Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023

Đừng để lòng dân ta thán vì sự tha hóa của “chủ nghĩa hậu duệ” trong bộ máy công quyền

“Con hơn cha là nhà có phúc” là mong muốn chính đáng, là khát vọng tốt đẹp của mỗi gia đình, mỗi ông bố bà mẹ. Một khi “con hơn cha”, thế hệ sau tiến bộ hơn thế hệ trước không chỉ là hồng phúc của mọi gia đình mà còn là đại phúc của cả dân tộc và toàn xã hội.

Thế nhưng mấy ngày gần đây, dư luận xã hội lại thêm một lần bức xúc vì có trường hợp thăng tiến “siêu nhanh”, bổ nhiệm “thần tốc” không phải vì tài năng, phẩm hạnh và mức độ đóng góp, cống hiến cho tổ chức, mà cái chính do là “hậu duệ” của một người nguyên là cán bộ lãnh đạo cao nhất tỉnh.

Vẫn cố tình “giẫm chân vào vết xe đổ”

Thông tin ông Nguyễn Công Thắng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bắc Ninh sử dụng bằng giả, có nhiều bằng cấp (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) và trong khoảng chục năm được thăng tiến “thần tốc” khiến dư luận thêm một lần nhức nhối về "lỗ hổng" trong quy trình công tác cán bộ. Nhức nhối bởi lẽ, người đứng đầu cơ quan kiểm tra tỉnh ủy có chức năng, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thì chính bản thân họ lại có hành vi mờ ám trong việc “làm đẹp” hồ sơ, trình độ học vấn của mình để “chui sâu, leo cao”.

Trong khi đó, bản thân người mắc vi phạm này là con trai của một người nguyên là cán bộ lãnh đạo cao nhất của tỉnh Bắc Ninh. Dư luận càng hoài nghi không hiểu vì sao một chức vụ quan trọng như vậy lại được trao “nhầm người” và đòi hỏi phải truy trách nhiệm đến cùng đối với các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc tham mưu, nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm trường hợp này. Không thể có chuyện dùng tấm bình phong “đúng quy trình” nhưng lại để “con voi lọt qua lỗ kim” như vậy!

Đáng buồn thay, đây không phải là trường hợp đầu tiên con em quan chức bị phanh phui vì có hành trình thăng tiến mờ ám và “lên nhanh như diều gặp gió”. Trước đó, hàng loạt “cậu ấm, cô chiêu” ở nhiều địa phương, bộ, ngành đã phải trả giá đắt bởi họ đi lên không phải bằng đôi chân của chính mình, mà được bố mẹ “cõng trên lưng” suốt chặng đường quan lộ như người dân ví von một cách chua chát.

Khoảng mấy năm trở lại đây, nhiều con quan chức đầu tỉnh, đầu ngành đã được “muôn dân biết mặt, cả nước biết tên” không phải bởi họ có tài năng xuất chúng, phẩm hạnh hơn người, mà bởi họ được “chở che, ưu ái” trong quá trình học tập, công tác và phát triển “thần tốc” khiến dư luận hết sức ngạc nhiên.

Đó là ông Lê Phước Hoài Bảo (con trai ông Lê Phước Thanh, khi đó là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam) được bổ nhiệm chức vụ Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư khi mới 30 tuổi; ông Đinh Văn Vũ, 34 tuổi (con trai ông Đinh Văn Thu, khi đó là Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam) được bổ nhiệm chức vụ Phó giám đốc Trung tâm Hành chính công và Xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng Nam. Ông Vũ Quang Hải, 28 tuổi (con trai ông Vũ Huy Hoàng, cựu Bộ trưởng Bộ Công Thương) đã được “bầu” làm Phó tổng giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị Tổng công ty Cổ phần Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco). Ông Nguyễn Nhân Chinh, Bí thư Tỉnh đoàn Bắc Ninh, 36 tuổi (con trai ông Nguyễn Nhân Chiến, khi đó là Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh) được chỉ định làm Bí thư Thành ủy Bắc Ninh...

Tất cả trường hợp được bổ nhiệm “thần tốc” nêu trên, người thì bị cách chức, người bị thu hồi quyết định, người bị hạ chức, người bị thuyên chuyển công tác. Hầu hết con em của các vị quan chức này đều có “quy trình” thăng tiến tương đối giống nhau, đó là thời gian đi học, đi đào tạo (kể cả ở nước ngoài) thì dài, trong khi thời gian công tác, tích lũy kinh nghiệm, mức độ đóng góp, cống hiến cho tổ chức chưa đáng là bao và nhất là tuổi đời, tuổi nghề còn non trẻ, nhưng lại liên tục được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong thời gian ngắn mà nhiều cán bộ, công chức cả đời mơ ước, phấn đấu “trầy vi tróc vảy” cũng khó đạt được!

Kiên quyết ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ

Trước hết, chúng ta phải công tâm khẳng định rằng, con em bất cứ ai cũng được quyền phấn đấu, thăng quan tiến chức. Thực tế cho thấy, phần lớn con em cán bộ lãnh đạo thường hơn con em người dân bình thường vì từ trong “mã gene” của họ đã ít nhiều có tố chất của các bậc phụ huynh; hơn thế, họ cũng được cha mẹ giáo dục, rèn luyện từ nhỏ và được tạo điều kiện học tập, đào tạo đến nơi đến chốn.

“Hổ phụ sinh hổ tử” với hàm ý cha mẹ tài năng cũng thường sinh ra con tài năng. Vì thế, không có lý do gì để chúng ta không khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho con em lãnh đạo chân tài thực đức có cơ hội phấn đấu, cống hiến và trưởng thành. Khi con em cán bộ lãnh đạo được thừa hưởng, phát huy những phẩm chất tốt đẹp, giá trị tích cực của cha anh mình không chỉ là sự nối tiếp thế hệ một cách lành mạnh, chính đáng mà còn góp phần vun đắp truyền thống một cách bền vững và xây dựng nền tảng chắc chắn cho tổ chức, cơ quan, đơn vị; rộng hơn là mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng, xã hội và đất nước.

Tuy nhiên, điều khiến dư luận băn khoăn, nhân dân bức xúc vì nhiều trường hợp con em cán bộ lãnh đạo được thăng tiến, bổ nhiệm “thần tốc”, tuy được “lót” bằng cái vỏ bọc “đúng quy trình” nhưng thực chất là tham nhũng quyền lực chính trị, cố tình tìm mọi cách để cho người nhà, người thân của mình được xếp đặt vào những vị trí dễ sinh lời, dễ “hái ra tiền”, dễ “vinh thân phì gia”. Danh đi liền với lợi. Vị trí càng quan trọng, càng “nhạy cảm” thì càng có điều kiện, cơ hội để vơ vét lợi ích, bổng lộc.

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng bổ nhiệm người nhà, người thân tràn lan không chỉ xuất phát từ tư tưởng phong kiến “con vua thì lại làm vua”, “cha truyền con nối” đã ăn sâu vào “đường gân thớ thịt” của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà nó còn là hệ quả tất yếu của tư duy “lợi ích nhóm”, “gia đình trị”, “dòng họ trị” của một bộ phận quan chức háo danh, vụ lợi, vì lợi ích hẹp hòi nên sẵn sàng chà đạp lên mọi nguyên tắc tổ chức, quy chế, quy định về quy trình nhân sự và công tác cán bộ.

Hậu quả ghê gớm hơn là khi đưa nhiều người nhà, người thân vào ê kíp lãnh đạo của mình sẽ tạo ra những cánh hẩu để cùng che chắn, bao bọc, dung túng vi phạm, khuyết điểm của nhau, từ đó làm mọt ruỗng văn hóa chính trị, đạo đức công vụ và hủy hoại nền tảng liêm chính, minh bạch của bộ máy công quyền, tác động rất tiêu cực đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Điều rất đáng suy ngẫm là trong thời kỳ kháng chiến giải phóng dân tộc trước đây, dù đối mặt với muôn vàn khó khăn, gian khổ nhưng tuyệt đại đa số lãnh đạo cao cấp của chúng ta rất gương mẫu, mực thước, động cơ trong sáng, hết lòng vì dân, vì nước; đồng thời luôn coi trọng trách nhiệm giáo dục, rèn luyện rất nghiêm khắc đối với con em mình.

Vì thế, nhiều con em lãnh đạo cao cấp vẫn tình nguyện nhập ngũ, hành quân vào chiến trường chiến đấu hay hăng say tham gia lao động ở các nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường như bao thanh niên, người dân cùng thế hệ. Không có thái độ đòi hỏi, không có tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ”, không có động cơ “cha truyền con nối” là một giá trị văn hóa chính trị cao đẹp, một giá trị đạo đức cách mạng sáng ngời của các bậc lãnh đạo tiền bối và nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta.

Cách đây hơn 11 năm, sau khi lắng nghe từ dư luận xã hội, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XI (tháng 2-2012), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đặt câu hỏi đầy trăn trở: “Trong công tác cán bộ thì “Thứ nhất là quan hệ, thứ nhì là tiền tệ, thứ ba là hậu duệ, thứ tư mới đến trí tuệ”. Nó là cái gì?”. Hơn hai năm sau, trong một bài viết đăng trên Báo Nhân Dân nhân dịp kỷ niệm 69 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9-2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã thẳng thắn nêu ra: “Chúng ta vẫn còn phải trăn trở, đau lòng khi nghe câu truyền miệng lâu nay trong nhân dân: “Nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ” trong công tác cán bộ”.

Không ngẫu nhiên mà các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta lại rất băn khoăn, trăn trở trước thực trạng “hậu duệ” như vậy. Bởi “chủ nghĩa hậu duệ” không những có thể làm tha hóa nhân cách của cả người được “trao quyền” và “nhận quyền” do động cơ không trong sáng, mục đích không lành mạnh mà nguy hại hơn, nó có thể biến quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước thành quyền lực của một gia đình, quyền lực một dòng họ. Đó chính là mầm mống khiến lòng dân ta thán và cũng là nguy cơ làm rạn nứt, thậm chí đổ vỡ niềm tin của nhân dân vào thể chế chính trị.

Cũng không phải ngẫu nhiên mà trong vòng 4 năm qua, Đảng ta đã ban hành hai quy định nhằm ngăn chặn tận gốc vấn nạn tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Đó là Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” và Quy định số 114-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 11-7-2023 “Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ”.

Việc nâng cấp chủ thể ban hành quy định cũng như xác định chính xác nội hàm của vấn đề cấp bách này cũng không ngoài mục đích nhận diện rõ hơn các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ mà còn làm cơ sở để xử lý nghiêm minh, kịp thời những trường hợp sai phạm.

Nhiều quy định của Đảng đã được ban hành; nhiều bài học xương máu trong công tác cán bộ ở nhiều bộ, ngành, địa phương đã được mổ xẻ, rút ra; vấn đề quan trọng nhất là ở chỗ mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn lấy đó làm tấm gương để tự soi, tự sửa, tự răn mình không bao giờ được phép cho “chủ nghĩa hậu duệ” lên ngôi, lộng hành. Bởi nếu quan chức nào còn sa chân vào vũng lầy này thì trước sau cũng sẽ bị kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước và sức mạnh dư luận xã hội trừng trị họ một cách thích đáng!

Sưu tầm

ĐẢNG MÃI LÀ ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG


Trên thế giới không có một chính đảng nào được nhân dân tự nhận là Đảng ta, trừ Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền và lãnh đạo Nhà nước, các tổ chức chính trị và toàn xã hội. Bởi lẽ, mục đích duy nhất và cao cả của Đảng là giành độc lập cho dân tộc và hạnh phúc cho Nhân dân.
Đảng ta ra đời ngày 3-2-1930 đã chấm dứt sự bế tắc, khủng hoảng kéo dài về đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam. Nhân dân ta phải sống cuộc đời lầm than, cơ cực, bị bóc lột tận xương tủy dưới chế độ thực dân, phong kiến. Dân tộc và nhân dân ta đang cần “Ngọn đuốc” soi đường, chỉ lối và dẫn dắt, để nhân dân vùng lên xóa bỏ ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành lại cơm no, áo ấm. Chính lúc này Bác Hồ, Đảng đã đưa ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin về với dân tộc Việt nam, kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân lao động để thành lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam. “Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đêm đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong”. Những đảng viên Đảng Cộng sản đã hy sinh cả bản thân và gia đình để giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài Trăng trối: “Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu/ Dấn thân vô là phải chịu tù đầy/ Là gươm kề tận cổ, súng kề tai/ Là thân sống chỉ coi còn một nửa”.
Đảng ra đời là kết quả từ sự cần thiết tất yếu khách quan của xã hội Việt Nam cuối những năm 20 đầu những năm 30 của thế kỷ XX. Chỉ sau 15 năm ra đời, Đảng đã lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân, phát triển rộng khắp trên cả ba miền: Bắc, Trung, Nam. Đặc biệt thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất”, làm nên kỳ tích trong lịch sử của dân tộc ta. Đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, đưa dân tộc Việt Nam sang một kỷ nguyên mới - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đưa “Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội”. Minh chứng là, ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Song Thực dân Pháp quyết tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Đảng đã tiếp tục lãnh đạo nhân dân trường kỳ kháng chiến, vượt qua khó khăn “Ngàn cân treo sợi tóc “để giành chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Nhà thư Tố Hữu đã viết: “Chín năm làm một Điện Biên/Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Đây là chiến thắng chói lọi nhất của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược (1945-1954); đập tan dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chúng phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc chiến tranh tại Đông Dương, mở ra thời kỳ mới cho cách mạng ba nước Việt Nam, Lào và Căm-pu-chia. Đó là thắng lợi vĩ đại không chỉ của nhân dân ta mà còn là thắng lợi chung của ba nước Đông Dương và các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Mỗi người dân Việt Nam, sâu thẳm trong trái tim mình đều biết ơn Đảng, Bác Hồ đã thay đổi cuộc đời họ từ người dân nô lệ trở thành người chủ đất nước, mang lại cho họ cơm no, áo ấm.
Giai đoạn 1954-1975, đất nước ta tạm chia cắt thành hai miền. Đảng ta tiếp tục lãnh đạo nhân dân xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng, tháng 9-1960, xác định: “Đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc ở miền Bắc, củng cố miền Bắc thành cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà”. Sự thật miền Bắc đã trở thành hậu phương lớn, vững chắc, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, với khẩu hiệu “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”… Miền Nam là tiền tuyến lớn, là Thành đồng của Tổ quốc, nhân dân tiếp tục chiến đấu anh dũng, chịu đựng gian khổ, hy sinh, song vẫn một lòng, một dạ, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ. Với tinh thần: Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Nhiều tấm gương anh hùng đã làm rung động triệu con tim không chỉ trong nước mà còn trên thế giới như: Anh hùng Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lý… Nhân dân miền Nam luôn hướng về trái tim miền Bắc, nơi có Đảng và Bác Hồ kính yêu, mong muốn cháy bỏng được đón Bác vào thăm sau ngày thống nhất. Đảng và Bác Hồ luôn tin tưởng và dõi theo những chiến công của đồng bào miền Nam. Bài thơ chúc Tết năm Kỷ Dậu 1969 cũng là bài thơ chúc Tết cuối cùng Bác dành cho đồng bào: “Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/ Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên chiến sỹ đồng bào/ Bắc Nam xum họp xuân nào vui hơn”. Đây vừa là tiếng gọi thiêng liêng của non sông, mệnh lệnh của trái tim, vừa là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Bác luôn dành tình cảm đặc biệt cho đồng bào miền Nam. Bác nói “Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”. Bác luôn mơ ngày thống nhất đất nước để vào thăm đồng bào miền Nam ruột thịt. “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà…”.
Khi Bác ra đi ngày 2-9-1969, nhân dân cả nước, từ già đến trẻ, từ miền ngược đến miền xuôi đều tuôn trào nước mắt, nhớ thương Bác không nguôi. “Người tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”. Đặc biệt, đồng bào miền Nam, đã bất chấp sự truy lùng, tra tấn của kẻ thù, nhân dân khắp nơi không chỉ tổ chức lễ tang Bác mà nhiều địa phương, nhiều gia đình còn lập bàn thờ, xây đền thờ để tưởng nhớ Người. Đồng bào dân tộc Pa Cô, Vân Kiều tại Quảng Bình còn xin được lấy họ Hồ của Bác (Hồ Chí Minh) cho cả dân tộc mình. Nghĩa cử này nói lên lòng tôn kính và biết ơn vô hạn của nhân dân cả nước đối với Đảng với Bác Hồ Kính yêu. Tại sao vậy? Bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng mác-xít chân chính, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đảng luôn đấu tranh vì độc lập dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân. Nhân dân, dân tộc Việt Nam tin tưởng, tự nguyện đi theo Đảng và trao quyền lãnh đạo cho Đảng. Chính điều này đã phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch trong và ngoài nước, cho Đảng ta là độc quyền lãnh đạo, không chịu chia sẻ quyền lãnh đạo cho các đảng phái khác, không vì Nhân dân.
Đại thắng mùa Xuân với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30-4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, non song thu về một mối. Đây là mốc son chói lọi, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và CNXH. Vị thế dân tộc ta được nâng cao trên trường quốc tế lại một lần nữa chứng minh rằng, chỉ có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam thì dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam mới giành được thắng lợi vĩ đại, là một nước nhỏ đã đánh thắng hai thực dân và đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, mở ra giai đoạn cả nước xây dựng một nước Việt Nam XHCN. “XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại…; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; …Có Nhà nước pháp quyền XHCN, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”. Một Việt Nam hội nhập, muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, độc lập dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi. “Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Nền kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và sẽ trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Với những thành tựu to lớn đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói: Chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đất nước ta thực sự đã sánh vai với các cường quốc năm châu, như Bác Hồ từng mong muốn. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 190 quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có quan hệ ổn định lâu dài, đối tác chiến lược và chiến lược toàn diện với 30 quốc gia. Tham gia nhiều các tổ chức khu vực và quốc tế: Liên hiệp quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF); Đại hội đồng Liên Nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AIPA)…
Cùng với phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, Đảng ta luôn coi trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, Chính phủ liêm chính, hành động. Bác Hồ từng nói: “Cán bộ là gốc của mọi công việc… Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Đảng cũng luôn xác định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Từ đó Đảng ra luôn quan tâm công tác xây dựng Đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Các kỳ đại hội Đảng toàn quốc đều dành một thời lượng nhất định nói về công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ. Các nhiệm kỳ, nhất là mấy nhiệm kỳ gần đây, Đảng ta đều ban hành các nghị quyết về công tác cán bộ, như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương Đảng (khóa VIII) về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh; Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; ba Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị... Tại Đại hội XIII của Đảng, trong Báo cáo chính trị, Đảng ta đã đề ra mục tiêu tổng quát là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN”.
Bên cạnh việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín. Đảng và Nhà nước luôn kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, lãng phí... Đảng đã thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từ Trung ương đến cấp tỉnh. Quốc hội ban hành Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Với phương châm phát hiện sớm, xử lý nghiêm minh, kịp thời, với bất kỳ ai, ở bất cứ cương vị nào, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Từ đó nhiều cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cao cấp đã bị xử lý kỷ luật hoặc truy tố trước pháp luật. Điều đó càng củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên những thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước luôn xuyên tạc những thành tựu của Đảng và Nhà nước ta, bôi nhọ, vu cáo chủ trương phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Họ rêu rao đây là sự đấu đá, thanh trừng nội bộ. Song sự thật, chân lý luôn được chứng minh và tỏa sáng trong thực tiễn cuộc sống. Đó là đông đảo nhân dân tin tưởng, hoan nghênh, ủng hộ và cùng tham gia phát hiện, tố giác; đó là các nước trên thế giới tin tưởng, công nhận và tôn trọng. Chính vì thế Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là ánh sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam; là niềm tin, là chỗ dựa vững chắc, là niềm tự hào của dân tộc ta, Nhân dân ta./.
Tạp chí Xây dựng Đảng

Phòng chống "Diễn biến hòa bình": Sao lại "chụp mũ” như thế?

Cuối tuần, tôi sang nhà chị gái ăn tối. Bữa cơm vừa xong thì Đức-con trai chị tôi-đi học thêm về. Cháu “nháy” tôi ra góc sân, nói nhỏ: “May có cậu sang chơi. Nhờ cậu nói với bố cháu cho cháu được đăng ký học ngành cảnh sát giao thông. Cháu rất thích mà bố cháu cứ phản đối”.

Biết con trai cầu cứu tôi nên vừa bước vào nhà, anh rể tôi đã “phủ đầu”:

- Nó lại nhờ cậu về chuyện đăng ký học cảnh sát giao thông chứ gì? Tôi không đồng ý đâu. Làm nghề đó khó được mọi người yêu quý.

- Dựa vào đâu mà anh nói như thế? Có phải từ việc anh bị xử lý vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe bữa trước?

- Đúng! Tuần trước, tôi qua nhà sếp ăn cơm, chỉ uống một, hai cốc bia. Trên đường về gặp tổ cảnh sát giao thông dừng xe kiểm tra nồng độ cồn, tôi trình bày là chỉ uống một chút và nhà cách đây chưa đầy cây số mà mấy cậu ấy không tha. Đã lập biên bản xử phạt lại còn lên giọng “giáo huấn” nữa. Không để đâu cho hết tức...

- Các chú công an xử lý như thế là đúng pháp luật. Nếu thông cảm cho anh thì các trường hợp khác sẽ như thế nào? Sẽ có trăm nghìn lý do để người vi phạm xin thông cảm. Pháp luật không nghiêm, không đi vào cuộc sống thì xã hội sẽ rối loạn. Đó là cái cớ để các thế lực thù địch, đối tượng bất mãn chống phá nước ta, quy chụp rằng pháp luật Việt Nam có cũng như không. Anh suy nghĩ thế thì sẽ là đối tượng để chúng dụ dỗ, lôi kéo, chia rẽ đoàn kết giữa công an với nhân dân đấy.

Nghe tôi phân tích, anh rể hiểu ra nhưng vẫn than thở:

- Trăm cái lý cũng phải có tý cái tình chứ! Có mỗi cốc bia mà phạt nặng quá. Mất gần 20 triệu đồng nộp phạt, lại còn bị thu giấy phép lái xe 16 tháng. Trên mạng cũng có ý kiến phản đối cảnh sát giao thông đấy.

- Em hiểu tâm trạng, hoàn cảnh của anh. Nhưng anh cũng phải hiểu trách nhiệm của lực lượng công an. Anh còn nhớ vụ tai nạn giao thông hồi đầu năm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng mà nguyên nhân là do tài xế uống rượu không? Khi ấy, chính anh bảo phải xử lý thật nghiêm đối tượng lái xe đó còn gì. May mà vừa rồi anh uống cốc bia, đi lại vẫn an toàn. Đây là bài học đắt giá để mình không tái phạm nữa. Từ nay, nhất định cả nhà ta “đã uống rượu, bia là không lái xe”.

Thấy tôi nói đúng nhưng anh rể vẫn vớt vát: 

- Nhưng anh vẫn không thích cháu Đức học cảnh sát giao thông...

- Cháu Đức có xu hướng nghề nghiệp sớm, lại có cái nhìn đúng đắn, toàn diện là điều đáng mừng. Anh phải tôn trọng, ủng hộ nguyện vọng chính đáng của cháu. Đằng này, từ chuyện đơn lẻ anh quay sang “chụp mũ” cho lực lượng cảnh sát giao thông, thậm chí cả ngành công an. Cán bộ, đảng viên như thế là bị mắc âm mưu "diễn biến hòa bình", dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đấy anh ạ! Thôi em phải về giải quyết công việc, mai anh em mình nói chuyện tiếp. 

Tôi định bụng hôm sau sẽ qua nhà nói chuyện, phân tích thêm với anh rể. Nhưng vừa về đến nhà thì cháu Đức đã gọi điện, giọng vui mừng: “Cậu ơi, bố cháu đồng ý cho cháu đăng ký học cảnh sát giao thông rồi ạ. Cháu cảm ơn cậu nhiều nhé!”. 

Nghe cháu báo tin, lòng tôi lâng lâng niềm vui vì anh rể tôi đã hiểu...

Sưu tầm

NHÂN RỘNG NHỮNG TẤM GƯƠNG ĐIỂN HÌNH HỌC THEO BÁC

 

Ngày 15/5/2016, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Qua thực tiễn triển khai cho thấy phong trào này có ý nghĩa rất lớn trong việc thay đổi nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên; đồng thời giúp cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng ăn sâu vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch không ngừng tung ra những luận điệu phủ nhận giá trị, ý nghĩa của phong trào, chúng ta cần phải tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.
Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không chỉ đưa ra các luận điệu xuyên tạc thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn phủ nhận phong trào “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Các luận điệu xuyên tạc, chống phá tập trung trên những bình diện chính sau:
Một là, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh là sự “bắt chước”, “sao chép” chủ nghĩa Mác-Lênin, do đó khi áp dụng vào Việt Nam chỉ là sự “khiên cưỡng”, “gán ghép” nên việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hoàn toàn mang tính hình thức theo kiểu “hô hào khẩu hiệu”.
Hai là, dù thừa nhận tư tưởng Hồ Chí Minh là “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng các thế lực thù địch cho rằng, hiện nay thực tiễn đã thay đổi nên tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, không còn phù hợp. Từ đó các đối tượng cho rằng, việc Bộ Chính trị đề ra Chỉ thị 05-CT/TW là sai lầm, sẽ không có kết quả.
Ba là, các phần tử chống phá cố tình bóp méo, đánh đồng hai khái niệm “học tập” và “bắt chước”, từ đó dẫn dắt vấn đề theo hướng muốn học tập Hồ Chí Minh thì phải “bắt chước” giống Người, từ hình thức ăn mặc đến lời nói, việc làm, lối sống. Từ đó chúng xuyên tạc việc học tập, làm theo tấm gương Hồ Chí Minh bản chất là xóa nhòa sự khác biệt giữa mọi người, mục đích của phong trào là hình thành một thế hệ làm theo một hình mẫu do người khác định hướng, không được tự do khám phá và thể hiện khả năng bản thân. Lợi dụng sai phạm, khuyết điểm của một số cá nhân, tổ chức, các đối tượng lập tức vin vào đó để cáo buộc, vu khống rằng càng thi đua học tập theo gương Hồ Chí Minh, càng lộ nhiều quan chức tham nhũng và những hạn chế của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam…
Những luận điệu trên lộ rõ ý đồ xuyên tạc tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, “hạ bệ thần tượng”, từ đó phủ nhận giá trị, ý nghĩa tích cực của cuộc vận động “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động. Sâu xa hơn, mục đích thật sự của các thế lực thù địch là kích động tư tưởng chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ, chia rẽ mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình cho thấy chúng ta không thể xem thường âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và cần nâng cao cảnh giác, có biện pháp đấu tranh, phòng ngừa hiệu quả.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại. Trọn cả cuộc đời, Người dâng hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Do đó, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết, là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thường xuyên, không thể thiếu đối với toàn Đảng, toàn dân ta; giúp cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên luôn biết “tự soi”, “tự sửa”, “nêu gương”, “dám nghĩ”, “dám làm”, “dám chịu trách nhiệm”.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích khả năng độc lập tư duy, sáng tạo và khám phá, Người luôn đề cao sự tự học, tự nghiên cứu và học hỏi, khuyến khích mọi người phát triển trí tuệ và tư duy sáng tạo của mình. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ được cả dân tộc Việt Nam tôn vinh mà còn được đông đảo bạn bè trên khắp thế giới ghi nhận và đánh giá cao.
Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới, ông Romesh Chandra đánh giá: “Bất cứ nơi nào nhân dân chiến đấu cho độc lập và tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ của Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu nhân dân chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ của Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ của Hồ Chí Minh bay cao”. Điều đó phần nào khẳng định giá trị, ý nghĩa không thể phủ nhận của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Thời gian qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả. Cuộc vận động đã trở thành phong trào ý nghĩa, được triển khai sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị. Từ bắc đến nam, từ đồng bằng đến miền núi, hải đảo xa xôi, đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình “học Bác”, “noi gương Bác”; sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, góp sức cho sự phát triển đất nước. Không chỉ có cán bộ, đảng viên noi gương mà đông đảo quần chúng nhân dân thuộc mọi giai tầng xã hội cũng ra sức học tập theo tấm gương đạo đức, phong cách của Bác.
Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc đánh giá tình hình thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Kết luận số 01) ngày 12/6/2023 cho thấy: tính đến tháng 4 năm 2023, trên cả nước có 25.525 mô hình khác nhau trong học tập và làm theo Bác. Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương mở các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng với nhiều chủ đề sâu sắc như: “Tự soi, tự sửa”, “Danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất”; tăng cường kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, siết chặt kỷ luật, kỷ cương nội vụ. Qua đó, nâng cao ý thức tự giác, trách nhiệm trong mỗi lời nói, việc làm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền đã đạt được những kết quả rõ nét.
Cũng từ phong trào ý nghĩa này đã xuất hiện những tấm gương bình dị mà cao quý trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Như câu chuyện của một cán bộ hưu trí tuy đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn không một ngày ngơi nghỉ với công tác khuyến học, khuyến tài, vận động nhân dân xây dựng “dòng họ học tập”, “tổ dân phố học tập”. Đó là những thầy cô giáo tuổi đời còn rất trẻ nhưng không quản ngại khó khăn gian khổ, dũng cảm vượt núi, băng rừng, đưa học trò tới trường, ngoài việc dạy chữ còn chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ cho các em. Đó là những y bác sĩ sẵn sàng từ bỏ cuộc sống phồn hoa đô thị để về các thôn bản khó khăn ở vùng sâu, vùng xa chăm sóc sức khỏe cho bà con nhân dân, mang đến nụ cười cho những trẻ em khuyết tật. Đó là những cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng luôn vượt mọi hiểm nguy để có mặt kịp thời hỗ trợ đồng bào mỗi khi gặp bão lũ, thiên tai...
Những tấm gương điển hình trong học tập và làm theo Bác đã truyền cảm hứng rất lớn trong cộng đồng, để từ đó tiếp tục nhân lên những phong trào, cá nhân tiên tiến, điển hình, có những việc làm ý nghĩa cho xã hội. Điều đó chứng tỏ phong trào học tập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã ngày càng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng, tác động tích cực đến hành vi của mọi tầng lớp nhân dân; khơi dậy và tạo động lực cho mọi giai tầng trong xã hội phát huy được năng lực, ý chí, bản lĩnh của mình và đóng góp ngày càng nhiều cho sự phát triển của đất nước. Mỗi tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến đó là “những bông hoa đẹp”, đang từng ngày, từng giờ vun góp, tạo ra “rừng hoa đẹp” cho đất nước.
Những kết quả đã đạt được thời gian qua cho thấy cuộc vận động “Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã tạo nên những dấu ấn nổi bật cả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, lan tỏa, tổ chức thực hiện… Những kết quả tích cực này đã góp phần đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần tạo ra những đột phá trong việc phát triển kinh tế-xã hội.
Thời gian tới, để cuộc vận động ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, có hiệu quả hơn, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng, chính quyền và các cơ quan, đơn vị cần phát huy những kết quả đã đạt được trong giai đoạn vừa qua, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu, không ngừng nhân lên những điều tốt đẹp, tiếp tục lan tỏa và góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thấm sâu, phát huy giá trị và thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống xã hội.

Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của V.I.Lê-nin về công tác xây dựng Đảng nói chung và về công tác kiểm tra, kiểm soát, kỷ luật đảng nói riêng. Lý luận về kiểm tra, kỷ luật đảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, được Đảng ta vận dụng có hiệu quả trong suốt quá trình cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo vấn đề kiểm tra, kỷ luật trong công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Người chỉ rõ: “Khi có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. Trong quá trình cách mạng, Đảng động viên toàn bộ lực lượng, thông qua tổ chức, thực hiện đường lối, chủ trương mà Đảng đã đề ra.

Trong công tác kiểm tra thì chủ yếu là kiểm tra cán bộ thực hiện Điều lệ Đảng và nghị quyết của Đảng. Hồ Chí Minh cho rằng: “Mục đích lựa chọn cán bộ là dùng nhân tài cần phải hợp lý, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn”, và cho họ hiểu rõ mọi mặt các công việc họ phải phụ trách. Mà muốn biết sự động viên và thực hành ấy đã đến mức nào, thì phải có kiểm tra”.

Hồ Chí Minh cho rằng, nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như chúng ta đã có ngọn đèn pha, bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm, khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng, chín phần mười khuyết điểm trong công việc chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra. Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười, gấp trăm.

Kiểm tra bao giờ cũng đi liền với kỷ luật trong Đảng. Hồ Chí Minh coi: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ, đảng viên”. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Kỷ luật của Đảng là “kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác” Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên càng có công thì càng phải khiêm tốn, không được “tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật”. Người yêu cầu đảng viên chẳng những phải giữ gìn kỷ luật của Đảng mà còn “phải giữ gìn kỷ luật của chính quyền, của cơ quan, đoàn thể cách mạng, của nhân dân”; họ “tưởng là đảng viên thì muốn làm trời làm đất thì làm”. Các đảng viên, cán bộ đó “không biết kỷ luật của chính quyền, của đoàn thể, nhân dân và Đảng cũng là một”.

Theo Hồ Chí Minh, đối với mọi đảng viên cộng sản, khi nào và ở đâu cũng phải chịu sự phân công, quản lý của tổ chức đảng, phải hành động theo phạm vi kỷ luật của tổ chức, phải báo cáo, phải chấp hành nghị quyết, chỉ thị một cách nghiêm túc, đúng đắn, sáng tạo.

Hồ Chí Minh yêu cầu những đảng viên giữ vị trí càng cao, trách nhiệm càng lớn, càng phải gương mẫu và nếu mắc sai phạm càng phải chịu kỷ luật nghiêm khắc, không được châm chước, bao che cho nhau. Trong bất kỳ trường hợp nào, Hồ Chí Minh cũng đòi hỏi mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và bình đẳng về mặt công dân trước pháp luật. Củng cố và tăng cường kỷ luật đảng là nhiệm vụ thường xuyên của mọi đảng viên và mọi tổ chức đảng. Tăng cường kỷ luật đảng không phải là để kỷ luật cho nhiều đảng viên, mà chủ yếu là để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh đã để lại bản Di chúc lịch sử và dành những lời đầu tiên cho Đảng: “Trước hết nói về Đảng... Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Theo Người, tự phê bình và phê bình là phản ánh trung thực tinh thần dân chủ và sức chiến đấu của Đảng. Bởi vì: “...một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chân chính”.

Hồ Chí Minh yêu cầu các cấp lãnh đạo phải biết nghe, dám nghe và khuyến khích được nghe các ý kiến khác nhau, kể cả ý kiến khác với suy nghĩ lâu nay của mình. Người nhắc lãnh đạo các cấp phải: “Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến... Nếu cán bộ không nói năng, không đề ra ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì để nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức không dám nói ra, do uất ức mà hoá ra oán ghét, chán nản”.

Hồ Chí Minh khẳng định mọi đảng viên có quyền trình bày ý kiến riêng của mình, đề đạt kiến nghị, tham gia giải quyết vấn đề. Song khi đã có nghị quyết của tập thể thì phải làm theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, nói và làm theo nghị quyết của Đảng. Đó là quyền tự do phục tùng chân lý.

Hồ Chí Minh cho rằng, thực tiễn cách mạng luôn vận động và phát triển. Đảng ở trong xã hội và cùng xã hội phát triển. Tuy nhiên, mỗi khi gặp tình hình mới, công tác mới... tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên không khỏi bỡ ngỡ, lệch lạc, hoặc “tả”, hoặc “hữu’, đó là điều bình thường, cho nên thống nhất ý chí, thống nhất kỷ luật, tập trung lãnh đạo là việc cực kỳ cần thiết và cực kỳ quan trọng. Người thường chỉ dạy: “Nhiệm vụ của Đảng ta là một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác. Để làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho Đảng, toàn thể cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Trung ương, phải tuyệt đối chấp hành nghiêm túc mọi chính sách và nghị quyết của Đảng”.

Suốt chặng đường cách mạng của Đảng, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng thể hiện chủ yếu trên ba mặt sau:

Một là, trong Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định của Đảng;

Hai là, trong hoạt động thực tiễn của Đảng nói chung và của ủy ban kiểm tra, đội ngũ cán bộ kiểm tra nói riêng;

Ba là, trong việc tổng kết, đánh giá công tác xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng hằng năm và các nhiệm kỳ.

Những năm qua, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế, yếu kém, bất cập. Khảo sát, nghiên cứu cho thấy, một số cấp uỷ, tố chức đảng, UBKT các cấp chưa nhận thức đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác này nên chưa tổ chức thực hiện có hiệu quả trong hoạt động kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của cấp mình. Có nơi, có lúc nhận thức được thì việc vận dụng còn máy móc, giáo điều, chủ quan, duy ý chí, dẫn đến có hành động nóng vội, giản đơn, chạy theo thành tích.

Một số cấp uỷ và người đứng đầu cấp uỷ học tập và làm theo quan điểm: “Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra, mới đủ kinh nghiệm và oai tín” của Hồ Chí Minh còn yếu, dẫn đến nhận thức về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng chưa đầy đủ nên chưa quan tâm đúng mức, đúng tầm đến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, thậm chí còn cản trở việc kiểm tra hoặc không chịu trách nhiệm khi kiểm tra. Bên cạnh đó, việc xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh mới, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.

Thực tiễn cho thấy, việc nhận thức, quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kiểm soát, kỷ luật đảng có thể rút ra ba kinh nghiệm quý báu là:

Thứ nhất, phải có trình độ nhận thức lý luận và năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn;

Thứ hai, phải có phương pháp đúng đắn, sáng tạo khi làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh;

Thứ ba, phải đề cao trách nhiệm cá nhân và tổ chức, nhất là trách nhiệm của cấp uỷ và người đứng đầu. Có bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm. Có ý thức chính trị và đạo đức trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng là ý thức xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân.

Có thể khái quát về việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng hiện nay là:

Xuất phát từ thực tế của Đảng, của đất nước và quốc tế ngày nay để chủ động học tập, nhận thức lại, bổ sung, phát triển và thực hành một cách sáng tạo “tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình” và những chân lý phổ biến của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, kỷ luật đảng nhằm tổng kết thực tiễn và tiếp tục xây dựng lý luận công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong bối cảnh mới.

Theo đó, có thể tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:

Một là, các cấp uỷ, tổ chức đảng và UBKT các cấp cần nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng nhằm nắm vững và hiểu được những nội dung cốt lõi và phương pháp luận cơ bản. Trong đó, cần chú ý:

- Nắm tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng là nắm lập trường, quan điểm, phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng.

- Hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng không phải là giáo điều, “kinh viện”, nhớ thật nhiều sách, thuộc nhiều câu của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng để trích dẫn “loè thiên hạ”, mà dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề của thực tiễn đang đặt ra đối với công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng trong bối cảnh mới hiện nay. Lập trường của Hồ Chí Minh là lập trường cách mạng triệt để, là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Quan điểm của Hồ Chí Minh là quan điểm khoa học, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện quy luật và làm theo quy luật. Phương pháp của Hồ Chí Minh là phương pháp biện chứng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống những tư tưởng khoa học, cách mạng làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, trong đó có công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Đó không phải là những công thức, khuôn mẫu bất di, bất dịch, giáo điều, trong quá trình nghiên cứu, học tập, vận dụng, phát triển cần đặc biệt quan tâm, chú ý làm rõ một số vấn đề sau:

a) Những luận điểm nào của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng trước kia đã đúng, bây giờ vẫn đúng và về lâu dài sau này vẫn đúng.

b) Những luận điểm nào của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng trước kia đúng, nhưng điều kiện thực tiễn hiện nay đã thay đổi, không còn phù hợp, cần bổ sung, phát triển hoặc thay đổi.

c) Những luận điểm nào của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng mà ngay lúc sinh thời, Hồ Chí Minh đã nhận thấy không thuyết phục, không có tính khả thi, hoặc đã thừa nhận là sai và đã sửa đổi nhưng những người nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền, học tập, cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn vẫn chưa biết đến, biết hết.

d) Những luận điểm nào của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng mà những người nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền, học tập, cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn đã hiểu không đầy đủ, hoặc hiểu sai, hoặc hiểu theo cách hiểu không đúng.

Đó thực sự là những vấn đề lớn, không thể nóng vội làm ngay, cần dày công, kiên trì, quyết tâm nghiên cứu mới dần dần sáng tỏ được; đồng thời phải từ thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước mới có thể đi đến những kết luận đúng đắn được.

Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp học tập và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng tăng tính cập nhật, tính thiết thực, tính hấp dẫn, tính chiến đấu, tính giáo dục, tính dẫn đường của lý luận, không bằng lòng với những kết luận có sẵn, không lặp lại đi, lặp lại những câu chữ, những mệnh đề của tư tưởng Hồ Chí Minh khi chưa hiểu thấu đáo quan điểm của Người, chống quy kết, chụp mũ, giáo điều, xét lại.

Ba là, các ban của cấp uỷ, UBKT các cấp phải nêu cao vai trò tham mưu, giúp cấp uỷ trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức vận dụng đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng vào hoạt động kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của cấp mình.

Bốn là, chủ thể và đối tượng kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng cần quán triệt sâu sắc, vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Năm là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Sáu là, xây dựng tổ chức bộ máy kiểm tra và đội ngũ cán bộ kiểm tra theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong bối cảnh mới hiện nay.

Bảy là, tăng cường và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận và tống kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Mở rộng và tăng cường đối thoại với các đảng cầm quyền ở các nước về công tác kiểm tra, giám sát. Phải bồi dưỡng cho được một đội ngũ cán bộ lý luận chính trị chuyên sâu, có trình độ cao, ngang tầm nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới để giúp Đảng trong việc xây dựng lý thuyết về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong bối cảnh mới.

Sưu tầm

BÀI HỌC VƯỢT LÊN CÁM DỖ ĐỜI THƯỜNG


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng lưu ý, trong công cuộc chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đòi hỏi mọi đảng viên đều phải tự soi, tự sửa chứ không phải chỉ đứng ngoài mà phán hoặc “chờ xem”, coi như mình vô can. Các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nổi cộm gần đây là bài học cảnh tỉnh sâu sắc với mọi cán bộ, đảng viên.
Cách đây 76 năm, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10/1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”. Người chỉ rõ biểu hiện những căn bệnh cụ thể: Bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ...
Trong đó, về bệnh tham lam, Bác phân tích: “Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư tự lợi”, dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí, làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình”... Ngẫm những lời răn dạy của Bác đến hôm nay, trong cơ chế thị trường, hội nhập sâu rộng vẫn vẹn nguyên giá trị.
Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện kết luận và quy định của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là người đứng đầu, người chủ trì phải gương mẫu, tự giác làm trước. Căn cứ vào nghị quyết, kết luận và quy định lần này, cần nghiêm túc tự phê bình, kiểm điểm, tự soi lại mình, đơn vị mình, gia đình mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình. Mọi đảng viên đều phải làm như vậy, chứ không phải chỉ đứng ngoài mà phán hoặc “chờ xem”, coi như mình vô can.
Tổng Bí thư chỉ rõ, việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình cần được chuẩn bị thật chu đáo, chỉ đạo tỉ mỉ, chặt chẽ; tiến hành nghiêm túc, thận trọng; làm đến đâu chắc đến đó, đạt kết quả cụ thể, thực chất. Hết sức tránh làm lướt, làm qua loa, hình thức, chiếu lệ. Khắc phục tình trạng xuê xoa, nể nang, thậm chí biến cuộc họp tự phê bình và phê bình thành nơi vuốt ve, ca tụng lẫn nhau; đồng thời cũng ngăn chặn, tránh tình trạng lợi dụng dịp này để đấu đá, hạ bệ nhau với những động cơ không trong sáng. Nghiêm khắc xử lý những trường hợp trù dập phê bình và vu cáo người khác...
Nhìn lại những vụ án lớn gần đây, khi bị can, bị cáo vốn trước đó giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước, dư luận thường có nhiều góc nhìn. Thứ nhất là hành vi phạm tội, dư luận quan tâm số tiền, thủ đoạn mà những bị can, bị cáo này đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tư túi, tham nhũng, trục lợi. Thứ hai là thái độ, lối sống, người đó thuộc típ quan liêu, hách dịch, xa rời dân chúng, bòn rút, vơ vét tiền của để phục vụ thói ăn chơi sa đọa hay chỉ là những vi phạm nhất thời, phạm tội do hoàn cảnh “không giữ được mình”, sai phạm về hành vi chứ không sa ngã về đạo đức, tư cách. Thứ ba là thái độ của người dân đối với bị can, bị cáo, họ có thực tâm ăn năn, hối cải, xa xót về những năm tháng mình đã trót để chủ nghĩa cá nhân biến thành “vi rút độc hại”?
Chiều 18/4/2023, phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Quang Tuấn (cựu Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội, còn gọi Tuấn “Tim”) và 11 đồng phạm về tội “Vi phạm quy định về đầu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” kết thúc phần tranh luận. Được nói lời sau cùng, bị cáo Nguyễn Quang Tuấn gửi lời xin lỗi và bày tỏ: “Ngay khi xảy ra sai phạm tại Bệnh viện Tim Hà Nội, bị cáo đã cảm thấy rất ăn năn. Hành vi của bị cáo đã làm tổn thương họ, làm ảnh hưởng đến uy tín của hai bệnh viện”. Nói về bản thân mình, ông Tuấn kể vốn thi đỗ Đại học Y Hà Nội và đủ tiêu chuẩn đi học ở nước ngoài nhưng ông đã lựa chọn đi bộ đội. Sau đó được đào tạo y học và vào ngành tim mạch. Quá trình công tác, ông được cử đi Mỹ, Pháp và một số nước trong khu vực, tiếp thu những kỹ thuật can thiệp tim mạch tiên tiến để chuyển giao công nghệ hiện đại về Việt Nam phục vụ chữa bệnh...
Theo dõi vụ án cho thấy, khác với nhiều bị cáo khác trước tòa, ông Tuấn “Tim” nhận được sự cảm thông, chia sẻ lớn từ dư luận xã hội. Họ bày tỏ sự tiếc nuối khi một người bác sĩ tài năng, người thầy trong nghề y, làm nhiều việc thiện nay phải nhận bản án chấp hành hình phạt tù. Nhưng, cũng nhiều ý kiến khẳng định, tòa tuyên mức án chỉ 3 năm tù đã là rất nhân văn, đã cộng nhiều tình tiết giảm nhẹ và bác sĩ Tuấn cũng như những bác sĩ khác cần phải lấy đó làm bài học cảnh tỉnh: Tài năng càng lớn, danh dự càng cao, càng phải tuân thủ luật pháp, không để các lợi ích vật chất thao túng.
Chiều cuối tháng 6, Hội đồng xét xử Tòa án Quân sự Thủ đô đã cho bị cáo - cựu Trung tướng, Tư lệnh Cảnh sát biển Nguyễn Văn Sơn được nói lời sau cùng. Đứng trước bục khai báo, ông Sơn thừa nhận tội danh với vai trò chủ mưu, nguyên do “trong phút không giữ được mình mà mắc sai lầm”. “Bị cáo thấy có lỗi với nhân dân, với quê hương và dòng họ. Sai phạm của bị cáo làm mất rất nhiều thời gian của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời liên lụy tới người khác. Dù tòa chưa tuyên nhưng tòa án lương tâm đã tuyên, bản thân bị cáo sẽ không bao giờ tha thứ cho sai lầm này” - cựu Tư lệnh Nguyễn Văn Sơn nói và cho biết, bản thân đã có thời gian 40 năm phục vụ trong quân ngũ, hiện mang nhiều bệnh, mong tòa xem xét giảm nhẹ để sớm trở về với gia đình, cộng đồng.
Cựu Chính ủy Cảnh sát biển Hoàng Văn Đồng thì chia sẻ, bản thân “ân hận vô cùng vì đã cống hiến 42 năm công tác, nay sắp về hưu thì phạm pháp, bị xử lý hình sự. Bị cáo cảm thấy đau lòng vì lỗi lầm gây ra và mong hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình, xã hội”. Cựu Phó Tư lệnh Cảnh sát biển Bùi Trung Dũng cũng bày tỏ sự xót xa, ân hận khi đã có hơn 44 năm quân ngũ, là thế hệ thứ hai trong gia đình phục vụ trong quân đội, con trai bị cáo là thế hệ thứ ba nhưng khi cha bị bắt đã xin ra khỏi ngành. “Tổn thất với gia đình, dòng họ từ vụ án rất lớn. Bị cáo mong hội đồng xét xử vận dụng các chính sách pháp luật để cho mình được hưởng lượng khoan hồng”...
Bình luận trên các diễn đàn, mạng xã hội, có người cho rằng, đã dám làm thì dám chịu, đã sai phạm nghiêm trọng, tư túi số tiền lớn như vậy của Nhà nước thì các bị cáo phải chịu trách nhiệm, nhận án phạt nghiêm khắc của luật pháp chứ không thể biện minh. Nhưng, cũng nhiều ý kiến bày tỏ cảm thông, chia sẻ với hoàn cảnh bị cáo, ghi nhận những cống hiến, đóng góp của các bị cáo vốn là lãnh đạo trong ngành Cảnh sát biển, song chỉ vì không làm chủ được “đạn bọc đường” mà sa ngã, vừa đánh mất bản thân, vừa làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành. Từ đó cần rút ra bài học cảnh tỉnh, phòng ngừa chung.
Pháp luật tố tụng hình sự quy định bị cáo được nói lời sau cùng trước tòa, sau khi kết thúc tranh luận. Ngẫm sâu hơn, đằng sau mỗi vụ án, đằng sau hành vi phạm tội và sự trừng phạt của luật pháp, đó là ý nghĩa cảnh tỉnh, thức tỉnh sâu xa, lời của một người mà có ý nghĩa thức tỉnh muôn người, thức tỉnh cho những ai đang đi trên con đường ấy, ngồi trên danh vọng và quyền lực, hãy biết tu chỉnh để ngẫm, để nghĩ chính bản thân mình, đừng phạm vào “lối ngược đường” như bị cáo đã phạm phải.
Khi phải nói đến bệnh tật, nói đến tình cảnh bố mẹ già, con thơ, nói đến quê hương và dòng họ, đến mong muốn “neo đậu bến quê”, ấy là lúc con người ta đã trở về với bản ngã của mình - lúc sa cơ ngã ngựa, chính đó là chốn con người ta cần quay về và tìm đến như một lẽ tự nhiên, như lúc còn thơ đói lòng ngả vào vòng tay của mẹ. Bởi thế, từ những vụ án nổi cộm gần đây, từ “công cuộc củi lửa” với những bản án nghiêm minh, thấu tình đạt lý, từ lời hối lỗi của bị cáo trước tòa, chúng ta đúc rút những bài học cảnh tỉnh, biết trọng danh dự, làm theo lẽ phải, vượt lên những cám dỗ đời thường.../.