Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách

 

Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, luôn coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và coi đó là nguyên tắc số một về tổ chức và hoạt động của một Đảng Cộng sản. Điều lệ của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng, những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, đều khẳng định và chỉ rõ những nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng 93 năm qua, Đảng ta luôn xác định tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua ngày 19 tháng 1 năm 2011) nhấn mạnh: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong điều kiện Đảng cầm quyền ở nước ta, biểu hiện cụ thể của nguyên tắc tập trung dân chủ chính là nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Việc thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong Đảng thống nhất với thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong bộ máy nhà nước và trở thành một phong cách làm việc cần thiết của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Hiện nay, việc thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và phong cách làm việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Thực chất, việc cụ thể hóa nguyên tắc này là xử lý hài hòa mối quan hệ giữa cấp ủy, tập thể lãnh đạo và mỗi thành viên, mà quan trọng nhất là đối với vị trí, vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cơ quan, đơn vị đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó... Vì sao cần phải cá nhân phụ trách? Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho 1 người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy”. Trong hoạt động lãnh đạo, một mặt, nếu tập thể lãnh đạo cùng tham gia, đóng góp ý kiến, thảo luận, bàn bạc thấu đáo, kỹ lưỡng, thì quyết định lãnh đạo, chủ trương, chính sách mới sẽ bảo đảm được tính khách quan, chính xác hơn, khắc phục được tình trạng chủ quan, duy ý chí; mặt khác, khi tập thể đã thảo luận một cách dân chủ, kỹ lưỡng và có quyết định chính xác, đúng đắn về chủ trương, thì không thể hô hào chung chung, mà tất cả mọi người phải cùng thực hiện, phải phân công, giao nhiệm vụ cho từng thành viên phụ trách trong từng lĩnh vực, từng công việc cụ thể. Chỉ có như vậy, hoạt động của cơ quan, đơn vị sẽ vừa phát huy được dân chủ, tập hợp trí tuệ của các thành viên và nâng cao vai trò lãnh đạo của tập thể, vừa đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, phát huy được năng lực, sở trường và tính chủ động, sáng tạo của mỗi thành viên khi được phân công phụ trách, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.

“Tập thể lãnh đạo” và “cá nhân phụ trách” có mối quan hệ gắn bó mật thiết, biện chứng với nhau, là hai mặt thống nhất trong một chỉnh thể không thể tách rời. Khi một tập thể lãnh đạo gương mẫu, thực sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, tất cả vì lợi chung của Đảng, luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, sẽ tạo được môi trường thuận lợi cho mỗi thành viên lãnh đạo rèn luyện, phấn đấu, phát huy hết phẩm chất, năng lực, sở trường để đóng góp cho sự nghiệp chung. Bên cạnh đó, khi mỗi thành viên cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, thực sự tiền phong gương mẫu, luôn năng động, sáng tạo, dám đổi mới, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, sẽ làm tăng thêm vai trò, sức mạnh và năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Trong mối quan hệ giữa “tập thể lãnh đạo” và “cá nhân phụ trách”, thì mối quan hệ giữa cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và người đứng đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy, tập thể lãnh đạo và vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Khi tập thể lãnh đạo thực sự đoàn kết, thống nhất, gương mẫu, giữ vững nguyên tắc tổ chức và các quy định của Đảng, tất cả vì lợi ích của nhân dân, các thành viên ban lãnh đạo đều đề cao tinh thần trách nhiệm, thẳng thắn đấu tranh với quan điểm và hành vi sai trái..., sẽ làm tăng thêm vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, trở thành chỗ dựa vững chắc để người đứng đầu quyết đoán, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành công việc theo chức trách, nhiệm vụ được giao; đồng thời, sẽ ngăn ngừa, hạn chế được những biểu hiện chủ quan, duy ý chí và hành vi vi phạm nguyên tắc của người đứng đầu. Điều đó là bởi, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền chỉ là một thành viên trong cấp ủy, tập thể lãnh đạo, nhưng có vị trí rất quan trọng, đóng vai trò “thủ lĩnh”, định hướng, dẫn dắt cả tập thể trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và sự phát triển của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thực tiễn cũng chỉ ra rằng, nếu người đứng đầu có phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gương mẫu về mọi mặt, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, sẽ góp phần xây dựng tập thể lãnh đạo đoàn kết, thống nhất, trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đưa địa phương, cơ quan, đơn vị vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Ngược lại, nơi nào và lúc nào người đứng đầu thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu, chấp hành không nghiêm chủ trương, đường lối, các nguyên tắc, quy định của Đảng, có tư tưởng vụ lợi, cá nhân chủ nghĩa..., thì sẽ dẫn đến thiếu đoàn kết, thống nhất trong nội bộ lãnh đạo; nhiệm vụ chính trị không được hoàn thành, trong cơ quan, đơn vị thường xảy ra tiêu cực, thậm chí tham nhũng, lãng phí, vi phạm Điều lệ Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không những gây thiệt hại về kinh tế, mà còn làm tổn thất, mất mát về cán bộ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

HAIVAN

Những vấn đề cần chú ý trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay

 Như vậy, để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng trên các phương diện chính là: Trong công tác tổ chức; trong hoạt động lãnh đạo trong sinh hoạt đảng và trong các mặt khác của công tác xây dựng Đảng. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là việc phức tạp, phạm vi phải xây dựng các quy định rất rộng, cần sự kiên trì và sự chỉ đạo tập trung.

Việc hoàn thiện cơ chế để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay cần tập trung vào xây dựng, hoàn thiện các quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ sao cho khắc phục được những hạn chế, bất cập trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, như tình trạng dân chủ hình thức; bóp méo dân chủ để phục vụ ý đồ cá nhân; không quy được trách nhiệm cá nhân khi có sai phạm xảy ra; nhân danh nguyên tắc tập trung dân chủ nhưng hành xử gia trưởng, độc đoán... Trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay, cần lưu ý một số vấn đề sau:

1- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng, bầu người đứng đầu trong các tổ chức của Đảng.

Cần hoàn thiện các quy định về chế độ bầu cử theo hướng mở rộng bầu cử trực tiếp cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy từ cơ sở đến cấp huyện, tỉnh từ nay đến năm 2030. Để khắc phục tình trạng dân chủ hình thức và bóp méo dân chủ trong bầu cử ở nơi này hay nơi khác, theo tinh thần mở rộng quyền đề cử và tự ứng cử, cần giới thiệu nhiều phương án nhân sự để lựa chọn, quy định bắt buộc có số dư trong giới thiệu ứng cử và bầu cử cấp ủy và cả các chức danh là người đứng đầu. Sự không hài lòng trong dư luận, tính hình thức và nguy cơ làm biến dạng dân chủ do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu ở tình trạng phổ biến là chỉ có một ứng viên cho một chức danh lãnh đạo trong bầu cử hiện nay.

Bên cạnh đó, cũng cần tập trung nghiên cứu thực hiện chế độ để những người tham gia bầu có thể bãi miễn đại biểu do mình bầu ra.

2- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong Đảng.

Cần hoàn thiện các quy chế làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng, trong đó quy định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo (cấp ủy, ban thường vụ, ban cán sự đảng...) theo hướng chỉ bàn và quyết định những vấn đề lớn, chỉ trực tiếp quản lý cán bộ là người đứng đầu; đồng thời, tăng thẩm quyền, trách nhiệm của cá nhân là thành viên tập thể lãnh đạo, người đứng đầu (nhất là bí thư, các phó bí thư cấp ủy), đi đôi với hoàn thiện các quy định, thiết chế kiểm soát quyền lực bằng chế độ kiểm tra, giám sát, bỏ phiếu bất tín nhiệm...

Hoàn thiện quy định về chế độ tổ chức, làm việc của thường trực cấp ủy, ban cán sự đảng và đảng đoàn vì đây là những cơ cấu tổ chức đặc biệt, được hình thành không do bầu cử trực tiếp, nhưng có trách nhiệm, thẩm quyền rất lớn, dễ vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ nếu thiếu các quy định cụ thể và chế độ kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Trong trường hợp bí thư cấp ủy đồng thời làm chủ tịch ủy ban nhân dân, vẫn phải bố trí thường trực cấp ủy đủ ba thành viên lãnh đạo để thực hiện được nguyên tắc tập trung dân chủ.

3- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong đại hội đảng.

Cần xây dựng, hoàn thiện các quy định bảo đảm Đại hội đại biểu toàn quốc thật sự là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng; đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên là cơ quan lãnh đạo có vị trí, vai trò cao nhất trong tổ chức đảng, khắc phục biểu hiện hình thức của đại hội đảng các cấp. Ngay trong chính đảng mác-xít đầu tiên do C. Mác và Ph. Ăng-ghen sáng lập là Liên đoàn những người cộng sản, Điều lệ của Liên đoàn năm 1847 đã quy định Ban chấp hành trung ương tham dự Đại hội, nhưng không có quyền biểu quyết. Với quy định này, cho thấy C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã rất quan tâm đến ngăn chặn ảnh hưởng của ban chấp hành đối với đại hội đảng và là chỉ dẫn có ý nghĩa đối với vấn đề hạn chế ảnh hưởng quá mức của ban chấp hành đến đại hội đảng.

Cần xây dựng quy định về chế độ thảo luận trong đại hội đảng bảo đảm sự thảo luận, tranh luận thật sự trong đại hội đảng, khắc phục tính hình thức của tham luận tại đại hội.

4- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ ra nghị quyết và chấp hành nghị quyết.

Xây dựng, hoàn thiện quy chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể. Các quy định phải bảo đảm để mọi cán bộ, đảng viên thực hiện được quyền tham gia quyết định công việc của Đảng; quyền được thông tin, thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến trong tổ chức; khi Đảng đã có nghị quyết thì phải nói và làm theo nghị quyết. Quy định rõ chế độ lãnh đạo các cấp phải lắng nghe ý kiến của cấp dưới, của đảng viên và nhân dân, hồi đáp các ý kiến góp ý, các kiến nghị.

 Xây dựng, hoàn thiện chế độ thảo luận, tranh luận trong xây dựng nghị quyết bảo đảm khuyến khích mọi đảng viên thảo luận dân chủ tất cả mọi vấn đề trong phạm vi chức năng tổ chức đảng của mình; đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng phải tạo cơ chế để khơi gợi, khuyến khích được đảng viên dân chủ thảo luận, phát huy cao nhất tính sáng tạo và giá trị đóng góp của đảng viên. Bảo đảm tất cả ý kiến của đảng viên phải được tôn trọng, ghi nhận, kể cả có đúng, có sai, dù xuôi chiều hay trái chiều. Không đưa ra các quy định hạn chế ý kiến góp ý, chất vấn, hay đồng nhất việc có ý kiến trái chiều với sự mất đoàn kết trong tổ chức đảng.

Chế độ ra quyết định phải bảo đảm việc ban hành nghị quyết của Đảng đều trên cơ sở được tổ chức thảo luận dân chủ rộng rãi, lấy ý kiến của các tổ chức đảng và đảng viên từ cơ sở trở lên, lấy ý kiến góp ý của nhân dân nếu cần, được cân nhắc nhiều mặt, phân tích thấu đáo, nhất là những vấn đề có ý kiến trái chiều trước khi quyết định. Đối với những vấn đề mới, khó, phức tạp thì cần được tổ chức hội thảo, tọa đàm để tiến hành thảo luận, trao đổi kỹ lưỡng, xin ý kiến chuyên gia trước khi quyết định.

5- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện quyền và nhiệm vụ của đảng viên.

Cần cụ thể hóa các quy định để thực sự thực hiện được các quyền của đảng viên về: Quyền được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng; quyền ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương; quyền phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời; quyền trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình. 

6- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện thẩm quyền của tổ chức đảng các cấp.

Cần xây dựng, hoàn thiện các quy định về việc tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình nhưng không trái với nguyên tắc, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên. Điều này sẽ ngăn ngừa được tình trạng vi phạm thẩm quyền khi ban hành các nghị quyết, dẫn đến việc ban hành các nghị quyết sai trái của một số tổ chức đảng như trong thời gian vừa qua. Thực hiện có nền nếp chế độ kiểm tra, giám sát các quyết định của tổ chức đảng các cấp và xử lý các quyết định trái với nguyên tắc, đường lối của Đảng, nghị quyết của cấp trên và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

7- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ báo cáo và thông báo hoạt động của cấp ủy.

Quy định rõ về chế độ cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp; cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước cấp dưới, bảo đảm thật sự là một “kênh” kiểm soát quyền lực trong Đảng; chế độ định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, thực chất tự phê bình và phê bình.

8- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài. Cơ chế phát hiện, tuyển chọn phải bảo đảm phát hiện từ cơ sở để lựa chọn được người có đầy đủ phẩm chất, năng lực, xứng đáng được bầu vào cấp ủy khóa mới; phát hiện người có tài, đức để tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng.

Thực hiện nghiêm và hoàn thiện chế độ ràng buộc trách nhiệm cả về chính trị, tinh thần và kinh tế với người đề cử, tiến cử trong công tác nhân sự nếu việc đề cử, tiến cử vi phạm các quy định, để chống tư tưởng cục bộ, bản vị, địa phương, thân quen, “cánh hẩu”, “lợi ích nhóm”; đồng thời, tránh cách làm giản đơn, tùy tiện, vô nguyên tắc trong công tác cán bộ. Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát có nền nếp việc chấp hành quy định của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Cần tập trung kiểm tra, giám sát thực hiện quy định về không bố trí những người có quan hệ gia đình (vợ, chồng; bố, mẹ của vợ hoặc chồng; con, anh chị em ruột) cùng đảm nhiệm các chức danh có liên quan như: Bí thư, phó bí thư, trưởng ban tổ chức, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cùng cấp ủy; chủ tịch ủy ban nhân dân và người đứng đầu cơ quan nội vụ, thanh tra cùng cấp ở một địa phương; thành viên trong cùng ban cán sự đảng, đảng đoàn; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong cùng địa phương, cơ quan, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, giám sát để phát hiện, xử lý nghiêm những trường hợp xen ghép ý đồ cá nhân, đề ra tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện, nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt, không đúng bản chất, không đúng sự thật nhằm vụ lợi hoặc có lợi cho nhân sự trong quá trình tham mưu thực hiện quy trình công tác cán bộ; để vợ, chồng, bố, mẹ, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để thao túng, can thiệp công tác cán bộ. Cần thực hiện ráo riết các biện pháp trọng tâm như trên để đưa việc chấp hành các quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ đi vào nền nếp, trở thành văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị.

Thường xuyên hoàn thiện cơ chế phát hiện, thay thế kịp thời những cán bộ kém năng lực và kém phẩm chất, có khuyết điểm nghiêm trọng, không còn đủ uy tín. Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát có nền nếp việc chấp hành Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”.

9- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tư tưởng.

Xây dựng và hoàn thiện chế độ thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác lý luận theo hướng mở rộng dân chủ trong nghiên cứu lý luận, thu hút và phát huy trí tuệ của đông đảo các chuyên gia trên các lĩnh vực cùng tham gia; tạo môi trường cho nghiên cứu dự báo phát triển. Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới, khó phải được tổ chức nghiên cứu một cách thấu đáo, chuyên sâu, bài bản.

Cần quy chế hóa trách nhiệm và khuyến khích sự cống hiến của đảng viên làm công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, đồng thời cụ thể hóa các điều cấm đối với đảng viên theo Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm” trong nói, viết, tuyên truyền, để tạo thành chế độ vừa phát huy dân chủ, thúc đẩy sáng tạo, vừa bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật trong công tác tư tưởng.

10- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số.

Cần xây dựng quy định về chế độ bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số, gồm: Trường hợp được bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số; quy trình và thời gian xử lý bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số; quyền và trách nhiệm của đảng viên có ý kiến được bảo lưu; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý nghiêm tình trạng bảo lưu mang tính hình thức; ngăn ngừa sự lợi dụng, lạm dụng quyền dân chủ của một số đảng viên.

HAIVAN    

Nội dung cụ thể của nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay

 

Cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là loại cơ chế chính trị cấp độ cao, bao gồm cả quan điểm chính trị, các quy định, quy chế, quy trình cụ thể trong từng tổ chức, từng công việc của Đảng, để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong toàn Đảng.

Để xác định nội dung cơ chế thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, cần nhận thức rõ phạm vi thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Có thể chia ra các lĩnh vực chính trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, như thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức của Đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các mặt công tác xây dựng Đảng khác.

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức của Đảng.

Công tác tổ chức là một trong các mặt công tác xây dựng Đảng, nhưng do nguyên tắc tập trung dân chủ trước hết là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng và do tính chất quan trọng của công tác tổ chức, nên cần tách ra thành một lĩnh vực chi phối chính của nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức của Đảng bao gồm: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thiết kế mô hình tổ chức của Đảng, trong mối quan hệ giữa các tổ chức trong Đảng, giữa đảng viên với tổ chức; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng và tuân thủ quy chế làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thành lập tổ chức mới, kiện toàn, đổi mới tổ chức...

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo, gồm các khâu: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quy trình ban hành nghị quyết, quyết định lãnh đạo; chế độ thảo luận, ra quyết định, bảo lưu ý kiến thiểu số; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong chấp hành nghị quyết, như chế độ chấp hành, chế độ trách nhiệm, chế độ kiểm tra, giám sát; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách...

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, gồm các nội dung: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tự phê bình và phê bình; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong đại hội đảng, trong sinh hoạt cấp ủy, chi bộ; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện quyền và trách nhiệm của đảng viên; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện bầu cử trong Đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ báo cáo, thông báo trong Đảng...

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các mặt công tác xây dựng Đảng, gồm các phương diện: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác lý luận, như mối quan hệ giữa chấp hành nghị quyết với yêu cầu sáng tạo, đổi mới trong nghiên cứu lý luận; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tuyên truyền, cổ động; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác văn hóa, văn nghệ, trong xử lý mối quan hệ giữa chấp hành nghị quyết, phục vụ đường lối, chủ trương của Đảng với đòi hỏi sự sáng tạo của văn hóa, văn nghệ; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các khâu của công tác cán bộ, như đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, kỷ luật, chính sách cán bộ...; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác đảng viên, như kết nạp đảng viên, đánh giá đảng viên, kỷ luật đảng viên...; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác dân vận; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ...

Sự phân chia nêu trên là cần thiết để nhận thức rõ hơn về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và có cơ sở để xác định nội dung cơ chế cần xây dựng, hoàn thiện nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Tuy nhiên, sự phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối, vì trong thực hiện các hoạt động lãnh đạo, sinh hoạt nội bộ và các mặt công tác xây dựng Đảng luôn có sự đan xen nhau. 

HAIVAN

Trao Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ tư

       Tối 5/11, tại Hà Nội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp Hội Nhà báo Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức Lễ trao Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ tư, năm 2022-2023. Ban tổ chức đã trao 4 giải A, 10 giải B, 12 giải C và 28 giải khuyến khích. 

0:00/0:00
0:00
Các đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Đỗ Văn Chiến trao giải A tặng đại diện các tác giả, nhóm tác giả giành giải A.
Các đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Đỗ Văn Chiến trao giải A tặng đại diện các tác giả, nhóm tác giả giành giải A.

Đến dự, có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Nguyễn Trọng Nghĩa, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Đỗ Văn Chiến, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các đồng chí nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Phạm Thế Duyệt, nguyên Ủy viên Thường vụ, Thường trực Bộ Chính trị; Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đơn vị liên quan.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh: Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, chỉ đạo triển khai với quyết tâm chính trị cao, ngày càng quyết liệt theo phương châm kiên quyết, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Từ đó, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, được dư luận quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Trao Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ tư ảnh 1

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa phát biểu ý kiến tại buổi lễ.

Đánh giá cao việc duy trì thường xuyên Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đồng thời nhiệt liệt biểu dương các tác phẩm giành giải cao lần này, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa gợi mở một số giải pháp tăng cường hơn nữa vai trò xung kích, tiên phong của báo chí trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Trong đó, đồng chí đặc biệt lưu ý các nội dung chính: Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý, điều hành của Nhà nước để báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động đúng định hướng, tham gia tích cực, có hiệu quả vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đẩy mạnh phối hợp, đồng hành giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các cấp, ngành, cơ quan báo chí.

Trao Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ tư ảnh 2

Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Lê Quốc Minh và Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hà (thứ 6 và 7 từ phải sang) trao chứng nhận tặng đại diện các tác giả, nhóm tác giả giành giải B.

Cùng với đó, cần phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm xã hội của đội ngũ những người làm báo trong đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực cũng như vai trò, trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cấp Hội Nhà báo Việt Nam trong bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhà báo, hội viên trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Ngoài ra, cần có cơ chế khen thưởng, khích lệ, động viên, tôn vinh kịp thời, xứng đáng với cơ quan báo chí, những người làm báo có tinh thần dấn thân, tích cực cống hiến cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Trao Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ tư ảnh 3

Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương Phạm Tất Thắng và Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh trao chứng nhận tặng các đại diện tác giả, nhóm tác giả giành giải C.

Theo Ban tổ chức, sau 2 năm triển khai, có tổng cộng 1.078 tác phẩm hợp lệ của 121 cơ quan báo chí trên cả nước gửi tham dự Giải ở 4 thể loại báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình.

Trên tinh thần dân chủ, khách quan, công tâm, trách nhiệm cao, Ban tổ chức đã tiến hành xét chọn kỹ lưỡng, thống nhất lựa chọn 54 tác phẩm xuất sắc để trao 4 giải A, mười giải B, 12 giải C và 28 giải khuyến khích. Trong đó, Báo Nhân Dân giành một giải B và một giải khuyến khích.

Trao Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ tư ảnh 4

Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam Lương Quốc Đoàn và Trung tướng Nguyễn Văn Gấu, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (thứ 8 và 9 từ trái sang) trao chứng nhận tặng các đại diện tác giả, nhóm tác giả giành giải khuyến khích.

Trao Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ tư ảnh 5

Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam Đỗ Tiến Sỹ và Bí thư Thành ủy Hải Phòng Lê Tiến Châu (thứ 7 và 8 từ trái sang) trao chứng nhận tặng các đại diện tác giả, nhóm tác giả giành giải khuyến khích.

Nhận thức về cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng

 

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã có bước tiến mới về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong việc chuẩn bị các quyết định của Đảng, bầu cử cấp ủy và đánh giá, đề bạt cán bộ. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng không ít cá nhân lợi dụng chính nguyên tắc tập trung dân chủ để cố tình thực hiện sai nguyên tắc, lợi dụng yếu tố tập trung để thâu tóm quyền lực; nhiều cán bộ, đảng viên đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, trong đó có cả đảng viên là cán bộ cấp cao. Nguyên nhân dẫn đến vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ có cả yếu tố chủ quan và khách quan. Một trong những nguyên nhân là do nguyên tắc tập trung dân chủ có nội dung chi phối rất rộng và khá trừu tượng, khó nắm bắt; hơn nữa, mỗi lĩnh vực, mỗi mặt công tác, hoạt động xây dựng Đảng lại có những yêu cầu cụ thể riêng. Mặc dù gần đây, Đảng ta đã có nhiều văn bản quy định, hướng dẫn, trong đó cụ thể hóa cách tiến hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ; nhưng vẫn còn không ít lĩnh vực, mặt công tác chưa có được những quy định cụ thể như vậy; hoặc, có quy định nhưng vẫn chưa đủ rõ, tức là chưa có những quy định có tính hệ thống về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Thực tế đó cho thấy, để các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; đồng thời, ngăn ngừa, hạn chế tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, thì rất cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay.

Theo cách hiểu thông thường, cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”. Khái niệm cơ chế được dùng từ lâu trong khoa học tự nhiên, kỹ thuật, như cơ chế quang hợp của cây xanh, cơ chế hoạt động của máy phát điện... Ngày nay, khái niệm cơ chế được sử dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể thấy, cơ chế là những quy định về cách thức tiến hành hoạt động nào đó trong xã hội, trong tổ chức. Cơ chế do tổ chức, con người đặt ra nhưng lại quy định về hoạt động của tổ chức, con người; do vậy, cơ chế có thể đúng và có thể sai, phù hợp hoặc không phù hợp, tiến bộ hay lạc hậu. Cơ chế có nhiều cấp độ, từ đơn giản đến phức tạp. Ở cấp độ cao, cơ chế còn bao gồm cả quan điểm chính trị - xã hội, các quy phạm pháp luật, các quy định, quy chế, quy tắc, quy trình cụ thể trong từng tổ chức, từng công việc.

Từ nhận thức về khái niệm cơ chế như vậy, cho thấy: Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là hệ thống những quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Vì cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng bao gồm những quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; do đó, xây dựng cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng thực chất là xây dựng hệ thống các quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Xây dựng tốt cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng tức là xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy định chỉ rõ cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng, sẽ vừa hướng dẫn cho các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng thực hiện đúng nguyên tắc này, vừa ngăn ngừa tình trạng tùy tiện, lúng túng, cố tình làm sai, bóp méo trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ càng được hoàn thiện, rõ ràng, sẽ càng bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

HAIVAN

Triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam” tại các trường học

     Trong hai ngày 4 và 5/11, tại huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện tổ chức Triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam-Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện với sự tham dự của gần 2.500 em học sinh các trường.

Gần 2.500 học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham dự Triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam-Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”.
Gần 2.500 học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham dự Triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam-Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”.

Đây là hoạt động nhằm tuyên truyền, cung cấp các thông tin, bằng chứng lịch sử, pháp lý, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Qua đó, nâng cao hiệu quả tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo Việt Nam; nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm của người dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Tại triển lãm, bà Mai Thị Ngọc Ảnh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cho biết, triển lãm là cơ hội để đội ngũ giáo viên và học sinh trên địa bàn huyện tiếp cận những kiến thức, chứng cứ pháp lý lịch sử và những tư liệu rất có giá trị về Hoàng Sa và Trường Sa, phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Việt Nam. Qua đó, góp phần bồi đắp thêm tình yêu quê hương, đất nước, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hành động của đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ông Nguyễn Lê Thành, Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Bình Thuận cho biết, việc tổ chức Triển lãm số là một trong những hoạt động thiết thực trong công tác thông tin, tuyên truyền, đưa thông tin trực tiếp đến với cán bộ, giáo viên và học sinh trong nhà trường.

Triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam” tại các trường học ảnh 1

Báo cáo viên Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh cung cấp cho giáo viên học sinh những thông tin liên quan đến biển, đảo Việt Nam.

Tại triển lãm, các em học sinh được xem trình chiếu video clip Triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”

Em Phạm Diệu Hiền, học sinh lớp 11A3, trường Trung học phổ thông Hàm Thuận Nam chia sẻ, trước đây, chúng em cũng có được nghe và giới thiệu về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, nhưng chưa được rõ ràng và chi tiết cụ thể nên vẫn cảm thấy chưa hiểu sâu. Hôm nay, Triển lãm số được tổ chức ngay tại trường rất thiết thực và có ý nghĩa đối với học sinh chúng em, những nội dung, tư liệu khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam được trình bày thông qua video clip cũng như qua ứng dụng công nghệ thông tin giúp chúng em được tìm hiểu và tiếp cận nhanh chóng và dễ dàng.

Triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam” tại các trường học ảnh 2

Các em học sinh giao lưu, trả lời các câu hỏi liên quan đến biển, đảo Việt Nam do báo cáo viên Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đưa ra.

Em Tô Diệp Danh, lớp 11A1, trường Trung học phổ thông Hàm Thuận Nam bổ sung thêm, triển lãm này, giúp cho học sinh chúng em hiểu rõ hơn về lịch sử quá trình xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của các thế hệ cha ông chúng ta, để từ đó càng thêm yêu quê hương đất nước, chúng em phải cố gắng, nỗ lực học tập để sau này lớn lên sẽ chung tay xây dựng quê hương ngày càng phát triển

Tại các buổi triển lãm, các em học sinh còn được báo cáo viên Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Thuận cung cấp thêm thông tin liên quan đến biển, đảo; tiềm năng và lợi thế của biển, đảo Việt Nam trong phát triển kinh tế biển, những đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến Biển Đông và những vấn đề liên quan đến biển, đảo. Đồng thời giao lưu, trao đổi, giải đáp các câu hỏi liên quan đến biển, đảo Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Thuận nói riêng.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “CÁN BỘ PHẢI THƯƠNG YÊU ĐỘI VIÊN. ĐỐI VỚI ANH EM ỐM YẾU, THƯƠNG TẬT, CÁN BỘ PHẢI TRÔNG NOM, THĂM HỎI”!

         Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II, họp từ ngày 23 đến ngày 28 tháng 10 năm 1950 tại Lam Sơm, tỉnh Cao Bằng.

Tình đồng chí, đồng đội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của quân đội cách mạng, vừa là cơ sở tạo nên sức mạnh của quân đội, trong đó quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ là mối quan hệ đặc trưng bản chất. Mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của quân đội, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Một mặt, nó dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội; mặt khác, nó dựa trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, đoàn kết gắn bó chặt chẽ keo sơn với nhau như ruột thịt “lúc thường cũng như lúc ra trận” giữa những con người cùng chung lý tưởng, mục tiêu, cùng thực hiện nhiệm vụ cao cả của người quân nhân cách mạng. Đó là nguồn sức mạnh vô tận để bộ đội ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Chính vì vậy, đòi hỏi cán bộ phải luôn luôn là tấm gương sáng cho chiến sĩ học tập, noi theo; chiến sỹ phải “tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên, khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”. Tình thương yêu đồng chí, đồng đội được tôi luyện, thiết lập vững chắc trong Quân đội ta qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, và trở thành nét đẹp truyền thống, thành bản chất không thể phai mờ của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sỹ, là một trong những nhân tố gốc cấu thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội ta.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ kính yêu căn dăn, đội ngũ cán bộ các cấp trong Quân đội các thời kỳ đã luôn quan tâm thiết thực và chu đáo đến đời sống tinh thần và vật chất của bộ đội, hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân tay”, do vậy cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu óc”, như người thân; từ đó họ sẽ mang hết khả năng của mình để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Trái lại, nếu cán bộ không làm “mực thước” cho cấp dưới, quan liêu, hách dịch, bè cánh thì chắc chắn cấp dưới sẽ xa lánh họ; chỉ thị, mệnh lệnh mà họ đưa ra sẽ được cấp dưới tiếp thu một cách khiên cưỡng, hiệu quả thấp, thậm chí bị chối bỏ. Bởi vậy hơn ai hết, lãnh đạo, chỉ huy phải thường xuyên phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện xứng đáng là người anh, người “chị hiền” tận tuỵ chăm lo cho tập thể, cho từng chiến sỹ, là hạt nhân đoàn kết thống nhất xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện./.




Yêu nước ST.

Đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội là nhiệm vụ quan trọng có tính chiến lược

 Chính sách xã hội phải hướng tới toàn dân, bảo đảm toàn diện, công bằng, hiện đại, bao trùm, bền vững; an sinh xã hội phải được chú trọng hơn nữa và bảo đảm sự linh hoạt, thích ứng với các tình huống xấu xảy ra trên diện rộng, bảo vệ toàn dân, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Chính sách xã hội cần được đặt trong tổng thể việc quản lý phát triển xã hội bền vững, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội là nhiệm vụ quan trọng có tính chiến lược phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng; sự quản lý chặt chẽ, hiệu quả của Nhà nước; sự giám sát thường xuyên của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; sự đồng thuận và hưởng ứng tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp.

Cùng với đó là phát huy truyền thống tương thân tương ái, "lá lành đùm lá rách", nhân ái, nghĩa tình, "thương người như thể thương thân" của Nhân dân trong giải quyết các vấn đề xã hội.

Về mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, Tổng Bí thư cho hay, Trung ương đã thống nhất cao xác định mục tiêu đến năm 2030 và Định hướng đến năm 2045 theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội 13 của Đảng. Đồng thời, đề ra 10 nhóm nhiệm vụ giải pháp mới, sát với tình hình thực tế và có tính khả thi cao.

NXV




Chính sách xã hội thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta

 Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa 11 một số vấn đề về chính sách xã hội, Tổng Bí thư cho biết, Ban Chấp hành Trung ương đã nhất trí cao ban hành Nghị quyết về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới với nhiều nội dung kế thừa và đổi mới, bổ sung, phát triển quan trọng so với trước.

Nổi bật là, nghị quyết mới đã mở rộng ra toàn bộ các chính sách xã hội, tập trung vào đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Cách tiếp cận cũng được điều chỉnh, từ bảo đảm và ổn định sang ổn định và phát triển; gắn với quản lý phát triển xã hội bền vững, nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người, an ninh xã hội.

Hội nghị lần này đã bổ sung, phát triển, làm rõ hơn những nhận thức mới trong bối cảnh tình hình mới, yêu cầu nhiệm vụ mới. Cụ thể là khẳng định, chính sách xã hội là chính sách đối với con người, vì con người, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta.

Xây dựng và thực hiện chính sách xã hội phải luôn lấy con người là trung tâm; coi đầu tư cho thực hiện các mục tiêu chính sách xã hội là đầu tư cho phát triển; cần huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm hiện thực hóa các mục tiêu chính sách xã hội, trong đó nguồn lực nhà nước đóng vai trò chủ đạo, nguồn lực của xã hội là quan trọng; kết hợp nội lực với ngoại lực thông qua việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế.

NXV




VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH CỦA VIỆT TÂN

Theo tin KCTD - Đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đó là khẳng định của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” vào tháng 5/2021 nhân kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vậy mà, trong thời gian vừa qua, với âm mưu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ ta, các thế lực thù địch chống phá đã đưa ra các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 


ĐẬP TAN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 KHÓA XIII CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 heo KTN - Những ngày trước, trong và sau Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có không ít những bài viết mang tính “giật tít, câu view” trên mạng xã hội của một số “nhân vật quen thuộc” đã xuyên tạc trắng trợn vấn đề nhân sự, công tác cán bộ của Đảng nói riêng và nội dung Hội nghị Trung ương 8 nói chung.


KHÔNG ĐƯỢC PHÉP XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG "BỐN KHÔNG" CỦA VIỆT NAM

  (Tindautruongdanchu) - Sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm Việt Nam và việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện, một số tổ chức, cá nhân thù địch phát tán nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc, đả kích đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Họ cho rằng Việt Nam đang “bài Trung, thoát Nga, ngả Mỹ”. Họ tiếp tục cho rằng chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không” của Đảng và Nhà nước Việt Nam là sai lầm, nếu tiếp tục kiên định chính sách này Việt Nam sẽ “bị cô lập” trong cộng đồng quốc tế.