Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023

Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh với con đường độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam

Những phẩm chất thiên tài kết hợp với hoạt động thực tiễn phong phú, sinh động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành cơ sở quan trọng trong việc lựa chọn con đường độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam, đồng thời thể hiện rõ tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Người, tiếp tục soi sáng con đường phát triển bền vững cho dân tộc Việt Nam hiện nay.

TƯ DUY ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ TRONG VIỆC LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN VÀ TRIỆT ĐỂ CHO DÂN TỘC VIỆT NAM

Mặc dù vô cùng kính trọng và rất khâm phục các bậc tiền bối, nhưng người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành không tán thành các con đường cách mạng của họ. Các cuộc khởi nghĩa, các phong trào đấu tranh theo những khuynh hướng khác nhau với tinh thần “lớp trước ngã xuống, lớp sau tiến lên” nhưng đều đi đến thất bại. Sự nghiệp cứu nước và giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc và bế tắc về đường lối. Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã không tư duy theo lối mòn, rập khuôn, máy móc, mà xuất phát từ lòng yêu nước chân chính, tính mẫn cảm với thời cuộc, có tư duy tự chủ, nhạy bén nên quyết tâm đi tìm một con đường cách mạng mới, đầy táo bạo cho dân tộc Việt Nam. Trả lời nhà thơ, nhà báo người Nga Osip Mandelstam, Người nhấn mạnh: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy".

Ngay từ khi gia nhập Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Tất Thành đã thể hiện tính độc lập, chủ động khi tranh luận và đặt vấn đề với các đồng chí của mình là: “Nếu các đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu các đồng chí không đoàn kết với các dân tộc thuộc địa, thì các đồng chí làm thứ cách mạng gì?”. Ngày 18/6/1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam ở Pháp, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới Hội nghị Hòa bình Véc-xây (Versailles) bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”, yêu cầu Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của nhân dân Việt Nam và các nước Đông Dương. Mặc dù không được các nhà chức trách chấp nhận, nhưng hành động này của Người đã gây ra tiếng vang lớn trong dư luận nước Pháp và trên thế giới.

Trong hành trình tìm tòi, khảo nghiệm, Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để nhìn nhận thấu đáo những xu hướng, con đường cách mạng khác nhau trên thế giới. Độc lập, tự do của Trung Quốc sau Cách mạng Tân Hợi (năm 1911) cũng là một thứ độc lập, nhưng chưa phải là độc lập thực sự và triệt để, vì giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc chưa thể đưa nhân dân Trung Quốc thoát khỏi nanh vuốt của chủ nghĩa đế quốc lúc này. Còn cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp (bao gồm cả Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và cách mạng vô sản - Công xã Paris năm 1871) cũng đã bộc lộ rõ những hạn chế. Người giải đáp một cách ngắn gọn và rõ ràng về vấn đề này: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”. Người nhận thấy chế độ tư bản có nhiều khuyết tật cố hữu và đánh giá đúng bản chất của cách mạng tư sản là không triệt để, không đến nơi.

Xuất phát từ tư duy độc lập, tự chủ để dân tộc độc lập hoàn toàn, nhân dân hạnh phúc thật sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Người xác định chỗ dựa cho cách mạng Việt Nam phải là cách mạng vô sản thế giới, là Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”. Người luôn khẳng định vai trò quyết định của yếu tố nội sinh, đề cao tính tự lực trong mọi hoàn cảnh và nhấn mạnh “phải có tinh thần dân tộc vững chắc”. Những yếu tố nội sinh trở thành động lực quan trọng, khi được phát huy và kết hợp với con đường cách mạng đúng đắn thì cách mạng sẽ thành công triệt để.

Việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn cách mạng vô sản thế giới đã tạo ra bước chuyển biến căn bản trong nhận thức tư tưởng của Người, để đi đến kết luận: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Sau đó, Người “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”.

TƯ DUY ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO ĐƯỢC KẾT TINH TRONG LÝ LUẬN SOI ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, ĐEM LẠI HẠNH PHÚC CHO NHÂN DÂN VIỆT NAM

Nguyễn Tất Thành có nền tảng gốc rễ là giá trị truyền thống về chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái, hiếu học của dân tộc. Người sớm phát lộ nhân cách đạo đức, tư chất trí tuệ và mẫn cảm chính trị, cho nên trong quá trình bôn ba 30 năm, Người luôn có tư duy cầu thị, gạn lọc để học hỏi và tiếp tục bồi đắp tư tưởng của riêng mình mà không bị “đồng hóa”, hay “rập khuôn” máy móc theo tư tưởng và phong cách phương Tây. Từ việc giữ vững vốn văn hóa đặc sắc của dân tộc, Người có được suy nghĩ độc lập trước những lối rẽ phức tạp của nhiều hệ tư tưởng để thâu thái những giá trị tinh hoa thời đại, trong đó có sự kiện lịch sử khi Người bắt gặp lý luận của V.I.Lênin năm 1920. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đã giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc kéo dài 2/3 thế kỷ. Được Luận cương của V.I.Lênin và đường lối của Quốc tế Cộng sản soi sáng, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào công nhân và Đảng Cộng sản Pháp, sau đó công tác tại Quốc tế Cộng sản. Ở Người, về cơ bản hình thành hệ thống quan điểm lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường cách mạng vô sản; về bản chất bóc lột, dã man của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc; về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc; về khả năng thắng lợi trước của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa; về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân trong cách mạng; về chủ nghĩa xã hội,...

Chủ nghĩa Lênin và đường lối của Quốc tế Cộng sản là nhân tố quan trọng nhất, có vai trò quyết định đến việc hình thành nhận thức về con đường cách mạng giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Con đường này càng được Chủ tịch Hồ Chí Minh cụ thể và hoàn thiện hơn ở những giai đoạn sau, khi Người không chỉ hoạt động với tư cách là nhà yêu nước Việt Nam, mà còn là người cộng sản sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, 40 năm sau nhìn lại sự kiện này, đã viết: “Riêng về cá nhân tôi, từ lúc đầu nhờ được học tập truyền thống cách mạng oanh liệt và được rèn luyện trong thực tế đấu tranh anh dũng của công nhân và của Đảng Cộng sản Pháp, mà tôi đã tìm thấy chân lý chủ nghĩa Mác - Lênin, đã từ một người yêu nước tiến bộ thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa”.

Hòa mình trong dòng chảy của cách mạng thế giới theo nhiều xu thế khác nhau, nhưng với vốn tri thức phong phú và tư duy khoa học, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận định chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin là cẩm nang quý giá, là lý luận soi đường cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn. Người khẳng định: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(8); và chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Đây là sự lựa chọn vô cùng quan trọng, mang tính tất yếu, đúng đắn và phù hợp về con đường giải phóng dân tộc, định vị con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Với tư duy độc lập, tự chủ và bằng những cách thức tuyên truyền hết sức phong phú và đa dạng, gần gũi, dễ hiểu, Nguyễn Ái Quốc từng bước truyền bá một cách có hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước và tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng vô sản ở Việt Nam. Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 là bước ngoặt lịch sử đưa dân tộc thoát khỏi “tình hình đen tối như không có đường ra”, chấm dứt sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Có Đảng lãnh đạo là dấu mốc quan trọng trong bước phát triển về chất của cách mạng Việt Nam. Với Cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn dựa trên nền tảng tư tưởng, lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, đáp ứng đòi hỏi về lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền sống của nhân dân, Đảng đã tập hợp, đoàn kết lực lượng của giai cấp công nhân, nông dân và toàn thể dân tộc thành một khối, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

TƯ DUY ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO TRONG VIỆC XÁC LẬP TƯ TƯỞNG PHÁT TRIỂN VÌ SỰ TỰ DO CỦA CON NGƯỜI

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định, nỗ lực thực hiện khát vọng cháy bỏng vì độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc. Người khẳng định: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đây là tất cả những điều tôi hiểu”. Và khi tìm thấy con đường cách mạng và lý luận soi đường, Người đã dành toàn bộ tâm huyết để hiện thực hóa con đường giải phóng và phát triển đất nước.

Tinh thần tự tôn dân tộc, ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do không chỉ biểu hiện trong thực tiễn cách mạng, mà còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên thành nền tảng tinh thần trường tồn của dân tộc và phát triển từ độc lập dân tộc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên tinh thần tự chủ, sáng tạo, Người đã nâng tầm tư duy nhân quyền và dân quyền của cách mạng tư sản, để khẳng định giá trị phổ quát cho toàn thể nhân loại là “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".

Đó là chân lý của thời đại mà mỗi dân tộc đều khát khao thực hiện. Người nhấn mạnh, ý chí đấu tranh cho độc lập và lòng khát khao tự do mới là nhân tố quyết định làm nên những chiến thắng vẻ vang, chứ không phải là nhờ quân đông sức mạnh; tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc, cần được tôn trọng, bảo vệ; và điều đó chỉ có thể phát huy, phát triển trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Thấm nhuần sâu sắc lý luận về sự phát triển từ hình thái kinh tế - xã hội ở bậc thấp lên bậc cao của C.Mác, Nguyễn Ái Quốc khẳng định tính tất yếu về sự tiến bộ của xã hội loài người. Theo Người: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển". Và, chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa mới có thể xóa bỏ mọi chế độ người bóc lột người, đem lại cuộc sống no ấm cho toàn thể nhân dân. Đó là một cuộc cách mạng vĩ đại và vẻ vang nhất trong lịch sử loài người, nhưng đồng thời cũng là một cuộc cách mạng cam go, phức tạp và khó khăn nhất. Người nhấn mạnh, mỗi người dân Việt Nam phải chuẩn bị tư tưởng và nghị lực để vượt qua mọi thử thách và hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng này. Người đặc biệt quan tâm và nỗ lực thực hiện các cấp độ của sự giải phóng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người; quan trọng nhất là giải phóng lực lượng lao động và giải phóng giai cấp công nhân để tạo ra động lực quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có sự nhất quán cao, khi khẳng định nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập đó cũng chẳng có nghĩa lý gì; do đó, “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân". Xuất phát từ truyền thống “trọng dân” của dân tộc, Người khẳng định vai trò rất quan trọng của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của đất nước; bởi lẽ, có lực lượng dân chúng thì việc dù to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Các giai tầng trong xã hội khi được tập hợp, đoàn kết “ủng hộ” và “tin theo” Đảng thì sẽ tạo thành sức mạnh “dời non, lấp biển”, sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức trong mọi hoàn cảnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về đổi mới “là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân". Nhưng để xây dựng và phát triển đất nước, theo Người, cần phải xác định những động lực cần thiết cho con người Việt Nam. Đó là, động lực lợi ích (trước mắt và lâu dài, vật chất và tinh thần, chính đáng và công bằng) để xứng đáng với mục tiêu đất nước độc lập và nhân dân được tự do, hạnh phúc. Người luôn luôn khích lệ, động viên toàn Đảng, toàn dân phát huy tinh thần yêu nước trong mọi hoàn cảnh của đất nước, từ giai đoạn khó khăn của chiến tranh với kẻ thù, cho đến giai đoạn chiến thắng, bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngay từ năm 1948, Người viết “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” nhằm chăm lo, phát huy mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước. Người quan tâm xây dựng nền dân chủ trong chính trị và dân chủ trong xã hội, bởi dân chủ có thực chất thì mới tạo ra đoàn kết và đồng thuận thực chất.

TƯ DUY ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO TRONG VIỆC KẾ THỪA NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA THỜI ĐẠI ĐỂ LÀM GIÀU TRÍ TUỆ CHO MÌNH

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, con đường phát triển và mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là làm cho đất nước được hoàn toàn độc lập và để đi tới xã hội cộng sản, muốn vậy phải tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng, từng bước đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai giai đoạn cách mạng này có quan hệ biện chứng; trong đó: 1) Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải giành được độc lập dân tộc; 2) Đi lên chủ nghĩa xã hội chính là điều kiện tiên quyết để giữ vững được độc lập dân tộc và xây dựng được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tư duy giải phóng dân tộc của Người phát triển thành chiến lược cách mạng không ngừng, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhưng theo Người, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì toàn dân nhất định phải có học thức, phải không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, chính trị, khoa học, kỹ thuật; đồng thời, đề cao tầm quan trọng của việc nhận thức lý luận, học tập toàn diện để tiến bộ.

Trong mọi hoàn cảnh, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự thống nhất biện chứng giữa tình cảm cách mạng và lý trí khoa học, khẳng định trí tuệ mẫn tiệp của Người. Người đánh giá: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu thái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”(14). Người tâm niệm rằng, để không ngừng làm giàu trí tuệ của mình, việc học hỏi phải được diễn ra mọi lúc, mọi nơi và ở mọi người. Vì vậy, Người cho rằng cần phải biết tiếp thu những tri thức của nhân loại, cả tinh hoa văn hóa phương Tây cũng như phương Đông để tạo dựng nền văn hóa mới. Tư duy độc lập, tự chủ không có nghĩa là rập khuôn, khép kín, tự huyễn hoặc mình, mà phải được đặt trên nền tảng khoa học, hiện đại, nhân văn, hấp thụ những cái mới, những giá trị tiến bộ của văn minh thế giới; từ đó, xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có yếu tố dân tộc, khoa học và đại chúng; đồng thời, cần phải lĩnh hội những cái hay, cái đẹp, chắt lọc cái tiến bộ cho phù hợp với Việt Nam để xây dựng một dân tộc thông thái. Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình ảnh kết tinh của việc làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, phương Đông và phương Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa để đổi mới, vận dụng và phát triển một cách phù hợp, sáng tạo với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soi sáng, dẫn dắt, đưa dân tộc Việt Nam đi đến bến bờ độc lập, tự do, hạnh phúc; mở ra một trang sử mới của dân tộc, “đó là thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc”, với đặc trưng lớn nhất là: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, nhất quán trong hành trình đi tới mục tiêu vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Sưu tầm

Học tập phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao sự cần thiết và vai trò của việc nêu gương đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Nêu gương được Người coi là một trong những cách thức quan trọng để cán bộ, đảng viên phát huy trách nhiệm của mình trước Đảng và trước nhân dân. Tư tưởng đó của Người có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay.

GIÁ TRỊ CỐT LÕI TRONG TƯ TƯỞNG NÊU GƯƠNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Trong các bài nói, bài viết của mình, rất nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng từ “nêu gương”, “làm gương”. Điều đó cho thấy, Người rất coi trọng việc “nêu gương”, “làm gương” của mọi tổ chức, mọi lực lượng cách mạng và mọi cá nhân trong xã hội. Theo Người, sở dĩ cần phải nêu gương là do đặc thù của nền văn hóa, đạo đức phương Đông luôn coi trọng tình cảm, luôn lấy cái tốt đẹp của người khác để làm tấm gương soi mình. Người viết: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Do đó, ngay từ khi bắt tay vào công tác huấn luyện cán bộ, Người đã luôn nhắc nhở mỗi cán bộ phải nêu cao tinh thần gương mẫu.

Trong xây dựng và rèn luyện đội ngũ cán bộ, Người luôn căn dặn cán bộ phải nêu cao tinh thần “đầu tàu”, “gương mẫu” để phụng sự Đảng, phụng sự Tổ quốc và nhân dân bởi lẽ “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Chính mục đích lớn lao, cao đẹp đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức phấn đấu và rèn luyện, nêu cao tinh thần trách nhiệm và gương mẫu.

“Muốn đẩy mạnh các mặt sản xuất, chiến đấu, văn hoá và các mặt khác, thì trước hết cán bộ, đảng viên, đoàn viên, phải làm đầu tàu, gương mẫu. Muốn làm gương mẫu thì điều quan trọng nhất là các chú từ tỉnh đến huyện, đến xã phải đoàn kết, đoàn kết thật sự, làm sao tự mình nêu gương và giáo dục cho đảng viên, đoàn viên, cán bộ giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Được thế thì cán bộ, đảng viên, đoàn viên cùng với quần chúng nhân dân càng đoàn kết, các công việc đều sẽ trôi chảy, trước hết là công việc sản xuất và chiến đấu”. Như vậy, theo Người nêu gương là một việc làm thường xuyên, liên tục và nghiêm túc của mỗi cán bộ, đảng viên.

Không chỉ nói về việc nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên nói chung; ngay từ lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao cần phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong “Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ” năm 1963, Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”.

Không chỉ nói đến nêu gương nói chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phương pháp nêu gương đạo đức. Người luôn căn dặn cần phải lấy gương người tốt, việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau, đây là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới và cuộc sống mới. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để nêu gương, trước hết bản thân phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên; về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Cách thức nêu gương theo Người là: “Cán bộ, đảng viên phải làm gương mẫu cho nhân dân. Cán bộ cấp trên phải làm gương mẫu cho cán bộ cấp dưới”.

Một điều rất đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đưa ra những tư tưởng, quan điểm rất đúng đắn về nêu gương mà chính Người còn là hiện thân cao đẹp nhất về trách nhiệm nêu gương trước Đảng, trước nhân dân. Phong cách nêu gương trong tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện xuyên suốt trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng, phấn đấu hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì nhân dân của Người. Người không chỉ tiếp thu, kế thừa, bổ sung, phát triển và hoàn thiện lý luận về phương pháp, mà Người còn là hiện thân của phong cách nêu gương hết sức mẫu mực và tự nhiên. Chính bản thân Người là một tấm gương sáng về phong cách nêu gương, một hình ảnh mẫu mực về “người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Bản thân Người luôn ca ngợi và tự răn mình phải học tập tấm gương của các đảng viên cộng sản kiên trung của Đảng ta: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”.

Một dẫn chứng cụ thể và cảm động nhất, có sức lan tỏa mạnh mẽ nhất về phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người tiên phong đi đầu trong việc thực hành tiết kiệm, nhường cơm sẻ áo cho nhân dân trong những năm tháng nước nhà rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

Trong bài Tại sao dân ta đói? Cứu đói phải như thế nào? Với bút danh C.T trên Báo Cứu quốc, số 105 (ngày 30/11/1945), Người viết: “Hồ Chủ tịch đã nêu gương nhường cơm sẻ áo, mười ngày nhịn ăn một bữa, và đã đỡ đần cho Hội Cứu đói ra đời”. Vì là hiện thân cao đẹp nhất của việc nêu gương trong mọi hành động, việc làm nên tư tưởng của Người về nêu gương, làm gương không chỉ dừng lại ở những quan điểm mang tính lý luận mà còn có sức thuyết phục, lôi cuốn và lan tỏa rộng rãi đến toàn thể nhân dân và mỗi cán bộ, đảng viên. Do đó, ở Hồ Chí Minh luôn có sự thống nhất, hòa quyện giữa “tri” và “hành”, giữa tư tưởng và hành động. Đó cũng chính là sức lôi cuốn, hấp dẫn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà không phải nhà lý luận, nhà chính trị nào cũng có được.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG NÊU GƯƠNG TRONG CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam được tiến hành đồng bộ, quyết liệt theo đúng phương châm “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Mục tiêu của việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng ta xác định rất rõ. Đó là đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính; góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân. Những kết quả to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam thời gian qua, nhất là giai đoạn 10 năm (2012 - 2022) đã cho thấy quyết tâm rất lớn của toàn Đảng, toàn dân ta trong thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng này.

Tuy nhiên, đúng như Đảng ta nhận định, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam thời gian tới vẫn tiếp tục còn nhiều khó khăn, thách thức do tình trạng tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn khá nghiêm trọng. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này bắt nguồn từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những người đứng đầu. Điều này đã được đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ như sau: “Tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện, là loại biểu hiện cụ thể của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”; do đó “phòng, chống tiêu cực mà trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức viên chức, tức là trị tận gốc của tham nhũng”.

Xác định nguyên nhân chủ yếu của tình trạng tham nhũng, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu bắt nguồn từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống nên để đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, ngoài việc siết chặt các quy định về kỷ cương, kỷ luật; không thể không chú ý tới việc phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Vì nêu gương có liên quan trực tiếp đến ý thức, đạo đức, nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên. Nó có tác động trực tiếp đến ý thức trách nhiệm của họ trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Điều đó giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên vừa có ý thức tự kiểm điểm, đánh giá bản thân, có thức giữ gìn phẩm chất đạo đức trong sạch, liêm chính; mặt khác, giúp họ có ý thức đấu tranh với những biểu hiện tham nhũng, tiêu cực của đồng chí, đồng nghiệp.

Để học tập phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách có hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay, cần chú trọng đến các giải pháp cơ bản sau:

Một là, mỗi cơ quan, đơn vị cần thực hiện tốt quy định về trách nhiệm nêu gương, để việc nêu gương trở thành nội dung bắt buộc, quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng: “Thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu các cấp, chức vụ càng cao phải càng gương mẫu. Nêu gương phải thực sự trở thành nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng”. Thông qua việc thực hiện tốt quy định về nêu gương, mỗi cơ quan, đơn vị có cách thức để kiểm tra, giám sát, đánh giá kết của thực hiện quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị nói chung và trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại mỗi cơ quan, đơn vị nói riêng.

Hai là, phát huy vai trò giám sát, phản biện của các báo chí, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân với việc thực hiện quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đảng ta nhấn mạnh: “Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, kết hợp với việc phát huy vai trò giám sát của báo chí và nhân dân với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên”, “Thực hiện có hiệu quả việc giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ chủ chốt”. Thông qua đó, có thể kiểm soát, hạn chế tình trạng lợi dụng chức vụ, quyền hạn của một bộ phận cán bộ, đảng viên để tham ô, trục lợi hoặc có những biểu hiện tiêu cực.

Ba là, bản thân các cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nêu cao trách nhiệm, danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên: “Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên”. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức cách mạng; tự giác, gương mẫu trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc nêu gương của cán bộ, đảng viên phải theo phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, “học đi đôi với làm theo”; cấp ủy viên nêu gương cho đảng viên, đảng viên nêu gương cho quần chúng; cán bộ cấp trên nêu gương cho cán bộ cấp dưới; thủ trưởng cơ quan, đơn vị nêu gương cho công chức, viên chức và người lao động. “Việc tự giác nêu gương để khẳng định vai trò lãnh đạo, tính tiên phong, gương mẫu “trên trước, dưới sau”, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Từ việc nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên hướng tới việc xây dựng tập thể nêu gương, đơn vị nêu gương để từng bước lan tỏa giá trị của người cán bộ, đảng viên và của tổ chức đến với quần chúng nhân dân. Có như vậy, tình trạng tham nhũng, tiêu cực mới từng bước được đẩy lùi tận gốc.

Sưu tầm.

Sự kế thừa, phát triển những giá trị tư tưởng tiến bộ của thời đại

Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp là hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của nhân loại. Đó là văn kiện pháp lý thấm nhuần tư tưởng tiến bộ của thời đại, nêu cao nguyên tắc bình đẳng, dân chủ và các quyền cơ bản của con người, của dân tộc. Trân trọng những giá trị cao cả ấy, trong một thời đại mới và một cuộc cách mạng mới, Hồ Chí Minh đã tiếp thu, kế thừa và hơn nữa phát triển các giá trị ấy ở hai nội dung cơ bản là quyền con người, quyền dân tộc và nguyên tắc chủ quyền nhân dân.

KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN DÂN TỘC

Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 được ra đời từ sau cuộc đấu tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ và cuộc đại cách mạng tư sản Pháp. Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng tiến bộ thời kỳ Khai sáng, hai bản Tuyên ngôn là những lời khẳng định đầy sức thuyết phục về quyền con người, quyền dân tộc, về nguyên tắc “chủ quyền nhân dân” trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến chuyên chế hướng con người vươn tới các giá trị dân chủ, giá trị nhân văn cao cả về tự do, bình đẳng, bác ái.

Các bản Tuyên ngôn khẳng định những quyền con người cơ bản nhất đó là quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền tư hữu tài sản. Đó là “quyền tự nhiên, không thể chuyển nhượng và bất khả xâm phạm của mỗi con người”.

Trong bản Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ, tác giả Thomas Jefferson khẳng định các nước thuộc địa phải có quyền là quốc gia tự do và độc lập và từ việc xóa bỏ quyền thống trị của thực dân Anh, cuộc đấu tranh vì nền độc lập của các bang thuộc địa ở Bắc Mỹ cũng nhằm tới tranh đấu cho các quyền tự nhiên của riêng mỗi con người. Với những giá trị to lớn như vậy hai bản Tuyên ngôn đánh mốc dấu son trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Đó là bản Tuyên ngôn mang đậm giá trị nhân văn, nhân bản, là nền tảng để xây dựng các bản Hiến pháp dân chủ tiến bộ của nước Pháp, nước Mỹ sau đó.

Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nêu rõ: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Việt Nam, từ những dòng đầu tiên, Hồ Chí Minh đã trích dẫn những câu nổi tiếng nhất trong hai bản Tuyên ngôn lịch sử đó với thái độ rất trân trọng: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”. Ở đây, Hồ Chí Minh đã xuất phát từ những giá trị nhân văn cao cả, mang tính phổ quát toàn nhân loại làm cơ sở, mục tiêu cho cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Từ đó, Người khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam cũng là nhằm thực hiện những quyền chính đáng, thiêng liêng không ai có thể xâm phạm, là sự tiếp nối của lá cờ giải phóng dân tộc, giải phóng con người mà các cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ đã giương cao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự kế thừa và mở rộng, phát triển vượt bậc những giá trị của các bản Tuyên ngôn trước đó trong thời đại mới. Trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, nguyên bản câu “tất cả mọi người” là “tất cả đàn ông” (All men). Nguyên bản của câu đó là đặt trong bối cảnh nước Mỹ những năm cuối thế kỉ XVIII khi chế độ nô lệ còn tồn tại, sự phân biệt và kỳ thị chủng tộc rất nặng nề, những người đàn ông có quyền mà Tuyên ngôn đề cập đến chỉ là những người đàn ông da trắng. Như vậy, các quyền cơ bản của con người, quyền vốn có ấy lại không dành cho tất cả mọi người, mà chỉ dành cho đàn ông da trắng. Còn với Hồ Chí Minh, Người khẳng định một cách rõ ràng, quyền là dành cho “tất cả mọi người”, không phân biệt địa vị, thành phần, tôn giáo, giới tính, sắc tộc. Đó là sự mở rộng tuyệt đối, đem lại những giá trị to lớn và phù hợp với sự phát triển tiến bộ của nhân loại.

Cũng từ việc khẳng định đạo lý và chính nghĩa của nhân loại, Hồ Chí Minh đã vạch trần bộ mặt giả dối, bản chất tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp. Trong Tuyên ngôn độc lập, Người đã khái quát một cách sâu sắc tội ác của thực dân Pháp trong gần 100 năm cai trị ở đất nước ta trên tất cả các mặt, đặc biệt là việc chà đạp, tước đoạt quyền các quyền tự nhiên của con người, của dân tộc. Và từ đó, Người khẳng định: trong thời đại mới, không chỉ chế độ phong kiến chuyên chế mà chủ nghĩa thực dân với bản chất tàn bạo của nó cần được xóa bỏ, để bảo vệ quyền và nhân phẩm của con người. Khi còn chủ nghĩa thực dân, còn tình trạng dân tộc này áp bức, nô dịch dân tộc khác thì chắc chắn quyền con người ở các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc bị chà đạp, không được ghi nhận và thực hiện.

Một điểm đáng chú ý nữa là từ quyền của con người, Hồ Chí Minh đã suy rộng ra quyền dân tộc “các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Từ quyền con người, Người suy rộng ra quyền dân tộc cũng là quyền tự nhiên, thiêng liêng “là lẽ phải không ai chối cãi được”. Nếu như trong bản Tuyên ngôn của nước Mỹ đã đề cập đến cả quyền con người, quyền dân tộc, thì đến bản Tuyên ngôn của Việt Nam đã gắn kết hai phạm trù pháp lý cơ bản này trong mối liên hệ biện chứng, chặt chẽ với nhau. Dân tộc độc lập là điều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền con người và ngược lại thực hiện quyền con người chính là phát huy những giá trị cao cả và ý nghĩa thật sự của độc lập dân tộc. Quyền con người cao nhất chính là được sống trong đất nước tự do, là công dân của một nước độc lập.

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh đã mở rộng nội hàm khái niệm quyền dân tộc cả chiều rộng và chiều sâu, mà các bản Tuyên ngôn trước chưa đề cập đến. Xuất phát từ hoàn cảnh nước Việt Nam thuộc địa vừa mới giành độc lập và bối cảnh lịch sử quốc tế bấy giờ, Hồ Chí Minh khẳng định: quyền dân tộc không chỉ là quyền dân tộc tự quyết, mà còn là quyền bình đẳng, quyền tự do, quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Độc lập dân tộc đã gắn bó mật thiết với các nguyên tắc dân tộc bình đẳng và tự quyết, với quyền sống và quyền hạnh phúc của mỗi dân tộc. Hơn nữa, quyền độc lập, bình đẳng ở đây phải được xác lập trong mối quan hệ với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt lớn nhỏ, mạnh yếu hay khác nhau về thể chế chính trị. Vì thế, Tuyên ngôn độc lập không còn chỉ dành riêng cho dân tộc Việt Nam mà đó còn là sự cổ vũ, lời khẳng định thiêng liêng của tất cả các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc nhỏ yếu đang chịu sự cai trị của chủ nghĩa thực dân.

Từ quyền con người suy rộng ra quyền dân tộc, Tuyên ngôn độc lập đã góp phần tạo lập và khẳng định một nền pháp lý và công lý mới của văn minh nhân loại, hướng tới công bằng, bình đẳng, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột, bất công trên bình diện quốc gia và quốc tế. Công lý ấy về sau không chỉ trở thành nguyên tắc lập hiến của Việt Nam, của nhiều quốc gia khác mà trở thành điều khoản pháp lý quốc tế khi nó đã được ghi vào Liên hợp quốc với các công ước quốc tế liên quan đến chủ quyền quốc gia, về quyền độc lập dân tộc và quyền tự quyết.

Hai bản Tuyên ngôn nước Pháp, nước Mỹ đề cập đến quyền con người, quyền dân tộc là quyền thiêng liêng, là một tất yếu của tạo hóa. Nhưng là người dân của một nước thuộc địa, Hồ Chí Minh thấu hiểu sâu sắc rằng quyền thiêng liêng, vốn có ấy không phải tự nhiên mà có được, mà phải đổ máu, hy sinh, phải đấu tranh với quyết tâm “ thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đứng trước những thử thách khắc nghiệt của lịch sử, một dân tộc không biết đấu tranh cho độc lập, tự do thì cũng không xứng đáng được hưởng nền độc lập, tự do. Bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập… Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Dân tộc đó còn có quyết tâm sắt đá “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!”.

Sự ra đời của Tuyên ngôn độc lập thực sự là một mốc son trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, cũng như trong cuộc đấu giải phóng của các dân thuộc địa. Nếu hai bản Tuyên ngôn của Pháp và Mỹ đánh dấu mốc quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người; thì Tuyên ngôn độc lập báo hiệu một thời đại mới, thời đại giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân trên quy mô toàn thế giới; thời đại của các dân tộc bị áp bức, bóc lột giành lại quyền sống, quyền độc lập, tự do.

KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN NGUYÊN TẮC VỀ CHỦ QUYỀN NHÂN DÂN

Tiếp thu những tư tưởng tiến bộ trong tác phẩm Khế ước xã hội của Jean Jacques Rousseau, Tuyên ngôn độc lập của Mỹ khẳng định chân lý: “Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân”. Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp đã chỉ ra “sự thiếu hiểu biết, hờ hững hoặc coi thường những quyền của con người chính là nguyên nhân duy nhất dẫn đến những tai họa của cộng đồng, và dẫn đến sự thối nát của các chính quyền... Mục đích của tất cả các tổ chức chính trị là bảo vệ các quyền tự nhiên và bất khả xâm phạm của con người”. Sự cần thiết của việc xây dựng chính quyền nhân dân, hoạt động vì mục tiêu cao nhất bảo vệ quyền con người, vì hạnh phúc con người đã được khẳng định trong hai bản Tuyên ngôn lịch sử này. Hơn thế nữa “bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ”.

Cuộc Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo không chỉ là cuộc cách mạng làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc, xóa bỏ xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp và của phát xít Nhật. Cuộc cách mạng ấy đồng thời thực hiện nhiệm vụ lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại ngót gần 1.000 năm. Việt Nam từ một nước thuộc địa, phong kiến đã trở thành một nước độc lập, theo chế độ Dân chủ Cộng hòa.

Trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ chủ thể của cuộc cách mạng chính là nhân dân, thành quả cách mạng đạt được do nhân dân làm ra và nhân dân là người bảo vệ thành quả đó: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà”. Có thể nói, đến đây nguyên tắc “chủ quyền nhân dân” với ý nghĩa nhân dân là chủ thể nước Việt Nam mới, của chế độ Dân chủ Cộng hòa đã được Hồ Chí Minh khẳng định rõ ràng. Hơn nữa, khái niệm nhân dân mà Hồ Chí Minh sử dụng không bó hẹp trong giai cấp, tầng lớp nào mà là mọi người dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt giới tính, địa vị, tôn giáo, giai cấp.

Chế độ Dân chủ Cộng hòa được Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn là chế độ thực hành nguyên tắc “chủ quyền nhân dân” một cách triệt để và thực chất. Đó là chế độ lập ra từ thành quả đấu tranh của nhân dân, được xây dựng theo ý nguyện của các tầng lớp nhân dân, hướng tới mục tiêu cao cả “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” cho nhân dân. Tư tưởng này của Người sau đó được thể hiện rõ nét trong Hiến pháp 1946 - bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam do Người làm Trưởng ban soạn thảo: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Điều 7 trong Hiến pháp ghi nhận quyền chính trị của công dân: Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình. Nhân dân có quyền quyết định những công việc trọng đại của đất nước cũng như bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra.

Có thể nói, ra đời sau hai bản Tuyên ngôn lịch sử của nhân loại hơn một trăm năm, trong bối cảnh lịch sử mới, bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam đã kế thừa, chắt lọc phát triển giá trị căn cốt, mang tính bền vững và phổ quát nhất của hai bản Tuyên ngôn trước đó. Với những giá trị đó, Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam không chỉ là lời tuyên bố độc lập, khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo đuổi mục tiêu “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”, mà còn đóng góp quan trong cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người và vì hạnh phúc của con người.

Sưu tầm.

Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trong tình hình mới

Các thế lực thù địch là “tất cả những ai, cá nhân hay tổ chức, nhà nước hay tổ chức phi chính phủ, hợp pháp hay bất hợp pháp, ở trong nước hay nước ngoài… với mục đích chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hoạt động chống phá ta trên lĩnh vực tư ưởng, chính trị,… Các thế lực thù địch trên thực tế là những phần tử hiếu chiến ở phương Tây, ngoài ra còn bao gồm cả một số tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài,…”

Âm mưu chống phá cơ bản và lâu dài của các thế lực thù địch là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, lý luận nhằm đưa ý thức hệ tư sản thâm nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống tinh thần của nhân dân ta, tiến tới xay chuyển quỹ đạo phát triển của Việt Nam đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là âm mưu nguy hiểm, thâm độc liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

Thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, để thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn chống phá khác nhau: Tiến hành phân rã về tư tưởng, lý luận bằng cách đan cài những quan điểm mác xít và giả danh mác xít, đúng sai lẫn lộn làm cho người đọc mất phương hướng, không phân biệt được “đúng – sai, thiện – ác” móc nối, xâm nhập vào nội bộ của Đảng, tìm cách phân hóa tổ chức để tìm ra “ngọn cờ” tập hợp lực lượng.

Phát tán tài liệu có nội dung sai trái, viết thư xuyên tạc về tình hình thực tế ở Việt Nam gửi các tổ chức quốc tế; trả lời phỏng vấn đài, báo nước ngoài xuyên tạc về tình hình Việt Nam, cổ xúy cho đấu tranh tự do; điều trần về tình hình tự do kiểu phương Tây; giới thiệu sách báo, hồi ký, phát tán các video clip có nội dung xấu độc, nhằm xuyên tạc tình hình chính trị, công tác đấu tranh, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta.

Kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, gây sức ép với Việt Nam, kích động nhân dân, nhất là giáo dân đòi “tự do”, “dân chủ”; gây dựng nhiều tổ chức như: Tổ chức phản động Việt Tân, Đảng Đại Việt ở nước ngoài câu kết với một số linh lục phản động; mạng lưới blogger Việt Nam, Liên đoàn Quốc tế vì nhân quyền (FIDH), một số nhân vật cực hữu trong Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, các nhân vật cực hữu trong các chính phủ của một số nước; các đài phát thanh VOA, BBC,RFI… để chống phá cách mạng ta.

Tạo lập các website, blog, facebook, fanpage giả mạo các cơ quan, tổ chức, cá nhân có uy tín để đăng tải thông tin xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; xuyên tạc về bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa, đăng tải thông tin xuyên tạc, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn them đường dẫn link, đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu, độc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ, mất cảm giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội.

Kích động chống đối thông qua các hội, nhóm, tài khoản trên mạng xã hội, kích động những vấn đề liên quan đến sơ hở, sai phạm và bức xúc xã hội. Lợi dụng, khoét những thiếu sót trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, cũng như sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để gây dao động về tư tưởng, gây mất lòng tin, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ.

Lấy ý kiến qua mạng xã hội nhằm tạo áp lực dư luận, gây áp lực đối với chính quyền. Một số phần tử cơ hội trong nước và nước ngoài đã soạn thảo các văn bản dưới dạng “tâm thư”, “thư ngõ”, “thu góp ý” (cả chính danh, nặc danh và mạo danh) để thể hiện những ý kiến trái ngược với quan điểm của Đảng, Nhà nước. Bằng các câu từ có tính thuyết phục mà thoáng qua người ta dễ lầm tưởng đó là “những ý kiến tâm huyết”, “những góp ý chân thành”, các đối tượng dựng chuyện, tung ra nhiều thống tin thất thiệt, tuyên truyền, xuyên tạc, gây nhiễu loạn thông tin, kích động, gây áp lực, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn trong dư luận.

Sử dụng các trang mạng xã hội kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép, phá rối an ninh, trật tự, kích động bạo loạn. Từ không gian mạng, các đối tượng phản động hướng dẫn cách thức tiến hành khủng bố, phá hoại, gây rối an ninh, biểu tình, phát trực tiếp (livestream) các vụ việc nhạy cảm, tụ tập biểu tình, khiếu kiện đông người,.. để kêu gọi cộng đồng mạng và những đối tượng cơ hội chính trị tham gia bình luận, chia sẻ, tạo điểm nóng.

Sưu tầm.

Hồ Chí Minh với việc lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam qua tác phẩm “Thường thức chính trị” - Phần 2

2. KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG MÀ HỒ CHÍ MINH LỰA CHỌN LÀ SỰ PHÁT TRIỂN TẤT YẾU CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, năm 1959, trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi, Hồ Chí Minh đã nhắc lại nhận định sáng suốt của Đảng ngay từ năm 1930: Cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong những năm 1960, con đường cứu nước và giải phóng dân tộc Việt Nam được Hồ Chí Minh luận giải khái quát, sâu sắc hơn: Những người cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới. Có thể thấy, tư tưởng cốt lõi, xuyên suốt của Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, như đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định: Trong toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quan điểm cơ bản nhất, là cốt lõi, là nguồn gốc, là hạt nhân chi phối hệ tư tưởng cũng như hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là trục bất di, bất dịch của cách mạng Việt Nam, vững chắc như non sông đất nước Việt Nam.

Kiên định với mực tiêu đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người khẳng định: “Kiên quyết bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai được xâm phạm đến quyền thiêng liêng ấy của nhân dân ta”, với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tinh thần, khát vọng và niềm tin của Người đã trở thành quyết tâm sắt đá, sức mạnh to lớn của của cả dân tộc làm nên Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Bước vào thời kỳ đổi mới, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, hiểm nguy, khi chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào ở Liên Xô, Đông Âu; khi đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, dưới ánh sáng soi đường của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiến hành công cuộc đổi mới từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, giải quyết thành công cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế vì một Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” theo đúng tâm nguyện của Người. Đặc biệt, cùng với việc không ngừng bổ sung lý luận về thời kỳ quá độ, những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng cũng được Đảng bổ sung hoàn thiện hơn. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng đã xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng gồm 6 đặc trưng. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta gồm có 8 đặc trưng: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.

Như vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung hai đặc trưng mới, đó là: khẳng định mục tiêu quan trọng nhất của sự nghiệp đổi mới là xây dựng một nước Việt Nam: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; đồng thời, đề cao dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Đảng, Nhà nước đã ban hành Quy chế Dân chủ ở cơ sở (sau là Pháp lệnh Dân chủ ở cơ sở). Trên cơ sở kiểm điểm, đánh giá thực tiễn công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã rút ra bài học kinh nghiệm lớn: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu của Đảng. Đây là sự kiên định, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Đại hội đã phát triển, hoàn thiện cơ sở lý luận về vai trò, vị trí của Nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Đó là, Nhân dân làm chủ đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua cơ chế: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Để đảm bảo phát triển đất nước theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa và đảm bảo phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, các kỳ Đại hội của Đảng chủ trương giải quyết hài hòa các mối quan hệ lớn. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định 8 mối quan hệ lớn: “Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng bổ sung thêm mối quan hệ giữa “Nhà nước và thị trường”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng bổ sung: giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Cùng với việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng luôn chú trọng bảo đảm độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước, giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế”. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là vấn đề có tính nguyên tắc trong quá trình hơn 90 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cũng là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc: “Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quy luật phát triển của cách mạng nước ta”.

Trong tình hình phức tạp hiện nay, hơn bao giờ hết chúng ta càng phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, là con đường duy nhất đúng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn. Trong mối quan hệ biện chứng đó, độc lập dân tộc là mục tiêu, tiền đề và là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội, không có độc lập dân tộc thì không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội; còn xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhằm tăng cường nguồn lực vật chất kỹ thuật ngày càng dồi dào hơn, tạo cơ sở, nền tảng vững chắc để giữ vững độc lập dân tộc.

Con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên trong tác phẩm “Thường thức chính trị” là sự kế thừa con đường cách mạng vô sản đã được Đảng và Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh xác định ngay từ khi thành lập Đảng và trong quá trình đấu tranh giành độc lập (1930 – 1945). Kiên định con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn, Đảng và Nhân dân ta vững bước đi lên, quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nhằm xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc như sinh thời Bác hằng mong muốn./.

Sưu tầm

Hồ Chí Minh với việc lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam qua tác phẩm “Thường thức chính trị” - Phần 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn. Với tấm lòng yêu nước nồng nàn, trí tuệ và tầm nhìn thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường cách mạng vô sản, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là lý tưởng, lẽ sống được Người khẳng định trong các cương lĩnh, đường lối của Đảng và nhiều bài nói, bài viết, trong đó có tác phẩm “Thường thức chính trị”. Đó cũng là con đường phát triển, là mục tiêu, là bước đi của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới.

1. QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM QUA TÁC PHẨM “THƯỜNG THỨC CHÍNH TRỊ” LÀ: GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, GIẢI PHÓNG GIAI CẤP VÀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ NHÂN DÂN

Với hành trang là lòng yêu nước nhiệt thành và quyết tâm “làm bất cứ việc gì đề sống và để đi” nhằm thực hiện hoài bão tìm ra con đường cứu nước, cứu dân; đồng thời, mang trong mình khát vọng giải phóng dân tộc, qua nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm ra con đường cách mạng đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Việc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản, thể hiện tầm nhìn chiến lược và phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân lao động.

Hiện thực hóa con đường cách mạng vô sản vào tình hình thực tiễn ở Việt Nam, trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập (1930 - 1945), Đảng và Nguyễn Ái Quốc xác định: độc lập dân tộc là nhiệm vụ trọng tâm, trước hết và trên hết; đấu tranh giành độc lập dân tộc là nội dung chủ đạo, chủ nghĩa xã hội chưa đặt ra trực tiếp mà là phương hướng tiến lên. Chánh cương vắn tắt của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng xác định “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Trong thời kỳ vận động cách mạng tháng Tám (1939 - 1945), trước những diễn biến mới của tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương (5/1941), khẳng định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu chính là quan điểm đúng đắn, sáng tạo, quyết định đến thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945.

Khi đất nước giành được độc lập, trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Thực hiện quyết tâm ấy, bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với quyết tâm: “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và tinh thần “Tổ quốc trên hết”, “Dân tộc trên hết”, toàn thể dân tộc Việt Nam đã anh dũng chiến đấu đánh bại các chiến lược quân sự của kẻ thù.

Trong bối cảnh toàn quân và toàn dân đẩy mạnh chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Thường thức chính trị”, đăng trên báo Cứu quốc, dưới bút danh Đ.X từ ngày 16/1 đến 23/9/1953. Trên cơ sở phân tích sâu sắc tính chất của xã hội Việt Nam là “thuộc địa và phong kiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới. Trong giai đoạn này, phải bảo vệ tư sản dân tộc, vì họ cũng chống đế quốc, chống phong kiến và họ là một lực lượng để phát triển công nghệ, nông nghiệp và thương nghiệp”. Như vậy, trong bước thứ nhất của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp; đồng thời, phát huy mọi khả năng của giai cấp tư sản để xây dựng và phát triển đất nước như Báo cáo Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội (Luận cương cách mạng Việt Nam), do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày tại Đại hội đại biểu lần thứ hai (1951) của Đảng đã khẳng định: “Nước ta là một nước nông nghiệp, kỹ nghệ không phát triển. Muốn mau phát triển kỹ nghệ, xóa bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến, thế tất phải khuyến khích tư sản dân tộc kinh doanh và giúp đỡ tư bản tư nhân phát triển trong một thời gian khá lâu. Đồng thời kiểm soát và tiết chế họ, đưa họ vào con đường phát triển theo lối tư bản nhà nước, không thể nói đến cải tạo xã hội, xóa bỏ mọi hình thức bóc lột ngay”.

Sau khi hoàn thành bước thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản. Thời đại mới khiến cách mạng Việt Nam phải là cách mạng dân chủ mới (tức là cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân hiện nay)”. Con đường phát triển của dân tộc được đề cập trong tác phẩm “Thường thức chính trị” là sự kế thừa tinh thần của Đại hội đại biểu lần thứ hai (1951) của Đảng: “Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội” và như Chính cương Đảng Lao động Việt Nam xác định: “Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”. “Ba nhiệm vụ đó khăng khít với nhau. Song nhiệm vụ chính trước mắt là hoàn thành giải phóng dân tộc”.

Nội dung “cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến trong thời điểm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã được Đại hội đại biểu lần thứ hai của Đảng xác định là “đánh đuổi đế quốc xâm lược, trừ diệt bọn phản quốc, xóa bỏ những di tích phong kiến, kiến thiết một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, phát triển chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam, do con đường dân chủ nhân dân tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Báo cáo Chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại Đại hội xác định nhiệm vụ của Đảng là “đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội”.

Tính chất “dân chủ nhân dân” thực chất là thời kỳ quá độ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Để hoàn thành dân chủ nhân dân thì phải thực hiện các nội dung chính trị, kinh tế, văn hóa dân chủ nhân dân như Đại hội đại biểu lần thứ hai (1951) của Đảng đã chỉ rõ:

 - “Chính trị dân chủ nhân dân nước ta hiện nay là củng cố Nhà nước nhân dân, củng cố cơ sở chính trị của chính quyền là Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế”.

- “Kinh tế dân chủ nhân dân là kinh tế của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.., gồm có kinh tế nhà nước,.. bộ phận hợp tác xã,… bộ phận kinh tế nhỏ,.. bộ phận kinh tế tư bản tư nhân... Ngoài ra, còn bộ phận tư bản nhà nước gồm những xí nghiệp do tư bản tư nhân cùng chung vốn với Nhà nước kinh doanh, hoặc các xí nghiệp và tài nguyên của Nhà nước nhượng cho tư nhân kinh doanh có điều kiện”.

- “Văn hóa dân chủ nhân dân của ta có ba tính chất: dân tộc, khoa học và đại chúng”. (còn tiếp)

Sưu tầm.