Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023

Cảnh giác trước biểu hiện nguy hại của việc “hối lộ tinh thần”

Thực tiễn đã chứng minh, trong công việc và cuộc sống hàng ngày, không ai có thể khẳng định tất cả những việc mình làm chỉ có đúng mà không có sai, chỉ có ưu điểm chứ không có khuyết điểm. Nên việc khen và chê giống như chất xúc tác giúp cho mỗi chúng ta biết lắng nghe, phân biệt “đúng, sai, thật, giả”, để sống có trách nhiệm hơn với công việc của mình, từ đó có hướng phát triển bản thân tốt hơn. Tuy nhiên, do mắc căn bệnh của thói a dua, xu nịnh, nên vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) đã sống thiên lệch, thích khen hơn chê, thậm chí còn “khen quá lời”, khiến cho người được khen dễ sinh ra tính kiêu ngạo, tự mãn, ngỡ mình là người tài ba, xuất chúng, ảo tưởng về hào quang của bản thân. Còn người khen chỉ quen nói lời có cánh, mà đánh mất đi tính phản biện, lập trường “đúng - sai” cần có của người CB, ĐV. Đây là biểu hiện suy thoái về đạo đức cần phải đấu tranh loại bỏ.

Tác hại khi tuyệt đối hóa lời khen

Phản ứng tâm lý thông thường của con người khi được khen thì vui vẻ, sung sướng, ví dụ như “chị ấy, hoặc cô ấy trông xinh thế”, dù bề ngoài thực sự chưa tương xứng với lời khen, thế nhưng người phụ nữ được khen ấy sẽ rất vui, có khi cả ngày hôm đó chị sẽ dành nhiều thời gian để ngắm mình trong gương. Bởi vì tâm lý chung của con người là thích nghe khen hơn chê, nghe khen dễ hơn là nghe chê.

Thế nên, lời khen không chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Đối với khen, điều quan trọng nhất là hiệu quả giữa người khen và người tiếp nhận lời khen như thế nào, nên đòi hỏi người khen phải có chuyên môn, am hiểu về lĩnh vực đó và công tâm, chân thành thì mới khen đúng được.

Lời khen có hai loại, đó là lời khen tốt và lời khen xấu. Vậy nên, ông cha ta mới cảnh tỉnh, răn dạy con cháu rằng “Mật ngọt chết ruồi tươi”, bởi ai mà chẳng có lúc sai lúc đúng, do đó phải tỉnh táo để tiếp nhận lời “khen chê” cho phù hợp, tránh rơi vào ảo giác mơ hồ, mù quáng thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào, giả dối của người khác thì tự mình sẽ sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay.

 Thực tiễn cũng đã chứng minh, trong cuộc sống cũng như thực thi công vụ của CB, ĐV cũng vậy, không phải chỉ có đúng mà không bao giờ sai, chỉ có ưu điểm mà không bao giờ có khuyết điểm, bởi vậy khen chê đúng mực là cần thiết để mỗi người nhìn nhận đánh giá khách quan, toàn diện để tự hoàn thiện bản thân hơn. Tuy nhiên, do mắc phải căn bệnh a dua xu nịnh, một số CB, ĐV đã không ngại cúi mình, sử dụng “chót lưỡi đầu môi”, bỏ qua phần “chê” mà tuyệt đối hóa lời khen, đã không tiếc lời tâng bốc đối tượng mà mình cần lên tận mây xanh, nhằm để đạt được mưu lợi cá nhân.

Biểu hiện cụ thể là, đối với cấp trên, những CB, ĐV này thường tỏ thái độ xun xoe, “nói vuốt đuôi” theo ý thủ trưởng, khen ngợi thủ trưởng trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, lúc nào cũng ngợi ca, trước mặt và sau lưng, nhằm để cho cấp trên tin tưởng và hiểu rằng, đồng chí ấy là người tâm phúc, tin cậy. Thậm chí là mọi thói quen, sở thích của cấp trên cũng được nghiên cứu rất kỹ, từ thói quen tốt đến thói quen xấu sẽ được ngợi khen tuốt tuột và chăm sóc chu đáo, mục đích cuối cùng của “khen ngợi quá lời” là chỉ cốt để làm đẹp lòng, “khen cho được việc”, lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” nhằm mục đích cầu lợi cho cá nhân bản thân mình.

Đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò chuyện, chúng ta có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng, không có chính kiến phản biện khi thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh là rất phổ biến. Đây là một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Soi chiếu vào lịch sử các triều đại phong kiến của dân tộc cho thấy, nếu ông vua, bà chúa, hay ông quan nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói khen nịnh vờ vĩnh, giả tạo của một bộ phận quan nịnh thần thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc chính nhân quân tử, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng, nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, đắm chìm trong những lời bợ đỡ, ton hót thì dễ làm cho triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.

Và thực tế cho thấy, những CB, ĐV, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự bủa vây của những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp dưới, nếu không giữ được tư tưởng lập trường thì theo thời gian, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, sẽ nảy sinh thói gia trưởng, quan liêu, chuyên quyền, độc đoán. Đó cũng là tiền đề để hình thành “uy tín giả”, một “cái bẫy” có thể tự sụp đổ ngay dưới chân mình.

Việc CB, ĐV bị xử lý kỷ luật, thậm chí là xử lý hình sự có xu hướng ngày càng tăng thời gian qua, có rất nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân chủ yếu chính là mắc căn bệnh “ảo tưởng” thích khen hơn chê, tự đề cao cái tôi cá nhân, trở thành những “ông vua, ông quan”, tha hóa quyền lực, tự cho mình là nhất, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhắc nhở CB, ĐV.

 Phải giữ nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình

Khen là điều cần thiết, nhưng quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời “mật ngọt” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt, ton hót, một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của CB, ĐV.

Ngược lại, “chê” không hẳn là chỉ trích là ý xấu, mà chính là lời phê bình chân thành chỉ ra những tồn tại, hạn chế của bản thân mỗi người chưa nhận ra, sẽ giúp chúng ta nhanh chóng tiến bộ. Vậy nên, trong hội nghị của Bộ Chính trị cho ý kiến về nội dung Đại hội Văn nghệ vào sáng ngày 6/11/1962, khi bàn về chủ trương tổ chức cho anh em văn nghệ sĩ đi thực tế dài hạn ở nông thôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tán thành chủ trương và có những lời căn dặn quý báu đối với các văn nghệ sĩ đi thực hiện nhiệm vụ này: “… Khen, chê phải đúng mức. Khen nhưng khen quá lời, “suy tôn” người được khen thì chính người được khen xấu hổ. Đập nhưng đập bậy thì người ta không phục...”.

Thực tế cho thấy, có việc khen, chê không đúng mực, nguyên nhân chủ yếu là do còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng thực hiện nguyên tắc phê bình và tự phê bình chưa triệt để, chưa nghiêm túc, nên phê bình một phần đã chuyển thành xu nịnh, làm biến dạng, vô hiệu hóa nguyên tắc vũ khí sắc bén của Đảng. Do đó, để khắc phục triệt để tình trạng này, thì trước hết là các cấp ủy, tổ chức Đảng cần tiếp tục coi trọng và duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình.

Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, mỗi CB, ĐV cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm, đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời cái xấu, cái sai, kiên quyết đấu tranh loại bỏ thói xu nịnh, a dua, khen quá lời, sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán, để góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức Đảng và xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp, ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Đối với bản thân mỗi CB, ĐV, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ trì cần phải giữ gìn đức tính khiêm tốn, giản dị, gần gũi, hòa đồng quần chúng để phân biệt rõ đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe, coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ, để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân, sống giản dị, gần gũi với đồng chí đồng đội và quần chúng.

Sưu tầm

Tự tu chỉnh, “đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta"

Biểu hiện suy thoái hàng đầu về đạo đức, lối sống đã được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng chỉ ra là: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình”. Vì vậy, đấu tranh đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân là góp phần làm trong sạch hóa, lành mạnh hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.

Sáng ngời một thế hệ tự nguyện cống hiến, hy sinh

Chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh hoàn toàn trái với phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Bất cứ ai đã đi theo Đảng, theo cách mạng, nhất là những người cán bộ, đảng viên thì luôn phải tâm nguyện suốt đời hy sinh, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng, của Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trung thành với mục tiêu lý tưởng cách mạng đó, nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên đã một lòng một dạ luôn đặt lợi ích của tập thể, của đất nước lên trên hết, trước hết.

Là đảng viên cộng sản, chắc hẳn ai cũng biết phẩm chất kiên trung, ngời sáng của biết bao chiến sĩ cách mạng trong các ngục tù, mặc dù trước sự tra tấn dã man của đế quốc thực dân, hay trước khi ra pháp trường bước lên máy chém vẫn một lòng một dạ trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, thương yêu đồng đội, hết lòng vì lợi ích chung, nên “Chết còn trút áo cho nhau/ Miếng cơm dành để người sau ấm lòng” (thơ Tố Hữu).

Trong suốt chặng đường cách mạng của đất nước ta, nhất là trong các cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do của dân tộc đã xuất hiện hàng vạn cán bộ, đảng viên tiêu biểu về phẩm chất vì lợi ích tập thể mà quên đi lợi ích cá nhân. Phẩm chất đó là rất đáng trân trọng, là cao cả nhất, là thước đo không gì sánh nổi về tư tưởng vì nước, vì dân mà quên thân, quên lợi ích cá nhân.

Không có sách báo nào viết hết, ca ngợi hết những giá trị to lớn của hàng vạn tấm gương chủ nghĩa anh hùng cách mạng; anh hùng, liệt sĩ và biết bao cán bộ, chiến sĩ trong suốt chặng đường cách mạng hơn 93 năm qua do Đảng, Bác Hồ lãnh đạo. Tiêu biểu là từ các lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, các chiến sĩ cách mạng tiền bối như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Hà Huy Tập, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng... đến những anh hùng sáng ngời tinh thần bất khuất như: Nguyễn Văn Trỗi, Võ Thị Thắng, Đinh Núp... Họ đã trở thành biểu tượng cao đẹp về tấm lòng trung kiên, dũng cảm, vì nước, vì dân, được muôn đời thế hệ sau ngợi ca, học tập và noi theo.

Những triệu chứng nguy hại của bệnh cá nhân chủ nghĩa thời nay

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, trên chặng đường lịch sử cách mạng, chúng ta cũng đau lòng khi một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu bản lĩnh, bị vật chất, đồng tiền cám dỗ... đã đi ngược lại lợi ích tập thể, lợi ích của đất nước, coi lợi ích cá nhân là trên hết, từ đó làm mất thanh danh, phẩm chất người đảng viên cộng sản.

Những năm gần đây, nhiều cán bộ lãnh đạo cấp bộ, ngành, Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng bị lợi ích cá nhân chi phối, nên đã vi phạm kỷ luật "nghiêm trọng", "rất nghiêm trọng" đã bị kỷ luật và xử lý hình sự. Cũng do sa vào bệnh cá nhân chủ nghĩa, lại thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện, vì lợi ích tầm thường mà hàng chục cán bộ đã nhận hối lộ với số tiền lớn, rất lớn, đặc biệt lớn trong vụ án “chuyến bay giải cứu” và vụ "Việt Á" mới đây, gây bức xúc dư luận.

Ở mỗi cương vị và trên từng lĩnh vực, căn bệnh cá nhân chủ nghĩa nó diễn ra khác nhau, kể cả về tính chất và quy mô. Nhưng thông thường, biểu hiện cá nhân chủ nghĩa thường bộc lộ ở một số cán bộ, đảng viên đảm nhiệm cương vị chủ chốt cơ quan, đơn vị, địa phương, đó là:

Thứ nhất, làm việc gì của cơ quan, đơn vị, địa phương cũng tính đến “được cái gì” mang về cho bản thân.

Thứ hai, củng cố địa vị, bố trí những vị trí chủ chốt cán bộ, đảng viên thuộc quyền lãnh đạo, quản lý của mình là những người thân cận để bảo đảm sự thăng tiến cho cá nhân mình được thuận lợi.

Thứ ba, xây dựng những cán bộ nguồn nằm trong quy hoạch là những người thân tín hoặc những người “cánh hẩu” với mình để được ban ơn về sau hoặc tiếp tục có điều kiện cất nhắc, giúp đỡ con cháu mình sau này.

Thứ tư, chỉ đạo cơ quan, đơn vị, địa phương mình xây dựng “chính sách nội bộ” về một việc gì đó mà “lách luật” được để mang lại lợi ích cho một nhóm người. Ví như xây biệt thự liền kề, nhà ở... để bán giá cao nhưng thực chất chênh lệch hàng chục lần so với giá thị trường cho những cán bộ “có nhiều cống hiến”, trong đó có bản thân mình.

Thứ năm, luôn ích kỷ, so bì, tính toán thiệt hơn; thấy đồng đội học hành, công tác thành đạt thì khó chịu, kèn cựa, nói xấu sau lưng, tìm cách hạ uy tín những cán bộ, đảng viên không thuộc “gu” của mình, gây mất đoàn kết nội bộ hoặc dùng các mánh khóe để vô hiệu hóa đồng đội, cấp dưới của mình.

Kiên quyết phòng ngừa, đấu tranh đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân

Phê phán tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, hay chủ nghĩa cá nhân, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói và viết về căn bệnh nguy hiểm này. Người cho rằng, chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng độc hại, tồn tại dai dẳng trong mỗi người cán bộ, đảng viên, luôn chờ cơ hội để trỗi dậy; là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Người coi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng. Bác Hồ nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”, do vậy, theo Bác: “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra đối với cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân biểu hiện ở chỗ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, chúng ta cần nhận thức đúng đắn rằng “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Bởi vì, theo Bác, “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu”. Vấn đề là ở chỗ, như Bác Hồ đã chỉ ra: “Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”.

Việc cần làm hiện nay là các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về tự phòng, chống bệnh cá nhân chủ nghĩa. Đặc biệt đối với cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải nhận thức và xác định đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ không nghỉ, là lương tâm, trách nhiệm và ý thức tự giác của mình trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân; dù trong điều kiện nào cũng đặt lợi ích tập thể lên trên hết, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Nếu cán bộ, đảng viên ở cương vị chủ chốt các cấp thực hiện đúng lời dạy của Bác, chắc chắn sẽ giáo dục, cảm hóa, thuyết phục được mọi thành viên trong cơ quan, đơn vị cũng đề cao trách nhiệm tự phê phán, đấu tranh chống tư tưởng cá nhân chủ nghĩa.

Một giải pháp quan trọng nữa là các cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong cơ quan, đơn vị thường xuyên theo định kỳ sinh hoạt tự phê bình và phê bình, trong đó chú trọng xem xét đến từng cá nhân, tập thể có biểu hiện cá nhân chủ nghĩa không? Nếu có thì phải giáo dục, ngăn chặn, đấu tranh nghiêm túc để loại bỏ ngay từ khi còn manh nha, nhen nhóm.

Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn, quy định về công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII) về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện nghiêm túc Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí...

Qua đó làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ hơn về trách nhiệm rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu của mình, luôn công tâm vì lợi ích tập thể, lợi ích của đất nước, trong đó có lợi ích chính đáng của mình. Không gì hơn là mỗi cán bộ, đảng viên phải tự tu chỉnh, tự vượt qua và chiến thắng chính mình trước những cám dỗ để không sa vào chủ nghĩa cá nhân.

Vấn đề có tính lâu dài đòi hỏi chúng ta phải làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm có tư tưởng lành mạnh, trong sáng, không vụ lợi, lấy mục đích lợi ích tập thể, lợi ích đất nước, lợi ích của nhân dân để xác định động cơ phấn đấu, rèn luyện, phục vụ khi trở thành người cán bộ, đảng viên của Đảng.

Sưu tầm

Chuyện về thẻ căn cước...

- Các ông ơi, không hiểu vì sao kỳ họp này Quốc hội lại xem xét, cho ý kiến vào dự thảo Luật Căn cước, rồi sẽ đổi thẻ căn cước công dân (CCCD) thành thẻ căn cước. Tôi thấy mấy trang “lề trái” nó phản đối, bảo là vẽ việc để kiếm chác...

- Đúng đấy, tôi cũng thấy trên mạng xã hội có người cho rằng việc thay đổi này nhằm thu lợi cho cơ quan chức năng, còn người dân phiền phức, tốn kém thì mặc kệ!

Rót nước trà mời mấy người bạn già cùng xóm xong, ông Tuấn mở điện thoại thông minh ra, tìm bài báo đưa cho các bạn xem và phân tích:

- Lúc đầu, tôi cũng nghĩ như các ông. Nhưng rồi tôi vào Cổng thông tin điện tử của Bộ Công an để tìm hiểu thì mới biết, việc sửa đổi Luật Căn cước công dân năm 2014 thành Luật Căn cước là một bước đột phá trong quản lý dân cư, phục vụ chuyển đổi số; qua đó đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, khai thác, bổ sung dữ liệu quốc gia về dân cư.

Cơ sở dữ liệu này chia sẻ cho các cơ quan, tổ chức có nhu cầu sử dụng thông tin về dân cư để phục vụ công tác quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công, tạo điều kiện cho công dân tham gia vào các giao dịch điện tử thuận tiện, an toàn. Căn cước là công cụ xác minh danh tính và quyền lợi của công dân khi thực hiện các giao dịch điện tử cả trong và ngoài nước.

Căn cước điện tử phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới số, giúp người dân không cần mang theo thẻ căn cước khi thực hiện các giao dịch điện tử. Không những thế, Luật Căn cước là cơ sở để cấp chứng nhận căn cước cho người gốc Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam nhưng chưa xác định được quốc tịch nhằm quản lý và bảo vệ quyền công dân của họ. Thẻ căn cước cũng không có vân tay và một số thông tin không cần thiết để tránh rủi ro khi lộ thông tin cá nhân... Nói chung là rất nhiều tiện lợi các ông ạ!

- Nhưng mà nó gây tốn kém và người dân lại phải đi làm thẻ căn cước!

Trước ý kiến của người bạn đồng niên, ông Tuấn đọc một đoạn giải trình của Bộ Công an: Việc thay thẻ CCCD đang sử dụng bằng thẻ căn cước mới không gây phiền hà, tốn kém, vì dự thảo Luật Căn cước thay thế Luật CCCD năm 2014 đã quy định rõ việc chuyển tiếp: CCCD đã được cấp trước ngày Luật Căn cước có hiệu lực thi hành vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn ghi trong thẻ; khi người dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ căn cước. Chứng minh nhân dân còn thời hạn sử dụng đã được cấp trước ngày Luật Căn cước có hiệu lực thi hành thì được sử dụng đến hết năm 2024. Các loại giấy tờ có giá trị pháp lý đã phát hành mà sử dụng thông tin từ chứng minh nhân dân, thẻ CCCD thì vẫn giữ nguyên hiệu lực pháp luật. Thẻ CCCD quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật trước ngày Luật Căn cước có hiệu lực thi hành có giá trị như thẻ căn cước. Cơ quan quản lý nhà nước không được quy định thủ tục riêng về thay đổi, điều chỉnh thông tin về chứng minh nhân dân, thẻ CCCD trong giấy tờ đã cấp.

Nghe ông Tuấn đọc rõ ràng từng ý, mấy người bạn vỡ lẽ dần, gật đầu lia lịa. Ông Tuấn chân thành bộc bạch:

- Nhờ đọc kỹ những thông tin này nên tôi mới hiểu sự cần thiết phải ban hành Luật Căn cước và thay thẻ CCCD thành thẻ căn cước đấy! Qua đây tôi rút ra bài học: Trước những thông tin chê trách chính quyền, nhất là những ý kiến phản đối với thái độ hằn học đăng trên các trang mạng thì mình đừng có tin, phải tìm hiểu thông tin chính thống để không bị mắc lừa, không bị các đối tượng phản động “dắt mũi” nhằm phục vụ mưu đồ đen tối của chúng, các ông ạ!

Sưu tầm

Chế độ một Đảng cầm quyền không phải nguyên nhân của tham nhũng

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC) tại Việt Nam những năm gần đây đã đạt kết quả quan trọng, tạo cơ sở, nền tảng vững chắc trong xây dựng hệ thống chính trị, môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, củng cố được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, được quốc tế đánh giá cao.

Tuy nhiên, thế lực thù địch, phản động thời gian qua vẫn cố gieo rắc quan điểm sai trái cho rằng: Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tham nhũng; tham nhũng là thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chỉ khi nào ở Việt Nam bỏ chế độ độc đảng lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới được dẹp bỏ.

Vậy tại sao có thể khẳng định quan điểm nói trên là sai trái?

Chế độ đa đảng không phải là phép màu để chống tham nhũng

Trước hết, tham nhũng là căn bệnh do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra. Có nhà nước là có nguy cơ sinh ra căn bệnh tham nhũng, không phân biệt nhà nước đó là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, đi theo thể chế chính trị đa đảng hay một đảng. Chỉ khi quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện thì quyền lực sẽ không thể bị lạm dụng, tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa. Như vậy, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng và cũng không phải là không thể chống được tham nhũng.

Thực tế là, ở các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn cứ hoành hành. Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2022, do Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) vừa công bố đầu năm 2023 cho thấy, trên thế giới không có quốc gia nào không có tham nhũng, không nhà nước nào là hoàn toàn minh bạch, trong sạch. TI sử dụng thang điểm từ 0 đến 100 để phản ánh quan điểm của các chuyên gia và giới kinh doanh đánh giá về tình trạng minh bạch và hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng của mỗi quốc gia, trong đó điểm số 0 là rất tham nhũng và điểm số 100 là rất trong sạch. Quốc gia có điểm số cao nhất thế giới trong bảng xếp hạng này là Đan Mạch với số điểm 90, Phần Lan và New Zealand cùng đứng thứ hai với số điểm 87. Cũng trong bảng xếp hạng này, Nhật Bản và Vương quốc Anh cùng xếp thứ 18 với số điểm là 73, Hoa Kỳ xếp thứ 24 với số điểm là 69, Hàn Quốc xếp thứ 31 với số điểm là 63. Như vậy, từ báo cáo trên thì các quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng về phòng, chống tham nhũng vẫn không hoàn toàn trong sạch và minh bạch. Những quốc gia luôn tự đề cao như một hình mẫu về dân chủ và tinh thần chống tham nhũng thì vẫn có chỉ số chống tham nhũng khá khiêm tốn.

Nếu ai đó cho rằng, thực hiện chế độ đa đảng sẽ tạo ra phép màu để triệt tiêu được tham nhũng là hoàn toàn sai lầm. Việt Nam chúng ta đứng thứ 80 trong bảng xếp hạng 180 quốc gia, vùng lãnh thổ về chỉ số CPI. Như thế, có 100 quốc gia, vùng lãnh thổ xếp dưới chúng ta trong bảng xếp hạng này. Mà trong đó, đại đa số quốc gia này theo chế độ đa đảng. Vậy tại sao các quốc gia, vùng lãnh thổ có hệ thống chính trị đa đảng phái vẫn có hiệu quả phòng, chống tham nhũng kém Việt Nam?

Như thế có thể thấy hiệu quả phòng, chống tham nhũng không phụ thuộc vào chế độ một đảng lãnh đạo hay chế độ đa đảng mà phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống pháp luật, năng lực quản trị của Nhà nước và phẩm chất của cán bộ, công chức. Sẽ thật ngây thơ khi ai đó tin rằng, cứ có đa đảng thì sẽ có sự kiểm soát quyền lực tốt hơn, dẫn tới triệt tiêu tham nhũng. Tại những quốc gia đa đảng phái thì vẫn luôn có sự thỏa thuận quyền lực của các đảng phái đại diện cho giai cấp thống trị xã hội. Dù có bao nhiêu cuộc bầu cử thì quyền lực nhà nước vẫn không thoát khỏi sự thống trị của các đảng phái này. Vì thế, tại các quốc gia đó, nguy cơ và thực tế tham nhũng vẫn luôn là thách thức hiện hữu.

Đảng ta đủ năng lực lãnh đạo để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Thế còn tại Việt Nam, một quốc gia do một đảng lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam thì sao? Thực tế cho thấy, bản chất cách mạng, tính tiền phong và năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn là nhân tố cơ bản quyết định, bảo đảm Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ khả năng để chống tham nhũng hiệu quả.

Theo báo cáo của TI, trong lúc tình hình không được cải thiện hoặc tồi tệ hơn ở 86% các quốc gia trong bảng xếp hạng thì chỉ số CPI của Việt Nam liên tục được cải thiện. Việt Nam là một trong những quốc gia có tiến bộ nổi trội, với 42 điểm, tăng tới 9 điểm kể từ năm 2018.

Đó là kết quả của cả một quá trình PCTNTC rất quyết liệt do Đảng ta lãnh đạo. Với nhận thức, tham nhũng là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, Đảng ta xác định đấu tranh PCTNTC là một việc làm cần thết, tất yếu, hợp lòng dân và xu thế phát triển của nhân loại. Vì vậy, tiếp nối kết quả từ những nhiệm kỳ trước, Đại hội XIII của Đảng đề ra phương châm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”.

Dấu ấn nổi bật là việc Bộ Chính trị quyết định bổ sung, mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng để chỉ đạo cả công tác phòng, chống tiêu cực. Từ đây, cuộc đấu tranh PCTNTC bước sang giai đoạn mới, đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ hơn giữa “xây” và “chống”, giữa PCTNTC với xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Ngay sau đó, Ban chỉ đạo đã quyết định đưa một số vụ việc tiêu cực vào diện theo dõi, chỉ đạo, qua đó, các cơ quan chức năng đã làm rõ, xử lý nghiêm hành vi tiêu cực của nhiều cán bộ, đảng viên.

Công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh. Các cơ quan chức năng đã chủ động phát hiện, quyết liệt đấu tranh, khởi tố, điều tra, xử lý nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, xảy ra trên diện rộng, trong các lĩnh vực chuyên môn sâu, hoạt động khép kín, vi phạm có tính hệ thống, có tổ chức, cả trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng trong cả nước đã khởi tố, điều tra hơn 7.800 vụ án, hơn 15.200 bị can về tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế. Vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á đến nay đã khởi tố 30 vụ án, 109 bị can (trong đó 25 địa phương đã khởi tố 28 vụ án, 71 bị can); vụ án xảy ra trong lĩnh vực đăng kiểm đã khởi tố 80 vụ án, 613 bị can tại Cục Đăng kiểm Việt Nam, 98 trung tâm và chi cục đăng kiểm; vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) đã khởi tố 54 bị can...

Qua xử lý các sai phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực đã xử lý trách nhiệm chính trị của người đứng đầu trong việc để xảy ra vi phạm, khuyết điểm trong lĩnh vực được phân công quản lý, phụ trách theo đúng nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xem xét, cho thôi giữ chức vụ, cho nghỉ công tác, nghỉ hưu, bố trí công tác khác đối với 14 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã bố trí công tác và thực hiện chính sách đối với 22 trường hợp cán bộ sau khi bị kỷ luật. Đảng ta đã “nói đi đôi với làm”, chống tham nhũng, tiêu cực đã “tắm từ trên đầu xuống”, không phải chỉ “tắm từ vai xuống” như có ý kiến băn khoăn, lo lắng thời gian trước.

Trước đây, trong một số vụ án tham nhũng, tiêu cực, việc điều tra, xử lý gặp khó khăn, vướng mắc, chậm tiến độ do có một số đối tượng liên quan bỏ trốn. Tuy nhiên, vừa qua, các cơ quan chức năng đã điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt, tuyên án xử phạt tù đối với cả những đối tượng đang bỏ trốn, như trong vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai, Công ty Cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC). Điều này sẽ tạo tiền đề để xử lý nhiều đối tượng bỏ trốn ở một số vụ án khác, là hồi chuông cảnh tỉnh, răn đe, dù có trốn ra nước ngoài cũng không thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật.

Tham nhũng chính sách là vấn đề nan giải với mọi quốc gia. Thời gian qua, Đảng ta đã chỉ đạo việc quan tâm phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngay từ khâu tham mưu, ban hành chính sách. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTNTC đã chỉ đạo Đảng đoàn Quốc hội xây dựng, trình Bộ Chính trị ban hành quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.

Việc kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong hoạt động của chính các cơ quan có chức năng PCTNTC được đẩy mạnh. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các cơ quan chức năng đã xử lý kỷ luật hơn 300 cán bộ, công chức trong các cơ quan PCTNTC có sai phạm; nhiều trường hợp trong số đó bị xử lý hình sự. Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đã khởi tố, điều tra hơn 40 vụ án tham nhũng, chức vụ, tiêu cực xảy ra trong hoạt động tư pháp. Đặc biệt là, đã xử lý kỷ luật đối với 3 lãnh đạo, nguyên lãnh đạo thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước. Từ đầu năm 2023 đến nay, đã khởi tố, điều tra 2 thiếu tướng công an, 15 cán bộ thanh tra, giám sát của các cơ quan: Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, chánh thanh tra tỉnh...

Cùng với đó, để khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, sự ra đời của ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC chính là nhân tố mới giúp công tác PCTNTC ở địa phương, cơ sở có sự chuyển biến tích cực.

Như thế, có thể khẳng định luận điểm cho rằng “tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ xã hội chủ nghĩa, của chế độ một đảng cầm quyền” và “chế độ một đảng không chống được tham nhũng” là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Tham nhũng gắn với cá nhân có quyền lực và tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ có nhà nước vì nó luôn gắn với nhà nước và quyền lực. Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nên xét về bản chất, không có cơ sở sinh ra tham nhũng. Tham nhũng, tiêu cực về bản chất là tàn dư của chế độ cũ, xã hội cũ, con người cũ. Chỉ những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, nhưng thiếu tu dưỡng, rèn luyện mới sa vào chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, rồi việc thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức, của nhân dân mới dễ làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Hiệu quả của việc PCTNTC đến đâu là do sức đề kháng của chế độ xã hội mới-xã hội chủ nghĩa, do năng lực của Đảng cầm quyền, do chất lượng hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt phụ thuộc vào phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Sưu tầm

Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam

Năm nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 133 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại (19/5/1890 - 19/5/2023), là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức Đảng thấm nhuần tư tưởng, tự soi rọi lại mình, tiếp tục thực hiện nhằm tăng thêm ý chí, quyết tâm và sức mạnh đưa đất nước phát triển sánh vai với các nước tiên tiến trên thế giới như Bác hằng mong muốn. Cuộc đời 79 mùa xuân của Người là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Người là kết tinh rạng ngời của tư tưởng đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác xây dựng Đảng, để Đảng ta thật sự là một Đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh. Trong những năm qua, thực hiện Di chúc của Bác, Đảng ta đã triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Theo đó, Đảng ta đã triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII và Kết luận số 21-KL của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới. Đây là việc làm vừa cơ bản, cấp bách vừa thường xuyên, lâu dài, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, lấy “chống” làm nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, đột phá trên nguyên tắc giữ vững sự ổn định chính trị để phát triển đất nước; vừa đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vừa tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, nhất là cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, bảo đảm quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; có chế tài xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm; ngăn chặn, đấu tranh, xử lý triệt để, đúng pháp luật các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, bè phái, chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy dự án, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng… Vừa tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng, vừa phát huy cao độ vai trò giám sát, phản biện của các tổ chức chính trị-xã hội, của nhân dân ngay từ khi xây dựng và trong quá trình thực thi chính sách, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa khi mới có dấu hiệu vi phạm. Trước mắt, cần tập trung kiểm tra, xử lý dứt điểm những vụ tham nhũng phức tạp, các vụ việc vi phạm trong thực thi quyền lực, nhất là các vi phạm trong công tác cán bộ đang gây bức xúc trong xã hội, bất bình trong nhân dân; đặc biệt, cần công khai các vụ việc phức tạp đã xử lý.

Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời, mẫu mực về đạo đức cách mạng. Do vậy, học tập Người, toàn Đảng phải thường xuyên đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Thực tiễn xây dựng chính đảng Mác-xít đã chứng minh, đảng cầm quyền lãnh đạo đất nước nếu không thực hiện tốt đạo đức cách mạng, không làm tốt nhiệm vụ chống tha hóa, hủ bại, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống thì càng ngày sẽ càng trở nên khó khăn, có nhiều thách thức hơn. Muốn kiên định, kiên quyết xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh thì mọi cán bộ, đảng viên càng cần phải nêu gương, đi đầu trong việc chống tha hóa, biến chất, thực hiện liêm, chính trong Đảng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Nếu Đảng ta không thực sự vững vàng về chính trị tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức lối sống; không chặt chẽ về tổ chức bộ máy; không được nhân dân đồng tình ủng hộ thì Đảng ta không thể đứng vững và đủ sức đưa đất nước đi lên”. Do vậy, cùng với việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản về trách nhiệm nêu gương, như: Quy định số 101-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XI, Quy định số 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII, đặc biệt tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XII), Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 08-QĐ/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng”. Việc thực hiện nêu gương của cán bộ, đảng viên là tỏ rõ sự biết ơn Bác, tự hào và nguyện làm theo Bác. Nêu gương về lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao. Nêu gương về đạo đức, lối sống trong sáng, về bản lĩnh, trách nhiệm, niềm tin. Nêu gương phải thực chất, tránh hình thức. Trên tinh thần đó, phải tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” có hiệu quả.

Thấm nhuần những lời dạy của Bác, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thống nhất và nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế nhanh, bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Mục tiêu của Đảng ta là xây dựng nước ta sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại là một dấu mốc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở ra những điều kiện mới, thuận lợi hơn cho việc tiếp tục xây dựng, phát triển đất nước lên tầm cao mới, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường thế và lực của đất nước trong giai đoạn cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới. Để đạt được mục tiêu ấy, cần phải nhận thức đầy đủ và vận dụng đúng các quy luật phát triển, huy động được các nguồn lực của đất nước mà trước hết, quan trọng nhất là nguồn lực con người, phải có một lộ trình kế hoạch để thực hiện từng bước có hiệu quả cao nhất.

Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của Bác “Dân là gốc”, Đảng ta xác định nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, đối tượng của công cuộc đổi mới, đồng thời là động lực quyết định của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà nước của chúng ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và nhân dân là người làm chủ. Do vậy, mọi thành quả của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước đều vì hạnh phúc của nhân dân, vì mục tiêu không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Mọi nhiệm vụ cách mạng đều do nhân dân thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là yêu cầu xuất phát từ bản chất tốt đẹp và ưu việt của chế độ ta.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Thực hiện thắng lợi phương châm: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt và xây dựng nền văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”. Đồng thời, Đảng ta cũng xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm, quan trọng nhất. Gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với kinh tế tri thức, kinh tế số, chuyển đổi số của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thực hiện tư tưởng của Bác phải tiếp tục tăng cường bồi dưỡng, đào tạo, rèn luyện cán bộ, đáp ứng những yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng nhằm bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau đạt hiệu quả; đảm bảo xây dựng đội ngũ kế cận vừa “hồng” vừa “chuyên”, hoàn thành tốt trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó, cần phải chú trọng nguồn lực con người - coi con người là yếu tố cơ bản cho sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững; tập trung đổi mới, căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ trên cơ sở gắn với cách mạng công nghiệp lần thứ tư để đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả nền kinh tế, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đồng thời, thấm nhuần lời dạy của Người, các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành chức năng từ Trung ương đến địa phương cần tập trung quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, Nhà nước về vị trí, vai trò của thế hệ trẻ, về đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho cán bộ, dảng viên, nhất là thế hệ trẻ… Phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ, giai đoạn 2015-2030”. Đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - Đoàn Thanh niên - xã hội trong đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ toàn diện về mọi mặt; trong đó chú trọng nguyên tắc đào tạo gắn với bồi dưỡng, tin tưởng giao việc, tạo điều kiện để tuổi trẻ được trải nghiệm, phấn đấu và trưởng thành; xây dựng người cán bộ trẻ, đảm bảo quy hoạch cho trước mắt và lâu dài như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phải khéo léo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ”, “không nên coi thường cán bộ trẻ”…

Tiếp tục thực hiện tư tưởng của Người, Đảng ta không ngừng mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tư tưởng chỉ đạo của Bác về “vấn đề đoàn kết quốc tế” mở ra khả năng rộng lớn để vận dụng, thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đối ngoại mà các Đại hội Đảng và Đại hội XIII của Đảng đề ra. Vì vậy, bước vào thời kỳ mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định phương châm và định hướng lớn của hoạt động đối ngoại là “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại… Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(1). Thực hiện Lời dạy của Bác, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của đất nước, đưa quan hệ đã được xác lập vào thực chất hiệu quả của sự hợp tác cùng có lợi. Chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là Liên hợp quốc, ASEAN và APEC. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh như tham gia Hội nghị cấp cao An ninh châu Á - còn gọi là Đối thoại Shangri-la tại Singapore hằng năm… Triển khai đồng bộ hoạt động đối ngoại, cả về chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội. Không ngừng nâng cao chất lượng tham mưu về đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tăng cường công tác thông tin đối ngoại để quảng bá những thành tựu, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra bên ngoài và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước trong tình hình mới./.

Sưu tầm

Nghĩ về chữ đức, chữ tài của người cán bộ

Mỗi khi nói về cán bộ, bao giờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng coi trọng cả đức và tài, trong đó đức phải là gốc. Theo Người, cán bộ mà không có đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Đã hơn nửa thế kỷ, những lời căn dặn ấy ngày càng thấy thấm thía, nhất là trong xây dựng đội ngũ cán bộ hiện nay.

Sau khi cách mạng giành chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghĩ ngay đến việc tìm người tài đức để kiến thiết đất nước. Trên Báo Cứu quốc số ra ngày 20/11/1946, Người viết “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức”. Sau này, trong nhiều bài viết, hay những lần nói chuyện, Người cũng thường nói đến đức và tài của người cán bộ.

“CÓ TÀI KHÔNG CÓ ĐỨC, THAM Ô HỦ HÓA CÓ HẠI CHO NƯỚC"

Là người trọng dụng nhân tài, không phân biệt người từng làm việc dưới chế độ cũ, hay ngoài Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến chữ đức. Theo Người, muốn có đạo đức cách mạng thì phải có nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Tức là phải biết yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào; ngay thẳng không có tư tâm, không làm việc bậy; sáng suốt, biết xem người, xem việc, biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.

Cán bộ có đạo đức cách mạng còn phải là người dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm phải có gan sửa chữa; không tham địa vị, không tham tiền tài, không ham người tâng bốc mình, quang minh chính đại... Đó là đạo đức mới, chứ không phải thứ đạo đức thủ cựu.

Có đức thôi chưa đủ mà còn phải có tài; đức và tài hòa vào nhau, hỗ trợ nhau làm nên phẩm chất người cách mạng. Người cho rằng, công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.

Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, phải trọng nhân tài, trọng mỗi người có ích cho công việc chung; phải hiểu rõ cán bộ, cất nhắc cán bộ cho đúng, nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc. Phải khéo dùng cán bộ, tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ. “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ”.

Ở những cán bộ tốt, không thể thiếu hai phẩm chất là đức và tài. Trong dịp nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I, ngày 12/6/1956, Người căn dặn “Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”.

Có tài, tức là có năng lực trí tuệ mới có thể làm nên những việc lớn, việc khó để phụng sự Tổ quốc, nhưng tài phải đi liền với đức, nếu thiếu đức mà làm những việc bất chính thì hại cho đất nước vô cùng. Điều ấy hiển nhiên như một quy luật “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo”.

“ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG KHÔNG PHẢI TRÊN TRỜI SA XUỐNG”

Đạo đức cách mạng là phẩm chất cao quý đối với người cán bộ, không thể tự nhiên mà có. Trên Tạp chí Học tập, số tháng 12/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài viết Đạo đức cách mạng.

Trong đó, tác giả phân tích rất sâu việc người cách mạng phải thường xuyên rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, để chống lại chủ nghĩa cá nhân bởi nó “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”.

Theo Người, vì chưa gột sạch được chủ nghĩa cá nhân, nên có đảng viên kể công với Đảng, có ít nhiều thành tích thì đòi ưu đãi, đòi danh dự, địa vị, đòi hưởng thụ, nếu không thỏa mãn yêu cầu thì oán trách Đảng, cho rằng không có tiền đồ, “bị hy sinh”, rồi dần dần xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng,... Đó là những thứ trái ngược với đạo đức cách mạng mà người cán bộ không dễ gì lúc nào cũng thắng được.

Chính vì thế năm 1969, dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng, Người lại viết bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân đăng trên Báo Nhân Dân, có tính tổng kết thực tiễn, phát triển tư tưởng về đạo đức cách mạng. Người nhấn mạnh, do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành; mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ một cách toàn diện. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong hơn 35 năm đổi mới có sự đóng góp đáng kể của đội ngũ cán bộ các cấp. Song, công tác cán bộ hiện nay vẫn đang đặt ra nhiều lo ngại. Chưa bao giờ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được làm quyết liệt như những nhiệm kỳ gần đây.

Không ít cán bộ, kể cả cấp cao bị xử lý kỷ luật, thậm chí xử tù. Đáng nói là trong đó có nhiều cán bộ được đào tạo cơ bản, đã thử thách qua nhiều cương vị công tác, từng được tôn vinh vì có uy tín, có thành tích nổi trội. Một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến việc đau lòng đó là do chủ nghĩa cá nhân “nó khéo dỗ dành” làm cho con người ta không chiến thắng được chính mình, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Công bằng mà nói, chưa bao giờ chúng ta có đội ngũ cán bộ trưởng thành như hiện nay. Ở đây có điều cần nhìn sâu hơn, đó là cán bộ có chuyên môn được đào tạo bài bản, đã dày công rèn luyện, thì tài năng của họ không thể mai một. Nhưng, nếu người cán bộ tài năng mà thiếu rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức thường xuyên thì ngay cả khi đã có uy tín, có quyền lực thì vẫn dễ dàng bị nhiều thứ cám dỗ, khó giữ mình và chỉ một cái tặc lưỡi là lòng dạ “không còn trong sáng nữa”.

Thế là người ấy không chỉ đánh mất danh dự, nhân phẩm của chính mình, còn ảnh hưởng đến hình ảnh người cán bộ, làm giảm sút uy tín của Đảng. Trong số các vụ án mới xử vừa qua có thể kể tên hàng loạt các trường hợp cán bộ mắc sai phạm do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Tài và đức của người cán bộ đều phải khổ luyện mới có được, nhưng cái đức dễ bị lung lay trước hoàn cảnh cám dỗ. Để có cán bộ tài đức vẹn tròn là quá trình dày công dìu dắt của Đảng, nhưng muốn giữ được tài đức thì người cán bộ phải không ngừng tự rèn luyện.

Hơn bao giờ hết, mỗi người cán bộ phải nhớ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong".

Sưu tầm