Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2023
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: XÂY DỰNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN MỚI!
RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Có
nhiều cách hiểu khác nhau về đạo đức, có thể hiểu theo nghĩa chung nhất: Đạo
đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các quy nguyên tắc, chuẩn mực
xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với
lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội, trong các mối quan hệ
cá nhân với cá nhân và cá nhân với xã hội.
Đảng
Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, vấn đề rèn luyện đạo đức cách
mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn có ý nghĩa quan trọng trong mọi thời kỳ
cách mạng. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Đảng ta là một Đảng
cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng,
thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong
sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của
nhân dân”. Sau Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI), Đại hội XII của Đảng (tháng
1-2016) đã đặt vấn đề xây dựng Đảng về mặt đạo đức cùng với xây dựng Đảng về
chính trị, tư tưởng và tổ chức. Điều đó cho thấy, trước những yêu cầu đổi mới
hiện nay, việc tăng cường rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống trong đội ngũ cán bộ,
đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp chiến lược là
một yêu cầu khách quan, cấp thiết trong công tác xây dựng đảng hiện nay.
Vì
vậy, để đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục và rèn luyện đạo đức
cách mạng cho cán bộ, đảng viên cần nắm một số vấn đề có tính nguyên tắc theo
Tư tưởng Hồ Chí Minh:
Mỗi
cán bộ, đảng viên phải thực hiện lời nói phải đi đôi với việc làm và luôn nêu
gương sáng về đạo đức, lối sống
Theo
Hồ Chí Minh, đây là yêu cầu có tính nguyên tắc để rèn luyện về mặt đạo đức cách
mạng của người cán bộ, đảng viên. Kiên quyết khắc phục tình trạng nói nhiều,
làm ít, nói mà không làm, nói một đằng, làm một nẻo đang diễn ra khá phổ biến
hiện nay. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Muốn hướng dẫn nhân
dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Nói đi đôi với làm phải
gắn với nêu cao tinh thần trách nhiệm và chống chủ nghĩa cá nhân. Học Bác, để
thực hiện được sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, chúng ta phải có nhận
thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình. Có nhận thức đúng nhưng không vượt
qua được sự cám dỗ của lợi ích cá nhân thì sẽ dẫn đến nói không đi đôi với làm.
Để nói đi đôi với làm còn cần sự cố gắng, bền bỉ và quyết tâm, bởi bất kỳ công
việc nào, nhiệm vụ gì, dù lớn hay nhỏ, khó hay dễ, phức tạp hay giản đơn, nhưng
nếu không ra sức phấn đấu thì cũng không thể thành công được. Hồ Chí Minh cũng
nói nhiều về sự nêu gương của cán bộ, đảng viên. Theo Người, một tấm gương sống
còn hơn nhiều bài diễn văn tuyên truyền. Trong đó, đặc biệt chú trọng tới việc
nêu gương về đạo đức, lối sống. Đó là tấm gương của bố mẹ đối với con cái; của
thầy, cô giáo đối với học sinh. Trong tổ chức Đảng, Nhà nước đó là sự nêu gương
của những người đứng đầu, của cấp trên đối với cấp dưới. Đó là những tấm gương
cán bộ, đảng viên mẫu mực, luôn dám nghĩ, dám làm, biết đặt lợi ích của Đảng,
của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, lợi ích của tập thể và địa phương mình,
có đạo đức cách mạng mẫu mực, kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện của chủ
nghĩa cá nhân… Và chính Người là biểu hiện tập trung nhất, tấm gương sáng nhất
suốt đời đấu tranh, phấn đấu cho lý tưởng, mục tiêu, sự nghiệp cách mạng của
Đảng và của dân tộc ta,
Kết
hợp chặt chẽ “xây đi đôi với chống” trong rèn luyện đạo đức cách mạng
Theo
Hồ Chí Minh, trong mỗi người đều có cái tốt - cái xấu, cái thiện - cái ác… Vì
vậy, “phải làm sao cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân
và phần xấu mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”. Muốn vậy, đồng thời
với việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng phải đi đôi với kiên quyết đấu
tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống những hành vi phi đạo đức. Hồ Chí Minh yêu
cầu mỗi cán bộ, đảng viên “trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong
mình”. Và phải phê phn đấu tranh loại bỏ hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá
nhân gây ra vì nó là vật cản nguy hiểm cho việc xây dựng đạo đức cách mạng.
Cũng vì vậy, Hồ Chí Minh căn dặn toàn Đảng “muốn xây phải chống, chống nhằm mục
đích cho xây” “phải cương quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức
cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn thể, tính tổ chức và kỷ
luật”. Xây phải đi đôi với chống, với việc loại bỏ cái sai, cái xấu, cái vô đạo
đức trong đời sống hằng ngày, để xây và chống có kết quả phải tạo thành phong
trào quần chúng rộng rãi. Đây là một quá trình lâu dài, khó khăn và gian khổ.
Phải tự
giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời
Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện
bền bỉ mới thành. Người nói, đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống.
Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như
ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Phải rèn luyện, tu dưỡng
đạo đức suốt đời, Người dạy: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm
qua vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được
mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ
nghĩa cá nhân”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự rèn luyện có vai trò rất quan
trọng, dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ
cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác để
khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn,
trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong các mối quan hệ cá nhân.
Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào
lương tâm của mỗi người và sự giúp đỡ của tập thể, của quần chúng. Người nói
“tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm
bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lên
lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì
cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ. Vì vậy gột rửa chủ nghĩa cá nhân ví
như rửa mặt thì phải rửa hằng ngày". Cho nên, xây dựng, rèn luyện tu dưỡng
đạo đức cách mạng và chống chủ nghĩa cá nhân là phải được tiến hành đồng thời,
thường xuyên, bền bỉ, suốt đời trong quá trình hoạt động cách mạng.
Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, theo những nguyên tắc, chuẩn mực
đạo đức mà Người đã chỉ ra chính là biện pháp quan trọng để mọi cán bộ, đảng
viên và tổ chức dang sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái “có tính nghiêm
trọng” về đạo đức, lối sống, giữ vững niềm tin của nhân dân về sự lãnh đạo của
Đảng./.
TBQL 17
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG
Trước lúc đi xa, Bác
mong muốn: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam
hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào
sự nghiệp cách mạng thế giới”.
Một
là, đẩy
mạnh nghiên cứu, học tập, đấu tranh bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh, chủ trương, đường lối, quan điểm, Điều lệ của Đảng. Đây là cơ sở tạo sự
thống nhất về tư tưởng, tổ chức, từ đó thống nhất về hành động của toàn Đảng.
Do sự chuyển biến nhanh chóng của cuộc cách mạng công nghệ trong xã hội thông
tin, mọi đảng viên phải tích cực học tập, cập nhật thông tin, nắm vững đường
lối của Đảng.
Hai
là, thực
hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
Dân chủ là một điều kiện quan trọng để có đường lối, nghị quyết đúng. Đó là
phương pháp căn bản khắc phục những bất đồng về tư tưởng. Dân chủ rộng rãi
không tách rời tập trung nghiêm ngặt. Tập trung bảo đảm thống nhất về ý chí và
hành động, bảo đảm cho kỷ luật Đảng được chấp hành triệt để.
Ba
là, để
giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng, theo Bác Hồ “…Phải có tình đồng chí thương yêu
lẫn nhau”. Sau nhiều lần bổ sung Bác đã viết thêm 9 âm tiết này vào Di chúc làm
sáng rõ tâm trong sáng, bao dung của Bác đối với mỗi người, mỗi cán bộ, đảng
viên. Bác phê phán thái độ lệch lạc, sai trái, thường xảy ra trong tự phê bình
và phê bình như thiếu trung thực, che giấu khuyết điểm, sợ phê bình, không dám
phê bình, nể nang, né tránh, dĩ hòa vi quý hoặc ngược lại, lợi dụng phê bình để
nói xấu, bôi nhọ, vùi dập, đả kích người khác. Người cán bộ đảng viên trước hết
phải có tâm trong sáng, có văn hóa, khiêm tốn, cầu thị, khoan dung, độ lượng,
bình tĩnh trong xử sự công việc, ân tình trong ứng xử, vì sự tiến bộ của mỗi
người và cộng đồng. Tình thương yêu, tôn trọng nhau, tôn vinh những thành công,
những mặt tích cực của người khác là chìa khóa để phát huy dân chủ rộng rãi, nguyên
tắc tập trung dân chủ được đề cao, kỷ cương, kỷ luật được thực hiện tốt nhất.
Bốn là, thường
xuyên thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình. Cán bộ càng cao, trách
nhiệm càng lớn, càng phải gương mẫu tự phê bình và phê bình. Nhiều cán bộ, đảng
viên vi phạm kỷ luật do quần chúng nhân dân và truyền thông phát hiện không
phải do tự phê bình và phê bình của tổ chức đảng. Điều đó cho thấy tinh thần
đấu tranh, thái độ phê bình tự phê bình của cán bộ, đảng viên chưa cao. Cần
nhận thức đúng đắn, thực hành quyết liệt, nâng cao hiệu quả phân loại chất
lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên hằng năm, rà soát sàng lọc đảng viên theo
Chỉ thị 28 ngày 21-1-2019 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng kết nạp đảng
viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi
Đảng. Đồng thời nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.
Năm
là, kiên
quyết chống bệnh quan liêu, độc đoán, chuyên quyền. Cần thật sự sát dân, gần
dân, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Đảng cầm quyền nhưng nhân dân
là chủ. Đảng lấy dân làm gốc. Chính gốc này đem lại nguồn sinh lực vô tận cho
Đảng. Đảng phải thường xuyên chăm lo, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng
với Nhân dân. Mọi biểu hiện của bênh quan liêu, xa dân đều làm suy yếu Đảng,
không còn là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thực
hiện Di chúc của Bác:“Giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con
ngươi của mắt mình” là trách nhiệm của mỗi đảng viên và cơ quan lãnh đạo của
Đảng. Trong giai đoạn hiện nay chúng ta cần tiếp tục phát huy truyền thống đoàn
kết, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với nhiệm vụ
lãnh đạo cách mạng, xây dựng đất nước thịnh vượng, hùng cường, nhân dân ấm no,
hạnh phúc./.
TBQL 17
NHẬN DIỆN NHỮNG NHÂN TỐ GÂY MẤT ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG
Trong di sản của Bác, vấn đề xây dựng và giữ gìn
đoàn kết thống nhất trong Đảng luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu,
là nền tảng cho mọi thành công. Đoàn kết thống nhất là sinh mệnh của Đảng, là
vấn đề sống còn của cách mạng. Do đó, việc khai thác di sản quý báu của Bác
chính là việc tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng là nhân lên sức mạnh của
Đảng.
Một
là, xuyên
tạc, bóp méo Chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời. Khi
Liên Xô sụp đổ các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thừa cơ dấn tới xuyên
tạc, chống phá bằng nhiều thủ đoạn: tuyên truyền quan điểm sai trái trên hệ
thống truyền thông, mạng xã hội, văn hóa phẩm, lan truyền rỉ tai lung lạc
ý chí của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tổ chức lực lượng chống Đảng… Trong
hàng ngũ cán bộ, đảng viên không ít người bi quan, dao động, nghi ngờ, quy kết
nguyên nhân tan rã của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu là do sai lầm của Chủ
nghĩa Mác-Lênin và CNXH là viển vông, không tưởng. Thậm chí có người còn hối
tiếc về một thời đã tin theo Chủ nghĩa Mác-Lênin. Họ cho rằng chúng ta đã chọn
sai đường, cần phải đi con đường khác. Sự phai nhạt lý tưởng dẫn đến “tự diễn
biến” “tự chuyển hóa” có nguy cơ đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Hai
là, phá
hoại nguyên tắc tổ chức của Đảng, họ cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ là
độc đoán, chuyên quyền, gây phe phái tranh giành quyền lực. Trước, trong mỗi kỳ
đại hội của Đảng, các thế lực thù địch tận dụng mọi khả năng, điều kiện, hình
thức để công kích các hoạt động của các tổ chức và xuyên tạc văn kiện của các
đại hội… Họ không từ mọi thủ đoạn bôi nhọ, nói xấu, chỉ trích cán bộ của Đảng,
Nhà nước gây hoài nghi, thiếu tin tưởng, chia rẽ đội ngũ cán bộ, tổ chức đảng
với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Ba là, khai thác, lợi
dụng những người bất mãn, thoái hóa biến chất để tuyên truyền, kích động tâm
lý, khuyếch trương những khuyết điểm trong quá trình hoạt động của Đảng. Tôn
sùng những người bị khai trừ ra khỏi Đảng vì không còn tư cách đảng viên. Đặc
biệt tác hại khi những đảng viên bị khai trừ là những người đã giữ các trọng
trách trong Đảng, Nhà nước. Một số người khi được các trang mạng tán dương dưới
những mỹ danh “nhà yêu nước”, “nhà dân chủ ” không biết mình đang bị lợi dụng.
Bốn
là, trong
nội bộ Đảng, một số nơi không thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ,
buông lỏng việc tổ chức sinh họat, buông lỏng quản lý đảng viên. Không tự phê
bình và phê bình nghiêm túc, bình xét phân loại đảng viên qua loa, đại khái, dễ
người, dễ ta. Ý thức chấp hành kỷ luật thấp nên có nhiều cán bộ, đảng viên vi
phạm kỷ luật dẫn đến nguy cơ mất đoàn kết trong Đảng, vi phạm kỷ cương phép
nước.
Năm
là, việc
tổ chức học tập các nội dung về xây dựng Đảng, học tập nghị quyết chưa được chú
trọng. Việc học nghị quyết ở cấp cơ sở đã chậm lại đại khái qua loa, không tập
trung những vấn đề đường lối, chủ trương, quan điểm và những nhiệm vụ cụ thể
của các cấp, của từng đảng viên, ảnh hưởng đến sự nhận thức, thống nhất hành
động.
Sáu là, chủ nghĩa cá nhân phá hoại đoàn kết trong Đảng.
Bác Hồ khẳng định do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm như ngại khó, ngại
khổ, tham ô, tham nhũng, kết bè kéo cánh, lợi ích nhóm, lãng phí xa hoa, tham
danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, chạy chức, chạy quyền, tự cao tự đại,
coi thường tập thể, xa rời nhân dân, độc đoán chuyên quyền. Không chịu học tập,
thiếu ý chí vươn lên. Thiếu tính tổ chức kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm,
không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đó là những
nguyên nhân gây mất đoàn kết thống nhất trong Đảng, làm mất uy tín, làm hại lợi
ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.
TBQL 17
KHƠI DẬY VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH TOÀN DÂN TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC
Sau 37 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh
tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng
cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy vậy nền
kinh tế phát triển chưa bền vững, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới do
tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra; các thế
lực thù địch chống phá quyết liệt bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc
đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hết sức thâm độc, nguy hiểm. Sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta vì thế có nhiều cơ hội những cũng đứng
trước nhiều thách thức.
Tình
hình trên đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải đoàn kết, thống
nhất, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, tận dụng tốt thời cơ, thuận
lợi, vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Tập trung thực hiện tốt Nghị quyết Đại
hội XIII của Đảng, với quan điểm, tư tưởng chỉ đạo là kết hợp chặt chẽ các
nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trong đó,
phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng
văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh là
nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Nhằm đạt mục tiêu: Nâng cao năng
lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin
của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN; khơi dậy khát vọng phát triển
đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi
mới, CNH, HĐH đất nước; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi
trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN.
Trong bối cảnh đó, Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ vẹn nguyên giá trị, để lại những bài học quý
báu:
Một là, khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
trong những lúc khó khăn nhất.
Học
tập và làm theo Bác Hồ, Đảng đã phát huy được sức mạnh đại đoàn kết dân tộc,
kết hợp nội lực và ngoại lực để phát triển đất nước ta ngày càng “đàng hoàng
hơn, to đẹp hơn”. Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước đang đứng trước
nhiều cơ hội và thách thức đan xen, đặc biệt là nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đòi hỏi chúng ta
phải tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để
khơi dậy trong mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam khát vọng phát triển
đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Hai là, trong mọi
hoàn cảnh, Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ để
giải quyết những khó khăn của đất nước như: xây dựng, phát triển, tạo môi
trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước,
niềm tự hào dân tộc, ý chí tự cường, niềm tin, tài năng, trí tuệ, phẩm chất của
con người Việt Nam; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế… Thực sự xác định “dân
làm gốc”, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy các nguồn lực,
tiềm năng sáng tạo, quyền làm chủ của nhân dân ….những giá trị đó phải được thể
hiện ở việc lao động sáng tạo phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Ba là, để xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay, quan điểm về chiến tranh nhân dân,
giúp Đảng ta chủ động phát huy mọi lực lượng, quan tâm phát triển mọi mặt của
đất nước, không nóng vội đốt cháy giai đoạn, chủ động phát huy nội lực, kết hợp
chặt chẽ nội lực với ngoại lực, tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa,
xây dựng phát triển hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước cũng như trong công
cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc.
Bốn là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đáp ứng tốt
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới.
Chú trọng đổi mới đồng bộ, phù hợp giữa kinh tế với chính trị, văn hóa, xã hội,
giữa đổi mới kinh tế với đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hoàn
thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; phát huy mạnh mẽ vai
trò giám sát của nhân dân. Đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng,
lãng phí với những hành vi ngày càng tinh vi, gây bức xúc xã hội. Chủ động công
tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái,
thù địch. Khắc phục những mặt còn tồn tại trong công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng bởi lẽ nhân dân chỉ tin tưởng và theo Đảng khi Đảng thực sự “là đạo đức,
là văn minh”.
77 năm đã đi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ
Chí Minh đọc Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến nhưng âm hưởng hào
hùng của quá khứ cùng những tư tưởng sâu sắc của Người trong Lời kêu gọi vẫn
thức dậy trong mỗi chúng ta lòng tự hào dân tộc, khát vọng hiến dâng cho Tổ
quốc và trang bị cho chúng ta những giải pháp đúng đắn để hành động vì mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong thời đại mới./.
TBQL 17
Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN VÀ LỜI HỊCH CỨU NƯỚC CỦA BÁC HỒ
Thực
hiện lời nguyện thề thiêng liêng trong Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thực
sự đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất
cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc
lập ấy”. Trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, Bác Hồ đã viết Lời kêu gọi
ngắn gọn, giản dị, đanh thép để hiệu triệu toàn thể nhân dân Việt Nam đứng lên
chống thực dân Pháp, bảo vệ Tổ quốc.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bản cương lĩnh kháng chiến súc tích với những nội
dung hết sức quan trọng định hướng và chỉ đạo cuộc kháng chiến gian khổ của
nhân dân Việt Nam. Ra đời trong thời khắc cam go của lịch sử, lời hịch cứu nước
của Hồ Chí Minh đã chạm tới điều sâu thẳm trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam,
đó là lòng yêu nước và khát vọng tự do, đã thổi bùng lên ngọn lửa chủ nghĩa anh
hùng cách mạng. Cuộc chiến đấu mà kẻ thù buộc dân tộc Việt Nam phải bước vào,
lại chính là nấm mồ chôn chủ nghĩa thực dân cũ và phế truất vai trò cường quốc
quân sự của nước Pháp trên phạm vi toàn thế giới.
Vừa giành được độc lập, nhân dân ta với
truyền thống nhân nghĩa, yêu hòa bình, khát vọng cháy bỏng của nhân dân Việt
Nam là muốn có hòa bình để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trên thực
tế, để cứu vãn hòa bình, tránh cuộc chiến tranh xảy ra, Đảng, Chính phủ nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực hết sức, làm tất cả
những gì cần thiết và có thể, kể cả nhân nhượng từng bước với giặc. Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến đã nêu rõ: “Chúng ta muốn hòa bình. Chúng ta phải nhân
nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng
quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”. Trước tình hình đó, không còn lựa chọn nào
khác, nhân dân ta buộc phải cầm vũ khí chống xâm lược, với ý chí: “thà hy sinh
tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; “hy
sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước”. Một lần nữa, ngọn lửa truyền
thống, khí phách chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc ta lại bừng cháy trong
những ngày toàn quốc kháng chiến.
Thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân
toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính; vừa kháng chiến, vừa
kiến quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã
kết thúc thắng lợi sau 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp bằng Chiến dịch
Điện Biên Phủ lịch sử, chấn động địa cầu, mở đầu thời kỳ sụp đổ của chế độ thực
dân trên toàn cầu.
Thành công của cuộc kháng chiến chống Pháp
là nhân tố quan trọng, tạo tiền đề cho thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc
kéo dài suốt 30 năm của quân và dân ta.
77 năm đã trôi qua, Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến cùng với những sự kiện mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược lần thứ 2 vẫn in đậm trong tâm khảm mỗi người Việt Nam, là biểu tượng
sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh. Sự kiện
đáng tự hào đó có giá trị lịch sử và giá trị hiện thực sâu sắc, để lại nhiều
bài học quý cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay./.
TBQL 17
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC HỒ CHÍ MINH CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
Đại
hội XIII của Đảng xác định: “Động
lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh
mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Vì vậy,
nâng cao chất lượng giáo dục, làm rõ hơn nữa những nội dung của chủ nghĩa
yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ rất cần thiết, mang tính chiến
lược lâu dài trong giai đoạn hiện nay để nâng cao sức đề kháng cho thế hệ thanh
niên trước âm mưu “diễn biến hoà bình”, giúp các em có khả năng chủ động đấu
tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng và Nhà
nước ta. Trong giai đoạn hiện nay, để nâng cao chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh
cho thanh niên cần tập trung vào những giải pháp sau:
Một là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục
tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên. Các chủ thể giáo dục như nhà trường, Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh phải chú trọng nội dung, phương pháp phù hợp với thanh
niên. Giáo dục không chỉ cần bám sát nội dung cốt lõi của chủ nghĩa yêu nước mà
cần phải được liên hệ, phản ánh với đặc điểm của thời đại. Cần giáo dục sinh
động, hấp dẫn và dễ tiếp thu như thông qua: hình ảnh, phim truyện, đàm thoại,
diễn đàn khoa học… tạo điều kiện để các đoàn viên, thanh niên được trao
đổi nhằm nâng cao nhận thức cả về lý luận và thực tiễn. Phương pháp giáo dục
chủ nghĩa yêu nước phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, lý luận gắn
với thực tiễn; kết hợp hiệu quả giữa giáo dục tại nhà trường với giáo dục trong
gia đình và các tổ chức chính trị - xã hội.
Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ
thị số 42-CT/TW ngày 24-3-2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối
sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030 thông qua 3 phong trào lớn
đó là: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo” và “Tuổi trẻ xung kích bảo
vệ Tổ quốc”. Những nội dung chủ nghĩa yêu nước cần phải được cụ thể, tổ chức
sáng tạo, phù hợp với lứa tuổi, đơn vị, cơ quan, địa phương nhằm phát huy hiệu
quả.
Hai là, nâng cao chất lượng
hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Đoàn Thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc
tổ chức, giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối
trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Vì
vậy, phải xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh, có uy tín, trở thành nơi “bồi dưỡng
thế hệ cách mạng cho đời sau”.
Trước hết, đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng phải có bản
lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và lối sống
lành mạnh, luôn là tấm gương sáng cho đoàn viên noi theo. Đoàn viên thanh niên
không ngừng tự giác học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, phát huy
các giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống. Mặt khác, tổ chức
đoàn tiếp tục tăng cường, giáo dục tinh thần yêu nước, những truyền thống quý
báu của dân tộc, tổ chức vận động đoàn viên thanh niên không ngừng học tập, rèn
luyện ý chí, cống hiến sức mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Các tổ chức cơ sở đoàn cần
thường xuyên quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên chi đoàn mình. Chủ
động dự báo, nắm chắc và dự báo diễn biến tư tưởng, tâm trạng của đoàn viên
thanh niên để định hướng, giáo dục và kịp thời giải quyết các vấn đề mới nảy
sinh. Đặc biệt, cần kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa
yêu nước với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Thi đua chính là điều
kiện, tiền đề quan trọng để biến lòng yêu nước từ “học tập” trở
thành “làm theo” trong từng hành động cụ thể.
Ba là, truyền cảm hứng cho
thanh niên thông qua gương “người tốt, việc tốt” để giáo dục và tự giáo dục. Thanh
niên luôn ngưỡng mộ những người tài giỏi nên cần phát huy các gương điển hình
tiên tiến để lôi cuốn, cổ vũ và thuyết phục thanh niên. Thấm nhuần lời dạy của
Hồ Chí Minh: một tấm gương tốt,
một tấm gương sống còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn. Vì
vậy, tăng cường tuyên truyền, biểu dương các tấm gương điển hình tiên tiến, bao
gồm tiên tiến về: tư tưởng, đạo đức lối sống, tác phong và tiên tiến về mô
hình, cách làm để tạo hiệu ứng lan toả, khích lệ tinh thần thi đua học tập và
phấn đấu của mỗi người. Khi được truyền cảm hứng sẽ tạo nên sức mạnh nội lực
bên trong, cổ vũ và thúc đẩy thế hệ thanh niên Việt Nam nuôi dưỡng ước mơ, hoài
bão, sáng tạo với những quyết tâm lớn để kế tiếp những thế hệ trước hoàn thành
giấc mơ xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, sánh vai cùng các nước trên thế
giới.
Bốn là, xây dựng hệ giá trị văn hoá chuẩn mực để giáo dục
dục cho thanh niên. Để phát huy được tinh thần yêu nước của thế hệ thanh niên
theo chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải xây dựng một
môi trường xã hội với các giá trị văn hoá chuẩn mực đạo đức. Đặc biệt, sự bùng
nổ của in-tơ-nét khiến cho văn hoá phương Tây ảnh hưởng đến lối sống
cùng với âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch khiến cho một bộ
phận thanh niên mơ hồ, hoài nghi và phai nhạt lý tưởng cách mạng. Do vậy, sớm xác định giá trị quốc
gia và chuẩn mực giá trị con người Việt Nam hiện đại, tạo cơ sở xây dựng, triển
khai, thực hiện các chính sách, giải pháp phục vụ cho sự phát triển con người,
khắc phục sự xuống cấp về đạo đức, lối sống trong thế hệ trẻ hiện nay. Trên cơ
sở đó, xây dựng môi trường xã hội văn hoá, gắn với việc xây dựng gia đình văn
hoá, xã hội văn hoá, đồng thời tăng cường giáo dục ý thức phòng ngừa và ngăn
chặn kịp thời những âm mưu tấn công của các thế lực phi văn hoá, phản văn hoá,
những suy đồi trong đạo đức, lối sống. Để làm được điều đó, Đảng và Nhà nước
cần có những chính sách phù hợp trong xây dựng chính sách phát triển kinh tế đi
đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, sự phát triển kinh tế là tiền đề cho sự phát triển văn hoá, đạo đức. Phát huy
sức mạnh của văn hoá, đặc biệt là những giá trị chân - thiện - mỹ, những giá
trị phổ biến và phổ quát của văn hoá mà thanh niên cần phải được tiếp thu để
trở thành những công dân có đức đức, có văn hoá. Phải có những hình thức, cơ
chế, đặc biệt phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông để tuyên
truyền, giáo dục, tạo điều kiện cho thanh niên có thể tiếp cận và thấm nhuần
các giá trị văn hoá dân tộc, chuyển biến những giá trị văn hoá tốt đẹp vào
trong các hoạt động cuộc sống. Có như vậy, mới xây dựng được thế hệ thanh niên
mang trong mình tinh thần yêu nước sâu sắc để từ đó kế tiếp và phát huy những
truyền thống vẻ vang của dân tộc; để dù hội nhập quốc tế, Việt Nam vẫn giữ gìn
được bản sắc dân tộc, kiên định, vững vàng trước mọi thủ đoạn chống phá của các
thế lực thù địch./.
TBQL 17
THẾ HỆ THANH NIÊN LÀ LỰC LƯỢNG TO LỚN TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
Cho
đến nay, chủ nghĩa yêu nước vẫn là giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam.
Đó là một trong những động lực quan trọng
nhất góp phần gắn kết cộng đồng, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ,
giữ vững ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy đất nước phát triền. Đặc biệt,
trong bối cảnh mới, càng đòi hỏi phải phát huy “tinh thần yêu nước” cao độ của
mỗi người, đặc biệt là thế hệ thanh niên.
Ở bất cứ thời đại nào, thanh niên luôn lực lượng tiên
phong trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Sức trẻ cùng với lòng
nhiệt huyết của mình, thanh niên Việt Nam không ngại khó khăn, gian khổ, hoàn
thành tốt mọi nhiệm vụ. Nhận thức về vai trò của thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định, thanh niên là lực lượng quyết
định sự phát triển của cách mạng, của dân tộc, “nhà nước thịnh hay suy,
yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Để hoàn thành trọng trách lịch
sử đó, đội ngũ thanh niên cần phải có ý chí vươn lên, đồng thời Đảng phải có
trách nhiệm chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên thành lớp người “vừa hồng,
vừa chuyên”.
Đặc
biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước cho thế
hệ thanh niên. Người khẳng định: “cốt nhất của nhà trường là dạy học cho học
trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có ý chí tự lập, tự cường, quyết
không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”. Cách tốt nhất để bồi dưỡng
lòng yêu nước cho thanh niên là giáo dục truyền thống dân tộc và truyền thống
cách mạng. Từ đó bồi đắp, củng cố cho thế hệ trẻ hiểu được giá trị lịch sử, giá
trị của cuộc sống hoà bình, tự do, độc lập, xây dựng cho mình hoài bão, khát
vọng, ý chí, quyết tâm vượt lên khó khăn, thử thách; có tinh thần đoàn kết,
chia sẻ, tương thân, tương ái, sẵn sàng cống hiến và hy sinh vì lợi ích của
quốc gia, dân tộc.
Hiện
nay, trước sự biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, có nhiều
vấn đề tác động ảnh hưởng đến lòng yêu nước của thanh niên như: tác động của
nền kinh tế thị trường, lối sống thực dụng, in-tơ-nét, mạng xã hội… Đặc biệt,
sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta vẫn diễn ra
quyết liệt với thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn. Là đối tượng nhạy
cảm, dễ bị kích động, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để lôi kéo, lợi
dụng giới trẻ, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong bộ phận thanh niên,
làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy thoái đạo đức, lối sống trong thế hệ
tương lai của đất nước. Vấn đề này nếu không được kịp thời giải quyết triệt để
sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng với tương lai, tiền đồ của đất nước. Nghị quyết Trung
ương 4 (khoá VII) đã nhấn mạnh: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất
nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay
không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay
không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên”.
Qua
các thời kỳ lịch sử cách mạng, thế hệ thanh niên Việt Nam luôn là lực lượng quả
cảm, tiên phong trong các phong trào cách mạng, không ngại gian khổ, hy sinh vì
độc lập, tự do của dân tộc. Trong giai đoạn hiện nay, tiếp nối truyền thống quý
giá của cha ông để lại, thanh niên Việt Nam không ngừng ra sức phấn đấu lao
động, học tập, rèn luyện về mọi mặt, có ý chí vươn lên trong cuộc sống. Họ có
nhận thức và thái độ chính trị đúng đắn, kiên quyết đấu tranh những biểu hiện
sai trái trong đạo đức và lối sống, có sức đề kháng và còn là lực lượng to lớn
trong việc làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù
địch nhằm gây tổn hại đến sự phát triển của đất nước. Phần lớn thanh niên, ngay
từ khi còn trong ghế nhà trường đã luôn có ý thức chính trị - xã hội tốt, tích
cực tham gia các phong trào, hoạt động đoàn thể để được cống hiến và trưởng
thành. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng ngày càng tăng. Minh
chứng cho tinh thần yêu nước vẫn luôn là ngọn đèn sáng soi rọi cho mọi suy nghĩ
và hành động của thanh niên, hình thành nên một thế hệ thanh niên nhiệt tình,
dám làm, dám chịu trách nhiệm và luôn muốn được cống hiến, phụng sự vì một nước
Việt Nam hùng mạnh và văn hiến.
Tuy
nhiên, bên cạnh đó cũng còn một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, suy
thoái về đạo đức, lối sống, lãng quên truyền thống cách mạng của Đảng và dân
tộc, bàng quan trước tình hình của đất nước. Một số thanh niên còn mơ hồ về
chính trị, chưa xác định được trách nhiệm của thanh niên nói chung và bản thân
nói riêng, ngại tham gia các hoạt động đoàn thể và các hoạt động xã hội. Một bộ
phận thanh niên đi học ở nước ngoài, tiếp cận các tư tưởng phương Tây nhưng
không có bản lĩnh chính trị vững vàng nên bị phai nhạt lý tưởng xã hội chủ
nghĩa, có những thái độ chỉ trích phê phán chủ quan, phiến diện, thậm chí có
thái độ đối lập. Đánh giá về thực trạng thanh niên hiện nay, Nghị quyết số
25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X nhận định: “Một bộ phận thanh
niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất
nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn
hoá dân tộc”.
Vì vậy, bồi dưỡng chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ Việt Nam
là việc làm rất quan trọng và cần thiết. Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí
Minh cho thế hệ trẻ không chỉ là duy trì những giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc, đó còn là tăng thêm sức mạnh nội sinh, phát huy tiềm lực con người cho
quá trình phát triển đất nước./.
TBQL 17
CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC HỒ CHÍ MINH - HỆ TƯ TƯỞNG MANG TÍNH THỜI ĐẠI
Dân
tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã vun bồi tình
cảm, tư tưởng yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh bảo vệ độc
lập dân tộc và cuộc sống của nhân dân. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam
mang đậm những nét đặc sắc riêng của mình. Đó là tình yêu quê hương, yêu đất
nước; yêu nước gắn với thương dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc; yêu nước gắn
với khát vọng về tự do, khát vọng hoà bình. Tất cả những giá trị đó luôn thống
nhất, không tách rời nhau.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là
truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì
tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó
lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp
nước”. Chủ nghĩa yêu nước chính là cội nguồn sức mạnh đưa dân tộc Việt Nam vượt
qua muôn vàn khó khăn, thử thách để đi đến những thắng lợi lừng lẫy năm châu,
là giá trị thiêng liêng của toàn dân tộc Việt Nam, trở thành đặc trưng tiêu
biểu cho tính cách của con người Việt Nam hùng cường, bất khuất. Thấm nhuần chủ
nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân
dân, sự áp bức, bóc lột dã man của bọn thực dân, phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã sớm có ý thức tìm con đường cứu nước giành độc lập cho dân tộc, hạnh
phúc cho nhân dân.
Trên tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân yêu nước, tư tưởng yêu
nước của Hồ Chí Minh đã có sự kế thừa và phát triển mang tính thời đại, gắn
liền với mục tiêu triệt để giải phóng dân tộc. Nhận định về những thất bại của
các phong trào đấu tranh từ phong trào Cần Vương đến các phong trào yêu nước
theo xu hướng tư sản mà tiêu biểu là phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục,
cải cách Dân Chủ… Người hiểu rõ không thể đi theo con đường cách mạng
như các vị tiền bối. Theo Người, nước độc lập phải đi đôi với dân được hưởng
quyền tự do, ấm no, hạnh phúc.
Trong
suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ nghĩa yêu nước đã chi phối mọi suy nghĩ,
hành động của Người. Người đau đáu trong mình “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn
tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng
bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Mọi kế sách đều là vô
nghĩa nếu không đem lại tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc. Vì mục đích lý
tưởng này đã thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm
đường cứu nước, chịu bao gian khổ, đồng thời là cơ sở tư tưởng dẫn Người đến
với chủ nghĩa Mác - Lênin, và sau này được Người khẳng định: “Lúc đầu, chính
chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin,
tin theo Quốc tế thứ ba”.
Hồ Chí
Minh có ý thức rất rõ ràng về vị trí, vai trò, sức mạnh của tinh thần yêu nước.
Khẳng định về sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước.Theo Người, “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu
chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì dân mình mới được ấm
no, Tổ quốc mới được giàu mạnh”. Yêu nước gắn liền với thương dân, nghĩa nước
gắn chặt với tình thân, tình thân là cái gốc của chủ nghĩa yêu nước. Vì vậy,
khi đọc được bản Sơ thảo Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa, Người đã đọc đi, đọc lại nhiều lần và qua lăng kính chủ nghĩa yêu
nước chân chính, Người đã sung sướng, reo lên vui mừng khi tìm ra được con
đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với
chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân
tộc duy nhất đúng đắn, đó là “con đường cách mạng vô sản”. Đây chính là con
đường mà Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam đang tìm kiếm. Người khẳng định: “Chỉ
có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp
bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Từ đó, Người đã tin
theo Lê-nin, tin theo Quốc tế cộng sản, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu
tiên khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III của Lênin tại Đại hội Tour tháng
12-1920. Đây là mốc lịch sử quan trọng trong hành trình tìm đường
cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về
chất trong nhận thức, tư tưởng và lập trường chính trị của Hồ Chí Minh.
Chủ
nghĩa yêu nước là động lực lớn của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu hơn
ai hết truyền thống quý báo đó của dân tộc. Người khẳng định: “Đối với các dân
tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực to lớn của đất
nước”, “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên
cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời sống của họ”. “Chủ nghĩa dân tộc ở
đây là tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc. Từ niềm tin “người Việt Nam ai
cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, Người đã khơi dậy truyền thống yêu nước đó,
phát huy được sức mạnh của nhân dân cùng với Đảng đứng lên làm cách mạng giành
lại độc lập tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Sức mạnh nội sinh to
lớn từ chủ nghĩa yêu nước chính là cơ sở để xây dựng, củng cố khối đoàn kết dân
tộc. Bởi trừ những thành phần phản động, tay sai cho đế quốc, thì dù là địa chủ
hay nông dân, thương gia… đều là người nô lệ. Xây dựng Mặt trận dân tộc thống
nhất để đại đoàn kết dân tộc là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh. Phương châm đoàn
kết các giai cấp, tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là “cầu đồng tồn dị”. Minh
chứng lịch sử đã cho thấy, đại đoàn kết dân tộc đã tạo sức mạnh vô địch giúp
cho cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Không
chỉ vậy, chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh còn mang tinh thần quốc tế khi Người
gắn kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với
chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân
dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý
và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với
nhau”. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, mỗi dân tộc đều phải tự lực cánh
sinh, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã
hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ và đồng thời tham gia vào nghĩa
vụ quốc tế cao cả của mình. Hai cuộc cách mạng này phải tiến hành đồng thời,
tác động hỗ trợ lẫn nhau. Người kêu gọi tất cả những người yêu nước phải đoàn
kết lại, “vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được Độc lập,
Tự do”. Sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi
đến cứu nước hoàn toàn.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những giá trị tốt đẹp trong
truyền thống dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hoá nhân loại và đặc biệt là dưới
ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước
đã được đưa lên một tầm cao mới. Từ một
người yêu nước tiến bộ trở thành người cộng sản, một lãnh tụ của phong trào
giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và
rèn luyện đã phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy và phát
huy tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam. Người đã lãnh đạo thành công
cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ - nhân dân ở Việt Nam, đưa dân tộc
Việt Nam tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, chủ nghĩa yêu nước
trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữ
vững lợi ích của dân tộc mình và luôn tôn trọng lợi ích của các dân tộc khác.
Sau
hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử. Đời sống nhân dân cả về vật chất và
tinh thần được cải thiện rõ rệt. “Đất nước ta chưa bao giờ có
được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn
dân tộc được củng cố, tăng cường, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đất nước vượt
qua mọi khó khăn, thử thách. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên
trường quốc tế được nâng cao. Đánh giá về những thành tựu đạt được, Đại hội XIII xác định: “Đây là niềm tự hào, là động
lực; nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta
vượt qua mọi khó khăn, thách thức; tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới
toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước”./.
TBQL 17


