8- Cho uống rượu say mà thử xem có giữ được thái độ không.

Phàm đã là người làm tướng phải xông pha trận mạc (cũng như người làm quan chức phải biết đứng mũi chịu sào) nếu không có lòng dũng cảm, ngại khó khăn thì dễ nản chí, không có được những quyết định sáng suốt, kịp thời, xử lý tình huống những hoàn cảnh tưởng chừng như bế tắc thì thiệt hại do họ gây ra sẽ vô cùng lớn. Phải có bản lĩnh, làm chủ được mình, nếu để men rượu điều khiển hành vi thì hậu quả sẽ khó lường.

Chuyện thời Tam Quốc có Trương Phi tính tình nóng nảy, trong khi say rượu thường hung hăng đánh đập quân sĩ. Vì không nghe lời dặn của Lưu Bị, trước khi mang quân đi đánh Ngô, Trương Phi lại say rượu đánh đập Phạm Cương và Trương Đạt là hai tướng dưới trướng để đến nỗi bị Phạm, Trương giết chết, rồi bọn chúng cắt đầu Trương Phi sang hàng Đông Ngô. Người làm tướng như Trương Phi không chết oanh liệt ở sa trường mà chết vì bị rượu điều khiển làm điều xằng bậy. Cái chết đó chẳng những thiệt thân mà còn góp phần khiến cho sự nghiệp của Lưu Bị sớm bị bại vong. Đó há chẳng phải là lời cảnh tỉnh nhãn tiền sao?

Đọc xong 8 điểm trong phương pháp xem người chọn tướng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, thử nhắm mắt lại hình dung, ta thấy được nhãn quan của một vĩ nhân suốt cuộc đời quên lợi ích riêng tư, toàn tâm toàn ý vì muôn dân và đất nước. Và phương pháp ấy đã chọn lọc cho nhà Trần những người hiền tài, đồng lòng dốc sức tạo nên một sức mạnh vô biên của nước Đại Việt ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông – một đạo quân tưởng chừng như bách chiến bách thắng, chiếm gần trọn cả châu Á, châu Âu vẫn phải chịu thảm bại, khuất phục trước hào khí Đông A.

ĐẠO LÀM NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Khi bàn về vai trò của đạo làm người, các tôn giáo, các trường phái triết học đều dựa trên cái thiện, trong sáng, lành mạnh, chân chính để mưu cầu hạnh phúc, an bình cho con người; và đều khuyên con người phải thực hiện đạo làm người để trở thành những công dân tốt, có ích cho cộng đồng, cho xã hội cũng như thực hiện tốt vai trò, bổn phận đối với quốc gia. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể ở nước ta, đồng thời kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về cách mạng Việt Nam, trong đó có quan điểm về đạo làm người, coi đó là một phần không thể thiếu của đạo đức và rèn luyện đạo đức, vì đạo đức là gốc, là nền tảng cần có để mỗi người sống và làm việc đúng đạo lý.

Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo làm người

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức. Phải làm sao đóng góp làm cho nước được độc lập, dân được tự do, hạnh phúc, nhân loại khỏi đau khổ"[1]. Người cũng xem đạo làm người là một phần không thể thiếu của đạo đức. Tựu trung, đạo làm người trong tư tưởng Hồ Chí Minh có những nội dung cơ bản sau:

Mỗi người luôn phải học tập, rèn luyện hoàn thiện đạo đức, nhân cách để trở thành người có ích cho xã hội; đặc biệt là tinh thần tự tu thân, nhất là đối với người cán bộ cách mạng. Đây là nội dung mang tính nguyên tắc, dù trong hoàn cảnh nào, mỗi người cũng luôn phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, nhân cách để góp phần xây dựng cuộc sống độc lập, hạnh phúc, ấm no. Việc tu dưỡng đạo đức phải gắn liền với hoạt động thực tiễn, trên tinh thần tự giác, tự nguyện và phải tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ suốt đời.

Luôn thống nhất giữa lời nói và việc làm, phải nêu gương về đạo đức. Trong gia đình, cha mẹ làm gương cho các con, anh chị làm gương cho em, ông bà làm gương cho con cháu; trong đơn vị, lãnh đạo làm gương cho cán bộ, nhân viên; ở nơi cư trú thì đảng viên phải làm gương trước quần chúng. Muốn hướng dẫn nhân dân làm theo, người cán bộ, đảng viên phải tiên phong đi trước, làm trước. Hoàn thành tốt nhất mọi nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó cũng là một nguyên tắc trong đạo lý làm người và là điều kiện không thể thiếu của mỗi con người, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên.

Đồng thời thực hiện tốt vai trò, bổn phận với gia đình, với tập thể và với xã hội. Trong xã hội, mỗi người có vị trí, vai trò, trách nhiệm được quy định bởi luật pháp hoặc bởi những nguyên tắc, hương ước do con người xây dựng nên. Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân. Do vậy, mỗi người phải tự giác tuân theo pháp luật, kỷ luật lao động, hăng hái tham gia công việc chung, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nước nhà, xây dựng gia đình hạnh phúc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nước là nước của dân và dân là chủ của nước. Do vậy, vai trò, trách nhiệm công dân bao trùm trách nhiệm với Tổ quốc, nhân dân và gia đình.

Để thực hiện đạo làm người, mỗi người phải tự học tập, rèn luyện những phẩm chất đạo đức là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ý thức tuân thủ pháp luật, có tinh thần quốc tế trong sáng... Trong đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng yêu nước là phẩm chất quan trọng, bao trùm và chi phối các phẩm chất khác. Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng, người cán bộ, đảng viên phải gắn bó với dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, kính trọng và hết lòng vì dân. Phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Tình yêu thương con người thể hiện trước hết là tình thương yêu nhân dân, người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột; mỗi người phải có tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản, đoàn kết với nhân dân các dân tộc bị áp bức và dám dấn thân để đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột.

Trong mối quan hệ giữa đức và tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ cách mạng không thể thiếu thiếu mặt nào và khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"[2]. Và đạo làm người còn là sự giản dị, hòa đồng với thiên nhiên, không trái với tự nhiên, tuân thủ các quy luật khách quan. Tóm lại, theo Người, đạo làm người là suốt đời tu dưỡng đạo đức, phải thống nhất giữa nói và làm, để quy tụ và lãnh đạo quần chúng quét sạch chủ nghĩa cá nhân, tạo nên sức mạnh nội sinh to lớn của dân tộc trong thời đại mới, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách, khó khăn và giành thắng lợi.

Giảm phiền hà, tăng sự gắn kết

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Chống tham ô lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận".

Minh bạch và kỷ cương hành chính

Thực tế thời gian qua, “tham nhũng vặt”, gây sách nhiễu, phiền hà cho người dân, doanh nghiệp có thể không tạo ra những hậu quả nhãn tiền như các vụ tham nhũng lớn, nhưng lại như những “ổ mối nhỏ ăn mòn con đê”, gây ra bức xúc cho người dân. Bởi thế việc đấu tranh với “tham nhũng vặt", nhũng nhiễu trong giải quyết công việc để vụ lợi luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng được các cấp, các ngành đặc biệt nhấn mạnh trong xây dựng chính quyền và nâng cao chất lượng công vụ.

Tại Hà Nội, học tập và làm theo tư tưởng của Bác, việc chống nhũng nhiễu, phiền hà cho người dân trong giải quyết công việc luôn được chú trọng. Trong đó, Thành phố đã rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, công khai minh bạch các hoạt động kinh tế - xã hội và công tác cán bộ; quy trình, thủ tục giải quyết công việc. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4; ngăn chặn biểu hiện “xin - cho”, giảm tình trạng “tham nhũng vặt”. Hà Nội cũng chọn những lĩnh vực nhạy cảm để kiểm tra, giám sát thường xuyên. Kiên quyết xử lý các vi phạm, chuyển ngay sang cơ quan điều tra các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật kinh tế, tham nhũng.

Đặc biệt, với việc triển khai Đề án về "Đẩy mạnh công tác phát hiện, ngăn chặn, xử lý tình trạng tiêu cực, gây phiền hà, nhũng nhiễu người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc trên địa bàn TP Hà Nội", đã xây dựng được văn hóa công vụ, phòng ngừa được tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực. Đồng thời, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thu, quản lý, sử dụng phí, lệ phí, quy trình giải quyết thủ tục hành chính để góp phần ngăn ngừa kịp thời phát hiện các hành vi nhũng nhiễu ở cơ sở…

Vừa qua, trong Chỉ thị số 01/CT-UBND của Chủ tịch UBND TP Hà Nội về việc tăng cường thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại các cơ quan, đơn vị năm 2022, vấn đề này cũng được nhấn mạnh. Theo đó, để tổ chức triển khai hiệu quả chủ đề công tác năm 2022 “Kỷ cương, trách nhiệm, hành động, sáng tạo, phát triển”, Thành phố sẽ nâng cao hơn nữa tinh thần, ý thức trách nhiệm trong công việc của mỗi cán bộ, công chức, viên chức nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính. Đồng thời, nghiêm cấm hành vi gây nhũng nhiễu, phiền hà, trục lợi khi xử lý, giải quyết công việc liên quan đến người dân, tổ chức và doanh nghiệp.

Chấn chỉnh vi phạm, tăng sự hài lòng

Việc các cấp, ngành, đơn vị thực hành nghiêm việc phát hiện và xử lý kịp thời đối với các hành vi, các biểu hiện, hành vi vi phạm đạo đức công vụ, văn hóa ứng xử trong thực hiện công vụ và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức và công dân cũng góp phần mang lại sự kỳ vọng và thêm niềm tin của người dân với các cấp chính quyền.

Đặc biệt, nhiều đơn vị tại Hà Nội cũng đã có những cách làm hay như xây dựng bản cam kết duy trì thực hiện kỷ cương, trách nhiệm, tận tụy, chuyên nghiệp với công việc được giao; không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tiêu cực. Tăng cường công khai, minh bạch các cơ chế, chính sách, chế độ; công tác cán bộ, nhất là trong bổ nhiệm, tuyển dụng. Đồng thời, mọi hoạt động quản lý hành chính, đặc biệt là trong công tác thực hiện đầu tư; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng được công khai, cùng với tăng ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành… đã tạo điều kiện cho người dân giám sát, phòng ngừa các vi phạm.

Bằng kinh nghiệm nhiều năm qua và kết quả đã có, Hà Nội đang tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn triệt để các biểu hiện gây phiền hà, nhũng nhiều người dân, doanh nghiệp. Tại nhiều địa phương, các giải pháp được áp dụng đại trà đã tạo chuyển biến rõ nét trong mối quan hệ giữa chính quyền với người dân, từ đó loại trừ những vi phạm phát sinh, củng cố thêm niềm tin, tăng thêm sự gắn kết./.

THAM Ô, LÃNG PHÍ, QUAN LIÊU LÀ THỨ GIẶC Ở TRONG LÒNG

 

Cuộc đấu tranh chống giặc nội xâm suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tuy đã đạt được một số kết quả bước đầu nhưng chưa nhiều, chưa vững chắc và có chiều hướng ngày càng khó khăn, phức tạp bởi loại giặc này diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp, lúc ẩn, lúc hiện. Trước tình hình đó, những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống giặc nội xâm càng hữu ích, thiết thực.

     Năm 1952, nhân dịp phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Thực hành tiết kiệm và chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu. Người cho rằng: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình”. Giặc nội xâm chính là “giặc ở trong lòng”, là tham ô, lãng phí, quan liêu. Giặc nội xâm ở bên trong mỗi con người, mỗi cơ quan đoàn thể. Giặc bên ngoài dễ nhìn ra, dễ phát hiện; còn giặc ở bên trong, khó phát hiện, không dễ nhìn thấy. Vì giặc nội xâm và ngoại xâm cấu kết nhau, chúng ta không chỉ chống giặc bên ngoài, giặc ngoại xâm, mà còn phải chống giặc bên trong, giặc nội xâm. Nếu chỉ ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình.
Hồ Chí Minh đã phân tích rõ các biểu hiện của giặc nội xâm, giặc ở trong lòng. Giặc nội xâm đầu tiên là tham ô. Với cán bộ, tham ô là ăn cắp, ăn bớt của công làm của tư, đục khoét của nhân dân, tiêu ít mà khai nhiều; lợi dụng của chung, của Chính phủ làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình. Giặc nội xâm nguy hại hơn là lãng phí. Theo Người, lãng phí thể hiện dưới nhiều dạng, như: Lãng phí sức lao động, thời giờ, của công, lãng phí nhiều khi tai hại hơn nạn tham ô.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng căn nguyên của nạn tham ô, lãng phí là bệnh quan liêu. Vì những người và những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng; đối với công việc thì trông hình thức mà không xem xét khắp mọi nơi, không hiểu cặn kẽ vấn đề, chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi, đến chốn. “Nói tóm lại, vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấu suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững, kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí”.
Theo Hồ Chí Minh, tham ô, lãng phí, quan liêu là kẻ thù nguy hiểm. Vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó ở ngay trong các tổ chức của ta, làm hỏng công việc, tinh thần trong sạch và ý chí vượt khó của cán bộ ta. Những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của nhân dân, tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám. Tham ô, lãng phí, quan liêu vẫn còn thì cách mạng vẫn chưa hoàn toàn thành công.
Hồ Chí Minh cho rằng, có những người trong lúc đấu tranh thì hăng hái, trung thành; không sợ nguy hiểm, gian khổ, không sợ địch, nghĩa là có công với cách mạng; song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác đấu tranh với chính mình, cho nên lại thành người có tội với cách mạng. Đáng sợ hơn là, có những người miệng thì nói phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, nhưng dễ dàng phạm vào tham ô, lãng phí, hại đến Tổ quốc, nhân dân. Theo Người, tác hại của loại giặc nội xâm này chẳng khác nào như cỏ dại đối với lúa; muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch, nếu không thì dù cày bừa có kỹ, bón phân nhiều, lúa vẫn xấu vì lúa bị cỏ át đi.
Tại dự Lễ khai mạc Lớp chỉnh huấn cán bộ đảng, dân, chính các cơ quan Trung ương (ngày 6-2-1953), Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Việc đấu tranh với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ, nhưng việc đấu tranh với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”. Kẻ định trong người, trong tinh thần cũng là giặc nội xâm, bao gồm mọi cái xấu xa nói chung, mà chủ yếu là chủ nghĩa cá nhân, là tham ô, lãng phí, quan liêu. Việc đấu tranh với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ, vì nó ở bên ngoài, chúng ta dễ nhìn thấy, dễ phát hiện; còn việc đấu tranh với kẻ địch trong người, trong tinh thần, trong nội bộ là một khó khăn không chỉ trong nhận diện, mà còn khó khăn trong lúc tiến hành đấu tranh, vì mình phải cắt bỏ chính bản thân mình, cũng giống như cắt bỏ cái ung nhọt, dù phải cắt bỏ nhưng vô cùng đau xót.
Trong bài nói chuyện tại buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu ngày 18-1-1949, Người nói: “Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”. Và sau này, khi nêu ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách người tốt, việc tốt, (6-1968), Người chỉ rõ: “Muốn giáo dục nhân dân, làm cho mọi người đều tốt cả thì cán bộ đảng viên phải tự giáo dục rèn luyện hàng ngày. Người xưa còn biết tu thân mỗi buổi tối kiểm điểm mình và dùng hai cái lọ đỗ đen, đỗ trắng để ghi việc tốt, việc xấu”. Như vậy, muốn làm cách mạng, muốn giáo dục nhân dân, làm cho mọi người đều tốt thì cán bộ, đảng viên trước hết phải cải tạo tính nết của mình, phải tự giáo dục rèn luyện hàng ngày.Trong bài nói chuyện về xây dựng con người xã hội chủ nghĩa (3-1961), Người nói: “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài, thì trước hết phải đánh thắng kẻ định bên trong là chủ nghĩa cá nhân”. Như vậy, muốn thắng giặc ngoại xâm, thì trước hết phải thắng giặc nội xâm; mà địch bên trong chính là chủ nghĩa cá nhân. Vì chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, bịt mắt những nạn nhân, khiến những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng ham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân. Hồ Chí Minh cho rằng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Người cho rằng, một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không chắc chắn hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân.
Giặc nội xâm nói rộng ra là những cái ác, cái xấu ở bên trong mỗi con người. Nhưng “mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng”, cái xấu và cái tốt lại không tách rời nhau, đôi khi ranh giới giữa chúng rất mong manh. “Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người họ nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời” Do đó, cần “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”.Như vậy, muốn thắng giặc nội xâm, một mặt phải tu dưỡng đạo đức cách mạng; nhưng mặt khác, phải lấy gương người tốt việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn đánh thắng giặc nội xâm, một biện pháp quan trọng là thực hiện tự phê bình: “Người ta, hàng ngày ai cũng phải rửa mặt cho sạch sẽ. Đảng viên phải coi việc tự kiểm điểm như rửa mặt. Hàng ngày mỗi đảng viên phải tự kiểm điểm mình”. Bên cạnh đó, cần phê bình đồng chí mình để giúp tiến bộ. Người nêu rõ: “Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, trong tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hại người”. “Mục đính phê bình và tự phê bình là để học cái hay, tránh cái dở, chứ không phải để nói xấu nhau”. Người cho rằng, phải thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí khác để cùng nhau tiến bộ; tự phê bình và phê bình không chỉ luôn dùng mà còn khéo dùng. Bác thường đặt tự phê bình lên trước, phê bình sau. Khi tự phê bình phải thật thà, trung thực; còn khi phê bình phải có quan điểm khách quan, chân thành; để đạt mục đích là cùng nhau tiến bộ.Theo Hồ Chí Minh, vẫn có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình mình; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng. “Họ không biết rằng: Có hoạt động thì khó mà hoàn toàn tránh khỏi sai lầm. Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa”(. Người chỉ rõ: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí”, “cũng như người có bệnh nếu giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh lâu ngày nặng thêm, nguy hiểm đến tính mạng”. Cho nên, “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh mẽ, chắc chắn, chân chính”.Theo Hồ Chí Minh: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Người căn dặn cán bộ, đảng viên, trước hết phải ăn ở làm sao cho dân phục, dân yêu, dân nghe; không được quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân; cán bộ, đảng viên phải có những phẩm chất như hòa mà không tư, cẩn thận mà không nhút nhát, vị công vong tư, nói thì phải làm, trực mà không táo bạo.
Người căn dặn Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, cá nhân nào. Sinh trưởng trong một xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen… Thói quen và những tập quán lạc hậu cũng là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở tiến bộ. Chúng ta lại không thể trấn áp nó, mà phải cải tạo nó một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài. Người khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Chống tham ô, lãng phí, quan liêu - một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Tại một phiên họp của Bộ Chính trị vào đầu năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra đề nghị Đảng phải có nghị quyết về chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Ý tưởng này của Người là cơ sở của Nghị quyết Bộ Chính trị Khóa III, số 51 – NQ/TW, ngày 26-4-1962, “Về cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô, lãng phí quan liêu”. 

Tiếp đó là Nghị quyết của Bộ Chính trị Khóa III, số 85 - NQ''TW, ngày 24-7-1963: “Về cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”. Trong vòng hơn một năm, Bộ Chính trị Khoá III đã ban hành hai Nghị quyết về chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Có thể nói, cả hai Nghị quyết quan trọng này đều xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Vấn đề này, Người đã chỉ ra từ khi nhân dân ta mới giành được chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đấu tranh để giành được chính quyền về tay nhân dân là rất khó, nhưng đấu tranh để củng cố được chính quyền của nhân dân cho thật trong sạch, vững mạnh càng khó hơn. Một đảng lãnh đạo chính quyền, sao cho không xảy ra tham ô, lãng phí, quan liêu là một việc làm rất khó khăn, đòi hỏi phải có một đội ngũ những người lãnh đạo có tâm, có tầm, có tài. Nhìn lại đội ngũ của chúng ta được đề bạt, cất nhắc thì nhiều, nhưng việc giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo cho tương xứng lại chưa đúng mức. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định rằng, sự nghiệp của chúng ta ngày càng lớn, công tác của chúng ta ngày càng nhiều và càng phức tạp, trong khi đó, chúng ta lại thiếu kinh nghiệm, ít chịu rèn luận, học tập, nghiên cứu, nên việc quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quân lý tài chính của chúng ta còn quá nhiều khuyết điểm, đã để xảy ra nhiều vụ tham ô, lãng phí, do quan liêu, làm thiệt hại lớn đến sức của, sức người của nhân dân, có tội lớn với nhân dân. Vì vậy, Người đã đặt ra yêu cầu về xây dựng Đảng và chính Người cũng đã kiên quyết chỉ đạo xử lý những căn bô, đảng viên phạm sai lầm, khuyết điểm. Theo chúng tôi, thuật ngữ “tham ô”, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng lần đầu vào năm 1952, trong bài: Thực hành tiết kiệm,, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu (Văn kiện Đại hội V của Đảng (năm 1982), vẫn còn dùng thuật ngữ “tham ô”. Từ Văn kiện Đại hội VI (năm 1986), bắt đầu chuyển sang dùng thuật ngữ “tham nhũng” để thay cho thuật ngữ “tham ô”). Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích:
          “Tham ô là gì?- Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công làm của tư Đục khoét của nhân dân Ăn bớt của bộ đội. 

Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình, cũng là tham ô. 

- Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế». 

Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán rất nhiều dạng lãng phí: lãng phí sức lao động do không khéo sắp xếp, tổ chức; lãng phí thì giờ do họp hành kéo dài liên miên nói rất nhiều, thông tin ít, kết qủa ít, “thùng rỗng kêu to”; lãng phí tiền của do cơ quan dùng vật liệu một cách phí phạm, các xí nghiệp dùng máy móc và nguyên liệu không hợp lý, không tiết kiệm xăng dầu, người giữ kho, giữ tiền để thất thoát, để hàng hóa hao hụt, lỗ vốn, ngân hàng không khéo sử dụng tiền bạc, để cho tiền bạc ứ đọng lại, không lưu thông được, cơ quan kinh tế lập kế hoạch không thiết thực, không sát với hoàn cảnh, gây lỗ vốn, bộ đội không biết giữ gìn quân trang, quân dụng và chiến lợi phẩm, nhân dân bỏ hoang ruộng đất, đốt vàng mã, bán trâu, cầm ruộng để làm đám cưới, đám ma,... Người rút ra kết luận: 
«Tham ô là trộm cướp. Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô». 
Chủ tịch Hồ Chí Minh cắt nghĩa: Xét cho cùng, sở dĩ có nạn tham ô, lãng phí là vì có bệnh quan liêu. Đây là căn bệnh trong gan, trong tim ở nơi bàn giấy, nơi sự vụ. Nó rất khó nhận diện, nên rất khó chữa. Đối với công việc, những người quan liêu hay trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề. Chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi đến chốn”. Những người mắc bệnh quan liêu “có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không thấy thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí”. Người nhận định: “Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí, thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu “là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”. Loại kẻ thù này “khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”. Dù có cố ý hay không, tham ô, lãng phí, quan liêu “cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến”. “Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính”. Nó “phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”. Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra nguyên nhân của tham ô, lãng phí, quan liêu là do những tàn dư xấu xa của xã hội cũ; nó do lòng tự tư, tự lợi, ích kỷ, hại nhân mà ra. Nó do chế độ “người bóc lột người” mà ra. Vì những lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như đánh giặc ngoài mặt trận. Người khẳng định: “Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị” rất quan trọng. Thực chất nó là thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu là một hình thức mở rộng dân chủ. “Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ”. Đó cũng là một hình thức dân chủ tập trung”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ những giải pháp để chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Muốn đánh thắng nó, phải có chuẩn bị thật chu đáo, có kế hoạch, có tổ chức, có lãnh đạo và điều quan trọng là phải đào tạo được một đội ngũ cán bộ trung kiên làm nòng cốt để chống. Người phản đối việc bố trí những người đã “nhúng chàm” làm nhiệm vụ chống tham ô, lãng phí, quan liêu, vì làm như vậy, thực chất là “nối giáo cho giặc”. Người nêu các bước cần tiến chính để trừ khử tham ô, lãng phí, quan liêu: 1- Phải làm tốt công tác tư tưởng, làm cho mọi người hiểu tham ô, lãng phí, quan liêu có hại cho dân, cho nước như thế nào và vì sao phải chống những nạn ấy? Phải kiên quyết sửa chữa những nhận thức không đúng về chống tham ô, lãng phí, quan liêu. 2- Phải nghiên cứu để có lý luận chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Nghiên cứu kỹ và vận dụng tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu; phải sửa đổi lối làm việc; nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình. Đặc biệt, đối với cán bộ cao cấp phải “thật thà tự kiểm thảo để làm gương mẫu”; phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Phải kiên quyết “nhổ cỏ” và khi đã nhổ thì phải nhổ tận gốc rễ.
3- Phải nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc, nâng cao trình độ quản lý kinh tế - tài chính; tăng cường kiểm tra, giám sát, không để tạo kẽ hở cho bọn tham ô, lãng phí, quan liêu đục khoét. Trong cuộc đấu tranh này, phải dựa vào nhân dân, thực hành dân chủ rộng rãi, huy động lực lượng quần chúng tham gia. “Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng”. 
4- Phải có phương pháp giữ gìn tiền bạc, phải thực hành một chế độ tiết kiệm nghiêm ngặt, nhất là tiết kiệm trong chi tiêu ở các cơ quan hành chính, giảm thiểu việc họp hành nếu xét thấy nó không cần thiết. Người nhận xét: “Hiện nay, có những cuộc khai hội, những lễ kỷ niệm, những đám yến tiệc tốn hàng vạn, hàng chục vạn. Cần phải chấm dứt nạn phô trương, lãng phí ấy”. Trong cuộc đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải xử thật nghiêm khắc đối với những ai vi phạm, và phải tôn vinh những người ra sức chống tham ô, lãng phí, quan liêu; coi việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu là cách mạng. “Thực dân và phong kiến tuy bị tiêu diệt, nhưng cái nọc xấu của nó (tham ô, lãng phí, quan liêu) vẫn còn, thì cách mạng vẫn chưa hoàn toàn thành công, vì nọc xấu ấy ngấm ngầm ngăn trở, ngấm ngầm phá hoại sự nghiệp xây dựng của cách mạng”. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng được phát động. Đảng đã có một số nghị quyết về vấn đề này. Nhà nước đã có “Luật phòng chống tham nhũng”. Song, do mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động mạnh vào đời sống xã hội mà chúng ta chưa lường tính hết, làm cho tham nhũng, lãng phí, quan liêu vẫn đang diễn biến phức tạp. Một trong những nguyên nhân chống tham nhũng chưa thành công là chúng ta chưa chú ý đúng mức đến việc chống tham nhũng với chống lãng phí, chống quan liêu, vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời luôn luôn nhắc nhớ là phải chống cả tham ô, lãng phí, quan liêu. Nhiều cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý rất quan liêu, mệnh lệnh không sát công việc thực tế, qua nhiều tầng nấc trung gian, tốn nhiều giấy tờ văn phòng phẩm, làm việc đại khái chung chung, vô bổ, tắc trách; quan liêu trong việc đánh giá cán bộ, đánh giá con người, nên đã có nhiều người lợi dụng sự đánh giá hời hợt này để được “thăng quan tiến chức”; quan liêu trong việc xa rời nhân dân, xa rời thực tế, quan liêu trong việc quản lý cơ quan, tưởng rằng mọi việc đều tốt đẹp, nhưng thực chất lại không phải như vậy; quan liêu trong việc hoạch định chính sách, nên mới có chuyện “vừa đá bóng, vừa thổi còi” như vụ PMU 18; quan liêu trong việc ban hành quá nhiều văn bản, không biết dựa vào văn bản nào để thi hành. Lại nữa, văn bản này “đá” văn bản kia, vận dụng kiểu nào cũng được. Một số chính sách và chế độ về quản lý kinh tế, tài chính còn không ít những sơ hở. Tinh thần cần kiệm xây dựng nước nhà, ý thức tôn trọng của công, bảo vệ thành quả lao động của nhân dân, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu chưa được, quán triệt trên các mặt công tác, ý thức làm chủ của nhân dân chưa được phát huy đầy đủ. Tinh thần trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức chưa cao, chưa làm tròn bổn phận của mình. Công tác tổ chức còn nhiều khuyết điểm. Bộ máy hành chính các cấp vẫn phình ra. Việc tuyển chọn người vào làm việc trong các cơ quan đảng, nhà nước chưa thật chặt chẽ, chưa đúng tiêu chuẩn. Việc phân công trách nhiệm không rõ ràng, làm cho nhiều việc chậm trễ, đình đốn, hư hỏng, không biết vì đâu và trách nhiệm vì ai. Tổ chức không chặt chẽ, kỷ luật không nghiêm, dân chủ còn hình thức, phản công phân nhiệm không rành mạch, rõ ràng là chỗ sơ hở lớn gây tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Công tác kiểm tra và giám đốc thường xuyên của các cơ quan nhà nước còn yếu kém, chưa có nền nếp và chưa có cơ chế hiệu quả. Việc thưởng, phạt chưa kịp thời. Vẫn còn hiện tượng xin - cho. Để chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu có nhiều quả, cần phải làm cho mọi người thấy rõ tham nhũng là trọng tội; lãng phí tuy tính chất có khác với tham nhũng, nhưng cũng là có tội với nhân dân, với Nhà nước; quan liêu là nguồn gốc sinh ra tham nhũng và lãng phí. Nó phải được bài trừ triệt để dưới chế độ ta. Nâng cao mạnh mẽ tinh thần trách nhiệm của cán bộ trong việc quản lý kinh tế, tài chính. Xây dựng chế độ trách nhiệm và kỷ luật nghiêm ngặt tài chính, ngân hàng. Chấn chỉnh công tác tổ chức - cán bộ trong các cơ quan Đảng, Nhà nước. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu phải huy động được sự tham gia của đông đảo nhân dân, phải được tổ chức tốt, lãnh đạo chặt chẽ, kiểm tra, giám sát thường xuyên. Có chính sách đúng đắn; lựa chọn cán bộ tốt; giáo dục tốt; tổ chức tốt; quản lý tốt; kiểm tra tốt; giám sát tốt sẽ là những giải pháp hiệu quả để chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. 

Một số vấn đề mang tính phương pháp luận, định hướng giải pháp thực hiện bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước khi nước chưa nguy

 

Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp và có nhiều yếu tố không thuận lợi, dễ gây mất ổn định. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng; chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn ra gay gắt; xung đột vũ trang, khủng bố, tấn công mạng gây bất ổn ở nhiều quốc gia. Đặc biệt, trên Biển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn về an ninh, chính trị và chủ quyền đất nước. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội; đối tác, đối tượng chuyển hóa mau lẹ, khó đoán định; tình hình an ninh, chính trị một số địa phương, cơ sở chưa thật sự ổn định vững chắc; việc mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện trên các lĩnh vực, đặt ra không ít khó khăn, thách thức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước tình hình đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần nhận thức ý nghĩa, nhất quán quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” cần quán triệt một số vấn đề sau đây:

 

Một là, phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh tổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Ứng phó kịp thời với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng chống thiên tại, dịch bệnh. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.

 

Hai là, tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng, củng cố và phát huy hiệu quả “thế trận lòng dân” trong “nền quốc phòng toàn dân”, “nền an ninh nhân dân”. Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và ngược lại. Cụ thể hóa và thực hiện hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; quán triệt, thực hiện hiệu quả chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch.

 

Ba là, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến 2030 xây dựng Quân đội, Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội, Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, có lý tưởng, năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Quan tâm xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở, đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở. Xây dựng, củng cố biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển.

 

Bốn là, xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo; có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh tại khu vực, tuyến phòng thủ. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ. Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống.

 

Năm là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, công an đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân mạnh về chính trị, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy./.

 

Một số thách thức, nguy cơ đặt ra đối với bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

 

Bên cạnh đó, trên một số lĩnh vực còn có hạn chế và trong tình hình mới xuất hiện những thách thức, nguy cơ mới tác động tiêu cực, là những vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ xa, từ sớm. Thế giới, thế kỷ XXI tiếp tục chứng kiến nhiều biến đổi phức tạp, khó lường, ảnh hưởng, tác động nhiều mặt đến nước ta. Với vị trí địa chính trị quan trọng, Việt Nam đã, đang và luôn luôn sẽ là “trọng điểm” cạnh tranh chiến lược, lợi ích, ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực và phạm vi toàn cầu. Hơn nữa với chế độ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam còn là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch… Những nguy cơ, thách thức này cần thiết phải nhận diện chính xác, đầy đủ ở cả hai hướng sau đây:

 Một là, nguy cơ, thách thức từ bên ngoài.

Nguy cơ rơi vào thế mắc kẹt giữa các cường quốc hiện nay, thách thức trong triển khai chính sách đối ngoại, đối với các mối đe dọa. Cục diện thế giới, khu vực biến đổi mau lẹ, sự cạnh tranh, mặc cả chiến lược giữa các nước lớn; diễn biến khó lường, các điểm nóng khiến môi trường chính trị, an ninh khu vực ngày càng phức tạp, làm giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia, kích thích chạy đua vũ trang và tâm lý dân tộc cực đoan, làm gia tăng căng thẳng và phức tạp quá trình giải quyết tranh chấp có liên quan đến lợi ích an ninh quốc gia. Với vị thế địa chính trị chiến lược quan trọng, vai trò tích cực trong các tổ chức quốc tế, khu vực, Việt Nam bị các nước tác động, gây ảnh hưởng, lôi kéo tham gia vào các cơ chế nhằm kiềm chế lẫn nhau, có thể đặt Việt Nam vào tình thế khó khăn trong ứng xử với từng nước và tại các diễn đàn quốc tế.

 Thách thức an ninh đối với chủ quyền quốc gia ngày càng lớn, tạo môi trường bất lợi, gia tăng áp lực bảo vệ lợi ích quốc gia. Các tranh chấp lãnh thổ giữa nước ta với các nước lân cận khó có thể giải quyết triệt để, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột. Vấn đề Biển Đông gia tăng, bất ổn, phức tạp do Trung Quốc hành động cứng rắn hơn, phức tạp, khó lường hơn, đặc biệt là sử dụng các biện pháp thô bạo để giải quyết tranh chấp làm tăng nguy cơ trên biển, chủ quyền lãnh thổ bị xâm phạm. Các bên tranh chấp khác không từ bỏ, tăng cường tiềm lực, chạy đua vũ trang khiến tình hình ngày càng phức tạp, tạo ra mối đe dọa với an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc, môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước.

 Nguy cơ tụt hậu và phụ thuộc kinh tế vào các nước phát triểncác nước lớn, các định chế quốc tế ngày càng tăng. Những hạn chế trong hội nhập quốc tế như năng lực cạnh tranh thấp, trình độ quản lý chưa theo kịp, thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, cơ chế, chính sách, pháp luật còn thiếu đồng bộ. Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào nhiều định chế kinh tế, tài chính quốc tế, chịu nhiều bất lợi và sức ép cải cách chính sách, thể chế, nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề kinh tế để can thiệp chủ quyền, xâm phạm an ninh quốc gia. Các nước lớn xác định những vấn đề, tiêu chí tiêu chuẩn cơ bản của biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, chuỗi sản phẩm… làm điều kiện, tác động, chi phối, dẫn dắt quan hệ kinh tế quốc tế.

 Thách thức phát triển khoa học công nghệ, áp đặt các giá trị, tư tưởng, văn hóa. Các nước phát triển, nước lớn tăng cường sử dụng các ưu thế sức mạnh vượt trội về kinh tế, khoa học, công nghệ để can thiệp, ra điều kiện trong quan hệ kinh tế, áp đặt các giá trị tư tưởng, văn hóa phương Tây vào Việt Nam; phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc và những giá trị tinh thần của chủ nghĩa xã hội; nguy cơ an ninh mạng càng hiện hữu.

Các mối đe dọa từ an ninh bên ngoài từng bước chuyển vào nội bộ, bộc lộ rõ nét, tạo thách thức lớn đối với nhiệm vụ duy trì, ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Cùng với toàn cầu hóa, xu hướng “dân chủ hóa” trên thế với, các nước lớn đẩy mạnh phổ biến “sức mạnh mềm” thúc đẩy thay đổi chế độ chính trị, kích động phong trào ly khai, tự trị, thúc đẩy “môi trường tự do hóa, dân chủ hóa” theo kiểu phương Tây, làm xuất hiện, mở rộng khuynh hướng tư tưởng phức tạp trong nội bộ, các trào lưu xâm nhập vào Việt Nam, dẫn đến nguy cơ làm xói mòn truyền thống văn hóa dân tộc, phai nhạt lý tưởng, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sức ép vấn đề “dân chủ, nhân quyền” ngày càng lớn.

 Nguy cơ “diễn biến hòa bình”. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng triệt để lợi dụng xu hướng toàn cầu hóa, “tự do hóa chính trị”, “dân chủ hóa”, sự khác biệt về thể chế chính trị, pháp luật, những khó khăn, thiếu sót của Việt Nam…để tạo khủng hoảng về tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gia tăng sức ép, chuyển hóa nội bộ, tác động vào quá trình cải cách tư pháp, lập pháp, thúc đẩy “tự do, dân chủ hóa”, công khai tài trợ, hậu thuẫn hình thành các tổ chức “xã hội dân sự”, hội nhóm khác nhau. Số phần tử cơ hội chính trị hoạt động ngày càng công khai, quyết liệt, phức tạp.

 Các vấn đề an ninh phi truyền thống tiếp tục gia tăng. Mối đe dọa an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng với quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, tác động đến lợi ích, an toàn, an ninh quốc gia Việt Nam, như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, an ninh năng lượng, an ninh con người…

 Hai là, những thách thức, nguy cơ từ bên trong, nội bộ.

Việc xây dựng đồng bộ hệ thống chiến lược thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc còn chưa đồng bộ. Công tác tham mưu chiến lược chất lượng chưa cao, trên một số mặt chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình, yêu cầu nhiệm vụ. Đánh giá, dự báo tình hình có mặt chưa được cụ thể, kịp thời, còn bị động, bất ngờ trong một số tình huống. Chỉ đạo điều hành có lúc, có nơi thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị; công tác bảo vệ an ninh nội bộ, an ninh tư tưởng còn nhiều bất cập, sơ hở. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chưa toàn diện; tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân chưa thật vững chắc. Đất nước vẫn tiềm ẩn các nhân tố có thể gây mất ổn định. Việc kếp hợp hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có lúc, có nơi chưa thật hiệu quả; kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thực tiễn còn có lúc, có nơi chưa thật hiệu quả, có mặt còn hình thức. Đầu tư cho quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận, khu vực phòng thủ, phát triển khoa học - công nghệ…chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

 Tình hình an ninh chính trị nội bộ xuất hiện một số biểu hiện tiêu cực. Các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chưa được đẩy lùi, có mặt bộc lộ rõ nét, nghiêm trọng hơn mà Đảng ta chỉ rõ: Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tham nhũng, lãng phí…; công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ còn bộc lộ những sơ hở, để các đối tượng tác động, phân hóa, lôi kéo, chia rẽ, mất đoàn kết. Công tác bảo vệ bí mật nhà nước, tình trạng cung cấp tin, tài liệu bí mật, lũng đoạn nội bộ diễn biến phức tạp, có một số trường hợp bị móc nối làm nội gián, bị lôi kéo, mua chuộc, tham gia các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Tư tưởng, lối sống một bộ phận đông đảo, nhất là giới trẻ phai nhạt lý tưởng, đạo đức, lối sống.

 

An ninh kinh tế tiềm ẩn những bất ổn. Trước tác động của đại dịch, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, các doanh nghiệp tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, nợ xấu, khiến nhiều doanh nghiệp phá sản, lao động thất nghiệp, tiềm ẩn bất ổn xã hội. Tình trạng trốn thuế, trục lợi hoàn thế, vi phạm pháp luật, làm sai quy định với thủ đoạn tinh vi, thao túng thị trường, lĩnh vực cơ bản, như tài chính, chứng khoán, bất động sản của nhiều tổ chức, cá nhân, tập đoàn tư nhân lớn vừa qua gây thất thoát, tác động lớn đến nền kinh tế. Tình trạng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lập dự án, xin đất, huy động vốn, đưa được người vào Việt Nam, chuyển giao, chuyển giá, nợ đọng lương, lãn công, biểu tình ở các nhà máy, khu công nghiệp ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, đối ngoại, môi trường đầu tư ở Việt Nam.

 

An ninh mạng tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Các nước lớn xác định an ninh mạng là “vấn đề cốt lõi”, đe dọa an ninh mạng là đe dọa an ninh quốc gia. Ở Việt Nam, an ninh mạng đặt ra ngày càng cấp bách. Các cơ quan đặc biệt nước ngoài, tin tặc thường xuyên lợi dụng điểm yếu này để tấn công xâm nhập, thu thập thông tin, bí mật nhà nước, cài cắm mã độc, phần mềm gián điệp. Đồng thời, đây là công cụ đắc lực để phá hoại nền tảng tư tưởng, tuyên truyền xuyên tạc, luận điệu sai trái, thù địch. Các tổ chức phản động lưu vong tăng cường xâm nhập, móc nối, mua chuộc, phát triển lực lượng, hình thành tổ chức, hội nhóm chống, phá quyết liệt. Các loại tội phạm mạng, tội phạm công nghệ cao diễn biến phức tạp, hoạt động tinh vi, quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm, nghiêm trọng. Công tác bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin còn nhiều sơ hở, quản lý nhà nước, cơ chế kiểm soát bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng còn có hạn chế, bất cập.

 

An ninh xã hội có nhiều yếu tố mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo gia tăng hoạt động, công khai chống phá quyết liệt. Số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo tuyên truyền, xuyên tạc, kêu gọi quốc tế gây sức ép, can thiệp vấn đề “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”; cổ vũ, kích động, chỉ đạo, ủng hộ tinh thần, vật chất, hình thành tổ chức, hội nhóm chống phá. Hoạt động của các “đạo lạ”, “tà đạo”, “hiện tượng tôn tín ngưỡng, tôn giáo mới” có chiều hướng phát triển, lây lan phức tạp, gây mất an ninh trật tự. Tình hình tranh chấp, khiếu kiện diễn biến phức tạp, bị phần tử xấu lợi dụng, gây rối trật tự công cộng. An ninh các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ.

 

 Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp. Hoạt động của các loại tội phạm vẫn diễn ra hết sức phức tạp, tính chất, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng. Tội phạm xâm phạm thân thể hành vi gây án ngày càng dã man, tàn bạo. Tình trạng chống người thi hành công vụ, nhất là cán bộ công an, hành vi chống đối manh động, liều lĩnh. Tội phạm kinh tế, tham nhũng nổi lên trong nhiều lĩnh vực, nhất là tài chính, ngân hàng, đất đai - bất động sản, y tế, cố ý làm trái tại các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân gây thất thoát, lãng phí lớn.