Thứ Năm, 2 tháng 11, 2023

 

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ XÃ HỘI 
VÀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI HIỆN NAY
(Kỳ 2)

Sau 37 năm đổi mới, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực, đời sống của đại đa số nhân dân ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, dưới tác động tiêu cực cuả nền kinh tế thị trường là những nhận thức và hành động của một bộ phận trong xã hội đi ngược lại chuẩn mực tiến bộ của xã hội. Theo đó, những vấn đề xã hội ở Việt Nam có xu hướng ngày càng gia tăng phức tạp hơn, phạm vi lan tỏa rộng hơn, tác nhân tham gia đã dạng hơn, hệ quả xã hội lớn hơn... Vì vậy, các vấn đề xã hội cần được chú ý nhận diện và xử lý giải quyết trên quan điểm của tư duy hệ thống, trong xu hướng vận động, biến đổi và phát triển không ngừng của xã hội. Và do đó, đòi hỏi phải phối hợp nhiều lực lượng tham gia, cũng như phải khoa học hơn, nhiều nguồn lực và vì con người hơn thì mới có khả năng ngăn ngừa và ứng phó có hiệu quả. Những biểu hiện của các vấn đề xã hội đòi hỏi hoạt động quản lý phát triển xã hội phải có khả năng định hình phương thức ứng phổ và quản lý mới, kịp thời, phù hợp và hiệu quả.

Để tăng cường công tác quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội một cách chủ động, hiệu quả hơn, cần thực hiện tốt giải pháp sau đây:

 Cần phải quan tâm đầu tư, xây dựng phát triển các nguồn lực cho việc quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội. Trước tiên phải tăng cường đầu tư các nguồn lực của Nhà nước và cần phải được xem xét là sự đầu tư cho mục tiêu phát triển bền vững. Đồng thời, mở rộng hợp tác quốc tế để thu hút các nguồn lực từ bên ngoài. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của các nguồn lực thông qua việc thực hiện xã hội hóa quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội. Nhà nước giữ vai trò định hướng, “đặt hàng" các doanh nghiệp, tổ chức xã hội thực hiện một số lĩnh vực thay các cơ quan hành chính nhà nước hiện vẫn đang điều hành, quản lý và chịu trách nhiệm. Đó cũng là một hướng đột phá trong việc triển khai thực hiện có hiệu quả đối với việc quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội./.

 

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ XÃ HỘI VÀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI HIỆN NAY
(Kỳ 1)

Sau 37 năm đổi mới, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực , đời sống của đại đa số nhân dân ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, dưới tác động tiêu cực cuả nền kinh tế thị trường là những nhận thức và hành động của một bộ phận trong xã hội đi ngược lại chuẩn mực tiến bộ của đại đa số nhân dân. Những vấn đề xã hội ở Việt Nam có xu hướng ngày càng gia tăng phức tạp hơn, phạm vi lan tỏa rộng hơn, tác nhân tham gia đã dạng hơn, hệ quả xã hội lớn hơn... Vì vậy, các vấn đề xã hội cần được chú ý nhận diện và xử lý giải quyết trên quan điểm của tư duy hệ thống, trong xu hướng vận động, biến đổi và phát triển không ngừng của xã hội. Và do đó, đòi hỏi phải phối hợp nhiều lực lượng tham gia, cũng như phải khoa học hơn, nhiều nguồn lực và vì con người hơn thì mới có khả năng ngăn ngừa và ứng phó có hiệu quả. Những biểu hiện của các vấn đề xã hội đòi hỏi hoạt động quản lý phát triển xã hội phải có khả năng định hình phương thức ứng phổ và quản lý mới, kịp thời, phù hợp và hiệu quả.

Để tăng cường công tác quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội một cách chủ động, hiệu quả hơn, cần thực hiện tốt giải pháp sau đây:

Cần phải chấp nhận “vấn đề xã hội”, sẽ còn tồn tại với xã hội trong quá trình phát triển. Đồng thời, thực tế cho thấy, các nguyên nhân tạo ra chúng ngày một tinh vi, phức tạp thêm. Không thể có một xã hội mà không có vấn đề khi hội, nhưng cần phải xây dựng một xã hội có đủ năng lực giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Do vậy, Việt Nam cần phải hướng đến mọi tiêu là kiểm soát, giảm thiểu tác động tiêu cực của vấn đề xã hội. Trên cơ sở tiếp cận giải quyết các vấn đề xã hội trong mối tương quan giữa sự vận động, tái cấu trúc nền kinh tế với sự vận động từ cấu trúc xã hội./.

 

Đấu tranh đẩy lùi bệnh “Công thần”

Hiện nay, một số cán bộ đảng viên và quần chúng dựa vào chút công lao đóng góp ít ỏi thuộc nghĩa vụ, trách nhiệm của mình cho mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương trong quá trình chiến đấu, lao động, công tác... nhưng có lối sống thực dụng, kiêu ngạo, hay đòi hỏi đãi ngộ quá đáng, nếu không được đáp ứng thì lập tức có những phản ứng cực đoan để rồi nói, làm, viết trái với chủ trương, đường lối của Đảng; pháp luật của Nhà nước, thậm chí coi thường kỷ cương, kỷ luật Đảng, bất chấp pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, quy định của địa phương.

Đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân đều ý thức được rằng, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Do đó, việc đem trí tuệ, sức lực, thậm chí sinh mạng để lao động, sáng tạo, phấn đấu là hiển nhiên, thể hiện sâu sắc quyền, nghĩa vụ đã được hiến pháp quy định. Tuy nhiên, vẫn còn một số ít cán bộ, đảng viên và quần chúng có tư tưởng, hành động so đo, xét lại từ lối sống thực dụng. Coi chút thành tích, công trạng của mình là to lớn, hơn người mà tỏ ra huênh hoang; coi thường tổ chức, coi thường người khác. Thậm chí, vì những quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, quy chế của cơ quan, đơn vị mà tổ chức không thể đãi ngộ thỏa đáng thì tỏ ra tiêu cực, chống đối, coi thường, thù hằn và có những hành động nói, làm, viết trái với quan điểm, đường lối của Đảng. Đương nhiên, họ không tự biết mình đang nhiễm căn bệnh “công thần, kiêu ngạo” và tự đánh mất mình.

Bệnh “công thần” là loại “siêu vi rút” ẩn nấp, luồn lách khắp nơi trong cuộc sống của chúng ta. Tuy vậy, những người “mắc bệnh” thường có những biểu hiện rất dễ nhận biết. Đối với cán bộ, đảng viên thì biểu hiện đầu tiên là kiêu ngạo, sa vào lối sống thực dụng, sa sút ý chí phấn đấu; giảm sút niềm tin vào Đảng; phai nhạt lý tưởng cộng sản, sa vào chủ nghĩa cá nhân. Lâu dần trong quá trình tự thúc đẩy từ bên trong của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiến đến viển vông chủ nghĩa, so đo, đố kị, không còn ý thức rèn luyện, phấn đấu, tách mình ra khỏi tổ chức, coi thường tổ chức, thực hiện nói, viết và làm trái với cương lĩnh, xa rời nền tảng tư tưởng của Đảng. Đấu tranh đòi hỏi quyền lợi, chế độ một cách vô lý, không có trong quyền và nghĩa vụ chính đáng mình được hưởng.

Để đấu tranh, ngăn chặn, loại bỏ bệnh “công thần”, trước tiên, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là cán bộ, chiến sĩ cần tự soi, tự sửa để xem mình và những người xung quanh mình đã nhiễm “căn bệnh” đó chưa để có biện pháp kịp thời “chữa trị”. Đi đôi với đó, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường quan tâm chăm lo xây dựng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Đây là một trong những nhiệm vụ, giải pháp cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Để làm được như vậy, cần đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ…

Điều không kém phần quan trọng để đẩy lùi, ngăn chặn bệnh “công thần” là cần kiên quyết đấu tranh phòng chống lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, lợi ích nhóm, nói không đi đôi với làm gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện rèn luyện đạo đức cách mạng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, chấp hành kỷ luật Đảng và 

Cần xử lý nghiêm hơn nữa các hành vi vi phạm của người nổi tiếng

 Thời gian qua, việc một số người nổi tiếng đã bị nhắc nhở và xử lý nghiêm khi có sai phạm trên mạng xã hội đã có tác dụng cảnh báo, răn đe kịp thời để các nghệ sĩ, người nổi tiếng đề cao trách nhiệm xã hội, có ý thức thượng tôn pháp luật cả trong sinh hoạt đời sống thường nhật cũng như trên không gian mạng.

Được biết, việc xử lý người nổi tiếng vi phạm pháp luật, trái thuần phong mỹ tục hiện đang được Bộ Thông tin - Truyền thông và Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch phối hợp xây dựng các quy chế, chế tài cụ thể. Theo đó, những nghệ sĩ, người nổi tiếng vi phạm bộ quy tắc ứng xử cho người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, không trung thực trong quảng cáo, cung cấp sai thông tin tới công chúng thì ngoài xử lý theo quy định pháp luật, thì có thể sẽ bị cơ quan chức năng đưa vào diện xem xét kiểm soát hạn chế hình ảnh, hoạt động; thậm chí bị khóa tài khoản mạng xã hội.

Dư luận hy vọng, quy trình xử lý người nổi tiếng vi phạm sẽ “lấp” được những khoảng trống trong giải quyết triệt để các vi phạm hiện nay. Song, cũng cần cân nhắc trong việc thiết lập danh sách đen (Black list) những nghệ sĩ, người nổi tiếng vi phạm vì đây là vấn đề liên quan đến con người. Nếu việc xác định quy chuẩn, hình thức xử phạt không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến nghề nghiệp và danh dự của những người nổi tiếng.

Thực tế, trong sự phát triển của khoa học công nghệ sự lan tỏa mạnh mẽ của các mạng xã hội hiện nay, cộng đồng, nhất là người trẻ luôn cập nhật rất nhanh xu hướng của dòng chảy xã hội, đưa ra phản ứng nhanh chóng và cũng chịu nhiều tác động từ hành vi của người nổi tiếng. Người nổi tiếng có thể là những tấm gương sáng, truyền cảm hứng và động lực tích cực nhưng cũng có thể tác động tiêu cực đến số đông. Do đó, không quá khi dư luận thường lo ngại giới trẻ sẽ bắt chước, làm theo hành vi tiêu cực của những người nổi tiếng. Lâu dài, nếu không được điều chỉnh, uốn nắn thì rất có thể sẽ ảnh hưởng đến nhận thức, suy nghĩ, hành động của thế hệ trẻ, tiềm ẩn những nguy hiểm cho xã hội.

Vì vậy, người nổi tiếng phải luôn có ý thức về trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội. Ngoài trách nhiệm của một công dân, người nổi tiếng cần phải có trách nhiệm xây dựng, lan tỏa hình ảnh, giá trị tốt đẹp đến công chúng. Họ cũng cần chịu trách nhiệm khi có các sai lầm, gây hệ lụy tiêu cực cho xã hội.

Song song với việc xây dựng, thực hiện nghiêm các chế tài, quy định của pháp luật, thiết nghĩ, cá nhân người nổi tiếng cần đề cao trách nhiệm trước người hâm mộ và cộng đồng xã hội. Trong mọi hành động đời thường cũng như trên mạng xã hội, người nổi tiếng cần coi trọng trách nhiệm xã hội để không tự đánh mất mình.

Với tư cách người của công chúng, cá nhân người nổi tiếng phải hướng đến người hâm mộ, hướng đến xã hội, coi trọng lợi ích cộng đồng. Qua đó, giúp người nổi tiếng xây dựng, gia tăng giá trị hình ảnh cá nhân; thực sự xứng đáng với niềm tin, sự yêu mến của công chúng./.

Đừng tự đánh mất mình

 Việc xử lý những người nổi tiếng có hành vi vi phạm pháp luật là rất cần thiết. Đồng thời, cá nhân người nổi tiếng cần đề cao trách nhiệm trước người hâm mộ và cộng đồng xã hội. Trong mọi hành động đời thường cũng như trên mạng xã hội, người nổi tiếng cần coi trọng trách nhiệm xã hội để không tự đánh mất mình. Đó là cách để họ gia tăng giá trị hình ảnh cá nhân; thực sự xứng đáng với niềm tin, sự yêu mến của công chúng.

Cách đây chưa lâu, việc Trần Thị Ngọc Trinh (người mẫu, diễn viên Ngọc Trinh) bị cơ quan chức năng khởi tố, bắt tạm giam đã thu hút sự chú ý của dư luận. Theo đó, Ngọc Trinh đã có hành vi điều khiển xe mô tô phân khối lớn, biểu diễn bằng những hành động nguy hiểm lưu thông trên tuyến đường thuộc Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiêm trọng hơn, sau đó những video clip về hành vi này đã được đăng tải, lan truyền trên nhiều tài khoản mạng xã hội của Ngọc Trinh gây bức xúc dư luận. Xét thấy việc đăng tải, phát tán nội dung các video clip nói trên đã có ảnh hưởng xấu đến vấn đề an ninh trật tự và an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức, lối sống và văn hóa ứng xử của giới trẻ, đặc biệt đây là tài khoản mạng xã hội được hàng triệu người theo dõi, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã khởi tố, bắt tạm giam 3 tháng bị can Trần Thị Ngọc Trinh về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Việc làm này của cơ quan chức năng đã nhận được sự đồng tình cao của dư luận xã hội vì mọi công dân, kể cả những người nổi tiếng nếu vi phạm pháp luật cũng phải bị xử lý nghiêm. 

Với tư cách người của công chúng, cá nhân người nổi tiếng phải hướng đến người hâm mộ, hướng đến xã hội, coi trọng lợi ích cộng đồng. Qua đó, giúp người nổi tiếng xây dựng, gia tăng giá trị hình ảnh cá nhân; thực sự xứng đáng với niềm tin, sự yêu mến của công chúng./.

Tránh hình thức trong kiểm điểm

 

Thời điểm này, các cấp ủy, tổ chức đảng trong cả nước đang chuẩn bị bước vào thực hiện việc kiểm điểm tập thể, cá nhân gắn với đánh giá phân loại tổ chức đảng, đảng viên cuối năm.

Kiểm điểm, đánh giá, xếp loại tổ chức Đảng, đảng viên cuối năm là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng cũng như chất lượng đội ngũ đảng viên; góp phần thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương, đơn vị, đặc biệt, khắc phục được các hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy.

Những năm qua, công tác quan trọng này luôn được các cấp ủy, đảng viên thực hiện nghiêm túc. Theo đó, nhiều đơn vị đã có văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết về kiểm điểm và đánh giá xếp loại đối với tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo quản lý hằng năm với tinh thần, lấy kết quả kiểm điểm của tập thể làm cơ sở để kiểm điểm cá nhân; lấy kết quả kiểm điểm của cá nhân để bổ sung, hoàn chỉnh kiểm điểm tập thể...

Qua việc kiểm điểm, đánh giá phân loại tổ chức đảng, đảng viên một cách khách quan, thực chất đã giúp mỗi đảng viên có ý thức “tự soi, tự sửa”, phấn đấu rèn luyện, tu dưỡng và thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của đơn vị, của mỗi đảng viên..

Thế nhưng, vẫn phải nhìn nhận thẳng vào sự thật đó là vẫn còn một số cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên… còn chưa nhận thức đầy đủ và thờ ơ về mục đích, ý nghĩa của việc kiểm điểm, đánh giá chất lượng cuối năm. Từ đó dẫn đến công tác chuẩn bị kiểm điểm tập thể, cá nhân ở một số nơi chưa thật tốt, quá trình kiểm điểm chưa sâu, chưa thẳng thắn, vẫn còn tình trạng né tránh, nể nang, ngại va chạm. Việc xếp loại đảng viên có nơi còn có biểu hiện bệnh thành tích, “dễ người dễ ta”.

Chưa hết, một số báo cáo kiểm điểm tập thể, cá nhân còn chung chung hoặc chủ yếu nêu thành tích, chưa xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân đối với những khuyết điểm, hạn chế. Một số nơi kiểm điểm tập thể chưa gắn với trách nhiệm cá nhân… Lại có nơi chỉ tập trung kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn mà chưa quan tâm đúng mức đến kiểm điểm tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống nên việc phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chưa được kịp thời…

Có thể nói, công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên cuối năm chính là dịp để mỗi tổ chức đảng, đảng viên tự soi, tự sửa lại mình. Kết quả kiểm điểm cũng là căn cứ quan trọng để quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ; góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên… Chính vì vậy, mỗi tổ chức đảng và bản thân mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao hơn nữa tinh thần tự phê bình và phê bình, thật sự phát huy tính dân chủ trong đảng. Có như vậy công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng tập thể, cá nhân mới thật sự nghiêm túc, thực chất, đạt hiệu quả cao.

Đặc biệt, ngay sau kiểm điểm, xếp loại chất lượng đảng viên, mỗi cấp ủy và cán bộ, đảng viên phải xây dựng kế hoạch, xác định rõ các giải pháp khắc phục hạn chế, yếu kém, khuyết điểm. Và quan trọng hơn cả vẫn là thực hiện kế hoạch đó một cách nghiêm túc, bằng tất cả tinh thần của người đảng viên chân chính.../.

Những chiêu trò quen thuộc

 Thời gian qua, người sử dụng các nền tảng mạng xã hội đã “nhẵn mặt” với những cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước mang danh nghĩa “tự do, dân chủ”, “yêu nước”, “dân oan”, tung ra video, bài viết xuyên tạc, kích động hòng gây mất ổn định chính trị-xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Vẫn là những chiêu trò cũ rích của thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền đưa ra những thủ đoạn, các luận điệu để xuyên tạc, bóp méo sự thật về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam như: Phủ nhận giá trị lý luận, thành tựu, thực tiễn, các quan điểm, đường lối của Đảng về dân chủ, nhân quyền; xuyên tạc, kích động vấn đề dân tộc, tôn giáo, tự do, dân chủ; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm để lôi kéo, kích động người dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, xã hội...

Để thực hiện được những âm mưu đó, các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài cần những con rối ở trong nước tiếp tay hoạt động. Với chiêu trò cho tị nạn, hứa hẹn một tương lai xán lạn nơi xứ người đã khiến cho nhiều kẻ trở lên lóa mắt và sẵn sàng làm con rối cho chúng. Hằng năm, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong nước ngoài gửi về nước ngoại tệ cùng các phương tiện kỹ thuật như máy tính xách tay, máy ảnh kỹ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do sự hậu thuẫn, hỗ trợ của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài nên số chống đối trong nước thời gian qua hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, nguy hiểm, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối là một nghề kiếm sống, là một con đường để rời bỏ quê hương, tị nạn chính trị.

Khi số đối tượng trên bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý về các hành vi vi phạm pháp luật theo quy định thì các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng để "tôn vinh" những đối tượng trên bằng những cái tên mỹ miều như "nhà dân chủ", "nhà phản biện", "luật sư nhân quyền" để rồi lớn tiếng cho rằng việc bắt giam những người này là "vi phạm dân chủ, nhân quyền". Một mặt, lo sợ trước sự phản ứng của người dân trong nước và sợ bị pháp luật trừng trị, các đối tượng đã tìm cách đào tẩu ra nước ngoài, xin tị nạn chính trị để tiếp tục bám gót các thế lực chống đối và sử dụng không gian mạng để phát tán tin giả, thông tin bịa đặt chống phá, bôi nhọ hình ảnh đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.

Ảo ảnh mang tên “Nhà nước Mông"

 Nằm trong một quốc gia đa dân tộc, đồng bào dân tộc Mông là một bộ phận quan trọng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đồng bào Mông cư trú ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc và di cư vào một số tỉnh Tây Nguyên nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông và Tây Bắc Việt Nam như: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La và Điện Biên… Trong lịch sử oai hùng chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam có một phần đóng góp to lớn của đồng bào Mông ở vùng Tây Bắc nói chung và ở tỉnh Sơn La nói riêng.

Mỗi giai đoạn cách mạng đều có sự chung sức, đồng lòng và tinh thần đoàn kết của toàn dân tộc, trong đó không thể không kể đến sự đóng góp của đồng bào Mông, từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ cứu nước cho đến thời kỳ đổi mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đã có hàng trăm chương trình, dự án, kế hoạch… về các lĩnh vực của đời sống dân sinh, đầu tư cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào Mông tỉnh Sơn La nói riêng, bộ mặt nông thôn vùng sâu, vùng xa, vùng cao tại Sơn La đã căn bản thay đổi cả về lượng và chất. Điện, đường, trường, trạm được đầu tư xây dựng… Đó là những bằng chứng đầy thuyết phục, thể hiện tính ưu việt của chế độ XHCN.

Tuy nhiên, giữa lúc cuộc sống bà con các dân tộc đang yên ấm trong những nỗ lực tột bậc, những cố gắng không biết mệt mỏi của Đảng và Nhà nước, trong sự tự vận động vươn lên khẳng định mình của lớp lớp bà con người Mông thì luận điệu tuyên truyền, thành lập cái gọi là “Nhà nước Mông” của các thế lực thù địch, phần tử xấu tiếp tục xuất hiện ở một số xã, bản vùng sâu, vùng cao, biên giới của một số huyện trên địa bàn tỉnh Sơn La.

Hoạt động lập “Nhà nước Mông” thực chất là hoạt động của số đối tượng phản động trong người Mông thuộc các tổ chức “Nhà nước Mông” ở nước ngoài (Mỹ, Thái Lan...) dưới sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch câu kết, móc nối, chỉ đạo số đối tượng trong nước lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, đặc điểm tâm lý, phong tục, tập quán của người Mông để tuyên truyền, kích động, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai, tự trị để dụ dỗ, lôi kéo người Mông trên thế giới, trong đó có người Mông Việt Nam tham gia nhằm tập hợp lực lượng thành lập “Nhà nước Mông”. Đây chính là một phần trong âm mưu chiến lược “Diễn biến Hòa Bình” của các thế lực thù địch.

Như vậy có thể nhận thấy hoạt động của các nhóm phản động âm mưu thành lập cái gọi là “Nhà nước Mông” đã gây bất ổn tình hình an ninh chính trị, trật tự ATXH với âm mưu thâm độc là phá vỡ khối đại đoàn kết các dân tộc. Từ những luận điệu sai trái, lừa bịp để kích động, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, những nỗ lực của cả hệ thống chính trị trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân các đối tượng đã vẽ ra những điều không có thật chèo lái dư luận hướng và đồng bào Mông từ đó đạt được mục đích phản động của chúng.

Nhận diện hoạt động lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước

 

Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, luôn thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Do đó, cùng với vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chống phá Đảng và chế độ ta.

Chiêu bài tôn giáo là một phần của chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam thường sử dụng nhằm kích động xu hướng chia rẽ, ly khai, từ đó phát triển thành các cuộc tuần hành, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự, tạo sự bất ổn định về chính trị - xã hội, ảnh hưởng không nhỏ sự phát triển toàn diện của xã hội. Đây cũng là cái cớ để họ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn hiện nay, ngoài những hoạt động chống phá mang tính quy luật thì một trong những thủ đoạn mà số đối tượng chống đối cực đoan ở trong và ngoài nước thường tiến hành là tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số nhằm kích động tư tưởng ly khai, tự trị tại các địa bàn chiến lược về an ninh, quốc phòng. 

Thực tế cho thấy, tại các khu vực trọng yếu của đất nước như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các thế lực chống phá cực đoan ở trong và ngoài nước đã lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với vấn đề tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, xúi giục người dân di cư tự do, biểu tình, bạo loạn gây mất ổn định chính trị nhằm tạo cớ can thiệp, phá hoại độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Bên cạnh đó, thời gian qua, tại một số địa phương xuất hiện những mặt hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội như vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa… Triệt để lợi dụng vấn đề này, các đối tượng chống đối cực đoan trong tôn giáo tìm mọi cách để ngụy tạo chứng cứ, thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và các ban, ngành chức năng có liên quan. Từ đó tạo tâm lý tiêu cực, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với các cấp uỷ đảng, chính quyền, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cao hơn nữa có thể kích động quần chúng tín đồ tụ tập đông người, gây rối an ninh, trật tự hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá chế độ.

Qua phân tích những vấn đề nêu trên cho thấy, chiêu bài tôn giáo được các thế lực thù địch và số đối tượng chống đối ở trong và ngoài nước triệt để lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước ta, là vấn đề mang tính quy luật. Hiện nay, thủ đoạn lợi dụng chống phá của các đối tượng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, lại được che đậy bởi vỏ bọc tôn giáo nên người dân khó phát hiện. Tính chất nguy hiểm ngày càng cao khi thủ đoạn này đã tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng của đồng bào theo đạo. Đây sẽ là tiền đề để khi có điều kiện, có thời cơ, các đối tượng sẽ đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, kích động, lôi kéo quần chúng tín đồ tham gia vào các hoạt động chống đối, vi phạm pháp luật.

Do đó, mọi chức sắc, tín đồ tôn giáo nói riêng và mỗi người dân Việt Nam nói chung hãy luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động lên án những mưu đồ xấu của kẻ địch. Đồng thời, tích cực tham gia đấu tranh, đẩy lùi việc lợi dụng vấn đề chính trị để chống phá ra khỏi đời sống tôn giáo, góp phần làm cho các hoạt động tôn giáo trở nên thuần khiết, tốt đẹp như bản chất vốn có. Nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác của người dân, phân biệt rõ hoạt động tôn giáo đúng nghĩa và hành vi lợi dụng tôn giáo để kích động chống phá của kẻ xấu. Mọi hoạt động tôn giáo phải tuân thủ giáo lý, giáo luật, tuân thủ luật pháp, đem lại đời sống đạo pháp đúng nghĩa, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho đồng bào trên cơ sở tuân thủ pháp luật của Nhà nước.

Không thể xuyên tạc quyền tự do phản biện ở Việt Nam

 

Nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của phản biện xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn trân trọng lắng nghe và tiếp thu những ý kiến phản biện của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội. Điều đó được thể hiện rõ trong Hiến pháp, hệ thống chính sách, pháp luật Việt Nam. Theo đó, Điều 9 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội”.

Đối với chủ thể là các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội thì thông qua các hình thức đối thoại, hội nghị, tư vấn … Chẳng hạn, đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì có thể có những hình thức như: Tổ chức cuộc họp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực; Ban Chấp hành, Ban thường vụ các tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức các hội nghị chuyên đề của các hội đồng tư vấn, ban tư vấn, các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn; các hoạt động chuyên môn có liên quan của các tổ chức thành viên; tổ chức để nhân dân góp ý kiến phản biện xã hội vào các dự thảo của cơ quan, tổ chức Đảng, nhà nước.

Đối với người dân, thực hiện quyền phản biện bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp qua lấy ý kiến cử tri của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; thông qua sinh hoạt thôn, bản, tổ dân phố; qua các tổ chức chính trị - xã hội mà người dân là một thành viên của tổ chức đó… Ngoài ra, nhân dân vẫn có thể tự mình phản biện bằng con đường gửi thư, gửi ý kiến đến các cấp có thẩm quyền, thông qua báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải ý kiến của mình.

Đặc biệt, trong tham gia xây dựng dự thảo các văn kiện trình Ðại hội XIII của Ðảng có những con số hết sức ấn tượng về phản biện xã hội thực hiện trong nhiệm kỳ Ðại hội XII. Trong đó, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức 10 chương trình giám sát về các vấn đề, lĩnh vực có ý nghĩa cấp bách đối với toàn xã hội; phản biện một số văn bản quan trọng của Ðảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành. Thông qua việc lấy ý kiến cho thấy Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo đảm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Như vậy, ở Việt Nam, phản biện xã hội là một trong những quyền của công dân, mọi ý kiến đóng góp xây dựng tập thể, đất nước đều được tôn trọng, ghi nhận, song pháp luật Việt Nam cũng nghiêm trị hành vi lợi dụng phản biện xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân. Phản biện xã hội để tìm ra điểm bất hợp lý của chính sách nhằm giải quyết vấn đề phát sinh, từ đó có thể kiến nghị điều chỉnh hay thậm chí là hủy bỏ chính sách đó, đề xuất chính sách mới, phù hợp hơn một cách thiết thực, hiệu quả nhất, vì lợi ích chung, sự tiến bộ khác xa bản chất, thủ đoạn phá bĩnh xã hội mà các thế lực thù địch đã và đang làm.

Cảnh giác trước những phản biện xã hội để phá bĩnh

 

Phản biện xã hội là sự nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến khẳng định những nội dung đúng đắn của chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chương trình, dự án, đề án, đồng thời phát hiện những điểm chưa chính xác, chưa phù hợp với đời sống xã hội và lợi ích chính đáng của nhân dân để kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung cho chính xác và phù hợp. Khác với đả kích, nói xấu, bôi nhọ mang tính chống đối, lật đổ, xuyên tạc sự thật, phản biện xã hội mang tính xây dựng, hỗ trợ, vì mục tiêu chung.

Thực tế cho thấy, cùng với nhiều đóng góp chân thành có ý thức xây dựng của nhân dân thì một số kẻ đã lợi dụng phản biện xã hội để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước. Các thế lực thù địch lợi dụng phản biện xã hội để tập hợp lực lượng chống đối chính trị, thúc đẩy sự đối kháng trong xã hội, tạo các lực lượng đối lập. Từ “phản biện” đến phản đối và chống đối, mục đích sâu xa là bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở Việt Nam.

Trước đây, một số hội, đoàn tự xưng như “Hội Nhà báo độc lập”, “Văn đoàn độc lập Việt Nam” (thành lập trái pháp luật) đã rêu rao, tự cho mình là tổ chức nghề nghiệp nhưng thực chất là tổ chức đối lập, mở ra các diễn đàn để thu hút các nhà báo, nhà văn tham gia nhưng thực chất là lợi dụng phản biện xã hội đã đăng tải những bài viết xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

Thời gian gần đây, lợi dụng chủ trương lấy ý kiến góp ý của nhân dân về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), đã xuất hiện một số trang mạng xã hội, blogger tham gia với động cơ xấu, cố tình đánh tráo bản chất, làm cho người dân hiểu sai từ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” thành “đất đai là độc quyền sở hữu của Nhà nước”. Thậm chí, số đối tượng xấu còn xuyên tạc rằng việc sửa luật nhằm tạo “lợi ích nhóm” cho quan chức, từ đó cố tình kích động hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bên cạnh đó, một số đối tượng giả danh phản biện thông qua các “thư ngỏ”, “thư kiến nghị” gửi các cấp, ngành, gửi các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đăng tải trên các mạng xã hội, trả lời phỏng vấn của các báo, đài nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam để trình bày ý kiến cá nhân về những chủ trương, chính sách. Họ cố tình miệt thị, công kích, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Mặt khác, họ thổi phồng những tồn tại, hạn chế của đời sống xã hội, quy chụp cực đoan rằng mọi hạn chế và tiêu cực ở nước ta là do sự trì trệ về chính trị và “do độc Đảng”.

Một số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, cực đoan còn núp bóng “nhà phản biện” có hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước như Phạm Đoan Trang, Nguyễn Lân Thắng… Sau khi các đối tượng bị cơ quan chức năng khởi tố, bắt giam, xét xử theo quy định của pháp luật thì một số tổ chức, hội nhóm phản động kêu oan, bẻ lái, tẩy trắng tội danh rồi vu cáo chính quyền Việt Nam “bịt miệng người bất đồng chính kiến”, “ở Việt Nam có quyền tự do phản biện nhưng chỉ phản biện theo hướng của đảng”…

Những âm mưu, thủ đoạn trên đối lập hoàn toàn với phản biện xã hội mà chính là phá bĩnh xã hội. Thực chất phá bĩnh xã hội là công cụ được các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, số tổ chức, hội nhóm cơ hội chính trị, cực đoan, các hãng truyền thông hải ngoại thiếu thiện chí với Việt Nam thường xuyên sử dụng.

Thông qua các trang mạng xã hội, các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động luôn tìm mọi cách tán phát những thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống và chụp mũ, đả kích, nói xấu; tùy tiện đưa ra luận điệu sai trái, xuyên tạc đánh lừa nhận thức dư luận, phản đối chế độ và chính sách hiện hành; phủ nhận thành tựu và sự phát triển của đất nước, gây nghi ngờ, tạo tâm lý hoang mang trong nhân dân, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại lòng tin, sự đồng thuận xã hội trong nước, hạ thấp vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.

Để giáo dục đi đúng hướng

 

Giáo dục là công cụ sắc bén nhất để bảo vệ chính trị, là vấn đề cốt lõi, quyết định đến sự tồn tại, phát triển của một quốc gia, dân tộc; chính giáo dục cùng với hệ thống pháp luật làm cho hệ tư tưởng của giai cấp thống trị trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội. Vì vậy, các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan, đoàn thể, nhà trường cần làm tốt công tác tuyên truyền, làm cho mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh, sinh viên hiểu đúng vai trò của giáo dục đối với sự tồn vong của chế độ, với sự tồn tại, phát triển của quốc gia, dân tộc, hiểu đúng ý nghĩa của thuật ngữ “tự do học thuật” và việc thực hiện quyền tự chủ trong học thuật của các cơ sở giáo dục.

Trong đổi mới giáo dục và thực hiện quyền tự chủ về học thuật, các cơ sở giáo dục-đào tạo cần tuân thủ nghiêm túc những quy định của Hiến pháp và pháp luật; việc đổi mới và thực hiện quyền tự chủ về học thuật phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa, truyền thống của dân tộc, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ nghĩa Mác-Lênin được cấu thành bởi 3 bộ phận là triết học Mác-Lênin, kinh tế chính trị Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Trước đây, 3 bộ phận này được tổ chức giảng dạy bài bản, chuyên sâu trong chương trình đào tạo đại học. Tuy nhiên những năm gần đây, do giảm thời lượng lý thuyết, tăng thời lượng thực hành, một số cơ sở giáo dục đã và đang có biểu hiện xem nhẹ việc giảng dạy 3 môn học quan trọng này. Mặt khác, việc lựa chọn các môn lý luận tự chọn của sinh viên hiện nay chủ yếu dựa vào cảm tính và tự tìm hiểu qua các lớp học trước nên động cơ, thái độ học tập của các em có thời điểm chưa đúng đắn, chưa tích cực.

Chính vì vậy, các cơ sở giáo dục cần cân nhắc kỹ lưỡng việc quy định tên của môn học, việc cắt giảm thời lượng lý thuyết, nhất là thời lượng dạy học 3 môn cấu thành nên Chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời làm tốt công tác quy định, định hướng cho việc lựa chọn các môn học tự chọn, các nội dung nghiên cứu của người học. Trong tình hình hiện nay, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả việc giảng dạy, giáo dục lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin trong các cơ sở giáo dục đại học cũng là một giải pháp hữu hiệu để góp phần phòng ngừa việc lợi dụng “tự do học thuật” nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chống lợi dụng “tự do học thuật” để thực hiện ý định xấu

 Ở Việt Nam, những năm gần đây, nhất là khi Luật Giáo dục đại học năm 2012 được ban hành (sửa đổi, bổ sung năm 2018), nhiều ý kiến trong và ngoài nước cho rằng cần “thúc đẩy tự do học thuật” để đưa nền giáo dục Việt Nam bắt kịp thế giới. Một số ý kiến còn đưa ra những dẫn chứng về cơ sở pháp lý cho rằng tự do học thuật được quy định trong Hiến pháp của Việt Nam. Họ đã trích Điều 25 Hiến pháp năm 2013 của nước ta: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” và luận giải rằng, quyền tự do học thuật hàm chứa trong quyền tự do ngôn luận đã được hiến định từ lâu. Họ còn trích khoản 3, Điều 32 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định: “Cơ sở giáo dục đại học có quyền tự chủ trong học thuật, trong hoạt động chuyên môn”; khoản 7, Điều 55 của Luật này quy định giảng viên có quyền “độc lập về quan điểm chuyên môn trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học” và cho rằng cách diễn đạt này thể hiện tinh thần của quyền tự do học thuật.

Trên thực tế, Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam chưa có một văn bản nào quy định về tự do học thuật theo kiểu “tự do của một người trong việc giảng dạy và nghiên cứu nhằm tìm kiếm sự thật không giới hạn mà không gặp phải nỗi sợ hãi về hình phạt hay mất việc vì đã xâm phạm một quan điểm chính thống về chính trị, tôn giáo hay xã hội”, mà chỉ quy định về việc tự do ngôn luận, tự chủ về việc giáo dục, đào tạo theo luật định. Khoản 11, Điều 1 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định: “Quyền tự chủ là quyền của cơ sở giáo dục đại học được tự xác định mục tiêu và lựa chọn cách thức thực hiện mục tiêu; tự quyết định và có trách nhiệm giải trình về hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật và năng lực của cơ sở giáo dục đại học”. Khoản 7, Điều 55 của Luật này cũng quy định: Giảng viên có quyền “độc lập về quan điểm chuyên môn trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học trên nguyên tắc phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội”.

Như vậy, những quy định của Luật Giáo dục đại học hiện hành quy định rõ các cơ sở giáo dục đại học có quyền tự chủ trong việc ban hành, tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, chính sách chất lượng, mở ngành, tuyển sinh, đào tạo, hoạt động khoa học-công nghệ, hợp tác trong nước và quốc tế nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật và những chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục của xã hội Việt Nam, phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội Việt Nam, hoàn toàn không quy định về việc người dạy và người học có thể tự do bày tỏ quan điểm, nghiên cứu những vấn đề không chịu sự ràng buộc của quan điểm chính trị hay tôn giáo.

Tự do học thuật ở Việt Nam cần được hiểu là việc người dạy và người học có quyền lựa chọn những vấn đề nghiên cứu, phương pháp giảng dạy và học tập phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, phù hợp với chuẩn mực đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa và quy định của pháp luật Việt Nam vì mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam; phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Kiên quyết phòng ngừa, đấu tranh đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân

 Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng độc hại, tồn tại dai dẳng trong mỗi người cán bộ, đảng viên, luôn chờ cơ hội để trỗi dậy; là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Người coi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng. Bác Hồ nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”, do vậy, theo Bác: “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra đối với cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân biểu hiện ở chỗ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, chúng ta cần nhận thức đúng đắn rằng “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Bởi vì, theo Bác, “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu”. Vấn đề là ở chỗ, như Bác Hồ đã chỉ ra: “Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”.

Việc cần làm hiện nay là các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về tự phòng, chống bệnh cá nhân chủ nghĩa. Đặc biệt đối với cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải nhận thức và xác định đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ không nghỉ, là lương tâm, trách nhiệm và ý thức tự giác của mình trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân

Cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong cơ quan, đơn vị thường xuyên theo định kỳ sinh hoạt tự phê bình và phê bình, trong đó chú trọng xem xét đến từng cá nhân, tập thể có biểu hiện cá nhân chủ nghĩa không? Nếu có thì phải giáo dục, ngăn chặn, đấu tranh nghiêm túc để loại bỏ ngay từ khi còn manh nha, nhen nhóm.

Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn, quy định về công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII) về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa, các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí...

Làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm có tư tưởng lành mạnh, trong sáng, không vụ lợi, lấy mục đích lợi ích tập thể, lợi ích đất nước, lợi ích của nhân dân để xác định động cơ phấn đấu, rèn luyện, phục vụ khi trở thành người cán bộ, đảng viên của Đảng.

Những triệu chứng nguy hại của bệnh cá nhân chủ nghĩa thời nay

 Trong suốt chặng đường cách mạng của đất nước ta, nhất là trong các cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do của dân tộc đã xuất hiện hàng vạn cán bộ, đảng viên tiêu biểu về phẩm chất vì lợi ích tập thể mà quên đi lợi ích cá nhân. Phẩm chất đó là rất đáng trân trọng, là cao cả nhất, là thước đo không gì sánh nổi về tư tưởng vì nước, vì dân mà quên thân, quên lợi ích cá nhân.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, những năm gần đây, chúng ta cũng đau lòng khi một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu bản lĩnh, bị vật chất, đồng tiền cám dỗ... đã đi ngược lại lợi ích tập thể, lợi ích của đất nước, coi lợi ích cá nhân là trên hết, từ đó làm mất thanh danh, phẩm chất người chiến sĩ cộng sản. mà biểu hiện của hiện tượng này là:

- Làm việc gì của cơ quan, đơn vị, địa phương cũng tính đến “được cái gì” mang về cho bản thân.

- Củng cố địa vị, bố trí những vị trí chủ chốt cán bộ, đảng viên thuộc quyền lãnh đạo, quản lý của mình là những người thân cận để bảo đảm sự thăng tiến cho cá nhân mình được thuận lợi.

- Xây dựng những cán bộ nguồn nằm trong quy hoạch là những người thân tín hoặc những người “cánh hẩu” với mình để được ban ơn về sau hoặc tiếp tục có điều kiện cất nhắc, giúp đỡ con cháu mình sau này.

- Chỉ đạo cơ quan, đơn vị, địa phương mình xây dựng “chính sách nội bộ” về một việc gì đó mà “lách luật” được để mang lại lợi ích cho một nhóm người. Ví như xây biệt thự liền kề, nhà ở... để bán giá cao nhưng thực chất chênh lệch hàng chục lần so với giá thị trường cho những cán bộ “có nhiều cống hiến”, trong đó có bản thân mình.

- Luôn ích kỷ, so bì, tính toán thiệt hơn; thấy đồng đội học hành, công tác thành đạt thì khó chịu, kèn cựa, nói xấu sau lưng, tìm cách hạ uy tín những cán bộ, đảng viên không thuộc “gu” của mình, gây mất đoàn kết nội bộ hoặc dùng các mánh khóe để vô hiệu hóa đồng đội, cấp dưới của mình.

 Là mỗi cán bộ, đảng viên, chúng ta phải luôn nêu cao tính tiền phong, gương mẫu trong mọi lúc, mọi nơi, đưa lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, việc gì có lợi cho tập thể, cho quần chúng thì làm trước. kiên quyết đấu tranh trước những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, đoàn kết tập thể để xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện./.

Làm gì để trong sạch nội bộ Đảng

 Tiến hành xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, rà soát, sàng lọc và kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện cao độ tính đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng ta hiện nay. Đây cũng là cơ sở quan trọng để đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị cho rằng việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật là “thanh trừng, đấu đá nội bộ”. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh đặt ra nhiều vấn đề đối với nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của Đảng ta hiện nay nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ:

Tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên. Đa dạng hóa các nội dung giáo dục, rèn luyện đảng viên, trong đó tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng; chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn; các chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên. Chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng học tập lý luận chính trị, học tập nghị quyết; chủ động nắm tình hình, diễn biến tư tưởng, kịp thời định hướng cho đảng viên trước những vấn đề phát sinh; tăng cường trách nhiệm của đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. 

 Đề cao tính đấu tranh tự phê bình và phê bình của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Thường xuyên giáo dục cho đội ngũ đảng viên nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, mục đích của tự phê bình và phê bình; duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Thường xuyên đổi mới nội dung, cách thức tiến hành tự phê bình và phê bình. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện có thái độ thành kiến, trù dập người phê bình khuyết điểm; thiếu trách nhiệm cả trong phê bình và tự phê bình; chống mọi biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, cục bộ bè phái, mất đoàn kết trong thực hiện tự phê bình và phê bình.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt, thực hiện tốt Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đối với công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; chủ động nắm chắc tình hình tổ chức đảng, đảng viên, nâng cao năng lực dự báo các tình huống, các vấn đề phức tạp, nổi cộm có thể nảy sinh trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các đơn, thư tố cáo, khiếu nại theo đúng quy định; không để xảy ra tình trạng đơn, thư kéo dài hoặc lợi dụng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng để gây mất đoàn kết, chia rẽ trong các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên.

Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về nhiệm vụ “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Tập trung xây dựng đội ngũ đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sạch, lành mạnh; luôn năng động, sáng tạo, đi đầu trong các hoạt động, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; đồng thời luôn vững vàng trước những cám dỗ của lợi ích vật chất. Bên cạnh đó, cần kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; hoặc lợi dụng công tác xây dựng Đảng để đưa ra khỏi Đảng những người không cùng phe cánh, những người mình không ưa thích, hoặc dám đấu tranh phê bình mình.

Kiên quyết đấu tranh làm trong sạch nội bộ Đảng từ cơ sở

 Làm trong sạch nội bộ Đảng là góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa, biến chất là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng,Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”

Hiện nay, Đảng ta đang đẩy mạnh việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, tổ chức của Đảng và Nhà nước, thậm chí là những đảng viên được đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển, tương lai rộng mở nhưng lại thiếu tu dưỡng, rèn luyện, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, “gục ngã” trước những cám dỗ vật chất tầm thường. Có thể nói, chưa bao giờ chúng ta xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm như vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Đây là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm”. Những sai phạm của cán bộ, đảng viên không thể để tiếp diễn, kéo dài, phải kiên quyết xử lý, kịp thời, nghiêm minh và công khai, làm nghiêm từ trên xuống dưới, không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai.

Rèn luyện đội ngũ cán bộ quân đội theo tinh thần "7 dám"


Tại Hội nghị Quân uỷ Trung ương lần thứ sáu, nhiệm kỳ 2020-2025, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, một lần nữa nhấn mạnh: Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ quân đội theo tinh thần "7 dám": "dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, và dám hành động vì lợi ích chung". Sở dĩ, Tổng Bí thư đặt ra yêu cầu cao hơn là bởi vì: Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài đưa đất nước vươn lên giàu mạnh, người dân ấm no, hạnh phúc. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần những cán bộ có tư duy, việc làm đột phá, càng trong khó khăn, thử thách thì càng cần những cán bộ có bản lĩnh, trình độ, dám nghĩ, dám làm. Mặt khác, đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội là những chủ thể được tiếp nối, thụ hưởng những giá trị truyền thống vẻ vang của Quân đội anh hùng; là đội quân tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; là công cụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, sự nghiệp cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Với sứ mệnh to lớn, lại hoạt động trong điều kiện, lĩnh vực đặc thù, thì càng đòi hỏi mỗi người phải có bản lĩnh vững vàng, nhãn quan chính trị sâu rộng; có tinh thần dấn thân, chấp nhận hy sinh vì lợi ích chung trong bất luận mọi tình huống. Chỉ có những cán bộ “7 dám” mới có thể góp phần hoàn thành sứ mệnh của một đội quân cách mạng, một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân./.