Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 03 THÁNG 10 NĂM 1960!
“CHƯA CÓ NHIỀU CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH ĐỂ THU HÚT, TRỌNG DỤNG NGƯỜI TÀI”
KHÔNG “THEO ĐUÔI” QUẦN CHÚNG, HÃY LÀM ĐÚNG TRÁCH NHIỆM ĐẢNG VIÊN!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRẺ KHÔNG CÓ LÒNG BIẾT ƠN, SAU NÀY SẼ THÀNH NGƯỜI RẤT ĐÁNG SỢ!
BẠN CẦN BIẾT: CẨN THẬN VỚI TÌNH TRẠNG LỪA ĐẢO, BẮT NẠT TRẺ EM TRÊN MÔI TRƯỜNG MẠNG!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐỂ CÓ HẠNH PHÚC PHẢI ĐẤU TRANH, XÂY DỰNG, KIẾN TẠO!
THẦY CÓ NHỚ EM KHÔNG
Một thanh niên nhìn thấy người thầy thời tiểu học của mình tại một đám cưới. Anh ta đến chào người thầy với tất cả sự kính trọng:
-Thầy có nhớ em không ạ?
Thầy giáo nói:
- Thầy không nhớ lắm, hãy nói về em xem nào.
Người học trò nói: Em đã học lớp 3 của thầy hồi đó, em đã ăn cắp chiếc đồng hồ của một bạn trong lớp. Em chắc là thầy nhớ chuyện đó mà.
Thứ Hai, 2 tháng 10, 2023
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA
Ngày 03 tháng 10
“Về mặt văn hóa, thì dù ai mù quáng đến mấy cũng phải thấy rằng chế độ xã hội chủ nghĩa của ta thắng lợi vẻ vang. Chúng ta có quyền tự hào, nhưng chúng ta không được tự mãn”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Một thắng lợi vẻ vang”, bút danh T.L, đăng trên Báo Nhân dân, số 2389, ngày 03 tháng 10 năm 1960.
Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập (02/9/1945), Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu sự nghiệp giáo dục, đào tạo và xây dựng nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nền văn hoá do nhân dân lao động sáng tạo, giữ gìn và hưởng thụ - đó là nền văn hoá xã hội chủ nghĩa tiến bộ, hiện đại, nhân văn và không ngừng phát triển.
Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị, sức mạnh và sự cần thiết của việc coi trọng xây dựng và phát triển văn hoá, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, nghị quyết nhằm xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển văn hoá đi đôi với phát triển kinh tế, xã hội để hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước. Quan tâm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc; không ngừng phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, nếp sống văn hóa, văn minh; cải thiện nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, huy động, khơi dậy tinh thần giữ gìn, sáng tạo văn hóa của cộng đồng xã hội. Qua đó, đã không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; các nền tảng giá trị đạo đức được quan tâm gìn giữ, các qui tắc ứng xử văn hóa được hình thành, từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh trên địa bàn dân cư.
Khắc ghi lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn nêu cao ý thức, trách nhiệm trong xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, truyền thống tốt đẹp của quân đội, trở thành một giá trị văn hoá quân sự với những nét đặc trưng tiêu biểu được thể hiện tập trung trong 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân. Thực hiện chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, gắn với phong trào thi đua Quyết thắng, các chương trình hành động và được cụ thể hóa thành cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội”, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó.
HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC HỒ
Ngày 03 tháng 10
“Hồ Chí Minh không bao giờ cúi mình trước bạo lực”.
Cách đây 103 năm, ngày 3-10-1920, mật thám Pháp theo dõi Nguyễn Ái Quốc đến dự một buổi nói chuyện do hội nghệ thuật tổ chức tại Sở Cảnh sát Paris.
Ngày 3-10-1922, Nguyễn Ái Quốc dự họp Ban biên tập báo Le Paria (Người Cùng Khổ) kiểm điểm tình hình tài chính đang gặp khó khăn và phân công việc trực ban để tiếp bạn đọc, số đông là dân thuộc địa.
Ngày 3-10-1923, tại Matxcơva, Nguyễn Ái Quốc gặp Tưởng Giới Thạch và Trương Thái Lôi, đại diện cho Trung Hoa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản đang hợp tác chống Nhật, cùng dẫn đầu đoàn đại biểu Trung Hoa sang Liên Xô cầu viện.
Đầu tháng 10-1946, trên đường từ Pháp trở về Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho nhà báo Pháp Jean Michel Hertrich, người đã có mặt và chứng kiến thời điểm Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tại Sài Gòn và là tác giả cuốn “Độc lập hay là c.hết - Những điều mắt thấy ở Đông Dương”. Bức thư đã đánh giá “tôi phải nói rằng cuốn sách đó là khách quan và chân thật” và nhắc lại nhiều đoạn trích chứng minh điều đó, ví như, “...Việt Minh đang đại diện cho tâm hồn hiện tại của Đông Dương, của Việt Nam... Và cuối cùng, lý tưởng của Việt Nam trước hết là sự thống nhất của Việt Nam, sự thống nhất của cả ba xứ Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ mà dân chúng ở đây đều cùng chung một nòi giống và nói chung một thứ tiếng…”.
Tuy nhiên, sau khi trích một đoạn viết trong sách nhằm lên án những ý đồ xấu của bọn thực dân: “Nếu bằng những thủ đoạn ít nhiều ranh mãnh, chúng ta định xóa bỏ và tách Nam Kỳ ra khỏi khối Việt Nam, chắc chắn chúng ta không bao giờ có được sự hợp tác của nhân dân Việt Nam. Điều đó có nghĩa rằng Hồ Chí Minh dù có cúi mình trước bạo lực, tình trạng mất ổn định vẫn sẽ xảy ra cho đến ngày mà những nổi dậy mới dẫn đến những hy sinh mới”, thì Bác viết tiếp: “Thưa tác giả thân mến, tôi phải nói với ông rằng... Hồ Chí Minh không bao giờ cúi mình trước bạo lực vì Hồ Chí Minh là một phần không thể chia cắt của nhân dân ông ta, ông ta mong muốn những gì mà nhân dân mong muốn, ông ta hành động điều mà cả nhân dân ông ta hành động... Và tôi tin chắc rằng chân lý sẽ chiến thắng”.
Ngày 3-10-1948, tại Chiến khu Việt Bắc, Bác tiếp tục chủ tọa phiên họp của Hội đồng Chính phủ, tiếp đó, cùng toàn thể Chính phủ đón tiếp đoàn đại biểu từ Nam bộ do ông Phạm Hùng dẫn đầu ra Bắc. Đoàn đã chuyển tặng Bác nhiều món quà của đồng bào Nam bộ, “trong số này, một tác phẩm đã làm cho Hồ Chủ tịch hết sức cảm động là bức họa hình Hồ Chủ tịch và ba em thiếu nhi tượng trưng Trung Nam Bắc, 3 em vây chung quanh Cụ, một em nắm râu Cụ với bao vẻ mến yêu. Bức họa này của một họa sĩ đã lấy máu mình mà vẽ ra, vừa đẹp và chứa đầy ý nghĩa” (Đó là tác phẩm của họa sĩ Diệp Minh Châu)...
Ngày 3-10-1960, Bác đi thăm các lớp bổ túc văn hóa tại 2 trường Trần Nhật Duật và Yên Thành (Hà Nội). Cùng ngày, báo Nhân Dân đăng bài “Một thắng lợi vẻ vang” của Bác, khen ngợi phong trào xóa nạn mù chữ của tỉnh Cao Bằng với kết luận rằng “về mặt văn hóa thì dù ai mù quáng đến mấy cũng phải thấy rằng chế độ xã hội chủ nghĩa của ta đã thắng lợi vẻ vang”.
HỢP TÁC PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG THƯƠNG GIỮA CÁC ĐỊA PHƯƠNG
Mặc dù việc triển khai nhiệm vụ ngành công thương của 5 thành phố trực thuộc Trung ương trong 9 tháng năm 2023 gặp nhiều khó khăn, nhưng vẫn bảo đảm nội dung, tiến độ kế hoạch đặt ra trên tất cả các lĩnh vực công tác được giao. Công tác quản lý nhà nước về công thương đã được tăng cường và triển khai đồng bộ trên nhiều lĩnh vực.
Ngày 2/10, tại Hà Nội diễn ra Hội nghị ngành công thương 5 thành phố trực thuộc Trung ương lần thứ VI (năm 2023) với chủ đề “Hội nhập quốc tế thúc đẩy tăng trưởng xuất nhập khẩu, công nghiệp và thương mại, dịch vụ” giai đoạn 2023-2025.
Theo báo cáo, kết quả hoạt động sản xuất công nghiệp của 5 thành phố từ đầu năm đến nay duy trì được mức tăng trưởng (mặc dù thấp hơn so cùng kỳ) và cao hơn mức tăng chung cả nước.
Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của Cần Thơ tăng 3,27%; Hà Nội tăng 2,4%; Hải Phòng tăng 11,55%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,8%; chỉ Đà Nẵng giảm 1,99%.
Hoạt động thương mại trên địa bàn các thành phố cũng được duy trì ở mức tăng trưởng khá; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của 5 thành phố chiếm tỷ trọng 38,33% của cả nước.
Kim ngạch xuất khẩu của 5 thành phố 8 tháng qua chiếm tỷ trọng 24,8% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Có 3/5 thành phố là Hà Nội, Hải phòng và Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong tốp 10 địa phương có kim ngạch thương mại và kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước.
Cụ thể, Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có kim ngạch thương mại lớn nhất với 63,4 tỷ USD (xuất khẩu đạt 27,7 tỷ USD); tiếp theo là Hà Nội với tổng kim ngạch thương mại đạt 34,33 tỷ USD (xuất khẩu đạt 10,95 tỷ USD) và Hải Phòng đạt 29,13 tỷ USD (xuất khẩu đạt 15,59 tỷ USD).
Kết quả này khẳng định sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại của 5 thành phố tiếp tục duy trì và phát huy vai trò chủ lực trong phát triển ngành công thương các vùng kinh tế trọng điểm và cả nước cũng như phát triển kinh tế xã hội của các địa phương.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, quyền Giám đốc Sở Công thương thành phố Hà Nội Trần Thị Phương Lan cho biết, việc triển khai nhiệm vụ ngành công thương trong 9 tháng năm 2023 gặp rất nhiều khó khăn.
Trước tình hình đó, ngành công thương các thành phố đã tập trung triển khai, kịp thời, quyết liệt các nhiệm vụ được giao, tập trung vào tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đơn giản hoá thủ tục hành chính, kết nối thương mại, kích cầu tiêu dùng.
Nhờ đó, góp phần quan trọng để kinh tế các địa phương tiếp tục duy trì tăng trưởng, an sinh xã hội được bảo đảm, đóng góp vào tăng trưởng chung của cả nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai nhiệm vụ của ngành công thương vẫn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.
Đó là tình hình thế giới vẫn tiếp tục khó khăn, biến động, rất khó đoán định, kinh tế dù có dấu hiệu phục hồi nhưng chậm và không đồng đều ở các quốc gia.
Thị trường xăng dầu vẫn tiềm ẩn nhiều biến động do ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới; chi phí đầu vào nguyên vật liệu, chi phí sản xuất, logistics, lãi vay mặc dù đang giảm dần nhưng vẫn còn ở mức cao, tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Khả năng tự chủ nguồn nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp trong nước nói chung còn hạn chế; tính liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước với các nhà sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh còn yếu.
Hội nghị được tổ chức nhằm mục đích trao đổi, thảo luận những vấn đề mới phát sinh từ nhu cầu phát triển và thực tiễn quản lý nhà nước, cùng đồng thuận quan điểm để đề xuất kiến nghị Chính phủ, Bộ ngành Trung ương tháo gỡ khó khăn, có cơ chế hỗ trợ tạo điều kiện cho 5 thành phố phát huy lợi thế; đồng thời xây dựng, định hình các mối liên kết, hợp tác phát triển ngành công thương giữa các địa phương trong tương lai.
Phát biểu ý kiến tại Hội nghị, Thứ trưởng Công thương Phan Thị Thắng nhấn mạnh năm 2024 là năm bứt phá trong thực hiện hoàn thành các mục tiêu kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025 của các địa phương đề ra.
Bộ Công thương đề nghị Sở Công thương của 5 thành phố trực thuộc Trung ương nói riêng, các địa phương trên cả nước nói chung tập trung tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ được giao.
Tập trung phát triển hạ tầng của ngành công thương, bao gồm: công nghiệp, thương mại, năng lượng và liên kết với các địa phương trong khu vực để khi triển khai các dự án hạ tầng thương mại, logistics, năng lượng thì phải hình thành được chuỗi giá trị sản phẩm.
Từng bước chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp chế biến chế tạo, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp năng lượng, cơ khí, điện tử, hoá chất, xây dựng và công nghiệp hỗ trợ,…
Chú trọng các ngành có lợi thế cạnh tranh gắn với bảo vệ môi trường; duy trì chuyển dịch nhanh những ngành công nghiệp sử dụng nhiều tài nguyên, ít hàm lượng gia tăng sang các ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện môi trường và có hàm lượng giá trị gia tăng cao.
Tiếp tục quan tâm, ưu tiên nguồn lực cho xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường trong nước cũng như đa dạng hoá thị trường xuất khẩu; đẩy mạnh các phương thức xúc tiến thương mại thông qua nền tảng số trên môi trường thương mại điện tử.
Tăng cường hợp tác giữa 5 thành phố trực thuộc Trung ương với các địa phương trong vùng nói riêng, trên cả nước nói chung.
Song song với việc tiếp tục duy trì thị phần xuất khẩu tại các thị trường lớn, 5 thành phố cũng cần đẩy mạnh khai thác các thị trường ngách còn nhiều dư địa tiềm năng như châu Phi, Nam Á,…
Tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do, nhất là CPTPP hay EVFTA để khai thác tốt cơ hội từ các hiệp định này. Tổ chức kết nối doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI, nhất là các doanh nghiệp lớn toàn cầu.
Nâng cao khả năng cạnh tranh, hỗ trợ doanh nghiệp khai thác và phát triển thị trường trong nước; thực hiện các biện pháp cân đối cung cầu ổn định thị trường, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội, làm tiền đề triển khai các giải pháp kích cầu tiêu dùng, thúc đẩy thương mại trong nước và các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Chính phủ.
ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN GIẢI PHÁP CẤP BÁCH BẢO TỒN CHIM HOANG DÃ, DI CƯ TẠI VIỆT NAM
Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị các cơ quan khẩn trương gửi báo cáo trước ngày 30/10/2023 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại Chỉ thị số 04/CT-TTg về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để bảo tồn chim hoang dã, di cư tại Việt Nam.
Nhằm triển khai Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 17 tháng 5 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để bảo tồn chim hoang dã, di cư tại Việt Nam, đặc biệt trong mùa chim di cư từ tháng 9 đến tháng 4 hàng năm và hưởng ứng Ngày quốc tế về chim di cư ngày 14/10/2023, ngày 2/10, Bộ Tài nguyên và Môi trường có công văn đề nghị các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, triển khai một số nội dung liên quan góp phần bảo tồn các loài chim hoang dã, di cư tại Việt Nam.
Các cơ quan truyền thông tăng cường đưa tin, phát sóng các thông điệp, phóng sự, bản tin tuyên truyền, phổ biến Chỉ thị số 04/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và văn bản pháp luật về bảo tồn các loài chim hoang dã, di cư tại Việt Nam. Các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu cán bộ, công chức, người lao động và người dân không tham gia săn, bắt, mua, bán, vận chuyển, giết mổ, tiêu thụ, tàng trữ, quảng cáo các loài chim hoang dã, di cư trái pháp luật; không mua các cá thể chim để phóng sinh vì đây là hành vi tiếp tay cho các hoạt động săn, bẫy chim hoang dã trái phép.
Cơ quan thực thi pháp luật như: kiểm lâm, hải quan, quản lý thị trường, công an tăng cường công tác phối hợp liên ngành thanh tra, kiểm tra thường xuyên các nhà hàng, cơ sở kinh doanh, chợ chim hoang dã, các khu vực trọng điểm, đầu nậu về săn, bắt, buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ các loài chim hoang dã, di cư. Các cơ quan thực thi pháp luật xử lý nghiêm các hành vi săn, bắn, bẫy, bắt, giết mổ, vận chuyển, kinh doanh, chế biến, tàng trữ trái pháp luật các loài chim hoang dã, di cư; thực hiện các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh có nguồn gốc từ chim hoang dã, di cư.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị các cơ quan khẩn trương gửi báo cáo trước ngày 30 tháng 10 năm 2023 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại Chỉ thị số 04/CT-TTg về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để bảo tồn chim hoang dã, di cư tại Việt Nam.
“LẤY CÁI TÍCH CỰC ĐẨY LÙI TIÊU CỰC”
Để cuộc sống ấm tình người, không gian mạng trở lên trong sáng an toàn hơn, khi tham gia MXH chúng ta tích cực lan tỏa thông tin tốt, hình ảnh đẹp, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy cái tích cực đẩy lùi tiêu cực, nhằm tạo ra xu hướng tích cực trên mạng xã hội.
Cá nhân mỗi người khi được tiếp nhận nhiều thông tin tốt, hình ảnh và câu chuyện đẹp sẽ giúp con người ghi sâu vào tâm trí, qua đó định hướng được nhận thức, thay đổi hành vi của mình theo hướng tích cực như những gì đã được tiếp nhận.
Trước thông tin ồ ạt, nhiễu loan đa dạng phức tạp trên KGM, chúng ta cần phải tỉnh táo sáng suốt nhìn nhận lý giải thấu đáo trước khi quyết định like, chia sẻ hay đăng tải clip, livestream. Hãy là người sử dụng mạng xã hội thông minh, hiểu biết, tử tế có văn hóa, văn minh, lịch sự.
XÂY DỰNG VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO THANH NIÊN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động mạnh mẽ đến toàn xã hội, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Trước những tác động đó, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm xây dựng văn hóa ứng xử cho thanh niên trên không gian mạng.
Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu. Không gian mạng là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Với đặc điểm nổi trội là tốc độ kết nối nhanh, phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn, internet, mạng xã hội trở thành môi trường cung cấp, chia sẻ, trao đổi, khai thác sử dụng thông tin, đem lại những lợi ích to lớn, từng bước khẳng định vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội. Đồng thời, tác động một cách trực tiếp, làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi cá thể, qua đó tác động đến sự phát triển của toàn xã hội. Tuy nhiên, internet, mạng xã hội cũng bộc lộ những mặt trái, những tác động tiêu cực đối với đời sống văn hóa xã hội, nhất là nhận thức, thái độ, hành vi của thế hệ trẻ.
Trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, mỗi người đều có thể dễ dàng truy cập internet, mạng xã hội. Điều đó vừa tạo thuận lợi cho việc tiếp thu, chia sẻ thông tin, tình cảm, học hỏi, giao lưu văn hóa,… nhưng đồng thời cũng ẩn chứa những nguy cơ, hệ lụy tiêu cực khi người sử dụng không biết khai thác, tiếp nhận, xử lý, chia sẻ thông tin. Trong khi, mạng xã hội của chúng ta chưa được quản lý triệt để, có rất nhiều “rác” thông tin gây ảnh hưởng đến tâm lý, nhân cách và cả phong cách sống của người sử dụng, nhất là thế hệ trẻ.
Trong thời gian gần đây, văn hóa ứng xử của thanh niên trên không gian mạng đang là vấn đề xã hội đáng quan tâm, bởi một bộ phận thanh niên có những phát ngôn, bình luận “thiếu văn hóa”, không phù hợp với đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của Việt Nam… gây bất bình trong dư luận xã hội. Đáng lo ngại hơn là lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tuyên truyền, đăng tải những nội dung, thông tin xấu, độc… Qua đó, nhằm cổ vũ cho tạo tư tưởng thực dụng, suy nghĩ ích kỷ, lối sống không lành mạnh, coi trọng vật chất, quen hưởng thụ ở một bộ phận thanh niên. Thủ đoạn này còn hình thành ở số ít thanh niên thái độ thờ ơ, bàn quan với những biểu hiện sai trái trong cuộc sống, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án; thái độ vô cảm về chính trị, thiếu trách nhiệm với cộng đồng. Nếu không ngăn chặn kịp thời, sẽ dần dẫn đến tình trạng “khô Đảng, nhạt Đoàn”, phai nhạt lý tưởng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ở một bộ phận thanh niên.
Thực tế trên đặt ra yêu cầu có tính khách quan là cần chú trọng xây dựng văn hóa ứng xử cho thanh niên trên không gian mạng hiện nay. Theo đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, nhà trường, gia đình và toàn xã hội cần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, chính trị cho thanh viên.
Mọi hoạt động thông tin tuyên truyền, giáo dục phải hướng đến mục tiêu không ngừng bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng, tinh thần cảnh giác để giới trẻ luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; luôn có thái độ, hành vi đúng đắn khi tham gia vào môi trường không gian mạng. Công tác giáo dục, tuyên truyền phải làm rõ âm mưu của các thế lực thù địch trong sử dụng internet, mạng xã hội để tác động đến tâm lý thanh niên; làm rõ các thủ đoạn đã, đang và sẽ được các thế lực thù địch sử dụng để lôi kéo, kích động thanh thiếu niên; khuyến cáo giới trẻ, đặc biệt thanh niên cảnh giác trước thông tin trên internet, mạng xã hội.
Coi trọng cung cấp thông tin chính xác, kịp thời; khắc phục tình trạng nhiễu thông tin dẫn đến hoang mang, nảy sinh tư tưởng tiêu cực. Đối với thanh niên, mọi công tác liên quan đến học tập, rèn luyện cần được công khai, minh bạch; tạo mọi điều kiện để thanh thiếu niên hoàn thành chương trình học tập, rèn luyện theo cấp học. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, người đứng đầu các nhà trường, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, gia đình cần thực hiện tốt vai trò xây dựng môi trường văn hóa, là chủ thể hướng dẫn, uốn nắn các hành vi ứng xử của thanh niên, tổ chức duy trì, quản lý hoạt động giáo dục, đào tạo, rèn luyện kỹ năng sống cho thanh niên. Qua đó, giúp thanh thiếu niên có cái nhìn toàn diện, đầy đủ, sâu sắc; có lý tưởng phấn đấu rõ ràng, bản lĩnh chính trị vững vàng; có khả năng phát hiện, phân biệt đúng - sai, tốt - xấu,...
Đặc biệt, cần nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng cho thanh niên. Đây là vấn dề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trước khi “về với thế giới người hiền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” [1]; “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [2]. Do vậy, cấp ủy, chính quyền các cấp, nhà trường, gia đình và toàn xã hội cần thường xuyên quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện thế hệ thanh niên có đủ đức, tài, niềm tin, khát vọng để xứng đáng với vị thế, trọng trách cao cả của mình đối với dân tộc và Tổ quốc. Đây là trách nhiệm không riêng của ai, mà là trách nhiệm chung của các ngành, các cấp và toàn xã hội.
Cùng với đó, cần tăng cường công tác quản lý hệ thống mạng xã hội, ngăn chặn, xử lý nghiêm những hành vi “lệch chuẩn văn hóa”. Các cơ quan chức năng cần kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức tuyên truyền nội dung, thông tin xấu độc, “lệch chuẩn văn hóa”. Đẩy mạnh tuyên truyền Luật an ninh mạng và các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động tham gia mạng xã hội để nâng cao ý thức, trách nhiệm của thanh niên. Coi trọng định hướng, hướng dẫn cho thanh niên cách thức khai thác, phân loại, sử dụng thông tin trên mạng hiệu quả; gắn với tuyên truyền, lan tỏa những nội dung thông tin tích cực, những biểu hiện nhân văn, văn hóa trên internet, mạng xã hội theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Từ đó, góp phần xây dựng cho thanh niên cách ứng xử có văn hóa trên không gian mạng, tránh được những ảnh hưởng tiêu cực từ internet và mạng xã hội./
NGUY HẠI TỪ SỰ THỜ Ơ, VÔ CẢM CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Trong khi dư luận nói nhiều đến tình trạng cán bộ, công chức sợ trách nhiệm, không dám làm khiến hàng loạt công việc đình trệ thì một hiện tượng khá phổ biến và cũng là “trọng bệnh” của đội ngũ cán bộ, công chức, đó là tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm với công việc, nhất là giải quyết công vụ. Đây là vấn đề đáng lo ngại bởi những hệ lụy mà nó gây nên.
1. Có việc liên quan đến giấy tờ nhà đất tôi buộc phải đến Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính (Bộ phận một cửa) của quận để thực hiện. Khu vực chờ đợi của người dân đông đúc, ngột ngạt, cũng không có nước uống. Để tiết kiệm thời gian, người dân chủ động phần kê khai trên hồ sơ trước nhưng bàn viết không có, cứ tự kê lên đùi mà viết. Cán bộ giải quyết công vụ ngồi ngăn cách với người dân qua vách kính chắn, thỉnh thoảng lại đưa điện thoại lên nhắn tin, ai thắc mắc thì hướng dẫn đại khái qua một ô kính nhỏ. Người có chút kinh nghiệm, tai thính thì ít hỏi lại, còn phần lớn người đi làm thủ tục lần đầu đều bỡ ngỡ: “Cái gì cơ? Viết vào đây ạ? Chỗ này viết gì anh, chị nhỉ? Rồi thỉnh thoảng lại có tiếng gắt gỏng, khó chịu kiểu ban phát từ người nhận hồ sơ. Chỉ cách nhau qua tấm kính mà cảm giác như công chức và người dân xa vời vợi. Trên thực tế, nhiều cán bộ nhận hồ sơ biết rõ giấy tờ có sai sót nhưng không nói ngay, có số điện thoại trên hồ sơ cũng chả gọi mà đến ngày trả kết quả mới nói là hồ sơ sai cần làm lại. Họ cứ vin vào các quy định cứng nhắc, thậm chí có người cố tình làm cho nó cứng nhắc hơn vì lý do khác.
Theo nghĩa hiểu chung nhất thì tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm nghĩa là mặc kệ. Đây là trạng thái trơ lì của cảm xúc, dửng dưng với những hiện tượng đời sống xung quanh, chỉ quan tâm đến quyền lợi của bản thân. Cách làm việc này không khác gì một cái máy, không khẩn trương, không vội, không vì ai và đặc biệt, không cảm xúc. Họ vẫn làm việc nhưng không có trách nhiệm với công việc, với những người xung quanh; miễn là đánh trống, ghi tên đủ 8 tiếng ngồi ở cơ quan. Cũng có thể chất lượng công việc không quá tệ nhưng hoàn toàn không có tư tưởng đổi mới hay đột phá, còn đòi hỏi họ dấn thân, dám nghĩ, dám làm thì thật xa xỉ. Đó là thứ văn hóa không nhúc nhích, đợi nhắc thì làm, không nhắc cũng vẫn làm nhưng chậm trễ khi xử lý các nhiệm vụ được giao.
Tựu trung lại, có thể lý giải cho hiện tượng tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm với công việc của cán bộ, công chức đến từ mấy nguyên nhân sau: Thứ nhất, đó là lối sống thực dụng, ngại va chạm, "dĩ hòa vi quý". Lối sống này khiến cán bộ, công chức có nhận thức và hành vi lệch lạc về trách nhiệm, về nghĩa vụ của mình, nhất là trong vai trò "công bộc" khi tiếp xúc và hành xử với dân; cho rằng mình có quyền ban phát, người khác phải cần mình mà không hiểu rằng, nghĩa vụ của mình là phục vụ, cao nhất là phục vụ nhân dân. Thứ hai, đó là những người luôn đòi hỏi cho cá nhân, nhất là lợi ích vật chất nhưng không bao giờ chịu hy sinh, thiệt thòi vì tập thể. Khi không được đáp ứng lợi ích đó, họ cứ dửng dưng không làm. Thứ ba, đó là những người thụ động. Mọi thứ với họ cứ làng nhàng, từ học hành, kiến thức, kỹ năng đến động cơ, thái độ, trách nhiệm trong công việc. Với họ “sớm chẳng vừa, trưa chẳng vội”, vì làm việc trong môi trường bao cấp nên lương đã có Nhà nước trả, không phải bận tâm đến cơm áo gạo tiền. Thứ tư, đó là những người có xuất thân từ những gia đình có điều kiện, hoặc về kinh tế, hoặc về chính trị. Họ chỉ cần có một chỗ làm việc, một vị trí trong cơ quan công quyền để lấy vị thế và được bảo đảm các quyền lợi cho cá nhân. Những người như thế cũng không mưu cầu sự thăng tiến, cũng không có động lực phấn đấu cho công việc. Việc làm giàu của họ thường ở môi trường khác, hoặc có người khác làm giàu cho họ.
2. Tâm lý, thái độ thờ ơ gây ra bệnh vô cảm của công chức, một loại bệnh đang được xem là “trọng bệnh”. Ngành y không có khái niệm bệnh vô cảm nên cũng không đưa ra phác đồ điều trị. Đây là căn bệnh do lối sống, môi trường và cách hành xử của con người tạo ra. Hệ lụy của tình trạng thờ ơ, vô cảm của công chức là vô cùng tệ hại, mà tệ hại nhất là thủ tiêu động lực làm việc, vươn lên của tập thể. Những cán bộ, công chức thờ ơ, vô cảm thường rất lười đi cơ sở và xa rời thực tiễn cơ sở. Chính vì lười đi cơ sở, không chịu va chạm với thực tiễn nên không nắm được công việc, quan liêu trong lĩnh vực mình quản lý, giải quyết. Thậm chí nếu được giao chức năng tham mưu để ban hành những chủ trương, chính sách, quyết sách thì đó là những “quyết định trên trời” gây bức xúc dư luận.
Trong một tập thể có những người thờ ơ, vô cảm với công việc thường dễ lây lan tâm lý này sang những người khác. Bởi nếu anh “sớm chẳng vừa, trưa chẳng vội” mà không bị xử lý thì tôi cũng sẽ thế được, dần trở thành tâm lý đám đông. Khi con người không có động lực làm việc, giải quyết công việc không vì người khác thì sẽ không bao giờ dành hết trí lực cho công việc, không có tư tưởng nghĩ ra việc, tìm đến việc. Tệ hại là, số cán bộ, công chức thờ ơ, vô cảm, làng nhàng này lại không dễ gì đưa họ ra khỏi bộ máy công quyền. Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa (đoàn Đồng Tháp) từng phát biểu trước Quốc hội khi thảo luận về Bộ luật Lao động (sửa đổi) rằng: “Có những người mặc dù đã đến tuổi nghỉ hưu theo luật hiện hành, trong khi công việc làm năng suất không cao, "sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về", chỉ ở mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng không muốn nghỉ hưu, chờ cho đến đúng tuổi mới nghỉ”. Vì điều đó mà những người mới, nhất là những người trẻ có hoài bão, tâm huyết và trí tuệ, muốn được cống hiến trong bộ máy công quyền cũng khó có vị trí.
Trên thực tế, nghiên cứu khái quát của các nhà quản lý trong lĩnh vực công chức, viên chức đưa ra con số khoảng 30% cán bộ, công chức “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về”. Xin dẫn lại một phát biểu năm 2013 của Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khi ấy tại cuộc họp thứ nhất Ban chỉ đạo Đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức: “Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”. Điều này khiến cho bộ máy công quyền cồng kềnh trong khi công việc vẫn bị xem là chưa chạy. Trong khi đó, ngân sách nhà nước để nuôi bộ máy là không hề nhỏ mà đáng ra một phần số ngân sách này có thể tiết kiệm được.
Không chỉ vậy, những cán bộ có tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm trong giải quyết công vụ luôn ám ảnh người dân có suy nghĩ tiêu cực về đội ngũ cán bộ công quyền, những người được xem là công bộc của dân. Họ rất ngại đến cơ quan công quyền, trừ việc bất đắc dĩ. Tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm của công chức đã hình thành nên tư tưởng cho mình là người có quyền ban phát. Bởi thế lâu nay, khi người dân làm việc với cơ quan công quyền thường bị mặc định từ “xin” ở đó. Nguyện vọng, quyền lợi gì cũng mặc định trong “Đơn xin...”. Xin cho con đi học, xin giấy khai sinh, xin giấy khai tử, xin xác nhận hộ khẩu... Đây là quyền lợi chính đáng của người dân, đặc quyền của công dân được hưởng thụ dưới chế độ của Nhà nước ta. Vậy thì cán bộ cơ quan công quyền phải có nghĩa vụ thực hiện cho người dân chứ không phải là ban phát hay đặc quyền ở đó.
3. Dưới chế độ của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì cán bộ, công chức là công bộc của dân. Cũng có nghĩa, mọi cán bộ, công chức phải hết lòng, hết mình trong giải quyết công vụ, vì nhân dân phục vụ, tự mình đấu tranh với chính mình để loại bỏ tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm, cách làm việc làng nhàng không hiệu quả.
Trở lại từ lý luận, Các Mác từng có một luận điểm mang tính kinh điển, đã trở thành nền tảng, cơ sở khoa học khi nghiên cứu, giải quyết vấn đề bản chất con người: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”. Luận điểm này đã được ông luận giải một cách rất thuyết phục. Những cán bộ, công chức và chính mỗi người có tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm với công việc nguyên nhân chính là do họ và họ là người quyết định điều đó trong môi trường đó. Môi trường làm việc rất quan trọng và có tác động lớn đến tình cảm, thái độ, trách nhiệm của mỗi người. Con người trong tập thể nếu không chịu va đập, không bị va đập, không qua trải nghiệm, gắn mình với thực tiễn sẽ ngày càng thờ ơ và ít sự cảm thông trong đời sống xã hội. Bởi thế, ở đâu môi trường làm việc yêu cầu cao, sự nghiêm túc, trách nhiệm, sự đánh giá công tâm, công bằng, thì ở đó mỗi cán bộ, công chức sẽ có động lực để thay đổi mình, buộc phải thay đổi mình.
Từ thực tiễn, chính các tổ chức, cơ quan, đơn vị trong bộ máy Nhà nước phải đánh giá đúng thực chất hiệu quả công việc của công chức do mình quản lý. Ai cũng thấy nhiều cán bộ, công chức làm việc không hiệu quả theo kiểu “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về” diễn ra ở các cơ quan công quyền nhưng tỷ lệ báo cáo đánh giá chất lượng cán bộ, công chức hằng năm của hầu hết các cơ quan, đơn vị thường trên 90% hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều cơ quan, tỷ lệ này rất cao, thậm chí gần 100%. Chính việc đánh giá cán bộ không đúng, phân loại nể nang, không bám vào tiêu chí đã dẫn đến tình trạng “đánh bùn sang ao”, cán bộ làm tốt cũng như chưa tốt. Bất cập này khiến người làm tốt bị mất động lực phấn đấu, trong khi người chưa hoàn thành, hoàn thành thấp nhiệm vụ vẫn nghiễm nhiên tại vị, vẫn được hưởng đầy đủ các chế độ của một công chức. Và đương nhiên, họ cũng không có động lực để thay đổi chính mình. Dù Luật Cán bộ, công chức quy định nếu cán bộ hai năm không hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ loại ra khỏi đội ngũ nhưng trên thực tế hằng năm vô cùng ít cán bộ bị loại khỏi bộ máy công quyền với lý do là không hoàn thành nhiệm vụ. Vậy nên, cốt lõi để làm cho mọi cán bộ, công chức thay đổi thái độ, trách nhiệm làm việc của mình thì tổ chức phải đánh giá đúng hiệu quả công việc của họ./.
Báo QĐND
ĐỪNG CỐ TÌNH XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG” CỦA VIỆT NAM
Sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm Việt Nam và việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện, một số tổ chức, cá nhân thù địch phát tán nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc, đả kích đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Họ cho rằng Việt Nam đang “bài Trung, thoát Nga, ngả Mỹ”. Họ tiếp tục cho rằng chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không” của Đảng và Nhà nước Việt Nam là sai lầm, nếu tiếp tục kiên định chính sách này Việt Nam sẽ “bị cô lập” trong cộng đồng quốc tế.
Chúng ta chẳng lạ gì luận điệu đã cũ rích này. Lâu nay, trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, đối ngoại là lĩnh vực trọng điểm mà các thế lực thù địch, phản động nhằm vào để chống phá. Không chỉ phủ nhận những thành tựu của công tác đối ngoại mà bằng nhiều thủ đoạn, họ mưu toan gia tăng tán phát những thông tin sai lệch, xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam; kích động chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước đối tác, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng; phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam; hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Cần phải khẳng định rằng những luận điệu ấy là vô căn cứ, trắng trợn xuyên tạc đường lối đối ngoại và chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam. Nhưng dù bằng luận điệu, chiêu trò gì chăng nữa các tổ chức, cá nhân thù địch cũng không thể xuyên tạc được sự thật. Những gì đã và đang diễn ra trong quan hệ ngoại giao nói chung và đối ngoại quốc phòng của Việt Nam nói riêng đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái đó.
Quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Việt Nam chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Thực tiễn đã chứng minh chủ trương, chính sách đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với đường lối đối ngoại của đất nước, phù hợp với lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc cũng như tình hình thực tiễn của Việt Nam. Quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Bài học “Dựa vào sức mình là chính”, “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”… vẫn còn nguyên giá trị. Từ thực tiễn lịch sử, Việt Nam cho rằng bảo vệ Tổ quốc phải bằng sức mạnh nội lực, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại chứ không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự hay hiệp ước quân sự nào và càng không thể trông chờ, ỷ lại vào bất cứ một quốc gia nào. Sẽ là không phù hợp và sai lầm nếu Việt Nam ngả theo bất cứ phe nào, phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào. Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ. Việt Nam không “bài” nước này, “thoát” nước nọ, “ngả” nước kia mà luôn kiên trì phương châm là bạn với tất cả các nước, theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, công lý và lẽ phải, bảo vệ Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ) và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
Từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược hơn ai hết Việt Nam hiểu rõ sự khốc liệt của chiến tranh. Việt Nam không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác. Bởi nếu làm như vậy thì rất dễ biến đất nước mình trở thành mục tiêu tiến công của các thế lực thù địch, khó tránh khỏi nguy cơ bị lôi kéo vào xung đột, chiến tranh. Mặt khác, Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình. Với Việt Nam quốc phòng tối ưu là không phải tiến hành chiến tranh. Việc không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác còn thể hiện rõ thiện chí của Việt Nam trong việc giữ gìn, xây dựng và thúc đẩy hoà bình trên thế giới.
Trong giải quyết các vấn đề của quan hệ quốc tế, nhất là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực mà phải trên cơ sở quán triệt và thực hiện tốt đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị, độc lập, tự chủ... bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chủ trương và cách giải quyết đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân cũng như toàn xã hội, được dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ.
Thực tiễn đã chứng minh chủ trương, chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không” là giải pháp hiệu quả để Việt Nam bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc. Công tác đối ngoại quốc phòng của Việt Nam những năm qua không ngừng mở rộng và thúc đẩy mạnh mẽ. Công tác đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng giữ vai trò tiên phong trong việc tạo lập quan hệ và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa mọi nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao nhà nước với 193 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Việt Nam đã thiết lập quan hệ quốc phòng với hơn 100 nước và tổ chức quốc tế, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ và tất cả các nước lớn là đối tác chủ chốt, quan trọng. Từ tháng 6-2014 đến nay, Việt Nam đã cử 533 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia gìn giữ hòa bình LHQ và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Đảng, Nhà nước, nhân dân ghi nhận, đồng tình ủng hộ và LHQ cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Những thành quả đó góp phần khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đối ngoại quốc phòng được thúc đẩy mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực phù hợp với nhu cầu, khả năng của Việt Nam cũng như các đối tác và được xác định là phương thức hữu hiệu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Một trong những kênh đối ngoại quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam đó là đối ngoại quốc phòng…
Thực tế đó đã chứng tỏ chẳng những không hề bị cô lập, mà ngược lại quan hệ đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng của Việt Nam ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả. Điều đó mở ra cơ hội thuận lợi để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và quốc phòng Việt Nam trên trường quốc tế.
Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại được Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
Như vậy có thể thấy chủ trương, chính sách đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng, minh bạch, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế chung của thế giới. Những gì được Đảng Cộng sản Việt Nam nêu trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII thêm một lần nữa khẳng định việc thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là hoàn toàn đúng đắn và Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện chính sách này trong những năm tiếp theo.
Nếu ai đó nói rằng Việt Nam “bài”, “thoát” nước này, “ngả” theo nước kia, chính sách quốc phòng “bốn không” là “sai lầm”, Việt Nam sẽ “bị cô lập” nếu kiên trì thực hiện chính sách này… thì đó là hành động cố tình xuyên tạc, bịa đặt nhằm động cơ chính trị và mưu đồ đen tối. Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh, phản bác, loại bỏ những luận điệu sai trái, vô căn cứ ấy ra khỏi đời sống trong nước và quan hệ hợp tác quốc tế.
CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHẢI LÀM ĐẦU TÀU GƯƠNG MẪU
Thực tế cách mạng Việt Nam luôn chứng minh vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ vai trò, vị trí quan trọng của mình, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu cao ý thức trách nhiệm, phát huy tinh thần gương mẫu để dẫn dắt, lôi cuốn quần chúng cùng gắng sức thực hiện nhiệm vụ cách mạng chung của Đảng, của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ cách mạng rất vinh quang, nhưng cũng hết sức nặng nề, khó khăn, đòi hỏi phải có nỗ lực cao của cán bộ, đảng viên. Ngày 8 - 6 - 1959, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Khu Việt Bắc, Người nêu rõ: “Cải tạo xã hội cũ xấu xa trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Muốn làm được sự nghiệp ấy, các cán bộ, đảng viên… cần có ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa cao, một lòng một dạ phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội”. Người đề nghị cán bộ, đảng viên phải luôn nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, luôn tích cực vươn lên hàng đầu, gương mẫu về đạo đức cách mạng cũng như trong công tác, học tập.
Hồ Chí Minh cũng thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần thực hiện nghiêm túc sự gương mẫu ở mọi lúc, mọi nơi, thật sự làm gương cho quần chúng nhân dân noi theo”. Người yêu cầu: “Người đảng viên - dù trong công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng… mà muốn làm cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Ngày 10 - 2 - 1967, nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây, Người dạy cán bộ, đảng viên “phải làm đầu tàu, gương mẫu. Muốn làm gương mẫu thì điều quan trọng nhất là các chú từ tỉnh đến huyện, đến xã phải đoàn kết thật sự, làm sao tự mình nêu gương”, đồng thời giáo dục cho cán bộ, đảng viên “giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng, làm cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”.
Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh sự gương mẫu của cán bộ các cấp. Ngày 16 - 1 - 1966, tại Hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12, Người yêu cầu các đồng chí lãnh đạo cần phải gương mẫu, cần phải đồng cam cộng khổ, quan tâm đến đời sống của cán bộ, của nhân dân.
Là Người cha thân yêu của Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tình cảm, tâm huyết để giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội, nhất là về tinh thần gương mẫu. Tháng 3 - 1948, trong “Thư gửi Hội nghị quân y”, Người viết: “từ việc lớn đến việc nhỏ, cán bộ đều phải làm kiểu mẫu. Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện quân lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại, mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm gương”. Đến ngày 29 - 1 - 1957, khi nói chuyện với các đại biểu quân đội, thương binh và quân nhân phục viên nhân dịp Tết Đinh Dậu, Người căn dặn: “Trong Quân đội cách mạng, cán bộ phải làm gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sĩ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”.
Tư tưởng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên đã và đang được toàn Đảng, từng cán bộ, đảng viên, đoàn viên ta quán triệt, thực hiện tích cực và hiệu quả. Đảng đã có nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp để phát huy tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đoàn viên. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thành tích, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm, tồn tại: “Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên. Công chức, viên chức chưa gương mẫu” và “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…”.
Để khắc phục tình trạng trên, Đảng xác định phải có chủ trương, giải pháp đồng bộ, hiệu quả, đặc biệt là phát huy cao nhất vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định: phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trong đó, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Đảng viên tự giác nêu gương để qua đó khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu của mình và tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng phát triển. Đảng cũng có nhiều biện pháp tích cực để tạo thuận lợi cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên phát huy được hiệu quả nhất sự tiên phong, gương mẫu của mình. Như việc khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm đã được Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra: “Có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ những cán bộ, đảng viên có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”.
Tình hình cách mạng trong giai đoạn mới đã và đang đỏi hỏi cán bộ, đảng viên cần thật sự tự giác tăng cường rèn luyện phấn đấu, nêu cao tinh thần tiên phong gương mẫu thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, được tổ chức vào ngày 9 - 12 - 2021: “Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là người đứng đầu, người chủ trì phải gương mẫu, tự giác làm trước (ngay sau Hội nghị này, không phải chờ đợi gì cả); căn cứ vào Nghị quyết, Kết luận và Quy định lần này, nghiêm túc tự phê bình, kiểm điểm, tự soi lại mình, đơn vị mình, gia đình mình, cái tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình. Mọi đảng viên đều phải làm như vậy, chứ không phải chỉ đứng ngoài mà “phán”, hoặc “ chờ xem”, coi như vô can”.
Làm được như vậy, chúng ta sẽ góp phần xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”.
TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, HIỆU LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Đây là nhiệm vụ, giải pháp cơ bản,
hàng đầu bảo đảm định hướng chính trị, pháp lý và hiệu quả quán triệt, thực
hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI
của Đảng xác định chủ trương: “Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi
mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước về quốc phòng và an ninh”. Theo đó, cần thực hiện nghiêm
nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt đối với sự nghiệp
quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Tiếp tục nghiên cứu bổ sung, điều
chỉnh cơ cấu tổ chức Đảng lãnh đạo sự nghiệp quân sự, quốc phòng thống nhất,
đồng bộ từ Trung ương đến các địa phương, nhất là đối với cấp quân khu và cơ
sở. Cụ thể hóa các nội dung cần lãnh đạo về quốc phòng và bổ sung, hoàn chỉnh
cơ chế lãnh đạo, điều hành hoạt động từng cấp, ngành, địa phương, đặc biệt chú
trọng khi xử lý các tình huống phức tạp. Quán triệt và thực hiện có hiệu quả sự
chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, mở rộng chức năng, nhiệm vụ, phát huy hơn
nữa chất lượng công tác tham mưu của quân đội về thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc.
Điều chỉnh cơ cấu quản lý nhà nước
về quân sự, quốc phòng từ Trung ương đến cơ sở bảo đảm hợp lý và hiệu quả. Rà
soát bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng bảo
đảm đồng bộ, thống nhất, xây dựng quy chế phối hợp, xác định rõ cơ chế hoạt
động, chức năng, nhiệm vụ của hội đồng quốc phòng, các cơ quan, cán bộ chuyên
trách về công tác quốc phòng ở các bộ, ngành, địa phương. Tăng cường công tác
thanh tra, kiểm tra, sơ kết rút kinh nghiệm về công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ
huy, điều hành công tác quân sự, quốc phòng ở các bộ, ngành, địa phương.
PHƯƠNG PHÂM CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Một là, kiên định nguyên tắc
chiến lược đi đôi với sự vận dụng linh hoạt sách lược, tranh thủ sự ủng hộ rộng
rãi của nhân dân trong nước, dư luận quốc tế; phân hóa, cô lập các phần tử
chống đối, ngoan cố nhất, các thế lực chống phá Việt Nam hung hăng nhất.
Hai là, đối với nội bộ, lấy
việc phát huy dân chủ, giáo dục, thuyết phục, ngăn ngừa là chính, đi đôi với
giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, xử lý nghiêm các sai phạm. Đối với các thế lực chống
đối trong nước, cần phân hóa, cô lập bọn đầu sỏ, ngoan cố; xử lý nghiêm minh,
kiên quyết với những người cố tình chống đối, đi ngược lại với lợi ích dân tộc.
Giáo dục, vận động những người lầm đường, không để hình thành tổ chức đối lập
dưới bất kỳ hình thức nào.
Ba là, thường xuyên đi sát
cơ sở, nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời mọi mầm mống gây mất an ninh, không
để bị động, bất ngờ.






