Thứ Năm, 2 tháng 11, 2023

NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ ĐỐI TƯỢNG, ĐỐI TÁC CỦA CÁCH MẠNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Nhng năm qua, công tác tuyên truyn bin đảo, giáo dc nhn thc v đối tượng, đối tác được các cp y, chính y, chính tr viên, ch huy, cơ quan chính tr các cp tích cc, ch động tiến hành, đạt kết qu khá tt. Tuy nhiên trước nhng din biến phc tp ca tình thế gii, khu vc, mt s cán b, sĩ quan cp úy, quân nhân chuyên nghip, h sĩ quan – binh sĩ đơn v còn băn khoăn, lo lng dn đến nhn thc chưa đúng, chưa thng nht. Do vy, cn tp trung lãnh đạo, ch đạo đẩy mnh các bin pháp tuyn truyn, giáo dc để nâng cao nhn thc cho quân nhân, công nhân viên chc, lao động quc phòng v vn đề này.

Tiếp tc quán trit và vận dụng sáng tạo quan đim của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dựng các hình thức, phương pháp, sách lược đấu tranh, liên minh, thỏa hiệp, phân hóa kẻ thù, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế để bảo vệ Tổ quốc, giữ vững thành quả cách mạng trong điều kiện mới. Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng ta v xác định đối tượng, đối tác ca cách mng trong tình hình mi là: Nhng ai ch trương tôn trng độc lp, ch quyn, thiết lp và m rng quan h hp tác, bình đẳng, cùng có li vi Vit Nam đều là đối tác ca chúng ta. Bt k thế lc nào có âm mưu và hành động chng phá mc tiêu ca nước ta trong s nghip xây dng và bo v T quc đều là đối tượng đấu tranh. Quan đim trên phù hp vi xu thế ca thi đại hiện nay, giúp chúng ta không b cô lp, đối đầu, tranh th mi ngun lc để phát trin đất nước; đồng thi đề cao cnh giác, sn sàng đập tan mi hành động xâm lược, phá hoi ca các thế lc thù địch.

D báo trước mt và lâu dài: các thế lc phản động, hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc vn là đối tượng nguy hiểm ca cách mng Vit Nam. Bên cnh đó, ta còn phi thường xuyên cnh giác và đấu tranh vi các cơ quan tình báo nước ngoài trc tiếp hoc đội lt các t chc quc tế, các cơ quan đại din nước ngoài, các t chc phi chính ph hot động làm phương hi đến an ninh quc gia; các trung tâm thông tin chng phá Vit Nam; các t chc và bn phn động trong người Vit định cư nước ngoài; ni gián và phn động trong nước, bn khng b lt vào nước ta; các đối tượng cơ hi chính tr hot động chng đối Đảng, chng chế độ, móc ni trong ngoài, tp trung lc lượng nhen nhóm thành lp các t chc đối lp...

Tình hình mới đòi hỏi việc xác định đối tượng, đối tác của cách mạng nước ta cần có cách nhìn mới. Không phân biệt chế độ chính trị, châu lục, quốc gia, vùng lãnh thổ, tập thể hay cá nhân. Đối tượng, đối tác cũng có th đan xen, chuyn hóa ln nhau, trong mi đối tượng cũng có mt cn tranh th, hp tác; trong mt đối tác cũng có mt khác bit, mâu thun cn đấu tranh... Phi có phương pháp xem xét khách quan, toàn din và linh hot để có ch trương, gii pháp đối phó thích hp: tranh th mt đối tác, cnh giác, đấu tranh vi mt đối tượng. Khc phc c hai khuynh hướng sai trái là tuyt đối hóa mt đối tác dn đến mơ h, mt cnh giác, th tiêu đấu tranh; hoc tuyt đối hóa mt đối tượng dn đến cng nhc trong nhn thc và x lý các tình hung c th, nhy cm.

Vì vậy, khi xem xét và giải quyết vấn đề đối tượng, đối tác phải có tư duy chiến lược, kết hợp chiến lược với sách lược; giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích cả trước mắt và lâu dài, cả cục bộ và toàn cục, cả đối nội và đối ngoại, không được máy móc, giáo điều, tùy tiện trong xử lý vấn đề đối tượng, đối tác. Phải biết tranh thủ khai thác mặt đối tác, những phải luôn luôn cảnh giác, đấu tranh với mặt đối tượng, nhất là trong đối ngoại quốc phòng. Phải lấy lợi ích căn bản của quốc gia, dân tộc làm cái “bất biến”, giải quyết hài hòa cái “vạn biến” để thực hiện phương châm “thêm bạn, bớt thù”, tranh thủ mọi khả năng, điều kiện để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

MỞ RỘNG, NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG

 


Công tác đối ngoại quốc phòng tiếp tục quán triệt đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế về lĩnh vực quốc phòng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế. Vì lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần giữ vững môi trường hoà bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới là thước đo hiệu quả của mọi hoạt động đối ngoại quốc phòng.

Tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác song phương, đa phương với các nước láng giềng, khu vực, các nước lớn và các đối tác quan trọng khác, nhất là các nước có chung đường biên giới, các nước ASEAN; đưa các quan hệ song phương vào chiều sâu, hiệu quả, ổn định bền vững.

XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ QUÂN ĐỘI TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Tiếp tục kiện toàn và nâng cao chất lượng tổ chức đảng các cấp trong quân đội. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đấu tranh tự phê bình và phê bình; nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ, tăng cường đoàn kết, thống nhất. Gắn xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên.

 Tập trung làm chuyển biến sâu sắc về nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ, cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp uỷ, chính uỷ (chính trị viên), người chỉ huy các cấp trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiện toàn, sắp xếp cấp uỷ và tổ chức cơ sở đảng đúng quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đồng bộ, thống nhất với Đề án “Điều chỉnh tổ chức quân đội trong tình hình mới”. Nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, trước hết là năng lực lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, gắn với lãnh đạo xây dựng các tổ chức và cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc, chế độ và tích cực đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng. Tiếp tục đổi mới toàn diện công tác cán bộ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cấp uỷ viên, cán bộ ở đơn vị cơ sở. Tăng cường giáo dục, quản lý, rèn luyện, kiểm tra, giám sát cấp uỷ, tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên.

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM THỰC SỰ LÀ LỰC LƯỢNG NÒNG CỐT BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

 


Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, tập trung xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, lòng trung thành. Giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối với nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đổi mới nội dung, phương pháp công tác đảng, công tác chính trị nói chung, công tác giáo dục chính trị tư tưởng nói riêng. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, giữ bí mật, bảo vệ an ninh, an toàn. Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Tăng cường công tác dân vận, công tác chính sách. Hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, giải quyết tốt những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh, thực hiện tốt phong trào đền ơn đáp nghĩa. Đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng hướng vào thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Tiếp tục quán triệt và thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về chấn chỉnh tổ chức quân đội đáp ứng yêu cầu thời bình và mở rộng khi có chiến tranh. Tập trung chấn chỉnh một bước cơ bản về tổ chức biên chế quân đội, trước mắt là sắp xếp lại các cơ quan chiến dịch, chiến lược và hệ thống nhà trường quân đội, các đơn vị làm kinh tế - quốc phòng; giảm trung gian, phục vụ, tăng lực lượng trực tiếp chiến đấu, sản xuất, kinh doanh. Điều chỉnh cơ cấu quân đội hợp lý, cân đối giữa lục quân và các quân binh chủng; giữa chủ lực và địa phương; giữa thường trực và dự bị động viên, dân quân tự vệ; ưu tiên các đơn vị sẵn sàng chiến đấu, biển đảo, thềm lục địa và biên giới. Tiếp tục đầu tư nghiên cứu tổ chức quân đội theo hướng tinh, gọn nhẹ, tiện cơ động, có sức chiến đấu cao, nhất là tổ chức cấp lữ đoàn bộ binh, các đơn vị đặc biệt cơ động phản ứng nhanh và tiến tới xây dựng lực lượng tác chiến chiến lược. Tham mưu cho Đảng, Nhà nước về xây dựng các lực lượng phi vũ trang làm nhiệm vụ kiểm soát trên biển, bảo vệ biển đảo của Tổ quốc: cảnh sát, kiểm ngư, ngư chính...

Cải tiến, hiện đại hóa vũ khí trang bị hiện có theo hướng cơ động tự hành và đa năng, kết hợp sản xuất một số vũ khí trang bị phù hợp khả năng của công nghiệp quốc phòng. Mua sắm một số vũ khí, trang bị, khí tài, phương tiện hiện đại, ưu tiên khả năng tác chiến tầm cao, tầm xa, kiểm soát chặt chẽ vùng trời, vùng biển xa, quan sát ban đêm và đánh đêm. Tập trung hiện đại Hải quân, Phòng không – Không quân, Thông tin liên lạc, Tác chiến điện tử và Trinh sát kỹ thuật, quan tâm đầu tư thích đáng đến đến hiện đại hóa Lục quân và từng bước mua sắm trang bị các loại vũ khí chiến lược.

Nâng cao năng lực tổ chức, chỉ huy và điều hành của người chỉ huy và cơ quan tham mưu các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược, năng lực làm tham mưu của cơ quan, nâng cấp các sở chỉ huy các cấp đáp ứng yêu cầu chỉ huy tham mưu tác chiến. Nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, bám sát yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Huấn luyện phải sát với yêu cầu chiến đấu, theo phương án: kết hợp cách đánh mới với cách đánh truyền thống, cách đánh của ta với vận dụng kinh nghiệm các nước, cách đánh du kích với đánh chính quy, hiện đại. Huấn luyện giỏi tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, đánh giỏi bằng vũ khí trong biên chế và vũ khí hiện đại. Coi trọng huấn luyện chuyên sâu, huấn luyện chỉ huy cơ quan; tăng cường diễn tập, nhất là diễn tập thực binh. Các học viện, nhà trường cần đổi mới chương trình, nội dung và tổ chức phương pháp huấn luyện, bảo đảm liên thông giữa các cấp học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chỉ huy toàn năng, nhân tài quân sự và nhân viên chuyên môn kỹ thuật giỏi. Thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa giáo dục - đào tạo và huấn luyện trong quân đội, tăng cường ứng dụng công nghệ đa phương tiện và công nghệ mô phỏng vào huấn luyện, đào tạo.

Tăng cường giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội cho quân nhân, công nhân, viên chức, lao động quốc phòng. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật và chấp hành pháp luật trong toàn quân. Nâng cao một bước trình độ xây dựng chính quy, duy trì nền nếp, chế độ sẵn sàng chiến đấu, sinh hoạt, học tập, công tác, bảo đảm an toàn trong huấn luyện và an toàn giao thông.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học - công nghệ và môi trường. Xây dựng đồng bộ hệ thống quản lý về nghệ thuật quân sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đầu tư nghiên cứu các đề tài có giá trị lý luận và thực tiễn cao, nhất là các đề tài về cải tiến vũ khí, trang bị và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam đánh thắng chiến tranh có vũ khí công nghệ cao. Tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác tổng kết chiến tranh. Gắn nghiên cứu khoa học về quân sự, quốc phòng với nghiên cứu khoa học của các cơ quan, ban ngành của Đảng và Nhà nước.

Tăng cường công tác quản lý, duy trì nền nếp công tác hậu cần, kỹ thuật; đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm. Phấn đấu bảo đảm tốt hơn đời sống của bộ đội; hạn chế tình trạng thiếu đồng bộ và xuống cấp của vũ khí trang bị. Bổ sung hoàn chỉnh các kế hoạch bảo đảm hậu cần, kỹ thuật theo các phương án tác chiến. Tiếp tục xây dựng thế trận hậu cần, kỹ thuật trên các hướng và khu vực chiến trường cả thời bình và thời chiến, tập trung bảo đảm cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo và địa bàn chiến lược. Nghiên cứu đổi mới cơ chế bảo đảm hậu cần, kỹ thuật kịp thời, vững chắc trong thời bình phù hợp với cơ chế và khả năng kinh tế của đất nước, bảo đảm hiệu quả thiết thực.

Xây dựng lực lượng dự bị động viên có số lượng hợp lý, được quản lý và huấn luyện chặt chẽ. Xây dựng dân quân tự vệ rộng khắp, có chất lượng cao, thực sự là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ở cơ sở, triển khai xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển.

ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VỮNG MẠNH, XÂY DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN GẮN VỚI THẾ TRẬN AN NINH NHÂN DÂN VỮNG CHẮC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

 


Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng. Bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, như: chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tranh chấp chủ quyền biển đảo, vùng trời, “diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị, khủng bố... Tiếp tục mở rộng đối tượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh, đổi mới quy trình, chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh phù hợp với đặc điểm tình hình và yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần, củng cố, tăng cường thế trận lòng dân vững chắc, tạo sự đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn dân về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường dự trữ quốc phòng, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, coi trọng hiệu quả tổ chức thực hiện. Củng cố và phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh tế của quân đội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân bảo đảm liên hoàn, vững chắc, kết hợp thế trận tại chỗ với cơ động, rộng khắp, thời bình và thời chiến, tập trung vào các hướng, khu vực, địa bàn trọng điểm chiến lược, biên giới, hải đảo. Tập trung điều chỉnh thế trận bố trí các lực lượng kết hợp giữa chủ lực với địa phương, tại chỗ với cơ động, trên không với trên bộ, trên biển và biên giới đất liền, hải đảo. Trên cơ sở đó, tổ chức xây dựng các công trình phòng thủ biển đảo và thềm lục địa, phòng thủ biên giới quốc gia, kiểm soát vùng trời.

Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh toàn diện cả về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; hoàn chỉnh cơ chế lãnh đạo, quản lý, điều hành; nâng cao chất lượng các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ; coi trọng xây dựng thế trận lòng dân trong khu vực phòng thủ; phát huy sức mạnh tổng hợp, giải quyết hợp lý và có hiệu quả các tình huống quốc phòng xảy ra ở địa phương cả thời bình và thời chiến.

Tập trung xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, có hệ thống chính trị vững mạnh, cơ sở chính trị vững chắc để tạo thế trận lòng dân ngay từ cơ sở, trong khu vực phòng thủ và trên cả nước. Cùng với việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục quốc phòng - an ninh, cần tập trung thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; mở rộng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực thi quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; nâng cao hiệu quả đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; tiếp tục quán triệt, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng đảng hiện nay” và Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị 317-CT/QUTW của Quân ủy Trung ương về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Quy định số 646-QĐ/QUTW ngày 06 tháng 11 năm 2012 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp trong quân đội.

Xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng bảo đảm trang bị ngày càng tốt hơn cho lực lượng vũ trang. Tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 16 tháng 7 năm 2011 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Điều chỉnh tổ chức các nhà máy quốc phòng theo hướng tập trung, liên kết nâng cao hiệu quả hoạt động; điều chỉnh bố trí nhà máy, kho, trạm xưởng đáp ứng yêu cầu bảo đảm khi bị chia cắt chiến lược; đầu tư có trọng điểm các công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực sản xuất các trang bị, vũ khí; kết hợp chặt chẽ quản lý của công nghiệp quốc gia và quản lý của Bộ Quốc phòng đối với công nghiệp quốc phòng phù hợp với đặc điểm, tính chất của các cơ sở sản xuất và sản phẩm công nghiệp quốc phòng.

 

GIỮ VỮNG MÔI TRƯỜNG HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH ĐỂ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

 


Thường xuyên theo dõi nắm chắc, đánh giá đúng tình hình thế giới, khu vực và trong nước, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, chủ động dự báo diễn biến tình hình, nhất là dự báo về chiến lược, tham mưu cho Đảng, Nhà nước nâng cao khả năng xử lý có hiệu quả các tình huống chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, giữ vững ổn định trên biển Đông, nội địa, biên giới và các địa bàn trọng điểm.

Duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển và hải đảo. Tăng cường khả năng phòng thủ biển đảo và thềm lục địa, sử dụng các giải pháp tổng hợp giải quyết hợp lý và có hiệu quả các vấn đề tranh chấp ở biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ đất nước.

Nâng cao khả năng phòng thủ biên giới trên bộ, điều chỉnh hệ thống đồn biên phòng, hoàn thành đường tuần tra biên giới, bảo đảm kiểm soát chặt chẽ biên giới quốc gia, cùng các nước láng giềng xây dựng biên giới hòa bình, hợp tác và hữu nghị. Chủ động nắm chắc tình hình nội địa, phối hợp chặt chẽ các lực lượng phát hiện sớm và xử lý kịp thời các vụ gây rối, biểu tình, bạo loạn, xâm phạm biên giới, vượt biên trái phép, buôn lậu… Thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phân giới cắm mốc.

Kịp thời điều chỉnh, bổ sung, xây dựng các quyết tâm, phương án tác chiến và kế hoạch phòng thủ trên cả nước, từng hướng chiến lược và ở tất cả các cấp; tăng cường luyện tập, diễn tập theo phương án nhất là về xử lý các tình huống trên biển và ở các địa bàn trọng điểm. Đẩy mạnh xây dựng các công trình phòng thủ, nhất là phòng thủ biển đảo, thềm lục địa, công trình phòng thủ biên giới. Điều chỉnh, bổ sung các kế hoạch phòng thủ dân sự, chủ động phòng, chống thiên tai, thảm họa và tăng cường công tác cứu hộ, cứu nạn.

 

Ý NGHĨA TÍCH CỰC CỦA CỤM TỪ “TỪ SỚM, TỪ XA”

Có nhiều từ, cụm từ vốn ban đầu được sử dụng trong phạm vi, môi trường, lĩnh vực quân sự, quốc phòng như: ra quân, chiến dịch, phương án,... nhưng sau đó lan sang lĩnh vực khác và dần trở thành những từ, cụm từ được sử dụng rộng rãi trong xã hội. Thời gian gần đây, cụm từ “từ sớm, từ xa” cũng đang trở nên quen thuộc với nhiều ngành, nhiều người vì ý nghĩa tích cực của nó.

Cụm từ “từ sớm, từ xa” vốn chủ yếu sử dụng trong lĩnh quốc phòng, quân sự. “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” được hiểu là bảo vệ Tổ quốc từ bên ngoài lãnh thổ và bảo vệ, phòng ngừa từ trước, chủ động chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ Tổ quốc ngay trong thời bình, lấy việc phòng ngừa từ sớm, chuẩn bị từ trước làm chủ yếu, theo phương châm không phải sử dụng chiến tranh. “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa” được hiểu là kịp thời nhận diện, phát hiện và xử lý những nhân tố bất lợi từ “trong trứng nước” và dập tắt ngay những mầm mống yếu tố có thể gây đột biến làm phương hại đến toàn vẹn lãnh thổ, độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia.

Cụm từ “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” có cội nguồn sâu xa từ lịch sử. Cách nay gần 6 thế kỷ, vào mùa xuân Nhâm Tý năm 1432, sau khi dẹp cuộc nổi loạn của Đèo Cát Hãn - do tù trưởng Mường Lễ, châu Ninh Viễn (nay là tỉnh Lai Châu) cấu kết với Kha Lại (người Ai Lao) làm phản ở biên giới phía Tây Bắc - trên đường hồi Kinh, vua Lê Thái Tổ đã sáng tác hai bài thơ. Một bài được khắc trên vách núi đá tỉnh Lai Châu, một bài khắc trên vách núi đá tỉnh Hòa Bình. Trong đó, bài thơ lưu lại tại núi đá tỉnh Hòa Bình có câu: “Biên phòng hảo vị trù phương lược/ Xã tắc ưng tu kế cửu an” (dịch nghĩa là: Biên phòng phải lo sẵn phương lược/ Giữ nước cần tính kế lâu dài). Lời khẳng định của vua Lê Thái Tổ thể hiện tầm nhìn chiến lược về sự nghiệp giữ nước nói chung, kế sách bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia nói riêng.

Khởi nguồn từ hai cụm từ “lo sẵn phương lược”, “tính kế lâu dài” trong di sản văn hóa giữ nước của ông cha ta, các nhà nghiên cứu quân sự thời hiện đại đã chuyển hóa thành phương châm “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” để vừa khẳng định sự tiếp nối truyền thống lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, vừa nhấn mạnh tinh thần chủ động, tích cực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời bình. Thực chất của phương châm “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” là ý chí cách mạng tiến công, tư thế chủ động, tinh thần nhất quán “Lo giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Đó chính là chủ động chuẩn bị các điều kiện tốt nhất cả về kế hoạch, phương án, lực lượng, thế trận và vật chất chất hậu cần - kỹ thuật để bảo vệ đất nước ngay trong thời bình, khi chưa xảy ra chiến tranh và không để Tổ quốc bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Với ý nghĩa đó, thời gian gần đây, cụm từ “từ sớm, từ xa” đã lan sang các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, đối ngoại... Ví như: Công tác xây dựng pháp luật cần chuẩn bị từ sớm, từ xa; Quốc hội chuẩn bị từ sớm, từ xa cho hoạt động giám sát năm 2023; Chuẩn bị từ sớm, từ xa để thúc đẩy tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2023; Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của cán bộ, đảng viên từ sớm, từ xa; Phòng ngừa tội phạm từ sớm, từ xa; Chiến lược quảng bá văn hóa cần chuẩn bị từ sớm, từ xa; Phòng ngừa bệnh tật từ sớm, từ xa; Hiệu quả hoạt động đối ngoại phụ thuộc vào công tác chuẩn bị từ sớm, từ xa...

Thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông đại chúng và trong nhiều hội thảo, hội nghị, diễn đàn, tọa đàm, cuộc họp, nhiều người thường sử dụng cụm từ chuẩn bị “từ sớm, từ xa” với hàm ý tích cực là động viên, khích lệ, thúc giục, đôn đốc, nhắc nhở các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức phải luôn có tinh thần tự giác, chủ động trong mọi hoạt động, công tác.

Theo tâm lý học giải thích, chủ động là một thói quen mà mỗi người bằng ý chí của mình có thể rèn luyện được từ những điều nhỏ nhất trong cuộc sống, học tập, lao động, công tác. Từ góc độ cá nhân, tính chủ động không chỉ giúp con người suy nghĩ linh hoạt hơn, thái độ sống tích cực hơn, hành động nhiều hơn để đạt được kết quả tốt đẹp hơn; mà còn giúp mỗi người tự tin hơn, dễ tìm thấy và nắm bắt được nhiều cơ hội hơn, được đánh giá cao hơn, trách nhiệm hơn, lường trước được nhiều rủi ro hơn. Từ phương diện tổ chức, tính chủ động sẽ góp phần gắn kết các cá nhân và tạo động lực thúc đẩy tập thể làm việc, hoạt động, công tác đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn.

Khi tính chủ động được thể hiện ở tư duy mẫn cảm, tầm nhìn xa trông rộng, nhận đúng diễn biến tình tình, dự đoán/tiên lượng những tình huống có thể xảy ra để tìm cách ứng phó hiệu quả, phòng ngừa những bất trắc, đẩy lùi những nguy cơ, đó chính là bản chất của kế sách, mưu lược, phương châm “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”. Nhìn rộng ra ở các lĩnh vực khác, khi các tổ chức, cơ quan, đơn vị đều chú trọng quan tâm xây dựng mọi kế hoạch, phương án hoạt động, công tác bảo đảm chặt chẽ, chu đáo, khả thi thì đó chính là thể hiện tinh thần, tư duy chuẩn bị “từ sớm, từ xa” để hướng tới giải quyết, xử lý mọi công việc được suôn sẻ, hanh thông và là tiền đề, cơ sở để có thể giành kết quả cao nhất, hiệu quả tốt nhất./.

 

 

VÀI NHẬN XÉT VỀ PHIM ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM 2023 ĐẠO DIỄN NGUYỄN QUANG DŨNG

“Đất rừng phương Nam” 2023 (ĐRPN 2023) được thông báo chính thức ra rạp 20/10 nhưng thật ra đã chiếu trước đó khoảng 1 tuần, và đã tạo ra những tranh cãi nảy lửa trên mạng xã hội xoay quanh bê bối mang tên “Thiên Địa Hội” và “Nghĩa Hoà Đoàn”. Qua vụ việc này, chúng ta thấy được những gì?

Báo CAND nhận xét:

- "Giải thích cho lỗi sai của mình, biên kịch Trần Khánh Hoàng và đạo diễn Nguyễn Quang Dũng bao biện rằng họ muốn xây dựng một ĐRPN 2023 với nhiều tổ chức yêu nước khác nhau, có cả những con người tự phát. Họ nói trong phim không chỉ có Nghĩa Hòa Đoàn mà còn các nhóm yêu nước khác. Song, đây là một bao biện rất yếu khi không có một tổ chức kháng Pháp nào được gọi tên cụ thể. Việc không tìm ra được tên gọi cho các tổ chức kháng Pháp cụ thể có thể đến từ sự kém cỏi của khâu biên kịch do không tìm hiểu đủ đầy các thông tin lịch sử."

- "Từ câu chuyện này, các nhà làm phim ở Việt Nam nên thận trọng hơn khi chuyển thể tác phẩm từ loại hình khác (văn học, kịch nói).

Xưa tới nay, chuyện nhà văn không hài lòng với việc tác phẩm của mình bị “khác đi” khi lên phim vẫn diễn ra khá thường xuyên, thậm chí còn có cả những tranh cãi xảy ra.

Và điều đáng tiếc ở ĐRPN 2023 là nó sử dụng hình ảnh Nghĩa Hoà Đoàn từ chính sự sai lệch trong bản ĐPN 1997 của Nguyễn Vinh Sơn. Ở bản đó, phân cảnh ông Tiều bị bắt cho thấy ông là người của Thiên Địa Hội, thuộc băng “kèo vàng” (Nghĩa Hòa Đoàn) trong khi thực tế lịch sử Nghĩa Hòa Đoàn ở Nam Bộ không chống Pháp.

Từ dữ liệu này, biên kịch Trần Khánh Hoàng mới đưa vai trò của Nghĩa Hòa Đoàn khá đậm nét trong ĐRPN 2023. Như vậy, nếu cái lỗi nhỏ của thế hệ đi trước mà không được chỉnh sửa, nó hoàn toàn có thể tạo cơ sở để thế hệ đi sau tin vào thông tin sai lệch và biến cái sai trở thành đương nhiên"

- Giới hạn sáng tạo của phim Việt Nam phải tuân thủ Nguyên bản tác phẩm và phải gắn liền với lịch sử chính trị Việt Nam.

Nguồn: Báo Công An Nhân Dân

 

 

KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI

Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời đại mới: Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên phạm vi toàn thế giới. Thế nhưng, sau 74 năm, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu tan vỡ thì các thế lực thù địch, phản động ra sức lợi dụng, dùng mọi thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc, nhằm phủ nhận ý nghĩa thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và Chủ nghĩa Mác-Lênin...

Ánh sáng soi đường

Trong bài nói chuyện với các nhà báo Liên Xô, tháng 7-1957, dưới nhan đề “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại soi sáng con đường đưa chúng ta tới hạnh phúc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ con đường Người đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin và đưa cách mạng nước ta đi đến thành công. Bác Hồ nói: “Cách mạng Tháng Mười ảnh hưởng tới Việt Nam tương đối chậm. Sở dĩ như vậy là vì bọn thực dân Pháp đã kìm giữ, nói đúng ra là hoàn toàn cô lập đất nước này, chúng tìm mọi cách để cố gắng ngăn cản không cho những sự thật về Liên Xô lọt vào nước chúng tôi và đồng thời chúng lại tung ra những tin tức dối trá về Liên Xô. Mặc dù vậy, những người cách mạng Việt Nam đã kiên trì đi tìm và đã tìm thấy sự thật. Dần dần, họ đã biết rõ toàn bộ ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười. Đối với nhân dân và đặc biệt là đối với những người cách mạng, Cách mạng Tháng Mười vĩ đại là ngọn đèn pha soi sáng cuộc đấu tranh cho tự do và hạnh phúc. Cách mạng Tháng Mười đã đem lại cho chúng tôi Chủ nghĩa Mác-Lênin. Học thuyết bất hủ đó đã vạch ra con đường mà chúng tôi phải đi theo. Có thể nói rằng nếu không có Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thì nhân dân Việt Nam không thể hoàn thành được cuộc Cách mạng Tháng Tám của mình...” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 11, tr.12).

Cách mạng Tháng Mười thành công dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết (Liên Xô) là một cao trào đấu tranh chính trị của quần chúng lao động mà lực lượng tiên phong là giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bôn-sê-vích nhằm lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản cấu kết với bọn quý tộc phong kiến Nga Sa hoàng giành lấy chính quyền, thiết lập chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân và nông dân Nga. Đánh giá tổng quát về ý nghĩa lịch sử và thời đại của cách mạng XHCN Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.387).

Sức sống của Cách mạng Tháng Mười

Sau 106 năm, ý nghĩa và sức sống của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn lan tỏa ở nhiều nước và phong trào cộng sản quốc tế. Song mưu đồ đen tối và thủ đoạn tinh vi của các thế lực phản động, thù địch, học giả tư sản, cơ hội chính trị vẫn ra sức tấn công vào giá trị, thành quả của cuộc cách mạng XHCN đầu tiên trên thế giới. Chúng rêu rao rằng, Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của Liên Xô là “quái thai của lịch sử”. Nhất là khi mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, chúng tuyên bố về “sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản” và phủ nhận thành quả cách mạng, ý nghĩa lịch sử to lớn của Cách mạng Tháng Mười, nhằm xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, nền tảng của CNXH khoa học và chủ nghĩa cộng sản. Cũng bằng việc phủ nhận thành quả của Cách mạng Tháng Mười, chúng đi đến phủ nhận thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên CNXH của nước ta.

Chúng ta đều biết, sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng trực tiếp nhất là do những sai lầm nghiêm trọng về đường lối trong quá trình cải tổ, đổi mới, về công tác cán bộ và tổ chức thực tiễn, sự phản bội của một số cá nhân giữ chức vụ cao trong Đảng đã xa rời những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, phản bội lại lý tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chứ tuyệt nhiên không phải vì bản chất của CNXH, lại càng không phải là “định mệnh” của CNXH khoa học. Thực tiễn sinh động ở các nước đi theo mô hình chế độ XHCN hiện nay đã minh chứng sức sống mãnh liệt của Chủ nghĩa Mác-Lênin và ý nghĩa sức sống của Cách mạng Tháng Mười Nga, trong đó có nước ta. Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn trung thành, kiên định và vận dụng đúng đắn, sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Rõ ràng là sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu không phải là sự phủ định CNXH trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, mà chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình phát triển cụ thể do không được điều chỉnh kịp thời khi mắc phải sai lầm và khi điều kiện thực tiễn đã thay đổi. CNXH hiện thực vẫn đang tồn tại, phát triển và đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Ý nghĩa lịch sử vĩ đại và lý tưởng XHCN của Cách mạng Tháng Mười vẫn còn nguyên giá trị trong đời sống chính trị và trong trái tim của những người cộng sản, nhân dân lao động, các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Trước sức sống của Cách mạng Tháng Mười Nga, của Chủ nghĩa Mác-Lênin, các thế lực thù địch và học giả tư sản, cơ hội lại cho rằng: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với tiến bộ khoa học-công nghệ hiện nay sẽ thay thế cho cách mạng xã hội nói chung, cách mạng XHCN nói riêng”. Đây là quan điểm rất sai lầm, khi ngộ nhận và đánh đồng cách mạng xã hội với cách mạng khoa học-công nghệ, quy kết quy luật tự nhiên với quy luật xã hội là một, xóa nhòa tính giai cấp trong ứng dụng khoa học-công nghệ, quan hệ xã hội... Họ cố tình quên rằng vấn đề chính trị chỉ có con người mới giải quyết được.

Thực tế cho thấy, khi khoa học-công nghệ phát triển, chủ nghĩa tư bản tận dụng triệt để với mong muốn mang lại lợi nhuận khổng lồ về kinh tế và mưu toan cho những âm mưu chính trị khác. Trong chủ nghĩa tư bản, khoa học-công nghệ phát triển trở thành công cụ hữu hiệu để nâng tỷ lệ bóc lột lao động lên cấp số nhân; làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến bộ khoa học-công nghệ đã tác động to lớn đến sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm gia tăng tính gay gắt của các mâu thuẫn kinh tế-xã hội vốn có trong xã hội tư bản, thúc đẩy sự chín muồi những điều kiện để cách mạng XHCN có thể nổ ra và giành thắng lợi. Cách mạng XHCN là giải pháp toàn diện, triệt để và hợp lý nhằm tạo ra những điều kiện kinh tế-xã hội để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển của cách mạng công nghiệp và khoa học-công nghệ hiện đại, phù hợp với tiến trình lịch sử-tự nhiên của xã hội.

Đi theo lý tưởng XHCN của Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, lãnh đạo nhân dân thực hiện Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, thiết lập nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, đưa cả nước đi lên CNXH. Lựa chọn con đường đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Đảng ta vẫn kiên định lý tưởng XHCN của Cách mạng Tháng Mười, vận dụng đúng đắn, sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiến hành đổi mới, vượt qua khủng hoảng kinh tế-xã hội, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu phát triển trên các lĩnh vực của Việt Nam gần 40 năm đổi mới theo định hướng XHCN làm cho: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định. Thành tựu đó là minh chứng khẳng định ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Mười vẫn còn nguyên giá trị và sự thắng lợi của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.

(Sự kiện và Nhân chứng)

 

  Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi tư duy, nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người với thế giới. Con người tiếp cận với tri thức nhanh chóng hơn, mở ra khả năng tương tác; phương thức tác động của chính quyền với người dân đa dạng hơn, nhất là thông qua mạng xã hội. Những năm qua, một trong các yếu tố tạo nên uy tín của Việt Nam trong quan hệ quốc tế là việc Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định quan điểm tiến bộ, tích cực về nhân quyền, đồng thời cố gắng tạo điều kiện để mọi người dân được hưởng các quyền của mình và trên thực tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nhân quyền không ai có thể phủ nhận. Thế nhưng đây cũng là chủ đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch và một số tổ chức phi chính phủ được sự giúp đỡ của phương Tây luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện những động cơ xấu để can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, nhất là các quốc gia có thể chế chính trị XHCN nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong mọi giai đoạn cách mạng, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước ta bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt với nhiều phương tiện, cách thức khác nhau hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời đại số nhằm tận dụng đa dạng các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước. Tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ thần tượng, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ, triệt để khai thác các sự kiện chính trị, nliững vấn đề nhạy cảm để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Việt Nam. Thông qua các nền tảng số, các thế lực thù địch sử dụng những tin, bài, hình ảnh của báo chí chính thống trong nước, sau đó tô vẽ thêm bớt, đưa ra những nội dung “thật giả lẫn lộn” và thông tin sai lệch để đưa lên mạng xã hội. Chúng lập ra những trang/tài khoản núp dưới danh xưng của các cơ quan Chính phủ, lãnh đạo cấp cao nhằm lôi kéo tâm lý hiếu kỳ của công chúng, đánh vào khoảng trống thông tin (mà báo chí chính thống trong nước chưa đăng tải hoặc cần thời gian kiểm duyệt thông tin); ngụy tạo các bài viết dưới những tiêu đề giật gân liên quan đến những vấn đề đang được dư luận quan tâm... Những thủ đoạn lợi dụng nền tảng số nêu trên của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn ít nhiều đã dẫn dụ và lừa dối được một bộ phận người dân. Những cái “bẫy thông tin” mà các đối tượng thù địch, phản động, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam tung ra cũng đã khiến cho nhiều người nước ngoài không phân biệt được thông tin chính thống và thông tin giả mạo, dẫn đến có nhận thức không đúng, không tốt về Việt Nam. Do đó, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị” là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch về nhân quyền không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ hình ảnh Việt Nam trước những thông tin không đúng sự thật. Hơn lúc nào hết, mỗi người dân cần biết sử dụng chính những thành tựu của cuộc cách mạng 4.0 để làm phương tiện đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động. Thông qua nền tảng số, cần quảng bá những hình ảnh chân thực của Việt Nam về nhân quyền, về uy tín, vị thế của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Việt Nam hiện là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC. WTO... và hơn hết, nước ta luôn tôn trọng nhân quyền, Đảng và Nhà nước luôn hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Như vậy, trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, việc sử dụng các nền tảng công nghệ số để phục vụ tuyên truyền một mặt góp phần thúc đẩy quảng bá về một Việt Nam thân thiện, mến khách, một đất nước được coi là “điểm hẹn của hòa bình”, điểm đến an toàn cho bè bạn quốc tế, mặt khác góp phần phản bác lại các thông tin tuyên truyền sai trái, thù địch đối với Việt Nam cũng như nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam với thế giới./.