Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THUỐC LÁ ĐIỆN TỬ ĐỘI LỐT HỘP SỮA, ĐỒ CHƠI!

         Nhiều phụ huynh hoảng hốt khi thấy con sử dụng món đồ chơi hình thù giống hộp sữa, lego nhưng thực chất lại là thuốc lá điện tử.

Trong lúc soạn sách vở giúp con trai 14 tuổi, chị Ngọc Lan (45 tuổi, Hoàng Mai, Hà Nội) phát hiện trong ba lô của con đồ vật hình thù không khác gì hộp sữa, có dây đeo, mùi thơm hấp dẫn.

“Núp bóng” tinh vi, khó phát hiện
Vỏ ngoài của sản phẩm dán nhãn “Milk - Energy Drink", tức là sữa, thức uống năng lượng, nhưng khi mẹ hỏi, con trai thừa nhận bạn bè rủ rê mua thuốc lá điện tử hút thử.

Theo chị Lan, mọi ngôn từ và hình dáng sản phẩm đều thiết kế như món đồ uống lành mạnh dành cho trẻ em nhưng là thuốc lá điện tử trá hình. Phụ huynh và giáo viên cũng khó phát hiện đó là thuốc lá điện tử.

Tương tự, anh Nguyễn Văn Chiến (50 tuổi, Hà Đông, Hà Nội) hoàn toàn bất ngờ khi cô con gái lớp 7 thường xuyên kể bạn bè ở lớp vẫn dùng thuốc lá điện tử thiết kế dưới hình thức là các món đồ chơi như lego, đồ xếp hình.

ThS.BS Nguyễn Thị An, Giám đốc Tổ chức HealthBridge Canada tại Việt Nam cho biết, các tổ chức sản xuất, buôn bán thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng đang có những chiến lược, cách thức nhắm thẳng vào giới trẻ.

Các chiến lược thường tập trung vào việc sản xuất các sản phẩm với hình thức đẹp, bắt mắt dễ hấp dẫn trẻ em như hình cái bút, thỏi son, dán các hình hoạt hình ngộ nghĩnh vào các sản phẩm.

“Họ tạo ra nhiều loại hương vị trẻ em yêu thích như hương vị xoài, táo, chanh leo để thu hút trẻ với giá rẻ. Ví dụ, sản phẩm thuốc lá điện tử hình hộp sữa giá 150.000 đồng cho 8.000 lần hút. Những sản phẩm có số lần hút thấp hơn giá khoảng 30.000-80.000 đồng”, bác sĩ An nói.

Các nhà sản xuất cũng thường sử dụng hình ảnh những người nổi tiếng, người giới trẻ thần tượng để quảng cáo sản phẩm, bán hàng.

Chuyên gia cho biết, thuốc lá điện tử hiện quảng cáo tràn lan trên mạng xã hội với những lời quảng cáo như “thuốc lá điện tử ít hại hơn thuốc lá truyền thống”, “thuốc lá điện tử hàng xách tay chuẩn giá rẻ" bất ngờ thu hút sự quan tâm và sử dụng của giới trẻ.

Các sản phẩm này không chỉ bán tại nhiều cửa hàng chuyên bán thuốc lá điện tử, còn ở quán tạp hóa, quán trà đá, trước cổng trường. Từ đó, học sinh dễ dàng tiếp cận và mua sử dụng.

Nguy hại sức khỏe
Theo ThS.BS Nguyễn Tuấn Lâm, chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam, thuốc lá điện tử gây nguy hại với sức khỏe cộng đồng tương tự thuốc lá điếu thông thường.

Đáng lo ngại, các sản phẩm thuốc điện tử bán công khai như thuốc lá thông thường, giới trẻ ngang nhiên thử dùng. Đó là nguyên nhân khiến tỷ lệ nghiện nicotine gia tăng nhanh, vượt kiểm soát.

Ước tính, trên thị trường hiện có khoảng 20.000 loại hương liệu sử dụng trong sản xuất thuốc lá điện tử. Trong đó nhiều loại chưa được đánh giá toàn diện về mức độ gây hại với sức khỏe.

Những hương vị ngọt, mùi thơm này có thể che giấu độ gắt của nicotine làm cho sản phẩm dễ chịu, dễ hít hơn. “Một số hương liệu sử dụng trong thuốc lá điện tử đã được chứng minh là làm tăng độc tính của sản phẩm”, ông Lâm nhấn mạnh.

Chuyên gia WHO tại Việt Nam cũng nêu rõ, tác hại của nicotine gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thanh thiếu niên, làm suy yếu sự trưởng thành não bộ, lâu dài gây nghiện, rối loạn nhận thức và cảm xúc, giảm khả năng học tập, rối loạn tâm thần. Đặc biệt, những thay đổi do nicotine gây ra trong hệ thần kinh khiến người dùng ở nhóm tuổi này dễ bị nghiện hơn.

Theo các chuyên gia, các sản phẩm thuốc lá kiểu mới còn có nguy cơ cao tiềm ẩn và phát sinh các tệ nạn xã hội, nhất là sử dụng m.a t.úy, các chất gây nghiện.

Thuốc lá điện tử sử dụng nhiều hương liệu, hóa chất nên có thể bị lợi dụng để sử dụng m.a t.úy thông qua việc phối trộn. Người sử dụng có thể tự ý tăng tỷ lệ nicotine quá mức hoặc thêm m.a t.úy, chất gây nghiện khác vào để sử dụng khó bị phát hiện.

Các chuyên gia khuyến nghị cần ban hành chính sách cấm lưu hành thuốc lá điện tử và các sản phẩm thuốc lá nung nóng tại Việt Nam theo khuyến cáo của Bộ Y tế, WHO để ngăn chặn sự gia tăng sử dụng trong thanh thiếu niên.

Các đơn vị cũng cần tăng cường truyền thông nâng cao hiểu biết về tác hại của thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và trách nhiệm của cha mẹ, giáo viên, trẻ em trong bảo vệ trẻ em./.

Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: CHỌN VỎ, BỎ LÕI!

         Chuẩn bị đến kỳ đại hội đảng bộ các cấp, ở cơ quan, đơn vị, địa phương nào cũng nổi lên vấn đề về nhân sự khiến kẻ vui, người buồn. Lựa chọn nhân sự đôi khi không theo các quy định của Đảng mà lại theo kiểu “chọn vỏ, bỏ lõi”. Câu chuyện của M, bạn tôi xảy ra gần 5 năm trước là một điển hình.

Vào tuổi 45, độ tuổi đang chín để có thể cống hiến nhiều nhất, tốt nhất thì M quyết định viết đơn xin ra khỏi ngành. Vợ M khuyên can thế nào anh cũng không nghe. Chị nghẹn ngào gọi điện cho tôi nhờ tác động để anh rút bỏ lá đơn kia.

Là bạn nối khố, tôi đến nhà tìm hiểu sự việc và thực hiện nhiệm vụ mà vợ anh đặt nhiều hy vọng. Anh giãi bày, nếu nói anh không yêu, không gắn bó với nghề và công việc đã theo đuổi suốt 20 năm qua thì không đúng. Bỏ nghề anh cũng tiếc lắm nhưng không còn cách nào khác. Bởi theo anh, trong đợt bổ nhiệm vừa rồi, lãnh đạo cơ quan đưa một loạt cán bộ mới lên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, trong đó có những người năng lực cũng chỉ vào loại “thường thường bậc trung” chẳng lấy gì làm xuất sắc. Điều anh buồn nhất là họ còn thiếu nhiều tiêu chí để trở thành lãnh đạo. Vì vậy, anh quyết định xin nghỉ bởi nếu tiếp tục làm thì hàng trăm cái diễn ra hằng ngày có thể gây ra những xung đột mà anh không thể làm chủ được, dễ dẫn đến bất hòa sâu sắc... Anh bảo, nếu được giải quyết về nghỉ, anh sẽ mở một doanh nghiệp. Mấy năm đầu sẽ vất vả, nhưng anh tin, với khả năng của mình, doanh nghiệp của anh sẽ có chỗ đứng và vị thế.

Thực ra, câu chuyện của M còn nhiều tình tiết và những trăn trở mà anh không tiện nói ra. Học với nhau từ nhỏ, tôi biết M là người cương trực, ngay thẳng và tin tưởng vào nguyên tắc của tổ chức. Theo M, nguyên tắc là để tạo ra sự công bằng, là “bà đỡ” để sự miệt mài làm việc của mỗi cá nhân đến được kết quả và thành công. Anh tin, “gái có công thì chồng không phụ”. Với kết quả làm việc và phẩm chất đạo đức tốt, một ngày kia tổ chức sẽ “gọi tên anh”.

Thế nhưng, dù quy trình công tác cán bộ có ngặt nghèo đến đâu thì M vẫn không được lựa chọn cũng bởi “thước đo” có thể thẳng nhưng “người cầm thước” chắc gì đã không cong. Sau này có dịp hỏi lại về quyết định khó khăn trong đời ấy, tôi được M cho biết, những cán bộ kia lọt được vào quy hoạch, lọt được vào “vòng ngắm” và trở thành người lãnh đạo, quản lý, nhưng sau đó cũng trải qua quãng thời gian không mấy ngọt ngào do còn thiếu về phẩm chất cũng như năng lực lãnh đạo. Thế nên, theo anh, chức mua thì chẳng thể tạo được danh. Nó giống người ta đi mua một chiếc áo hàng hiệu đắt tiền nhưng khi mặc vào thì không hợp và cái sự không hợp đấy thì ít ai không nhìn thấy.

Công tác cán bộ nếu tiến hành không nghiêm, không hướng vào chọn người có đức, có tâm, có tầm, có tài để phục vụ sự nghiệp chung mà lại bị coi là phương tiện để vụ lợi thì chẳng thể cho ra những “công bộc” hết lòng, hết sức vì sự phát triển đi lên của cơ quan, đơn vị, địa phương.

Vỏ chỉ là bề ngoài hào nhoáng mà mắt thường có thể nhìn thấy được, đánh giá được nhưng muốn biết cái lõi ra sao cần có thời gian trực tiếp tiếp cận, cảm nhận, chính vì vậy không dễ để trong thời gian ngắn có thể chọn ngay được “lõi”. Bởi vậy nếu còn “chọn vỏ bỏ lõi” thì dù chúng ta có chống chạy chức, chạy quyền mạnh mẽ đến đâu đi chăng nữa cũng không thể chọn được “lõi” làm nòng cốt./.
Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2023

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI CỰU CHIẾN BINH TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

     Qua các thời kỳ cách mạng Việt Nam đã cho thấy, các thế lực thù địch chưa khi nào ngừng chống phá Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu của chúng là muốn gây mất ổn định và tạo những khoảng trống ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên; kích động, thúc đẩy quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" hòng làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam!

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
Những năm qua, các đối tượng phản động và thế lực thù địch thường sử dụng một số phương thức, chiêu trò để chống phá Đảng và Nhà nước, như:

Thứ nhất, lợi dụng triệt để sự phát triển của internet, mạng xã hội nhằm tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc, bịa đặt, thật giả lẫn lộn, hòng gây nhiễu loạn thông tin, gieo rắc tư tưởng hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động cố tình xuyên tạc chủ nghĩa xã hội (CNXH), chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) và con đường đi lên CNXH của Việt Nam, công kích, phản bác CNXH, ngợi ca một chiều chủ nghĩa tư bản (CNTB), phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xuyên tạc về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta sau 37 năm đổi mới.

Thứ ba, chúng tiếp tục đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ với âm mưu thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm hơn, nhất là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phá hoại từ bên trong, tạo mâu thuẫn chia rẽ nội bộ, đặc biệt là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự gắn bó giữa nhân dân với Đảng và khi có thời cơ, chúng sẽ kích động người dân biểu tình, bạo loạn, gây bất ổn chính trị, tạo ra những cuộc cách mạng đường phố, "cách mạng màu" nhằm lật đổ chính quyền.

Thứ tư, chúng đưa ra các “kiến nghị” nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ xấu; triệt để lợi dụng tâm lý hiếu kỳ của một số người dân, đưa ra những thông tin mập mờ đúng - sai để gây hoài nghi cho nhân dân; cổ súy cho cái gọi là “nhận thức đa chiều” hay “nhìn nhận đa chiều”, hòng xuyên tạc, chống phá chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Các chiêu trò chống phá nêu trên đều hướng tới mục đích cuối cùng là hòng tạo nên bức tranh bi quan về tình hình Việt Nam, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN, dọn đường dư luận để tiếp tục đưa ra những luận điệu phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phát huy vai trò của Hội Cựu chiến binh trong đấu tranh phản bác âm mưu, luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, phản động
Xuất phát từ vai trò, nhiệm vụ chính trị của Hội Cựu chiến binh (CCB) Việt Nam, những năm qua, các cấp hội đã thường xuyên chăm lo giáo dục, tuyên truyền, giúp hội viên hiểu biết sâu sắc và nâng cao nhận thức về quan điểm, đường lối, chủ trương, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thông qua các hoạt động tuyên truyền, mỗi cán bộ, hội viên CCB hiểu rõ hơn nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Một trong những giải pháp giúp nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, hội viên CCB đó là các cấp hội thường xuyên quan tâm xây dựng lượng nòng cốt, cốt cán trong Hội CCB. Từ những hoạt động cụ thể, thiết thực, các phong trào thi đua, Hội CCB các cấp đã xây dựng được lực lượng tham gia cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, có vai trò quan trọng trong đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động. Cùng với đó, các cấp hội đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05 và Chỉ thị 01 của Bộ Chính trị (khóa XII, XIII) về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Các cấp hội, hội viên luôn gương mẫu chấp hành, thường xuyên phối hợp với các cấp, các ngành, đoàn thể tham mưu cho cấp ủy đảng và trực tiếp tham gia tuyên truyền, vận động hội viên, nhân dân hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề về dân tộc, tôn giáo, âm mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, phản động, không để kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc, gây chia rẽ, mất đoàn kết. Hằng năm, có hơn 98% cán bộ, hội viên CCB đăng ký thực hiện những nội dung, việc làm thiết thực; nhiều tấm gương tiêu biểu được cấp ủy, chính quyền các địa phương biểu dương, khen thưởng. Kết quả đó tiếp tục khẳng định vai trò của tổ chức Hội CCB trong thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ XHCN, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở, góp phần quan trọng xây dựng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh. Các cấp hội phối hợp tham gia giám sát, phản biện xã hội và tham gia giải quyết một số vấn đề phức tạp xảy ra trên địa bàn; phát hiện kịp thời và chủ động ngăn chặn những quan điểm sai trái, thù địch tác động đến hội viên CCB và nhân dân trên địa bàn.

Một số nhiệm vụ, giải pháp phát huy vai trò của Hội CCB trong đấu tranh phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ của Hội CCB Việt Nam: "Động viên CCB phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống. Tăng cường vai trò của hội viên trong việc giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, góp phần xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh".

Trước diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực và sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, các cấp hội CCB cần quan tâm thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, như sau:
Một là, tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị và hướng dẫn, chỉ đạo của Ban chỉ đạo 35 các cấp về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới đến cán bộ, hội viên CCB. Các cấp hội quan tâm làm tốt công tác nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, đặc biệt ở các địa bàn trọng điểm, kịp thời phát hiện những vấn đề nổi cộm, từ đó tham mưu, đề xuất Ban chỉ đạo 35 các cấp giải quyết, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, trọng tâm là nâng cao nhận thức cho hội viên về những nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyên truyền làm cho hội viên CCB và nhân dân hiểu, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chú trọng những chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, trách nhiệm của hội viên.

Hai là, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy Đảng, chính quyền và các ngành, đoàn thể, tập trung làm tốt công tác định hướng dư luận xã hội cho cán bộ, hội viên CCB và nhân dân; cung cấp thông tin kịp thời, đa dạng, chuẩn xác, qua đó phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Thường xuyên nắm chắc tình hình hội viên và nhân dân trên địa bàn dân cư; kịp thời phát hiện những động thái, dư luận có biểu hiện lệch lạc, đồng thời bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; phối hợp chặt chẽ với Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội và các hội quần chúng trong triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, phản động. Khi có tình huống xảy ra trên địa bàn dân cư, cần làm tốt công tác tham mưu để cấp ủy, chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương kịp thời xử lý.

Ba là, đi đôi với công tác tuyên truyền, cần làm tốt công tác nắm tình hình dư luận xã hội, chủ động nắm bắt các nguồn thông tin lan truyền tại cơ sở để phản ánh trung thực tâm tư nguyện vọng của hội viên CCB và nhân dân, xây dựng nội dung tuyên truyền chống các luận điệu sai trái, qua đó phát huy dân chủ, giúp người dân có điều kiện bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình đối với các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Thông qua dư luận để điều chỉnh một số chủ trương, chính sách cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tế của nhân dân và địa phương; kiên quyết loại trừ những thông tin bịa đặt, không chính xác; thông báo, xử lý kịp thời cho cơ quan chức năng xử lý các thông tin sai trái gây hoang mang trong dư luận xã hội.

Bốn là, tổ chức hội CCB ở cơ sở cần tăng cường công tác quản lý, giáo dục cán bộ, hội viên chấp hành đúng Điều lệ hội. Thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước, không lan truyền những thông tin sai lệch, xấu độc; tán phát đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xuyên tạc, vu không, kích động; xử lý kịp thời, nghiêm minh các sai phạm. Các tổ chức hội cần kết nối lực lượng xung kích ở cơ sở để tạo thành thế trận vững chắc, có tính tổ chức, kỷ luật trong việc phòng chống, phản bác thông tin sai trái, xuyên tạc. Chủ động xây dựng lực lượng nòng cốt, có năng lực, trình độ đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng; đồng thời duy trì nghiêm nền nếp hoạt động của các tổ, các cộng tác viên trong phát hiện, đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Năm là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, hội viên CCB từ cơ sở, chi hội, tổ hội. Mỗi cán bộ hội cần phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW; tích cực học tập lý luận chính trị để trang bị kiến thức, nâng cao “khả năng miễn dịch”, tăng cường “sức đề kháng” trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Mỗi CCB cần nêu cao cảnh giác, không để các phần tử xấu lợi dụng gây mất đoàn kết nội bộ, vu cáo, bôi nhọ, đả kích Đảng, Nhà nước. Thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội; tham gia đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Bằng tâm huyết và sự từng trải của mình, các CCB cần tích cực tham gia giáo dục truyền thống và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thụ kinh nghiệm sống, cống hiến cho thế hệ trẻ.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là vấn đề cơ bản, hệ trọng, sống còn trong xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thường xuyên, lâu dài của các cấp hội và mỗi cán bộ, hội viên hội CCB, trước hết là người đứng đầu tổ chức hội các cấp./.

Yêu nước ST.

CHẾ ĐỘ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN KHÔNG PHẢI LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA THAM NHŨNG!

         Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC) tại Việt Nam những năm gần đây đã đạt kết quả quan trọng, tạo cơ sở, nền tảng vững chắc trong xây dựng hệ thống chính trị, môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, củng cố được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, được quốc tế đánh giá cao!
Tuy nhiên, thế lực thù địch, phản động thời gian qua vẫn cố gieo rắc quan điểm sai trái cho rằng: Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tham nhũng; tham nhũng là thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chỉ khi nào ở Việt Nam bỏ chế độ độc đảng lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới được dẹp bỏ.

Vậy tại sao có thể khẳng định quan điểm nói trên là sai trái?

Chế độ đa đảng không phải là phép màu để chống tham nhũng

Trước hết, tham nhũng là căn bệnh do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra. Có nhà nước là có nguy cơ sinh ra căn bệnh tham nhũng, không phân biệt nhà nước đó là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, đi theo thể chế chính trị đa đảng hay một đảng. Chỉ khi quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện thì quyền lực sẽ không thể bị lạm dụng, tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa. Như vậy, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng và cũng không phải là không thể chống được tham nhũng.

Chế độ một Đảng cầm quyền không phải nguyên nhân của tham nhũng
Ảnh minh họa: Tạp chí Tổ chức Nhà nước 
Thực tế là, ở các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn cứ hoành hành. Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2022, do Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) vừa công bố đầu năm 2023 cho thấy, trên thế giới không có quốc gia nào không có tham nhũng, không nhà nước nào là hoàn toàn minh bạch, trong sạch. TI sử dụng thang điểm từ 0 đến 100 để phản ánh quan điểm của các chuyên gia và giới kinh doanh đánh giá về tình trạng minh bạch và hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng của mỗi quốc gia, trong đó điểm số 0 là rất tham nhũng và điểm số 100 là rất trong sạch. Quốc gia có điểm số cao nhất thế giới trong bảng xếp hạng này là Đan Mạch với số điểm 90, Phần Lan và New Zealand cùng đứng thứ hai với số điểm 87. Cũng trong bảng xếp hạng này, Nhật Bản và Vương quốc Anh cùng xếp thứ 18 với số điểm là 73, Hoa Kỳ xếp thứ 24 với số điểm là 69, Hàn Quốc xếp thứ 31 với số điểm là 63. Như vậy, từ báo cáo trên thì các quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng về phòng, chống tham nhũng vẫn không hoàn toàn trong sạch và minh bạch. Những quốc gia luôn tự đề cao như một hình mẫu về dân chủ và tinh thần chống tham nhũng thì vẫn có chỉ số chống tham nhũng khá khiêm tốn.

Nếu ai đó cho rằng, thực hiện chế độ đa đảng sẽ tạo ra phép màu để triệt tiêu được tham nhũng là hoàn toàn sai lầm. Việt Nam chúng ta đứng thứ 80 trong bảng xếp hạng 180 quốc gia, vùng lãnh thổ về chỉ số CPI. Như thế, có 100 quốc gia, vùng lãnh thổ xếp dưới chúng ta trong bảng xếp hạng này. Mà trong đó, đại đa số quốc gia này theo chế độ đa đảng. Vậy tại sao các quốc gia, vùng lãnh thổ có hệ thống chính trị đa đảng phái vẫn có hiệu quả phòng, chống tham nhũng kém Việt Nam?

Như thế có thể thấy hiệu quả phòng, chống tham nhũng không phụ thuộc vào chế độ một đảng lãnh đạo hay chế độ đa đảng mà phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống pháp luật, năng lực quản trị của Nhà nước và phẩm chất của cán bộ, công chức. Sẽ thật ngây thơ khi ai đó tin rằng, cứ có đa đảng thì sẽ có sự kiểm soát quyền lực tốt hơn, dẫn tới triệt tiêu tham nhũng. Tại những quốc gia đa đảng phái thì vẫn luôn có sự thỏa thuận quyền lực của các đảng phái đại diện cho giai cấp thống trị xã hội. Dù có bao nhiêu cuộc bầu cử thì quyền lực nhà nước vẫn không thoát khỏi sự thống trị của các đảng phái này. Vì thế, tại các quốc gia đó, nguy cơ và thực tế tham nhũng vẫn luôn là thách thức hiện hữu.

Đảng ta đủ năng lực lãnh đạo để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Thế còn tại Việt Nam, một quốc gia do một đảng lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam thì sao? Thực tế cho thấy, bản chất cách mạng, tính tiền phong và năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn là nhân tố cơ bản quyết định, bảo đảm Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ khả năng để chống tham nhũng hiệu quả.

Theo báo cáo của TI, trong lúc tình hình không được cải thiện hoặc tồi tệ hơn ở 86% các quốc gia trong bảng xếp hạng thì chỉ số CPI của Việt Nam liên tục được cải thiện. Việt Nam là một trong những quốc gia có tiến bộ nổi trội, với 42 điểm, tăng tới 9 điểm kể từ năm 2018.

Đó là kết quả của cả một quá trình PCTNTC rất quyết liệt do Đảng ta lãnh đạo. Với nhận thức, tham nhũng là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, Đảng ta xác định đấu tranh PCTNTC là một việc làm cần thết, tất yếu, hợp lòng dân và xu thế phát triển của nhân loại. Vì vậy, tiếp nối kết quả từ những nhiệm kỳ trước, Đại hội XIII của Đảng đề ra phương châm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”.   

Dấu ấn nổi bật là việc Bộ Chính trị quyết định bổ sung, mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng để chỉ đạo cả công tác phòng, chống tiêu cực. Từ đây, cuộc đấu tranh PCTNTC bước sang giai đoạn mới, đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ hơn giữa “xây” và “chống”, giữa PCTNTC với xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Ngay sau đó, Ban chỉ đạo đã quyết định đưa một số vụ việc tiêu cực vào diện theo dõi, chỉ đạo, qua đó, các cơ quan chức năng đã làm rõ, xử lý nghiêm hành vi tiêu cực của nhiều cán bộ, đảng viên.

Công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh. Các cơ quan chức năng đã chủ động phát hiện, quyết liệt đấu tranh, khởi tố, điều tra, xử lý nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, xảy ra trên diện rộng, trong các lĩnh vực chuyên môn sâu, hoạt động khép kín, vi phạm có tính hệ thống, có tổ chức, cả trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng trong cả nước đã khởi tố, điều tra hơn 7.800 vụ án, hơn 15.200 bị can về tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế. Vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á đến nay đã khởi tố 30 vụ án, 109 bị can (trong đó 25 địa phương đã khởi tố 28 vụ án, 71 bị can); vụ án xảy ra trong lĩnh vực đăng kiểm đã khởi tố 80 vụ án, 613 bị can tại Cục Đăng kiểm Việt Nam, 98 trung tâm và chi cục đăng kiểm; vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) đã khởi tố 54 bị can... 

Qua xử lý các sai phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực đã xử lý trách nhiệm chính trị của người đứng đầu trong việc để xảy ra vi phạm, khuyết điểm trong lĩnh vực được phân công quản lý, phụ trách theo đúng nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xem xét, cho thôi giữ chức vụ, cho nghỉ công tác, nghỉ hưu, bố trí công tác khác đối với 14 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã bố trí công tác và thực hiện chính sách đối với 22 trường hợp cán bộ sau khi bị kỷ luật. Đảng ta đã “nói đi đôi với làm”, chống tham nhũng, tiêu cực đã “tắm từ trên đầu xuống”, không phải chỉ “tắm từ vai xuống” như có ý kiến băn khoăn, lo lắng thời gian trước.

Trước đây, trong một số vụ án tham nhũng, tiêu cực, việc điều tra, xử lý gặp khó khăn, vướng mắc, chậm tiến độ do có một số đối tượng liên quan bỏ trốn. Tuy nhiên, vừa qua, các cơ quan chức năng đã điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt, tuyên án xử phạt tù đối với cả những đối tượng đang bỏ trốn, như trong vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai, Công ty Cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC). Điều này sẽ tạo tiền đề để xử lý nhiều đối tượng bỏ trốn ở một số vụ án khác, là hồi chuông cảnh tỉnh, răn đe, dù có trốn ra nước ngoài cũng không thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật.

Tham nhũng chính sách là vấn đề nan giải với mọi quốc gia. Thời gian qua, Đảng ta đã chỉ đạo việc quan tâm phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngay từ khâu tham mưu, ban hành chính sách. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTNTC đã chỉ đạo Đảng đoàn Quốc hội xây dựng, trình Bộ Chính trị ban hành quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.

Việc kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong hoạt động của chính các cơ quan có chức năng PCTNTC được đẩy mạnh. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các cơ quan chức năng đã xử lý kỷ luật hơn 300 cán bộ, công chức trong các cơ quan PCTNTC có sai phạm; nhiều trường hợp trong số đó bị xử lý hình sự. Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đã khởi tố, điều tra hơn 40 vụ án tham nhũng, chức vụ, tiêu cực xảy ra trong hoạt động tư pháp. Đặc biệt là, đã xử lý kỷ luật đối với 3 lãnh đạo, nguyên lãnh đạo thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước. Từ đầu năm 2023 đến nay, đã khởi tố, điều tra 2 thiếu tướng công an, 15 cán bộ thanh tra, giám sát của các cơ quan: Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, chánh thanh tra tỉnh...

Cùng với đó, để khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, sự ra đời của ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC chính là nhân tố mới giúp công tác PCTNTC ở địa phương, cơ sở có sự chuyển biến tích cực. 

Như thế, có thể khẳng định luận điểm cho rằng “tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ xã hội chủ nghĩa, của chế độ một đảng cầm quyền” và “chế độ một đảng không chống được tham nhũng” là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Tham nhũng gắn với cá nhân có quyền lực và tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ có nhà nước vì nó luôn gắn với nhà nước và quyền lực. Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nên xét về bản chất, không có cơ sở sinh ra tham nhũng. Tham nhũng, tiêu cực về bản chất là tàn dư của chế độ cũ, xã hội cũ, con người cũ. Chỉ những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, nhưng thiếu tu dưỡng, rèn luyện mới sa vào chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, rồi việc thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức, của nhân dân mới dễ làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Hiệu quả của việc PCTNTC đến đâu là do sức đề kháng của chế độ xã hội mới-xã hội chủ nghĩa, do năng lực của Đảng cầm quyền, do chất lượng hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt phụ thuộc vào phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 04 THÁNG 11 NĂM 1951!

     “… Muốn thắng, thì ta phải tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch…”!

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích trong Chiến dịch Hòa Bình”, Người viết tháng 11 năm 1951.

Đây là thời điểm Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình, đập tan phòng tuyến sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Đây là sự chỉ đạo sát sao, sự động viên khích lệ của Bác, thể hiện nhãn quan chính trị, quân sự thiên tài nhạy bén của Người đã đánh giá đúng tình hình địch, ta, phán đoán trước được âm mưu, hành động xảo quyệt của những tên đế quốc, thực dân xâm lược. Đó còn là phương châm, tư tưởng, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của chiến dịch, đồng thời phản ánh rõ nét tư tưởng “đánh chắc thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tư tưởng đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo cao nhất, đem lại niềm tin, nguồn sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn để tiếp thêm sức mạnh và ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các chiến sĩ ngoài mặt trận.

Quán triệt lời dạy của Người, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, lập công xuất sắc, đập tan cuộc tiến công lên Hòa Bình cùng với âm mưu lập “Xứ Mường tự trị” của thực dân Pháp. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chỉ đạo tiến công chiến dịch và đưa quân đội ta có bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên hai mặt trận rộng lớn và phức tạp; tạo ra cơ hội thuận lợi cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng kháng chiến và mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho ta, góp phần cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân ta trên các chiến trường.

Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” đối với cách mạng nước ta và sẵn sàng can thiệp bằng vũ trang khi cần thiết. Để đánh thắng các thế lực thù địch, Quân đội ta cần chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra; phát hiện kịp thời âm mưu, hành động của chúng để chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể sẵn sàng ngăn chặn, đẩy lùi từ xa; duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ biên giới, vùng trời, vùng biển, hải đảo, nhất là các khu vực còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống. Mỗi cán bộ, chiến sĩ cần xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng đập tan mọi ý đồ xâm lược của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Môi trường ST.

BẢO VỆ ĐẢNG - VÌ SỰ TRƯỜNG TỒN, PHÁT TRIỂN CỦA DÂN TỘC, HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN!

     Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng vững mạnh, thì đất nước phát triển, dân tộc trường tồn, nhân dân hạnh phúc; do đó, bảo vệ Đảng và đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù đ.ịch là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lịch sử dân tộc ta sang trang mới với tiền đồ huy hoàng và rực rỡ. Sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, dù phải trải qua nhiều h.y sinh, gian khổ, song nhất định sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam. Đảng lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bất chấp sự thật hiển nhiên đó, các thế lực thù đ.ịch vẫn không ngừng chống phá, xuyên tạc về vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu vĩ đại mà đất nước ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những luận điệu đó hoàn toàn sai trái, lạc lõng, bị chính lịch sử và thực tiễn bóc trần, phủ nhận.

Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến lên xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa - xã hội thật sự vì con người, giải phóng con người toàn diện và triệt để. Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội; bởi vì, chỉ có đi lên chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Chủ nghĩa tư bản mặc dù đã có những sự điều chỉnh, nhưng nó không thể giải quyết được những mâu thuẫn nội tại và che đậy được bản chất bóc lột của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, và rõ ràng, chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của loài người. Nó chỉ thay hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác xảo quyệt và tinh vi hơn.

Phấn đấu đi tới một xã hội công bằng, bình đẳng, không còn chế độ người bóc lột người là mơ ước ngàn đời của nhân dân Việt Nam, của nhân loại trên toàn thế giới. Tuy nhiên, chỉ đến khi xuất hiện lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thì chủ nghĩa xã hội khoa học mới ra đời và trở thành hiện thực, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam và toàn thế giới mới tìm thấy con đường đấu tranh để giải phóng khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, thực hiện triệt để mục tiêu tiến bộ xã hội đó. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng gồm 8 đặc trưng, trong đó có mục tiêu con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Trải qua những khúc quanh của lịch sử, với bản lĩnh và trí tuệ vững vàng, Đảng ta đã khẳng định, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.

Trải qua quá trình cách mạng, Đảng đã dẫn dắt nhân dân ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thực dân Pháp n.ổ súng xâm lược đã khiến nhân dân ta chịu kiếp lầm than, nô lệ. Nhân dân ta với truyền thống yêu nước nồng nàn đã kiên cường đấu tranh chống ách áp bức đô hộ. Từ con đường cứu nước của các sĩ phu, khởi nghĩa nông dân đến cách mạng tư sản đều thất bại, mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu một đường lối đúng đắn. Chỉ trong vòng 15 năm từ khi ra đời, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nước Việt Nam non trẻ mới ra đời cùng lúc phải đối mặt với “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, vận nước như “ngàn cân treo sợi tóc”. Với đường lối đúng đắn, sáng tạo, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải chấm dứt chiến tranh x.âm lược Việt Nam. Đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam, âm mưu chia c.ắt nước ta lâu dài, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã anh dũng, kiên cường “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng nhất trong tâm thức của mọi người dân Việt Nam. Nhân dân ta “thà h.y sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ không chỉ bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, mà còn bảo vệ lương tri, phẩm giá con người. Thắng lợi đó không chỉ của nhân dân Việt Nam, mà còn là thắng lợi chung của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, giáng đòn mạnh mẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và kiểu mới, cổ vũ các dân tộc bị áp bức đứng lên đòi quyền sống, quyền tự do, bình đẳng. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là kết tinh bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, được phát huy cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh. Dù phải trải qua gian khổ và trường kỳ nhưng rất vẻ vang, thế hệ cha ông sẵn sàng h.y sinh để con cháu muôn đời Việt Nam được hưởng tự do, hòa bình, được ngẩng cao đầu với thế giới, tự hào về dòng dõi Lạc Hồng anh hùng, bất khuất, không chịu cúi đầu trước bất kỳ thế lực ngoại x.âm nào. Vừa trải qua chiến tranh với những hậu quả nặng nề, Đảng ta lại tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa d.iệt chủng và hồi sinh đất nước. Rõ ràng, sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo, kiên cường của Đảng đã làm nên thắng lợi vẻ vang, to lớn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và đưa đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới.

Với đường lối đổi mới năm 1986, Đảng ta đã mở ra giai đoạn phát triển toàn diện đất nước. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị bao vây cấm vận, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vô cùng khó khăn, đến nay, nước ta đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chậm phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Năm 1986, GDP của nước ta đạt khoảng 8 tỷ USD, xếp thứ 9/10 trong khối ASEAN. Từ giai đoạn 1986 - 2022, Việt Nam lọt top 5 nước có quy mô kinh tế tăng nhiều nhất thế giới(1). Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, GDP năm 2022 của Việt Nam tăng 8,02% với quy mô đạt 9,513 triệu tỷ đồng, tương đương 409 tỷ USD, bình quân GDP đạt 95,6 triệu đồng/người, tương đương 4.110 USD, tăng 393 USD so với năm 2019(2). Mặc dù tình hình thế giới và trong nước có nhiều khó khăn, thách thức bất thường phức tạp hơn nhiều so với dự báo, “trong 9 tháng đầu năm 2023, kinh tế nước ta vẫn tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh không mấy sáng sủa của kinh tế toàn cầu; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát, nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế và công nghiệp từng bước được phục hồi, quý sau cao hơn quý trước, tháng sau tích cực hơn tháng trước. Dự báo đến hết năm 2023, tăng trưởng GDP của cả nước đạt khoảng trên 5%, mặc dù thấp hơn chỉ tiêu đề ra (khoảng 6,5%) nhưng vẫn là mức khá cao so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Chỉ số giá tiêu dùng ước tăng 3,5% (thấp hơn nhiều so với mục tiêu khoảng 4,5%). An sinh xã hội được bảo đảm; đời sống nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân của người lao động tăng 6,8% so với cùng kỳ. Việt Nam đã có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện và đối tác chiến lược với tất cả các nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước G20”(3).

“Theo Báo cáo của Liên hợp quốc, Việt Nam là một trong số ít các nước hoàn thành sớm các mục tiêu thiên niên kỷ bao gồm xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực, phổ cập giáo dục tiểu học, tăng cường bình đẳng giới và vị thế cho phụ nữ cũng như những tiêu chuẩn về chăm sóc y tế cộng đồng”(4). So với nhiều nước có cùng quy mô kinh tế, Việt Nam đã giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội tốt hơn, tăng trưởng kinh tế luôn gắn với tiến bộ và công bằng xã hội. Thành quả của sự nghiệp cách mạng hôm nay là kết tinh truyền thống từ mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân ta với biết bao h.y sinh, gian khổ. 

Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta hoàn toàn có thể tự hào “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đại hội XIII của Đảng khẳng định, “sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(5); đồng thời, đưa ra tầm nhìn và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(6). Mặc dù còn muôn vàn khó khăn, thách thức, nhưng với bản lĩnh chính trị, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín của mình, được nhân dân hết lòng ủng hộ, Đảng ta nhất định chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến bờ vinh quang.

Xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, để Đảng mạnh từ bên trong, là một cách bảo vệ Đảng hữu hiệu nhất; theo đó, cần thực hiện một số yêu cầu, nhiệm vụ sau:

Một là, Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(7). Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta không tránh khỏi có những lúc mắc sai lầm, khuyết điểm; nhưng, mỗi lần Đảng công khai tự chỉ rõ sai lầm, khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa, khắc phục, thì uy tín của Đảng càng tăng, nhân dân càng thêm tin yêu Đảng. Việc Đảng tự chỉnh đốn là quá trình khó khăn, phức tạp, song Đảng luôn ý thức được rằng, nhiệm vụ đó có vai trò, ý nghĩa quyết định đến sự sống còn của Đảng nên phải tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên trì và bền bỉ.

Việc ban hành, thực hiện Nghị quyết, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng cho thấy sự cương quyết trong “phòng, chống, ngăn ngừa và đặc trị các loại bệnh tật phát sinh trong cơ thể của Đảng và hệ thống chính trị”(8) để giúp Đảng ta mạnh thêm, được nhân dân hoàn toàn ủng hộ, đồng tình với Đảng. Kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã phát huy tác dụng tích cực; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được củng cố.

Đảng phải luôn tự đổi mới để nâng cao năng lực lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, kịp thời đề ra đường lối đúng đắn, tranh thủ thời cơ đưa nước ta vững bước phát triển.

Đảng chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh vẻ vang khi là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng phải luôn giữ vững bản chất cách mạng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc; luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có đường lối đúng đắn, tổ chức chặt chẽ, gắn bó mật thiết với nhân dân, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động. Khi Đảng là của nhân dân, hết lòng vì lợi ích của nhân dân thì không kẻ thù nào phá hoại được sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Hai là, Đảng phải xây dựng và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ đức và tài vì sự nghiệp cách mạng.

Lịch sử cách mạng đã chứng minh, trong hoàn cảnh khó khăn, đảng viên của Đảng đã nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, gương mẫu, tiên phong, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Bài học từ sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã cảnh tỉnh rằng, khi đội ngũ cán bộ, đảng viên quan liêu, xa dân, suy thoái đạo đức, lối sống thì Đảng sẽ mất năng lực lãnh đạo, cầm quyền. Một chính đảng chỉ làm tròn vai trò dẫn dắt quần chúng nhân dân khi mỗi cán bộ, đảng viên của đảng nêu cao tinh thần, trách nhiệm nêu gương; ngược lại, sẽ đánh mất vai trò lãnh đạo khi cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, không nêu cao tinh thần gương mẫu, xa rời quần chúng, quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(9).

“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, do đó “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Sự nghiệp cách mạng mỗi giai đoạn đều đặt ra những nhiệm vụ khác nhau, song để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, mỗi cán bộ, đảng viên phải đủ đức, đủ tài, “vừa hồng, vừa chuyên”. Đức là gốc của người cách mạng, nếu không có đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi đến đâu cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ; thậm chí, còn có hại cho sự nghiệp cách mạng. Đặc biệt, hiện nay, Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền trong điều kiện kinh tế thị trường thì việc rèn luyện đạo đức cách mạng lại càng trở nên quan trọng, bức thiết hơn bao giờ hết. 

Tuy nhiên, có đức chưa đủ, mà mỗi cán bộ, đảng viên còn phải nỗ lực học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, góp phần xứng đáng vào việc tham mưu hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng. Cần tập trung xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu, cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, uy tín và năng lực, ngang tầm nhiệm vụ. Tạo cơ chế, chính sách để cán bộ, đảng viên có điều kiện để phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời, cương quyết loại bỏ khỏi hàng ngũ của Đảng những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, không đủ tư cách. 

Thực hiện nghiêm việc tự phê bình và phê bình trong Đảng, để mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ và khắc phục những hạn chế, khuyết điểm; lòng dạ trong sáng, đặt lợi ích của Đảng lên trên lợi ích cá nhân, thật sự nghiêm túc, cầu thị, lắng nghe ý kiến phê bình.

Ba là, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dễ mười lần không dân cũng chịu,/ Khó trăm lần dân liệu cũng xong”(10). Được nhân dân ủng hộ, giúp đỡ thì dù khó khăn đến đâu cũng làm được; ngược lại, mất lòng tin của nhân dân là mất tất cả. Sự nghiệp cách mạng của Đảng là vì nhân dân; do đó, Đảng phải vận động, đoàn kết toàn dân thành một khối thống nhất.

Kịp thời đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù đ.ịch hòng chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tăng cường công tác tư tưởng, tuyên truyền để nhân dân thực sự hiểu đúng chủ trương, đường lối của Đảng. Khi “ý Đảng” hợp “lòng dân” sẽ tạo ra sức mạnh vô địch. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện trách nhiệm nêu gương để nhân dân hiểu và tin vào chủ trương, đường lối của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(11). Khi cán bộ, đảng viên gương mẫu, đặc biệt là những người đứng đầu, người giữ cương vị lãnh đạo quan trọng, sẽ là nhân cách đẹp để nhân dân thêm tin yêu Đảng và sẵn sàng che chở, đùm bọc và bảo vệ Đảng./.
Môi trường ST.

NHẬN DIỆN VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG CHIẾN LƯỢC DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

     Bước vào thế kỷ 21, trước sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa về kinh tế và ứng dụng thành tựu cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên tất cả các lĩnh vực, thế giới đang mở ra những cơ hội và thách thức mới. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn. Tuy nhiên, thế giới tiếp tục đối mặt với khủng hoảng kinh tế và các vấn đề thiên tai, dịch bệnh, những vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống; sự ảnh hưởng của các nước lớn ngày càng gia tăng, tạo nguy cơ mất ổn định, thậm chí căng thẳng trong các quan hệ song phương, đa phương.
Trong bối cảnh quốc tế mới, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi chiến lược và phương thức chống phá cách mạng nước ta, chúng sử dụng phương thức phi vũ trang, với thực hiện chiến lược hết sức nguy hiểm là “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ. Các thế lực phản động, thù địch tiếp tục sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta; phương thức đấu tranh phi vũ trang ngày càng giữ vị trí quan trọng và được chúng vận dụng nhiều hơn. Do vậy, việc nhận thức đầy đủ, chính xác âm mưu thủ đoạn và có biện pháp đấu tranh là những nội dung và phương thức cần được đặc biệt chú trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.  
”Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động nhằm lật đổ chế độ chính. trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự". Như vậy nội dung chính của diễn biến hòa bình là: sử dụng mọi thủ đoạn phi quân sự, kết hợp với răn đe quân sự để ngầm phá từ bên trong, tạo ra các lực lượng chính trị đối lập núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền; kích động các mâu thuẫn tôn giáo, dân tộc, sắc tộc; triệt để khái thác và lợi dụng những khó khăn, sai sót của Nhà nước hiện hành, tạo nên sức ép ngày càng lớn buộc lãnh đạo nhà nước phải từng bước chuyển hoá, thay đổi đường lối chính trị, nhường quyền lãnh đạo cho lực lượng đối lập.
Bạo loạn lật đổ là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức của lực lượng phản động, gây rối loạn trật tự an ninh xã hội, nhằm lật đổ chính quyền tiến bộ (cách mạng) thiết lập chính quyền phản động ở địa phương hoặc trung ương. Bạo loạn lật đổ là một thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trong chiến lược “diễn biến hòa bình” để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trong mối quan hệ thì “diễn biến hòa bình” là quá trình tạo nên những điều kiện, thời cơ cho bạo loạn lật độ. Cả “diễn biến hòa bình” và bạo loạn lật đổ đều cùng bản chất phản cách mạng trong âm mưu chống phá các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở nhận diện âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, cần tập trung thực hiện một số biện pháp phòng chống như sau:
Một là, nắm chắc quan điểm, chủ trương, phương châm chỉ đạo trong phồng chống ‘diễn biến hòa bình’, bạo loạn lật đổ. Xác định đây là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa hiện nay, cả trước mắt và lâu dài. Chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ của toàn dân, toàn quân của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, sự quản lí điều hành tập trung thống nhất của Nhà nước. Thực hiện tốt phương châm, kết hợp chặt chẽ giữ bên trong và chủ động ngăn ngừa. Giữ bên trong là giữ vững sự ổn định chính trị, mục tiêu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã chọn, giữ vững khối đoàn kết dân tộc; giữ vững và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Ngăn ngừa mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù; ngăn ngừa mọi sự yếu kém, sai lầm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp lãnh đạo, điều hành nhà nước. Giữ vững bên trong và chủ động ngăn ngừa là hai mặt quan hệ chặt chẽ với nhau,  
Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp, đấu tranh toàn diện gắn với xây dựng thực lực cách mạng, kết hợp xây và chống, lấy xây là cơ sở quyết định để chống. Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân của cả hệ thống chính trị. Đấu tranh toàn diện, chính trị, kinh tế, quân sự… Kết hợp chặt chẽ các mặt đấu tranh đó, lấy đấu tranh chính trị làm chính. Phát huy sức mạnh tổng hợp là để đấu tranh toàn diện, đấu tranh toàn diện nhằm khai thác, phát huy được đầy đủ vai trò, vị trí, chức năng của từng yếu tố cấu thành sức mạnh tổng hợp để đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù.  
Ba là, chủ động trấn áp, giải quyết hiệu quả với các hành vi bạo loạn. Giải quyết gây rối không để phát triển thành bạo loạn. Xử lí linh hoạt, nhanh chóng, triệt để các tình huống có bạo loạn lật đổ và vận dụng vào xử lí vụ việc gây rối. Cần chú ý phải xử lí kiên quyết, chủ động trấn áp đúng lúc, đúng thời cơ, đúng đối tượng, trúng những tên đầu sỏ trong thời gian càng nhanh càng tốt, không gian càng hẹp càng tốt./.
Yêu nước ST.

ĐỌC GIÚP BẠN: ĐỂ ĐẢNG LUÔN MẠNH PHẢI CÓ CHẾ TÀI ĐỦ MẠNH VÀ CHẶT CHẼ!

         Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, xác định đây là nhiệm vụ then chốt. Cùng với tập trung nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, Đảng ta thường xuyên chú trọng công tác quản lý, giáo dục và rèn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Muốn cho Đảng mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng, đòi hỏi đảng viên phải có chất lượng”. Đúng vậy, Đảng ta được tổ chức rất chặt chẽ ví như một cơ thể sống, các đảng viên của Đảng là những “tế bào” của cơ thể ấy. Muốn cho cơ thể Đảng khỏe mạnh, cường tráng thì các đảng viên - những “tế bào” của Đảng phải thực sự khỏe mạnh. 

Mục tiêu mà Đảng ta hướng tới là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, gần dân, sâu sát cơ sở, có trách nhiệm cao với nhiệm vụ, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành các công việc được giao, có bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách… Để thực hiện mục tiêu ấy, Đảng ta có nhiều chủ trương, giải pháp thiết thực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên được Đảng ta nhấn mạnh, làm rõ trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định. Quán triệt và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, từng tổ chức cơ sở đảng đã cụ thể hóa thành các kế hoạch, chương trình hành động phù hợp với thực tiễn và nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương mình nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.

Nhìn tổng thể cơ bản đội ngũ đảng viên của Đảng luôn vững vàng bản lĩnh; tiên phong, gương mẫu đi đầu trong hoạt động thực tiễn; năng động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách và công việc được giao; tác phong, lối sống trong sạch, lành mạnh, nhân văn; thực sự là chiến sĩ đi đầu phấn đấu, cống hiến vì lợi ích của mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội; tích cực góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho đất nước; bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, vững chắc; bằng mối liên hệ máu thịt với nhân dân…”, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình. Đội ngũ đảng viên của Đảng là một trong những nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển lớn mạnh và việc thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng.

Bên cạnh đại đa số đảng viên vẫn giữ gìn được phẩm chất đạo đức cách mạng, vị trí, vai trò và uy tín lãnh đạo, nhưng vẫn có một bộ phận không nhỏ đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Thực tế ấy không phải bây giờ Đảng ta mới nhận thấy. Nguy cơ tha hóa của đảng viên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo và chỉ ra ngay sau khi nước nhà giành được độc lập. 

Những năm gần đây, do tác động bởi nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, tình trạng suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn biến ngày càng phức tạp. Từ chỗ trước Đại hội XI, Đảng ta chỉ đánh giá “một bộ phận”, nhưng đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Đảng ta chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…”. Trong văn kiện Đại hội XII, Đảng ta một lần nữa chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”. Trong văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục chỉ ra rằng: “Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa… việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”. Đảng ta nhận định rõ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ đảng viên đã tác động làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. 

Nhằm kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng ấy, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, trong đó có Quy định về những điều đảng viên không được làm. Tuy nhiên, việc quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định ấy của các tổ chức đảng và đảng viên chưa nghiêm, một số nơi còn buông lỏng...

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 khóa XIII nhận thấy nội dung của các nghị quyết, chỉ thị, quy định đã ban hành đến nay cơ bản vẫn còn phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý, giáo dục và rèn luyện đội ngũ đảng viên. Nhưng thực tiễn luôn biến đổi, vận động không ngừng. Trước yêu cầu mới của tình hình nhiệm vụ, Ban Chấp hành Trung ương nhận thấy cần thiết phải bổ sung, hoàn thiện thêm một số nội dung quan trọng về rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Việc bổ sung, hoàn thiện này không ngoài mục đích góp phần ngăn ngừa, khắc phục một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn những biểu hiện suy thoái, tiêu cực của cán bộ, đảng viên; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Cùng với đó Đảng ta cũng nhận thấy, có một số nội dung qua thực tiễn chưa đầy đủ, rõ ràng, có nội dung khó áp dụng, gây khó khăn khi phải xem xét vi phạm của cán bộ, đảng viên; có nội dung quy định của Đảng và Nhà nước đã thay đổi, do đó cần phải được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới.

Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên luôn là một yêu cầu nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, cấp bách thuộc về công tác xây dựng Đảng. Đối với mỗi tổ chức cơ sở đảng, đặc biệt là tại các chi bộ - nơi đảng viên trực tiếp sinh hoạt và thực hiện nhiệm vụ thì công tác càng phải được nhấn mạnh. Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả cao nhất Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp. 

Tuy nhiên, đi vào cụ thể trước hết chúng ta cần đổi mới nội dung, phương pháp phân tích, đánh giá chất lượng đảng viên. Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện, phát triển, sàng lọc đảng viên phải được tăng cường. Đối với những người vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Đảng, những điều đảng viên không được làm và pháp luật Nhà nước, cần kiên quyết đưa ra khỏi Đảng.

Mặt khác, trong mọi hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng phải cần phải giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; đề cao trách nhiệm của người chủ trì lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, đơn vị, địa phương. Cấp ủy các cấp phải xây dựng và thường xuyên bổ sung quy chế lãnh đạo và quy chế làm việc, thực hiện nghiêm quy chế chất vấn trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm cho mọi đảng viên đều được thực hiện quyền tham gia vào các công việc của Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát được nhận thức đầy đủ và thực hiện nghiêm túc, góp phần phát hiện và khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha, ngăn chặn kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bộ máy Đảng, Nhà nước.

Đặc biệt, phải thực hiện nghiêm, có hiệu quả cụ thể hơn nữa Quy định về những điều đảng viên không được làm mà Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII mới bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện; kiên quyết khắc phục cho được những hạn chế, bất cập, thiếu sót trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện, đáp ứng được yêu cầu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và công tác quản lý, giáo dục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng trong tình hình mới./.
Yêu nước ST.

TỔNG BÍ THƯ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG VỚI NHỮNG CỐNG HIẾN TO LỚN CHO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG!

         Đồng chí Trần Phú (trong quá trình hoạt động cách mạng mang nhiều bí danh) là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí sinh ngày 1-5-1904 tại thôn An Thổ, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; nguyên quán: Xã Tùng Ảnh (trước đây là xã Việt Yên Hạ, sau đổi thành xã Đức Sơn), huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Sau khi thân phụ, thân mẫu lần lượt qua đời tại Phú Yên, Trần Phú về Quảng Trị ở với anh, chị ruột và năm 1914 được một người họ hàng giúp đỡ cho ra Huế ăn học; mùa hè năm 1922, Trần Phú thi đỗ đầu kỳ thi thành chung do Trường Quốc học Huế tổ chức, sau đó đi dạy học tại Trường Tiểu học Cao Xuân Dục (Vinh, Nghệ An). Năm 1925, Trần Phú tham gia sáng lập Hội Phục Việt, một tổ chức yêu nước và cách mạng; sau đó, hội đổi tên thành Hội Hưng Nam, rồi Việt Nam Cách mạng Đảng, Tân Việt Cách mạng Đảng. Tháng 1-1930, những người phái tả trong Tân Việt Cách mạng Đảng đứng ra thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.     

Ngày 11-11-1924, Nguyễn Ái Quốc sau nhiều năm đi tìm đường cứu nước, từ Liên Xô trở về Quảng Châu, Trung Quốc, nhằm xúc tiến việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của chính đảng giai cấp công nhân Việt Nam. Tháng 6-1925, tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, một tổ chức đầu tiên ở Việt Nam có xu hướng xã hội chủ nghĩa. Lúc này, Hội Hưng Nam muốn hiểu về đường lối của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nên đã cử Trần Phú sang Quảng Châu gặp Nguyễn Ái Quốc và Tổng bộ Thanh niên, đồng thời tham dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc và Tổng bộ Thanh niên tổ chức. Tại Quảng Châu, Trần Phú gặp Nguyễn Ái Quốc, được kết nạp vào Thanh niên và Cộng sản Đoàn. Sau đó, Trần Phú về nước hoạt động một thời gian và quay trở lại Quảng Châu vào tháng 1-1927, làm việc tại cơ quan của Tổng bộ Thanh niên và lại được gặp Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc cử Trần Phú sang học tại Trường Đại học Phương Đông, nơi đào tạo cán bộ cho Quốc tế Cộng sản. Trần Phú học tại đây từ tháng 1-1927 đến 11-1929 và được nghiên cứu “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa", đã vạch ra đường lối cơ bản cho phong trào cách mạng thuộc địa.

Tháng 4-1930, đồng chí Trần Phú về Hải Phòng và bắt đầu đi khảo sát thực tế tại một số địa phương để nắm tình hình, chủ yếu là nắm phong trào công nhân và nông dân. Đầu tháng 7-1930, sau khi đi khảo sát tại một số địa phương, đồng chí Trần Phú từ Hòn Gai về Hà Nội, được bổ sung vào Trung ương lâm thời; được tổ chức bố trí đến ở và làm việc tại nhà số 90, phố Thợ Nhuộm. Tại đây, đồng chí đã nghiên cứu và được Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam phân công viết dự thảo Luận cương chính trị; được các đồng chí trong Trung ương lâm thời, các đồng chí trong các xứ ủy, trong đó có Trần Văn Lan, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Thế Rục… góp ý. Có thể nói, Luận cương chính trị của Đảng năm 1930 là sản phẩm của trí tuệ tập thể, trong đó, đồng chí Trần Phú là người chắp bút và trực tiếp soạn thảo.

Tháng 7-1930, đồng chí Trần Phú được bầu bổ sung vào Trung ương lâm thời. Tháng 10-1930, tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Hương Cảng, đồng chí Trần Phú thay mặt Ban Chấp hành Trung ương lâm thời trình bày “Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương”, gọi tắt là “Luận cương chánh trị” hoặc “Luận cương chính trị”, trong đó đã phân tích tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương; những đặc điểm về tình hình Đông Dương; tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương.

Luận cương xác định rõ nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, phong kiến và địa chủ; lập chính phủ công nông; tịch ký hết thảy ruộng đất của các thế lực thống trị, giao ruộng đất ấy cho trung nông, bần nông, quyền sở hữu ruộng đất thuộc về chính phủ công nông. Giai cấp công nhân phải có nhiệm vụ đoàn kết và lôi kéo giai cấp nông dân về với mình; sung công hết thảy các sản nghiệp lớn của tư bản ngoại quốc; bãi bỏ các sưu thuế hiện thời, lập ra thuế lũy tiến; ngày làm công 8 giờ, sửa đổi sự sinh hoạt cho thợ thuyền và quần chúng lao khổ. Xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập, thừa nhận quyền dân tộc tự quyết; lập quân đội công nông; nam nữ bình quyền… Vấn đề mấu chốt bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng Đông Dương là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Luận cương đã chỉ ra rằng, cách mạng muốn giành được thắng lợi, thì bên cạnh đường lối đúng, cần phải có phương pháp cách mạng đúng.

Về vấn đề khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền về tay nhân dân, luận cương nhấn mạnh, phải nâng nó lên thành một khoa học và nghệ thuật, đúng với “khuôn phép nhà binh”, và phải có thời cơ, điều kiện. Luận cương còn chỉ rõ cách mạng Đông Dương muốn giành thắng lợi phải chịu sự liên hệ mật thiết với cách mạng thế giới và cách mạng dân tộc ở các nước thuộc địa. Cũng tại hội nghị này, Đảng Cộng sản Việt Nam được đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

Luận cương được Hội nghị Trung ương (tháng 10-1930) thảo luận sôi nổi và nhất trí thông qua. Đánh giá về Luận cương chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trong bản Cương lĩnh (tức Luận cương) cách mạng tư sản dân quyền năm 1930, Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập, người cày có ruộng. Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy, Đảng ta đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình. Còn các đảng phái của các giai cấp khác, thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta-Đảng của giai cấp công nhân, không ngừng được củng cố và tăng cường”.

Cũng tại hội nghị này, đồng chí Trần Phú đã được chính thức bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương và là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng.

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, đồng chí Trần Phú rời Hương Cảng vào cuối tháng 11-1930 để về nước cùng Trung ương lãnh đạo Đảng và phong trào cách mạng, trọng tâm là đi vào tổ chức quần chúng đấu tranh, củng cố, phát triển Đảng. Một ngày cuối tháng 12-1930, Thường vụ Trung ương Đảng họp (mở rộng), Tổng Bí thư Trần Phú chủ trì để bàn việc đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận cho đảng viên và đẩy mạnh công tác tuyên truyền của Đảng. Về công tác tuyên truyền, Tổng Bí thư Trần Phú và Thường vụ Trung ương triệu tập hội nghị chấn chỉnh công tác giao thông liên lạc từ Trung ương đến các xứ ủy, khu ủy, tỉnh ủy… và từ Trung ương đến Quốc tế Cộng sản, đến một số đảng cộng sản. Sau hội nghị, Trung ương bắt tay xây dựng cơ sở trên một số tàu thủy chạy tuyến Sài Gòn-Đà Nẵng-Hải Phòng và từ Sài Gòn đi một số nước. Trụ sở của Trung ương cũng chuyển từ Hải Phòng vào Sài Gòn.

Ngày 20-1-1931, tại một căn nhà ở phố Lơ Grăng đờ la Liray (Sài Gòn), Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập hội nghị bàn về công tác vận động công nhân Đông Dương. Tổng Bí thư Trần Phú chủ trì hội nghị và đọc bài phát biểu nêu bật những nhiệm vụ của công tác vận động công nhân của Đảng. Hội nghị quyết định thành lập Ban Công vận Trung ương gồm 4 người, do đồng chí Trần Phú làm trưởng ban.

Tiếp đó, đồng chí Trần Phú cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng bắt tay vào việc chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ 2. Tháng 3-1931, Hội nghị Trung ương lần thứ 2 họp tại số nhà 236, đường Risô (Richaud), Sài Gòn, do Tổng Bí thư Trần Phú chủ trì. Đồng chí đã đọc báo cáo, phân tích một cách sâu sắc tình hình cách mạng ở Đông Dương và nhiệm vụ của Đảng Cộng sản Đông Dương trong giai đoạn mới; phân tích về tình hình lãnh đạo của Đảng trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và các đoàn thể quần chúng. Báo cáo đặc biệt nhấn mạnh đến công tác xây dựng Đảng.

Lúc này, địch khủng bố ngày càng gắt gao. Nhiều cán bộ của Đảng bị bắt. Tổng Bí thư Trần Phú bị mật thám Pháp bắt vào sáng 18-4-1931. Báo chí thực dân nhanh chóng đưa tin về sự kiện này. Chính quyền Đông Pháp giải đồng chí về giam ở bót Pôlô, gần khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn. Bọn mật thám khét tiếng gian ác dùng đủ mọi cực hình, như: Cho điện giật, treo ngược lên xà nhà mà đánh, đốt cháy da thịt, hòng buộc đồng chí phải khai báo ra tổ chức Đảng. Tiếp đó chúng giải đồng chí về bót Catinat, là cơ quan tra tấn lớn nhất của mật thám Nam Kỳ, nhưng tất cả những cuộc tra tấn dã man đều không làm lay chuyển được ý chí cách mạng của đồng chí Trần Phú. Tuy sống trong tù ngục của thực dân Pháp, đồng chí Trần Phú và các chiến sĩ cộng sản Đông Dương vẫn hoạt động bí mật, tìm mọi cách liên lạc với tổ chức của ta ở bên ngoài, thông tin cho nhau biết âm mưu của địch để có biện pháp đối phó.

Sống nơi tù ngục bị đọa đày, tra tấn cực hình, làm cho sức khỏe của Trần Phú ngày càng giảm sút, bệnh tật mỗi ngày nặng thêm. Đến tháng 8-1931, sức khỏe của đồng chí bị suy sụp, cai ngục đành phải đưa tới nhà thương Chợ Quán để khám bệnh. Lúc này, bệnh lao của đồng chí đã rất nguy kịch. Trần Phú trút hơi thở cuối cùng vào sáng 6-9-1931, khi mới 27 tuổi. Trước khi nhắm mắt, Tổng Bí thư Trần Phú vẫn dặn lại các đồng chí và nhân dân: “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu!”.

Sự nghiệp của Tổng Bí thư Trần Phú là sự nghiệp cách mạng cao cả. Hoạt động cách mạng tuy chỉ trong một thời gian ngắn, nhưng đồng chí Trần Phú sớm trở thành người học trò xuất sắc của lãnh tụ Hồ Chí Minh và có những cống hiến to lớn cho Đảng, cho dân tộc và cho sự nghiệp cách mạng Đông Dương.

Trong cuộc đời hoạt động của mình, đồng chí Trần Phú luôn nêu cao phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, biểu hiện rõ nhất ở lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp của Đảng và sự nghiệp giải phóng dân tộc, ở tình thương yêu sâu sắc với nhân dân lao động. Trong mọi hoạt động, đồng chí luôn gắn bó keo sơn với quần chúng, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng.

“Hãy giữ vững chí khí chiến đấu!”. Tinh thần của Tổng Bí thư Trần Phú vẫn sống mãi. Tên tuổi, sự nghiệp cách mạng của đồng chí mãi khắc ghi trong những trang sử vẻ vang của Đảng và dân tộc Việt Nam./.
Yêu nước ST.

ĐỌC CÙNG BẠN: TÌNH YÊU NƯỚC CỦA MỘT VỊ LINH MỤC!

     “Ta hãy vì chúa vì chính nghĩa mà kháng chiến oanh liệt”_ Đây là phát biểu đầu tiên của linh mục Phạm Bá Trực trên công luận, được xem như là lời “tâm huyết” của ngài nhân danh một linh mục Công giáo đối với cách mạng và kháng chiến. Điều này sẽ không lấy gì làm lạ khi lời phát ngôn đó được chính thức đăng trên tờ Sự thật, cơ quan ngôn luận của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác (Đảng ta) lúc đó.
Ông là Phạm Bá Trực (1898-1954) là một tu sĩ Công giáo người Việt và là đại biểu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là linh mục đầu tiên tham gia cách mạng và giữ chức vụ cao trong bộ máy nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông nguyên là Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội. Ông cũng là đại biểu Quốc hội có nhiều văn bằng tiến sĩ nhất trong Quốc hội Việt Nam từ trước tới nay (ba bằng tiến sĩ). Ông thuộc trong số rất hiếm linh mục tham gia hoạt động ở Quốc hội mà được sự cho phép của Giám mục bản quyền, Giám mục Francois Chaize.
Linh mục Phạm Bá Trực từng gửi thư cho các ngụy binh là người Công giáo đăng trên báo cứu quốc, kêu gọi họ hối cải quay súng trở về với nhân dân. Lá thư rất cảm động: “...Anh em ra trận chỉ làm dịp cho thực dân ăn cướp, hại đồng bào, nồi da nấu thịt, làm dịp cho toàn dân nguyền rủa vì trước thực dân đã lợi dụng Đạo mà cướp nước ta, nay lại lợi dụng Đạo mà cướp nước ta lại một lần nữa… Vậy hỡi anh em ngụy binh Công giáo, anh em hãy nhớ lời thánh Paulô bảo ta phải vâng phục chính quyền nước ta là Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh, mau mau đoàn kết trở lại với Tổ quốc độc lập thống nhất, sự Đạo sẽ tự do và mở mang”.
Lễ Giáng sinh năm 1948, ông viết bài "Ta hãy vì Chúa, vì chính nghĩa mà kháng chiến oanh liệt" đăng trên báo Sự thật. Ngày 15 tháng 1 năm 1952, sau khi cùng phái đoàn Liên Việt đi thăm Trung Quốc và Triều Tiên về nước, ông soạn: "Thư kêu gọi đồng bào Công giáo tích cực tham gia kháng chiến" đăng trên báo Cứu quốc.
Trải qua bao thay đổi của thời gian nhưng giá trị về lòng yêu nước của linh mục Phạm Bá Trực vẫn luôn còn mãi trong cộng đồng Công giáo và là hình mẫu cho giáo dân học tập, noi theo để góp phần xây dựng quê hương đất nước phát triển phồn thịnh; tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, ủng hộ Đảng, chính quyền, phát huy những thành tích đã đạt được, những giá trị nhân văn, đạo đức tôn giáo, trách nhiệm công dân, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, đóng góp nhiều hơn để đem lại cuộc sống an lành, không chỉ riêng cho đồng bào công giáo mà cho nhân dân cả nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Một mùa Giáng sinh nữa sắp đến, xin kính chúc các vị linh mục, chức sắc, tu sĩ, tín hữu và đồng bào Công giáo một mùa Giáng sinh an lành và đón năm mới với nhiều niềm vui, tràn đầy hồng ân Thiên Chúa, tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa vào sự xây dựng, phát triển của đất nước, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VÌ DÂN TRONG NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG!

Sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước vì dân trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
Tổng kết, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XII của Đảng, trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn 35 năm đổi mới, Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng rút ra 5 bài học lớn, trong đó bài học về Dân thể hiện rõ nét sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh khi bổ sung thêm hai vấn đề lớn “dân giám sát, dân thụ hưởng” trở thành một phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Về xây dựng Nhà nước, Đảng nêu lên định hướng: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước”(9). Để xây dựng Nhà nước thực sự vì Nhân dân, vấn đề nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước; kiểm soát quyền lực nhà nước, chống các hiện tượng lạm quyền, lộng quyền, vi phạm quyền công dân, chống tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy nhà nước đang được đặt ra rất cấp thiết.

Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm gắn với giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”(10); đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; xác định rõ hơn vai trò, chức năng, vị trí, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được phân công. Đây là sự kế thừa và phát triển tư duy tiến bộ về xây dựng Nhà nước pháp quyền của Đảng ta, trong đó quyền lực nhà nước phải được pháp luật quy định rõ ràng; làm căn cứ để thực thi và bảo vệ quyền của người dân (dân quyền) trên thực tế và xác định quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân “làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo”(11) tổ chức và các hoạt động của Nhà nước.

Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng cũng yêu cầu phải tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, phát huy dân chủ pháp quyền, tăng tính chuyên trách trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội; tôn trọng và bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, cơ chế giám sát lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Nghị quyết còn đặt ra yêu cầu phải “thiết lập đồng bộ” và “gắn kết” cơ chế giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức - chính trị xã hội và Nhân dân nhằm phát huy cao nhất quyền dân chủ của Nhân dân.

Đối với Chính phủ, Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII nêu định hướng: xây dựng bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, có năng lực kiến tạo phát triển, liêm chính, với các giải pháp: “Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với các chính quyền địa phương, khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn” và “Nâng cao chất lượng dịch vụ công; tiếp tục sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, bảo đảm chất lượng, hoạt động hiệu quả”(12).

Đối với các cơ quan tư pháp, Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII nêu rõ: “Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”(13). Hoạt động tư pháp có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người. Do vậy, cần tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, xứng đáng là cơ quan giữ vai trò “trọng yếu” trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

Đối với chính quyền địa phương, tiếp tục hoàn thiện tổ chức phù hợp với từng địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo. Chính quyền địa phương là cấp gần dân, trực tiếp giải quyết công việc hàng ngày, liên quan đến lợi ích thiết thực của Nhân dân, vì vậy Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm đẩy mạnh phân cấp, nâng cao tính chủ động, tự chủ của địa phương, để các địa phương kịp thời giải quyết các vấn đề cụ thể phát sinh trong thực tiễn của địa phương.

Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng còn nêu rõ vấn đề trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với Nhân dân và khẳng định đó là nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Có thể nói, tất cả yêu cầu, nhiệm vụ nêu trên đều thể hiện tinh thần xây dựng Nhà nước dân chủ thực sự gắn bó với dân, phục vụ lợi ích của Nhân dân nhằm “không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(14) theo phương châm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(15).
___________
Ghi chú:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG-ST, H.2000, tr.150.
2. Văn phòng Quốc hội, Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1 (1945-1960), Nxb CTQG-ST, H.2006, tr.7.
3, 4, 5, 6, 13, 20, 25. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.64, tr.175, tr.175, tr.52, tr.153, tr.481, tr.51.
7, 11, 15. Sđđ, tập 5, tr.556, tr.64, tr.81.
8, 9. Sđđ, tập 13, tr.30, tr.438.
10. Sđđ, tập 9, tr.518.
12. Sđd, tập 6, tr.232.
14. Sđd, tập 15, tr.293.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2021, tr.71, tr.118, tr.118, tr.175, tr.176, tr.177, tr.177, tr.116.
Môi trường ST.