Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2023

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: XÂY DỰNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN MỚI!

         Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn mới là yêu cầu khách quan, là đòi hỏi cấp thiết để đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội thực sự tiền phong, gương mẫu, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, việc xây dựng chuẩn mực ấy cũng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, mẫu mực, tiêu biểu.

Xây dựng chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là vấn đề quan trọng, là nền móng vững chắc để xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(1); đồng thời, xác định phải “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”(2).
Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới xuất phát từ: Vai trò của đạo đức đối với sự nghiệp cách mạng và đối với cán bộ, đảng viên; yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới; trước tình hình mặt trái của kinh tế thị trường tác động tiêu cực đến nhân cách của cán bộ, đảng viên; nhằm phòng, chống sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị. Cùng với đó, một số chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên cần được cụ thể hóa với những nội hàm, nội dung phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh mới. Đây là cơ sở để cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc và cuộc sống hằng ngày. Xây dựng chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên trong Quân đội giai đoạn mới vừa thể hiện đầy đủ và căn bản chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên nói chung, vừa thể hiện sâu sắc đạo đức của cán bộ, đảng viên, quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng. Qua đó, không ngừng “phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội nhân dân tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, giao phó(3).

Nội dung chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn mới

Trong điều kiện mới, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu ngày càng cao. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tăng cường chống phá, xuyên tạc truyền thống Quân đội và hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng Đảng bộ Quân đội về đạo đức, ngày 28-12-2021, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”, trong đó nêu lên 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Những đặc trưng này không phải hoàn toàn mới, mà là kết quả của sự kế thừa, bổ sung, phát triển phẩm chất đạo đức cách mạng phù hợp với tình hình mới, làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên trong Quân đội “tự soi, tự sửa”, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, cụ thể như sau:
Thứ nhất, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Kiên định lập trường chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Đây là biểu hiện cơ bản, cốt lõi và xuyên suốt phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, người quân nhân cách mạng, được đúc kết trong lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(4). Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, cán bộ, đảng viên trong Quân đội tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, cán bộ, đảng viên trong Quân đội đều đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trước lợi ích cá nhân; “suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân”. Đó là phẩm chất cao quý của người cách mạng mà mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội tuyệt đối chấp hành. Mặt khác, phải nâng cao bản lĩnh chính trị, “luôn luôn giữ vững chí khí chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc”(5), khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.
Thứ hai, có đạo đức trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Bộ đội ta là bộ đội nhân dân, bộ đội cách mạng, có truyền thống anh dũng, khắc khổ, kiên nhẫn, cần kiệm, chất phác, việc khó khăn nguy hiểm mấy cũng không sợ, nhất định làm cho kỳ được. Đó là truyền thống, đạo đức, tác phong tốt, phải luôn luôn giữ vững và phát triển”(6). Mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, cởi mở, chân thành, lạc quan cách mạng; nghiêm khắc với bản thân, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích của đơn vị, của nhân dân và của quốc gia - dân tộc. Mặt khác, phải luôn luôn khiêm tốn, luôn luôn cố gắng hơn nữa; thực hiện “nói đi đôi với làm”, dám nhận và chịu trách nhiệm về những sai phạm xảy ra thuộc phạm vi mình phụ trách; không vụ lợi dưới mọi hình thức; không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, gia trưởng và những biểu hiện tiêu cực khác.
Thứ ba, tích cực huấn luyện, học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ về mọi mặt; có phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao; gương mẫu trong công tác, sinh hoạt; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, đảng viên: “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được... Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”(7). Cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải ra sức học tập, huấn luyện, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng cần thiết, nhất là về lĩnh vực quân sự, quốc phòng...; “Cố gắng học tập chính trị và quân sự để tiến bộ mãi, để xứng đáng là quân đội cách mạng của nhân dân”(8), đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Bên cạnh đó, cần xây dựng tác phong, phương pháp làm việc chuyên nghiệp, nghiêm túc, trách nhiệm, tập thể, dân chủ, bám sát cơ sở và quần chúng. Tăng cường tính tiền phong, gương mẫu trong mọi việc. Mẫu mực về đạo đức, lối sống; cấp trên nêu gương trước cấp dưới, đảng viên nêu gương trước quần chúng theo đúng phương châm “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”; cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Thứ tư, có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị. Chấp hành kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định của Quân đội.
Trong tình hình mới, cán bộ, đảng viên trong Quân đội cần có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung và giữ vững nguyên tắc làm việc. Thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ ở cơ sở, trọng tâm là thực hiện dân chủ trong công tác lãnh đạo, chỉ huy; phát huy tốt vai trò của các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân. Đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình, thẳng thắn, dũng cảm nhận khuyết điểm và nghiêm túc sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, phấn đấu tiến bộ; kiên quyết chống mọi biểu hiện lợi dụng phê bình với mục đích và động cơ không trong sáng.
“Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”(9). Cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, thực hiện tốt 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân; tự giác chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên cũng như nền nếp, chế độ công tác, sinh hoạt, học tập; không ngừng rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và tác phong chính quy;... Gương mẫu chấp hành nghiêm các quy định về văn hóa công sở, tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng với các giá trị chân - thiện - mỹ.
Thứ năm, chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt; lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó mật thiết với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Có tinh thần đoàn kết quốc tế, mở rộng và tăng cường đối ngoại quốc phòng, góp phần tích cực bảo vệ môi trường hòa bình ở khu vực và thế giới.
Sự đoàn kết của cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải vì lợi ích chung, chân thành, trung thực, dựa trên nền tảng đạo đức của người cộng sản, người quân nhân cách mạng; đấu tranh hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ. Cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải luôn có tinh thần đoàn kết, thống nhất, thương yêu, giúp đỡ đồng chí, đồng đội; quan hệ bình đẳng, thân ái, đồng kham, cộng khổ với đồng chí, đồng đội trong lúc bình thường cũng như trong chiến đấu, “thương yêu đùm bọc nhau, coi như anh em ruột thịt một nhà”. Không thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước khó khăn của đồng chí, đồng đội và nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, “quân đội ta là quân đội nhân dân, con đẻ của nhân dân, bảo vệ nhân dân, đó là nhiệm vụ rất vẻ vang”(10); phải thực sự vì dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Bởi vậy, cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải thật sự trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân.
Thực hiện tốt chủ trương của Đảng: “Chủ động, tăng cường hợp tác và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh”(11), cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải có tinh thần quốc tế trong sáng, tôn trọng luật pháp quốc tế và làm tròn nghĩa vụ quốc tế, vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc từ sớm, từ xa. Không ngừng cảnh giác, khôn khéo, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước.

Một số giải pháp hiện thực hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn mới

Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong Quân đội giai đoạn mới có ý nghĩa rất quan trọng, là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách trong xây dựng Đảng bộ Quân đội mẫu mực, thật sự trong sạch, vững mạnh. Để hiện thực hóa chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên trong Quân đội, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong triển khai, hiện thực hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong Quân đội giai đoạn mới.
Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp phải có nhận thức đúng, xác định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm và sự cần thiết phải xây dựng, hiện thực hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong Quân đội phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong điều kiện mới. Từ đó, đưa việc thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ hoặc trong các buổi sinh hoạt, giáo dục chuyên đề của cấp ủy, tổ chức đảng sát với đặc điểm, nhiệm vụ của mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị. Hằng năm, chỉ đạo, tổ chức cho tập thể, cá nhân đăng ký, cam kết phấn đấu thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng gắn với đăng ký, cam kết thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh...
Đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt, học tập trong cấp ủy, tổ chức đảng. Gắn việc học tập, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên với đẩy mạnh tự phê bình và phê bình về kết quả thực hiện chuẩn mực đạo đức trong thực tiễn theo chức trách, nhiệm vụ. Qua đó, kịp thời sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm, ngăn ngừa những biểu hiện vi phạm kỷ luật, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo giáo dục, bồi dưỡng, phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật; tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn... Quan tâm, chăm lo phát hiện nhân tố mới, xây dựng, tuyên truyền, nhân rộng mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả và kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì trong chấp hành kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội. Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Cán bộ chủ trì các cấp thực hiện nghiêm túc phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, cam kết tu dưỡng, rèn luyện theo chuẩn mực đạo đức cách mạng, trước hết là thực hiện nghiêm quy định của Đảng, Nhà nước, Quân đội, đơn vị, nhất là quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên, về những điều đảng viên không được làm, về văn hóa công vụ trong Quân đội,...
Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm hiện thực hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong Quân đội giai đoạn mới.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng ở tất cả các cấp về công tác tuyên truyền, giáo dục, hiện thực hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong Quân đội. Tăng cường đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, nghiên cứu, học tập các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng(12) bảo đảm thiết thực, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm; đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cán bộ, đảng viên.
Phát huy tốt vai trò nòng cốt của cơ quan báo chí, đơn vị văn hóa - nghệ thuật, hệ thống bảo tàng, thư viện các cấp trong sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học - nghệ thuật, góp phần tuyên truyền, cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên nỗ lực phấn đấu, cống hiến sức lực, trí tuệ xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tăng cường nghiên cứu, biên soạn các chuyên đề về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới, làm tài liệu giáo dục cho các đối tượng. Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức hội thi báo cáo viên, giao lưu, tọa đàm, hội thảo khoa học... về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, tuyên truyền gương “người tốt, việc tốt”, góp phần hoàn thiện đạo đức, tư cách người cán bộ, đảng viên, người quân nhân cách mạng.
Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng. Thường xuyên nắm, quản lý và giải quyết tốt tư tưởng của cán bộ, đảng viên, không để bị động, bất ngờ; chủ động thông tin, kịp thời định hướng tư tưởng trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, góp phần nâng cao sức đề kháng, tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên.
Ba là, nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong Quân đội giai đoạn mới.
Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp trong Quân đội phải không ngừng học tập, tu dưỡng, tự giác rèn luyện, phấn đấu theo những chuẩn mực đạo đức cách mạng, mẫu mực về nhân cách, lối sống. Thực hiện nghiêm các quy định về nêu gương của Đảng, thường xuyên “tự soi, tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng. Bổ sung, hoàn thiện các quy định để phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác của cán bộ, đảng viên.
Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc đăng ký, cam kết phấn đấu thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên ở cơ quan, đơn vị mình. Tăng cường xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức, khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, tu dưỡng, mẫu mực trong thực hành đạo đức cách mạng. Gắn kết việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”, với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Hằng năm, lấy kết quả tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng là cơ sở để đánh giá, bình xét thi đua, khen thưởng, điều động, bổ nhiệm, thăng quân hàm, nâng bậc lương của cán bộ, đảng viên.
Bốn là, phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong hiện thực hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong Quân đội giai đoạn mới.
Cơ quan chính trị các cấp cần nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm, trực tiếp tham mưu với lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị chủ trương, giải pháp hiện thực hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong Quân đội giai đoạn mới. Thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, cụ thể hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng trong mọi hoạt động của cán bộ, đảng viên, mọi nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Thực hiện nghiêm việc nhận xét, đánh giá tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, tổ chức quần chúng, gắn với làm tốt công tác thi đua, khen thưởng,...
Các tổ chức quần chúng trong cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện nghiêm túc, chất lượng các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, chương trình, kế hoạch giáo dục chính trị cho đoàn viên, thanh niên, hội viên hằng năm. Tăng cường bồi dưỡng động cơ, trách nhiệm, ý chí quyết tâm trong thực hiện nhiệm vụ. Quản lý chặt chẽ cán bộ, đoàn viên, hội viên, qua đó giúp họ chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội; xây dựng cho họ bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sạch, lành mạnh, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.
Phát huy tốt vai trò của hội đồng quân nhân trong thực hiện dân chủ trên các mặt và nền nếp hoạt động. Hội đồng quân nhân phải luôn lắng nghe ý kiến của mọi quân nhân, nắm chắc tình hình tư tưởng, ưu điểm và hạn chế của họ trong thực hành tu dưỡng, rèn luyện theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng, kịp thời giải quyết băn khoăn, vướng mắc của họ. Tích cực tham gia xây dựng đơn vị có bầu không khí dân chủ tốt, tạo môi trường thuận lợi cho cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, hiện thực hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng.
Năm là, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa, góp phần quan trọng hiện thực hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong Quân đội giai đoạn mới.
Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp trong toàn quân tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, “nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, phòng, chống có hiệu quả tác động tiêu cực từ mặt trái cơ chế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”(13). Tiếp tục triển khai thực hiện cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa, hình thành những tập thể quân nhân phấn đấu, rèn luyện, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng môi trường văn hóa với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”; gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Thực hiện các chuẩn mực con người Việt Nam, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới gắn với thực hiện chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên trong Quân đội, xây dựng “Đơn vị văn hóa” và đẩy mạnh phong trào “Thi đua Quyết thắng”, xây dựng điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt”.
Quan tâm xây dựng đồng bộ các yếu tố của môi trường văn hóa, đặc biệt chú trọng xây dựng quan hệ ứng xử văn hóa, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân; thường xuyên chăm lo, bảo đảm đời sống văn hóa tinh thần tốt đẹp, lành mạnh, phong phú. Hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa và các hoạt động văn hóa quân sự. Cán bộ, đảng viên các cơ quan, đơn vị cần tích cực, chủ động phòng ngừa sự xâm nhập, thẩm thấu của các yếu tố phản văn hóa, văn hóa “xấu, độc” vào đơn vị. Tăng cường đấu tranh, phản bác mạnh mẽ hơn nữa “đối với những quan điểm sai trái, thù địch, không chỉ trên báo chí, mà ngay trong nội bộ cũng như ngoài xã hội, tuyệt đối không để những quan điểm sai trái xuất hiện, tồn tại trong Quân đội”(14),.../.

---------------------------------
(1), (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021,
t. I, tr. 180, 184
(3) Xem: Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28-12-2022, của Quân ủy Trung ương, “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 14, tr. 435
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 281
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 490
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 333
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 373
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 483
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 113
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 160
(12) Như: Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”; Kết luận số 21-KL, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn diến”, “tự chuyển hóa””; Chỉ thị số 855-CT/QUTW, ngày 12-8-2019, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, “Về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương, “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”;...
(13) Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam: Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 68
(14) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 444.
Thượng tướng TRỊNH VĂN QUYẾT, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN.



Yêu nước ST.

RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 


Có nhiều cách hiểu khác nhau về đạo đức, có thể hiểu theo nghĩa chung nhất: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các quy nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội, trong các mối quan hệ cá nhân với cá nhân và cá nhân với xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, vấn đề rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn có ý nghĩa quan trọng trong mọi thời kỳ cách mạng. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Sau Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI), Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016) đã đặt vấn đề xây dựng Đảng về mặt đạo đức cùng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Điều đó cho thấy, trước những yêu cầu đổi mới hiện nay, việc tăng cường rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống  trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp chiến lược là một yêu cầu khách quan, cấp thiết trong công tác xây dựng đảng hiện nay.

Vì vậy, để đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên cần nắm một số vấn đề có tính nguyên tắc theo Tư tưởng Hồ Chí Minh:

Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện lời nói phải đi đôi với việc làm và luôn nêu gương sáng về đạo đức, lối sống

Theo Hồ Chí Minh, đây là yêu cầu có tính nguyên tắc để rèn luyện về mặt đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Kiên quyết khắc phục tình trạng nói nhiều, làm ít, nói mà không làm, nói một đằng, làm một nẻo đang diễn ra khá phổ biến hiện nay. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Nói đi đôi với làm phải gắn với nêu cao tinh thần trách nhiệm và chống chủ nghĩa cá nhân. Học Bác, để thực hiện được sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, chúng ta phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình. Có nhận thức đúng nhưng không vượt qua được sự cám dỗ của lợi ích cá nhân thì sẽ dẫn đến nói không đi đôi với làm. Để nói đi đôi với làm còn cần sự cố gắng, bền bỉ và quyết tâm, bởi bất kỳ công việc nào, nhiệm vụ gì, dù lớn hay nhỏ, khó hay dễ, phức tạp hay giản đơn, nhưng nếu không ra sức phấn đấu thì cũng không thể thành công được. Hồ Chí Minh cũng nói nhiều về sự nêu gương của cán bộ, đảng viên. Theo Người, một tấm gương sống còn hơn nhiều bài diễn văn tuyên truyền. Trong đó, đặc biệt chú trọng tới việc nêu gương về đạo đức, lối sống. Đó là tấm gương của bố mẹ đối với con cái; của thầy, cô giáo đối với học sinh. Trong tổ chức Đảng, Nhà nước đó là sự nêu gương của những người đứng đầu, của cấp trên đối với cấp dưới. Đó là những tấm gương cán bộ, đảng viên mẫu mực, luôn dám nghĩ, dám làm, biết đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, lợi ích của tập thể và địa phương mình, có đạo đức cách mạng mẫu mực, kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân… Và chính Người là biểu hiện tập trung nhất, tấm gương sáng nhất suốt đời đấu tranh, phấn đấu cho lý tưởng, mục tiêu, sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc ta,

Kết hợp chặt chẽ  “xây đi đôi với chống” trong rèn luyện đạo đức cách mạng

Theo Hồ Chí Minh, trong mỗi người đều có cái tốt - cái xấu, cái thiện - cái ác… Vì vậy, “phải làm sao cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”. Muốn vậy, đồng thời với việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng phải đi đôi với kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống những hành vi phi đạo đức. Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên “trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình”. Và phải phê phn đấu tranh loại bỏ hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra vì nó là vật cản nguy hiểm cho việc xây dựng đạo đức cách mạng. Cũng vì vậy, Hồ Chí Minh căn dặn toàn Đảng “muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích cho xây” “phải cương quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn thể, tính tổ chức và kỷ luật”. Xây phải đi đôi với chống, với việc loại bỏ cái sai, cái xấu, cái vô đạo đức trong đời sống hằng ngày, để xây và chống có kết quả phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi. Đây là một quá trình lâu dài, khó khăn và gian khổ.

Phải tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Người nói, đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời, Người dạy: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự rèn luyện có vai trò rất quan trọng, dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong các mối quan hệ cá nhân. Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm của mỗi người và sự giúp đỡ của tập thể, của quần chúng. Người nói “tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lên lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ. Vì vậy gột rửa chủ nghĩa cá nhân ví như rửa mặt thì phải rửa hằng ngày". Cho nên, xây dựng, rèn luyện tu dưỡng đạo đức cách mạng và chống chủ nghĩa cá nhân là phải được tiến hành đồng thời, thường xuyên, bền bỉ, suốt đời trong quá trình hoạt động cách mạng.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, theo những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức mà Người đã chỉ ra chính là biện pháp quan trọng để mọi cán bộ, đảng viên và tổ chức dang sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái “có tính nghiêm trọng” về đạo đức, lối sống, giữ vững niềm tin của nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng./.

TBQL 17

 

 

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG

 


 Trước lúc đi xa, Bác mong muốn: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Một là, đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, đấu tranh bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, quan điểm, Điều lệ của Đảng. Đây là cơ sở tạo sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức, từ đó thống nhất về hành động của toàn Đảng. Do sự chuyển biến nhanh chóng của cuộc cách mạng công nghệ trong xã hội thông tin, mọi đảng viên phải tích cực học tập, cập nhật thông tin, nắm vững đường lối của Đảng.

Hai là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Dân chủ là một điều kiện quan trọng để có đường lối, nghị quyết đúng. Đó là phương pháp căn bản khắc phục những bất đồng về tư tưởng. Dân chủ rộng rãi không tách rời tập trung nghiêm ngặt. Tập trung bảo đảm thống nhất về ý chí và hành động, bảo đảm cho kỷ luật Đảng được chấp hành triệt để.

Ba là, để giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng, theo Bác Hồ “…Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Sau nhiều lần bổ sung Bác đã viết thêm 9 âm tiết này vào Di chúc làm sáng rõ tâm trong sáng, bao dung của Bác đối với mỗi người, mỗi cán bộ, đảng viên. Bác phê phán thái độ lệch lạc, sai trái, thường xảy ra trong tự phê bình và phê bình như thiếu trung thực, che giấu khuyết điểm, sợ phê bình, không dám phê bình, nể nang, né tránh, dĩ hòa vi quý hoặc ngược lại, lợi dụng phê bình để nói xấu, bôi nhọ, vùi dập, đả kích người khác. Người cán bộ đảng viên trước hết phải có tâm trong sáng, có văn hóa, khiêm tốn, cầu thị, khoan dung, độ lượng, bình tĩnh trong xử sự công việc, ân tình trong ứng xử, vì sự tiến bộ của mỗi người và cộng đồng. Tình thương yêu, tôn trọng nhau, tôn vinh những thành công, những mặt tích cực của người khác là chìa khóa để phát huy dân chủ rộng rãi, nguyên tắc tập trung dân chủ được đề cao, kỷ cương, kỷ luật được thực hiện tốt nhất.
         Bốn là, thường xuyên thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình. Cán bộ càng cao, trách nhiệm càng lớn, càng phải gương mẫu tự phê bình và phê bình. Nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật do quần chúng nhân dân và truyền thông phát hiện không phải do tự phê bình và phê bình của tổ chức đảng. Điều đó cho thấy tinh thần đấu tranh, thái độ phê bình tự phê bình của cán bộ, đảng viên chưa cao. Cần nhận thức đúng đắn, thực hành quyết liệt, nâng cao hiệu quả phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên hằng năm, rà soát sàng lọc đảng viên theo Chỉ thị 28 ngày 21-1-2019 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Đồng thời nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.

Năm là, kiên quyết chống bệnh quan liêu, độc đoán, chuyên quyền. Cần thật sự sát dân, gần dân, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Đảng cầm quyền nhưng nhân dân là chủ. Đảng lấy dân làm gốc. Chính gốc này đem lại nguồn sinh lực vô tận cho Đảng. Đảng phải thường xuyên chăm lo, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân. Mọi biểu hiện của bênh quan liêu, xa dân đều làm suy yếu Đảng, không còn là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực hiện Di chúc của Bác:“Giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” là trách nhiệm của mỗi đảng viên và cơ quan lãnh đạo của Đảng. Trong giai đoạn hiện nay chúng ta cần tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng, xây dựng đất nước thịnh vượng, hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc./.

TBQL 17

 

NHẬN DIỆN NHỮNG NHÂN TỐ GÂY MẤT ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG

 


Trong di sản của Bác, vấn đề xây dựng và giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là nền tảng cho mọi thành công. Đoàn kết thống nhất là sinh mệnh của Đảng, là vấn đề sống còn của cách mạng. Do đó, việc khai thác di sản quý báu của Bác chính là việc tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng là nhân lên sức mạnh của Đảng.

Một là, xuyên tạc, bóp méo Chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời. Khi Liên Xô sụp đổ các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thừa cơ dấn tới xuyên tạc, chống phá bằng nhiều thủ đoạn: tuyên truyền quan điểm sai trái trên hệ thống truyền thông, mạng xã hội,  văn hóa phẩm, lan truyền rỉ tai lung lạc ý chí của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tổ chức lực lượng chống Đảng… Trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên không ít người bi quan, dao động, nghi ngờ, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu là do sai lầm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và CNXH là viển vông, không tưởng. Thậm chí có người còn hối tiếc về một thời đã tin theo Chủ nghĩa Mác-Lênin. Họ cho rằng chúng ta đã chọn sai đường, cần phải đi con đường khác. Sự phai nhạt lý tưởng dẫn đến “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” có nguy cơ đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Hai là, phá hoại nguyên tắc tổ chức của Đảng, họ cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ là độc đoán, chuyên quyền, gây phe phái tranh giành quyền lực. Trước, trong mỗi kỳ đại hội của Đảng, các thế lực thù địch tận dụng mọi khả năng, điều kiện, hình thức để công kích các hoạt động của các tổ chức và xuyên tạc văn kiện của các đại hội… Họ không từ mọi thủ đoạn bôi nhọ, nói xấu, chỉ trích cán bộ của Đảng, Nhà nước gây hoài nghi, thiếu tin tưởng, chia rẽ đội ngũ cán bộ, tổ chức đảng với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.

Ba là, khai thác, lợi dụng những người bất mãn, thoái hóa biến chất để tuyên truyền, kích động tâm lý, khuyếch trương những khuyết điểm trong quá trình hoạt động của Đảng. Tôn sùng những người bị khai trừ ra khỏi Đảng vì không còn tư cách đảng viên. Đặc biệt tác hại khi những đảng viên bị khai trừ là những người đã giữ các trọng trách trong Đảng, Nhà nước. Một số người khi được các trang mạng tán dương dưới những mỹ danh “nhà yêu nước”, “nhà dân chủ ” không biết mình đang bị lợi dụng.

Bốn là, trong nội bộ Đảng, một số nơi không thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, buông lỏng việc tổ chức sinh họat, buông lỏng quản lý đảng viên. Không tự phê bình và phê bình nghiêm túc, bình xét phân loại đảng viên qua loa, đại khái, dễ người, dễ ta. Ý thức chấp hành kỷ luật thấp nên có nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật dẫn đến nguy cơ mất đoàn kết trong Đảng, vi phạm kỷ cương phép nước.

Năm là, việc tổ chức học tập các nội dung về xây dựng Đảng, học tập nghị quyết chưa được chú trọng. Việc học nghị quyết ở cấp cơ sở đã chậm lại đại khái qua loa, không tập trung những vấn đề đường lối, chủ trương, quan điểm và những nhiệm vụ cụ thể của các cấp, của từng đảng viên, ảnh hưởng đến sự nhận thức, thống nhất hành động.

Sáu là, chủ nghĩa cá nhân phá hoại đoàn kết trong Đảng. Bác Hồ khẳng định do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm như ngại khó, ngại khổ, tham ô, tham nhũng, kết bè kéo cánh, lợi ích nhóm, lãng phí xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, chạy chức, chạy quyền, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xa rời nhân dân, độc đoán chuyên quyền. Không chịu học tập, thiếu ý chí vươn lên. Thiếu tính tổ chức kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đó là những nguyên nhân gây mất đoàn kết thống nhất trong Đảng, làm mất uy tín, làm hại lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.
                                                            TBQL 17

 

KHƠI DẬY VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH TOÀN DÂN TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

 


Sau 37 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy vậy nền kinh tế phát triển chưa bền vững, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra; các thế lực thù địch chống phá quyết liệt bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hết sức thâm độc, nguy hiểm. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta vì thế có nhiều cơ hội những cũng đứng trước nhiều thách thức.

Tình hình trên đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải đoàn kết, thống nhất, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, tận dụng tốt thời cơ, thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Tập trung thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, với quan điểm, tư tưởng chỉ đạo là kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trong đó, phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Nhằm đạt mục tiêu: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN.

Trong bối cảnh đó, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ vẹn nguyên giá trị, để lại những bài học quý báu:

Một là, khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong những lúc khó khăn nhất.

Học tập và làm theo Bác Hồ, Đảng đã phát huy được sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, kết hợp nội lực và ngoại lực để phát triển đất nước ta ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen, đặc biệt là nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để khơi dậy trong mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Hai là, trong mọi hoàn cảnh, Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ để giải quyết những khó khăn của đất nước như: xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý chí tự cường, niềm tin, tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế… Thực sự xác định “dân làm gốc”, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo, quyền làm chủ của nhân dân ….những giá trị đó phải được thể hiện ở việc lao động sáng tạo phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Ba là, để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay, quan điểm về chiến tranh nhân dân, giúp Đảng ta chủ động phát huy mọi lực lượng, quan tâm phát triển mọi mặt của đất nước, không nóng vội đốt cháy giai đoạn, chủ động phát huy nội lực, kết hợp chặt chẽ nội lực với ngoại lực, tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, xây dựng phát triển hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới. Chú trọng đổi mới đồng bộ, phù hợp giữa kinh tế với chính trị, văn hóa, xã hội, giữa đổi mới kinh tế với đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát của nhân dân. Đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí với những hành vi ngày càng tinh vi, gây bức xúc xã hội. Chủ động công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch. Khắc phục những mặt còn tồn tại trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bởi lẽ nhân dân chỉ tin tưởng và theo Đảng khi Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh”.

77 năm đã đi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến nhưng âm hưởng hào hùng của quá khứ cùng những tư tưởng sâu sắc của Người trong Lời kêu gọi vẫn thức dậy trong mỗi chúng ta lòng tự hào dân tộc, khát vọng hiến dâng cho Tổ quốc và trang bị cho chúng ta những giải pháp đúng đắn để hành động vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong thời đại mới./.

TBQL 17

Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN VÀ LỜI HỊCH CỨU NƯỚC CỦA BÁC HỒ

 


Thực hiện lời nguyện thề thiêng liêng trong Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thực sự đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, Bác Hồ đã viết Lời kêu gọi ngắn gọn, giản dị, đanh thép để hiệu triệu toàn thể nhân dân Việt Nam đứng lên chống thực dân Pháp, bảo vệ Tổ quốc.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bản cương lĩnh kháng chiến súc tích với những nội dung hết sức quan trọng định hướng và chỉ đạo cuộc kháng chiến gian khổ của nhân dân Việt Nam. Ra đời trong thời khắc cam go của lịch sử, lời hịch cứu nước của Hồ Chí Minh đã chạm tới điều sâu thẳm trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam, đó là lòng yêu nước và khát vọng tự do, đã thổi bùng lên ngọn lửa chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Cuộc chiến đấu mà kẻ thù buộc dân tộc Việt Nam phải bước vào, lại chính là nấm mồ chôn chủ nghĩa thực dân cũ và phế truất vai trò cường quốc quân sự của nước Pháp trên phạm vi toàn thế giới.

Vừa giành được độc lập, nhân dân ta với truyền thống nhân nghĩa, yêu hòa bình, khát vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam là muốn có hòa bình để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trên thực tế, để cứu vãn hòa bình, tránh cuộc chiến tranh xảy ra, Đảng, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực hết sức, làm tất cả những gì cần thiết và có thể, kể cả nhân nhượng từng bước với giặc. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến đã nêu rõ: “Chúng ta muốn hòa bình. Chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”. Trước tình hình đó, không còn lựa chọn nào khác, nhân dân ta buộc phải cầm vũ khí chống xâm lược, với ý chí: “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; “hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước”. Một lần nữa, ngọn lửa truyền thống, khí phách chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc ta lại bừng cháy trong những ngày toàn quốc kháng chiến.

Thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính; vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi sau 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp bằng Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, chấn động địa cầu, mở đầu thời kỳ sụp đổ của chế độ thực dân trên toàn cầu.

Thành công của cuộc kháng chiến chống Pháp là nhân tố quan trọng, tạo tiền đề cho thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài suốt 30 năm của quân và dân ta.

77 năm đã trôi qua, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến cùng với những sự kiện mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ 2 vẫn in đậm trong tâm khảm mỗi người Việt Nam, là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh. Sự kiện đáng tự hào đó có giá trị lịch sử và giá trị hiện thực sâu sắc, để lại nhiều bài học quý cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay./.

TBQL 17

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC HỒ CHÍ MINH CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Đại hội XIII của Đảng xác định:  “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục, làm rõ hơn nữa những nội dung của chủ nghĩa yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ rất cần thiết, mang tính chiến lược lâu dài trong giai đoạn hiện nay để nâng cao sức đề kháng cho thế hệ thanh niên trước âm mưu “diễn biến hoà bình”, giúp các em có khả năng chủ động đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Trong giai đoạn hiện nay, để nâng cao chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên cần tập trung vào những giải pháp sau:

Một là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên. Các chủ thể giáo dục như nhà trường, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải chú trọng nội dung, phương pháp phù hợp với thanh niên. Giáo dục không chỉ cần bám sát nội dung cốt lõi của chủ nghĩa yêu nước mà cần phải được liên hệ, phản ánh với đặc điểm của thời đại. Cần giáo dục sinh động, hấp dẫn và dễ tiếp thu như thông qua: hình ảnh, phim truyện, đàm thoại, diễn đàn khoa học… tạo điều kiện để các đoàn viên, thanh niên được trao đổi nhằm nâng cao nhận thức cả về lý luận và thực tiễn. Phương pháp giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, lý luận gắn với thực tiễn; kết hợp hiệu quả giữa giáo dục tại nhà trường với giáo dục trong gia đình và các tổ chức chính trị - xã hội.

Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24-3-2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030 thông qua 3 phong trào lớn đó là: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo” và “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc”. Những nội dung chủ nghĩa yêu nước cần phải được cụ thể, tổ chức sáng tạo, phù hợp với lứa tuổi, đơn vị, cơ quan, địa phương nhằm phát huy hiệu quả.

Hai là, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức, giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Vì vậy, phải xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh, có uy tín, trở thành nơi “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”.

Trước hết, đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, luôn là tấm gương sáng cho đoàn viên noi theo. Đoàn viên thanh niên không ngừng tự giác học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống. Mặt khác, tổ chức đoàn tiếp tục tăng cường, giáo dục tinh thần yêu nước, những truyền thống quý báu của dân tộc, tổ chức vận động đoàn viên thanh niên không ngừng học tập, rèn luyện ý chí, cống hiến sức mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Các tổ chức cơ sở đoàn cần thường xuyên quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên chi đoàn mình. Chủ động dự báo, nắm chắc và dự báo diễn biến tư tưởng, tâm trạng của đoàn viên thanh niên để định hướng, giáo dục và kịp thời giải quyết các vấn đề mới nảy sinh. Đặc biệt, cần kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa yêu nước với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Thi đua chính là điều kiện, tiền đề quan trọng để biến lòng yêu nước từ “học tập” trở thành “làm theo” trong từng hành động cụ thể.

Ba là, truyền cảm hứng cho thanh niên thông qua gương “người tốt, việc tốt” để giáo dục và tự giáo dục. Thanh niên luôn ngưỡng mộ những người tài giỏi nên cần phát huy các gương điển hình tiên tiến để lôi cuốn, cổ vũ và thuyết phục thanh niên. Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chí Minh: một tấm gương tốt, một tấm gương sống còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn. Vì vậy, tăng cường tuyên truyền, biểu dương các tấm gương điển hình tiên tiến, bao gồm tiên tiến về: tư tưởng, đạo đức lối sống, tác phong và tiên tiến về mô hình, cách làm để tạo hiệu ứng lan toả, khích lệ tinh thần thi đua học tập và phấn đấu của mỗi người. Khi được truyền cảm hứng sẽ tạo nên sức mạnh nội lực bên trong, cổ vũ và thúc đẩy thế hệ thanh niên Việt Nam nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, sáng tạo với những quyết tâm lớn để kế tiếp những thế hệ trước hoàn thành giấc mơ xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, sánh vai cùng các nước trên thế giới.

Bốn là, xây dựng hệ giá trị văn hoá chuẩn mực để giáo dục dục cho thanh niên. Để phát huy được tinh thần yêu nước của thế hệ thanh niên theo chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải xây dựng một môi trường xã hội với các giá trị văn hoá chuẩn mực đạo đức. Đặc biệt, sự bùng nổ của in-tơ-nét khiến cho văn hoá phương Tây ảnh hưởng đến lối sống cùng với âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch khiến cho một bộ phận thanh niên mơ hồ, hoài nghi và phai nhạt lý tưởng cách mạng. Do vậy, sớm xác định giá trị quốc gia và chuẩn mực giá trị con người Việt Nam hiện đại, tạo cơ sở xây dựng, triển khai, thực hiện các chính sách, giải pháp phục vụ cho sự phát triển con người, khắc phục sự xuống cấp về đạo đức, lối sống trong thế hệ trẻ hiện nay. Trên cơ sở đó, xây dựng môi trường xã hội văn hoá, gắn với việc xây dựng gia đình văn hoá, xã hội văn hoá, đồng thời tăng cường giáo dục ý thức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời những âm mưu tấn công của các thế lực phi văn hoá, phản văn hoá, những suy đồi trong đạo đức, lối sống. Để làm được điều đó, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách phù hợp trong xây dựng chính sách phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, sự phát triển kinh tế là tiền đề cho sự phát triển văn hoá, đạo đức. Phát huy sức mạnh của văn hoá, đặc biệt là những giá trị chân - thiện - mỹ, những giá trị phổ biến và phổ quát của văn hoá mà thanh niên cần phải được tiếp thu để trở thành những công dân có đức đức, có văn hoá. Phải có những hình thức, cơ chế, đặc biệt phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, giáo dục, tạo điều kiện cho thanh niên có thể tiếp cận và thấm nhuần các giá trị văn hoá dân tộc, chuyển biến những giá trị văn hoá tốt đẹp vào trong các hoạt động cuộc sống. Có như vậy, mới xây dựng được thế hệ thanh niên mang trong mình tinh thần yêu nước sâu sắc để từ đó kế tiếp và phát huy những truyền thống vẻ vang của dân tộc; để dù hội nhập quốc tế, Việt Nam vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc, kiên định, vững vàng trước mọi thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch./.

TBQL 17

 

THẾ HỆ THANH NIÊN LÀ LỰC LƯỢNG TO LỚN TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 


Cho đến nay, chủ nghĩa yêu nước vẫn là giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Đó là một trong những động lực quan trọng nhất góp phần gắn kết cộng đồng, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy đất nước phát triền. Đặc biệt, trong bối cảnh mới, càng đòi hỏi phải phát huy “tinh thần yêu nước” cao độ của mỗi người, đặc biệt là thế hệ thanh niên.  

Ở bất cứ thời đại nào, thanh niên luôn lực lượng tiên phong trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Sức trẻ cùng với lòng nhiệt huyết của mình, thanh niên Việt Nam không ngại khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Nhận thức về vai trò của thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, thanh niên là lực lượng quyết định sự phát triển của cách mạng, của dân tộc, “nhà nước thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Để hoàn thành trọng trách lịch sử đó, đội ngũ thanh niên cần phải có ý chí vươn lên, đồng thời Đảng phải có trách nhiệm chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên thành lớp người “vừa hồng, vừa chuyên”.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước cho thế hệ thanh niên. Người khẳng định: “cốt nhất của nhà trường là dạy học cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có ý chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”. Cách tốt nhất để bồi dưỡng lòng yêu nước cho thanh niên là giáo dục truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng. Từ đó bồi đắp, củng cố cho thế hệ trẻ hiểu được giá trị lịch sử, giá trị của cuộc sống hoà bình, tự do, độc lập, xây dựng cho mình hoài bão, khát vọng, ý chí, quyết tâm vượt lên khó khăn, thử thách; có tinh thần đoàn kết, chia sẻ, tương thân, tương ái, sẵn sàng cống hiến và hy sinh vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Hiện nay, trước sự biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, có nhiều vấn đề tác động ảnh hưởng đến lòng yêu nước của thanh niên như: tác động của nền kinh tế thị trường, lối sống thực dụng, in-tơ-nét, mạng xã hội… Đặc biệt, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta vẫn diễn ra quyết liệt với thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn. Là đối tượng nhạy cảm, dễ bị kích động, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để lôi kéo, lợi dụng giới trẻ, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong bộ phận thanh niên, làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy thoái đạo đức, lối sống trong thế hệ tương lai của đất nước. Vấn đề này nếu không được kịp thời giải quyết triệt để sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng với tương lai, tiền đồ của đất nước. Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) đã nhấn mạnh: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên”.

Qua các thời kỳ lịch sử cách mạng, thế hệ thanh niên Việt Nam luôn là lực lượng quả cảm, tiên phong trong các phong trào cách mạng, không ngại gian khổ, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Trong giai đoạn hiện nay, tiếp nối truyền thống quý giá của cha ông để lại, thanh niên Việt Nam không ngừng ra sức phấn đấu lao động, học tập, rèn luyện về mọi mặt, có ý chí vươn lên trong cuộc sống. Họ có nhận thức và thái độ chính trị đúng đắn, kiên quyết đấu tranh những biểu hiện sai trái trong đạo đức và lối sống, có sức đề kháng và còn là lực lượng to lớn trong việc làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm gây tổn hại đến sự phát triển của đất nước. Phần lớn thanh niên, ngay từ khi còn trong ghế nhà trường đã luôn có ý thức chính trị - xã hội tốt, tích cực tham gia các phong trào, hoạt động đoàn thể để được cống hiến và trưởng thành. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng ngày càng tăng. Minh chứng cho tinh thần yêu nước vẫn luôn là ngọn đèn sáng soi rọi cho mọi suy nghĩ và hành động của thanh niên, hình thành nên một thế hệ thanh niên nhiệt tình, dám làm, dám chịu trách nhiệm và luôn muốn được cống hiến, phụng sự vì một nước Việt Nam hùng mạnh và văn hiến.  

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, suy thoái về đạo đức, lối sống, lãng quên truyền thống cách mạng của Đảng và dân tộc, bàng quan trước tình hình của đất nước. Một số thanh niên còn mơ hồ về chính trị, chưa xác định được trách nhiệm của thanh niên nói chung và bản thân nói riêng, ngại tham gia các hoạt động đoàn thể và các hoạt động xã hội. Một bộ phận thanh niên đi học ở nước ngoài, tiếp cận các tư tưởng phương Tây nhưng không có bản lĩnh chính trị vững vàng nên bị phai nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có những thái độ chỉ trích phê phán chủ quan, phiến diện, thậm chí có thái độ đối lập. Đánh giá về thực trạng thanh niên hiện nay, Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X nhận định: “Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hoá dân tộc”.

Vì vậy, bồi dưỡng chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ Việt Nam là việc làm rất quan trọng và cần thiết. Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ không chỉ là duy trì những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đó còn là tăng thêm sức mạnh nội sinh, phát huy tiềm lực con người cho quá trình phát triển đất nước./.

TBQL 17

 

CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC HỒ CHÍ MINH - HỆ TƯ TƯỞNG MANG TÍNH THỜI ĐẠI

 


Dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã vun bồi tình cảm, tư tưởng yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và cuộc sống của nhân dân. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam mang đậm những nét đặc sắc riêng của mình. Đó là tình yêu quê hương, yêu đất nước; yêu nước gắn với thương dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc; yêu nước gắn với khát vọng về tự do, khát vọng hoà bình. Tất cả những giá trị đó luôn thống nhất, không tách rời nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Chủ nghĩa yêu nước chính là cội nguồn sức mạnh đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để đi đến những thắng lợi lừng lẫy năm châu, là giá trị thiêng liêng của toàn dân tộc Việt Nam, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho tính cách của con người Việt Nam hùng cường, bất khuất. Thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân, sự áp bức, bóc lột dã man của bọn thực dân, phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có ý thức tìm con đường cứu nước giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

Trên tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân yêu nước, tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh đã có sự kế thừa và phát triển mang tính thời đại, gắn liền với mục tiêu triệt để giải phóng dân tộc. Nhận định về những thất bại của các phong trào đấu tranh từ phong trào Cần Vương đến các phong trào yêu nước theo xu hướng tư sản mà tiêu biểu là phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, cải cách Dân Chủ… Người hiểu rõ không thể đi theo con đường cách mạng như các vị tiền bối. Theo Người, nước độc lập phải đi đôi với dân được hưởng quyền tự do, ấm no, hạnh phúc.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ nghĩa yêu nước đã chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người. Người đau đáu trong mình “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Mọi kế sách đều là vô nghĩa nếu không đem lại tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc. Vì mục đích lý tưởng này đã thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, chịu bao gian khổ, đồng thời là cơ sở tư tưởng dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, và sau này được Người khẳng định: “Lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

Hồ Chí Minh có ý thức rất rõ ràng về vị trí, vai trò, sức mạnh của tinh thần yêu nước. Khẳng định về sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước.Theo Người, “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì dân mình mới được ấm no, Tổ quốc mới được giàu mạnh”. Yêu nước gắn liền với thương dân, nghĩa nước gắn chặt với tình thân, tình thân là cái gốc của chủ nghĩa yêu nước. Vì vậy, khi đọc được bản Sơ thảo Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Người đã đọc đi, đọc lại nhiều lần và qua lăng kính chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người đã sung sướng, reo lên vui mừng khi tìm ra được con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn, đó là “con đường cách mạng vô sản”. Đây chính là con đường mà Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam đang tìm kiếm. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Từ đó, Người đã tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế cộng sản, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III của Lênin tại Đại hội Tour tháng 12-1920. Đây là mốc lịch sử quan trọng trong hành trình tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức, tư tưởng và lập trường chính trị của Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa yêu nước là động lực lớn của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu hơn ai hết truyền thống quý báo đó của dân tộc. Người khẳng định: “Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực to lớn của đất nước”, “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời sống của họ”. “Chủ nghĩa dân tộc ở đây là tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc. Từ niềm tin “người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, Người đã khơi dậy truyền thống yêu nước đó, phát huy được sức mạnh của nhân dân cùng với Đảng đứng lên làm cách mạng giành lại độc lập tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Sức mạnh nội sinh to lớn từ chủ nghĩa yêu nước chính là cơ sở để xây dựng, củng cố khối đoàn kết dân tộc. Bởi trừ những thành phần phản động, tay sai cho đế quốc, thì dù là địa chủ hay nông dân, thương gia… đều là người nô lệ. Xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất để đại đoàn kết dân tộc là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh. Phương châm đoàn kết các giai cấp, tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là “cầu đồng tồn dị”. Minh chứng lịch sử đã cho thấy, đại đoàn kết dân tộc đã tạo sức mạnh vô địch giúp cho cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Không chỉ vậy, chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh còn mang tinh thần quốc tế khi Người gắn kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau”. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, mỗi dân tộc đều phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ và đồng thời tham gia vào nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. Hai cuộc cách mạng này phải tiến hành đồng thời, tác động hỗ trợ lẫn nhau. Người kêu gọi tất cả những người yêu nước phải đoàn kết lại, “vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được Độc lập, Tự do”. Sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi đến cứu nước hoàn toàn.

Như vậy, Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những giá trị tốt đẹp trong truyền thống dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hoá nhân loại và đặc biệt là dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước đã được đưa lên một tầm cao mới. Từ một người yêu nước tiến bộ trở thành người cộng sản, một lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện đã phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam. Người đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ - nhân dân ở Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, chủ nghĩa yêu nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữ vững lợi ích của dân tộc mình và luôn tôn trọng lợi ích của các dân tộc khác.

Sau hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đánh giá về những thành tựu đạt được, Đại hội XIII xác định: “Đây là niềm tự hào, là động lực; nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức; tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước”./.

TBQL 17