Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023
TRÁNH TƯ TƯỞNG "CUA CẬY CÀNG, CÁ CẬY VÂY"
Bảo vệ chính trị nội bộ làm cho các tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh
Bảo
vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, góp
phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ. Trong suốt 93 năm qua,
Đảng ta đã rất chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, coi đây là nhiệm vụ
quan trọng có tính chiến lược lâu dài.
Công tác bảo vệ chính trị nội
bộ được hiểu là các hoạt động nhằm bảo vệ lý tưởng, nền tảng tư tưởng, vị thế,
uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vững sự trong sạch của các tổ chức đảng
và đội ngũ cán bộ, đảng viên, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng,
củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ; đồng thời ngăn ngừa, phát
hiện, đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch,
phản động, phần tử cơ hội...
Thực
tế cho thấy trong những năm qua, các thế lực thù địch đã không ngừng tìm mọi âm
mưu, thủ đoạn hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò
lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, trong đó chúng tăng cường xuyên
tạc bản chất của công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng ta. Điều này đã ảnh
hưởng không nhỏ tới tâm tư, lý tưởng, niềm tin của nhân dân với Đảng, với đội
ngũ cán bộ, đến trật tự an ninh xã hội và lâu dài là sự tồn vong của chế độ.
Các
thế lực thù địch xuyên tạc rằng công tác bảo vệ chính trị nội bộ là để duy trì
vai trò độc tôn của Đảng, duy trì địa vị và quyền lợi của một bộ phận đội ngũ
cán bộ lãnh đạo quản lý và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, chứ không phải là
vì lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân. Các đối tượng chống phá cố tình không
hiểu Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời
là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
Công
tác bảo vệ chính trị nội bộ không chỉ đơn thuần là công tác để bảo vệ Đảng mà
còn là để làm trong sạch Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, loại
trừ các yếu tố tiêu cực nảy sinh trong nội bộ đảng làm cản trở sự phát triển
của đảng, góp phần làm cho các tổ chức đảng ngày càng trở nên trong sạch, vững
mạnh.
Với
bản chất của chế độ và nhà nước xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì việc bảo vệ Đảng,
làm cho Đảng trở nên trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò lãnh đạo cách
mạng cũng chính là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì lợi ích của nhân dân.
Song
không chỉ dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn cố tình suy diễn cho rằng, sở
dĩ Đảng ta phải tiến hành công tác bảo vệ chính trị nội bộ là để “ngụy trang”,
“che đậy” cho những “phức tạp không nhỏ” diễn ra trong nội bộ như: sự mất đoàn
kết; sự tranh giành địa vị, phe nhóm, bè phái; sự suy thoái về lý tưởng, niềm
tin, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ; hay tình trạng
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,... đang ngày càng tăng lên trong nội bộ Đảng.
Đáng
buồn là những luận điệu sai trái này không chỉ được tuyên truyền bởi các thế
lực chống phá, phản động mà còn được sự tiếp tay của một số cá nhân, trong đó
có cả những người từng có uy tín, công lao nhất định với đất nước, nhưng do bị
suy thoái về tư tưởng, sai lầm về nhận thức nên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trở nên bất mãn, thù hằn chế độ, gây tác động xấu đến dư luận xã hội. Hiện
tượng này cần phải được nhận diện, thông tin kịp thời giúp người dân hiểu rõ,
không để các đối tượng xấu lôi kéo, dụ dỗ, hoặc tin nghe theo những luận điệu
sai trái, thù địch.
Có
thể thấy rằng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ thì vấn đề về cán bộ và
công tác cán bộ hiện đang bị các thế lực thù địch lợi dụng khai thác triệt để.
Một mặt, chúng lợi dụng những yếu kém, hạn chế, sai lầm của một bộ phận cán bộ
dẫn đến tình trạng tham ô, tham nhũng, lãng phí, thất thoát tài sản công, quản
lý kém hiệu quả… trong thời gian qua để tuyên truyền, xuyên tạc hòng khoét sâu
thêm những bức xúc của nhân dân.
Mặt
khác, khi Đảng ta tiến hành công cuộc phòng chống tham nhũng một cách quyết
liệt, với quan điểm “không có vùng cấm” trong xử lý vi phạm của đội ngũ cán bộ
với hàng loạt các vụ đại án từ trung ương đến địa phương, từ các bộ, ban, ngành
đến các doanh nghiệp tư nhân,... thì chúng lại bóp méo, xuyên tạc rằng đó thực
chất là việc “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ”, là “các phe cánh triệt
tiêu nhau”. Việc quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ cũng bị chúng bóp méo cho rằng đó
chỉ là hình thức, nhằm phục vụ “lợi ích nhóm”...
Thẳng
thắn nhìn nhận thì trong nội bộ Đảng hiện có tình trạng một bộ phận cán bộ,
đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” nhưng đó chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. Đảng, Nhà nước ta đang
nỗ lực hết sức để ngăn chặn và xử lý triệt để tình trạng này, thực hiện nhiều
biện pháp quyết liệt góp phần làm trong sạch bộ máy.
Cho
nên, sự quyết liệt trong công cuộc chống tham nhũng của Đảng ta hiện nay tuyệt
đối không phải là việc đấu đá, thanh trừng nội bộ, bè phái mà chính là thực
hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính
trị và đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiên phong,
lãnh đạo vì lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân.
Quan
điểm của Đảng ta trong công tác cán bộ được xác định rõ: không để lọt những
người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội
chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp,
nhưng cũng không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài; kiên quyết đấu
tranh với những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ và “không có vùng cấm,
không có ngoại lệ” trong đấu tranh phòng chống tham nhũng.
Do
đó, việc thực hiện quyết liệt trong đấu tranh chống tham nhũng và đổi mới, công
khai, nghiêm túc trong công tác cán bộ ở nước ta thời gian qua cũng là một
trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
Bên
cạnh đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội
bộ là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, nhất là phong trào thi đua “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Đảng ta cũng đang bị các thế lực
thù địch xuyên tạc cho rằng, cuộc vận động và phong trào thi đua đó đã diễn ra
hàng chục năm nay nhưng chỉ là hình thức mang tính “phong trào” chứ không đi
vào thực chất, không hiệu quả.
Những
luận điệu này không chỉ là sự bóp méo về chức năng, nhiệm vụ của công tác chính
trị nội bộ, mà còn cố tình phủ định sạch trơn những cố gắng, quyết tâm trong
công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng mà chúng ta đang thực hiện.
Những
kết quả tích cực suốt hàng chục năm qua mà Đảng, Nhà nước cùng với nhân dân ta
đã đạt được qua cuộc vận động và phong trào thi đua học và làm theo Bác Hồ là
minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất. Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các cơ quan,
đơn vị trên khắp cả nước tích cực thi đua không ngừng để “học và làm theo Bác”
từ những việc làm thiết thực, cụ thể.
Tiêu
biểu như công cuộc đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết
kiệm theo lối sống giản dị của Bác “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”;
đẩy mạnh công tác cải cách hành chính với phương châm “phục vụ nhân dân”, gần
dân, sát dân; đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, “phê bình và tự phê bình”; đề
cao trách nhiệm nêu gương; tự tu dưỡng, tự rèn luyện,...
Qua
hàng loạt các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác bảo vệ
chính trị nội bộ cho thấy mục đích duy nhất của chúng là phá hoại nền tảng tư tưởng
của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta.
Chính
vì vậy, cho dù ở bất cứ lĩnh vực nào, ở bất cứ đâu, chúng ta cũng phải luôn
tỉnh táo, có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng và nhận thức khoa
học đầy đủ, đúng đắn để tỉnh táo nhận diện được những luận điệu, thủ đoạn thâm
độc, khó lường của các thế lực thù địch.
Để
làm được điều đó mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện,
nâng cao nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ
của Đảng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn
về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; gắn kết chặt chẽ công tác bảo vệ chính trị
nội bộ với công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ, coi đây là nhiệm vụ
thường xuyên, liên tục trong cả hệ thống chính trị.
Đồng
thời cấp ủy, chính quyền các cấp phải kịp thời nắm bắt tình hình tại cơ quan,
đơn vị mình, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ chính trị
nội bộ, công tác cán bộ, nhân sự,…; chủ động phối hợp với các cơ quan có thẩm
quyền để nắm bắt tình hình, giải quyết những tình huống phát sinh, những vụ
việc gây bức xúc, tố giác, khiếu kiện… theo đúng quy định, minh bạch, khách
quan, tránh để kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc, vu khống. Tiếp tục củng cố, kiện toàn
cơ quan, đơn vị, triển khai công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo hướng tinh
gọn, hiệu quả, thiết thực, phát huy mạnh mẽ vai trò của từng cán bộ, đảng viên
và tập thể.
Đây
là những yêu cầu cần thiết để chủ động phòng và kịp thời đấu tranh có hiệu quả
với các âm mưu, thủ đoạn nhằm phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, chia
rẽ, hạ thấp uy tín của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội
bộ Đảng và thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch,
phản động./.
Sưu tầm
Phát huy vai trò của công tác tư tưởng trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Đây là kết quả của bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về quốc phòng an ninh, đối tác đối tượng, về bảo
vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Trong Báo cáo Chính trị Đại hội
XII của Đảng ta, lần đầu tiên trong văn kiện chính thức của một Đại hội, kế
sách chủ động bảo vệ Tổ quốc trong thời bình, từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi
nước chưa nguy được xác lập: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh,
xung đột từ sớm, từ xa. Chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các
nhân tố bất lợi nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Đến Đại
hội XIII, kế sách này được bổ sung phát triển: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa
xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù
hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc
lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển. Giữ vững
môi trường hòa bình ổn định để phát triển”. Trước đó, kế sách này được xác lập
trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình mới”. Đây cũng là kết quả của bước phát triển mới trong tư duy
lý luận của Đảng ta về quốc phòng an ninh, đối tác đối tượng, về bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình mới.
Kế
sách này là sự kế thừa bài học “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của ông cha ta
trong lịch sử dựng nước và giữ nước, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình mới. Kế sách này được hình thành trên
cơ sở nhận định, đánh giá dự báo đúng tình hình, cục diện và các xu hướng vận động
phát triển của thế giới, khu vực, trong nước; gắn sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc với
xây dựng, đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế, phát triển đất nước. Đây vừa là
quan điểm chỉ đạo cơ bản, vừa là phương thức hành động tối ưu để chủ động bảo
vệ vững chắc Tổ quốc trong thời bình từ sớm, từ xa. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ
xa là trách nhiệm chính trị, là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, nhà
nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Do
đó, công tác tư tưởng (bao gồm công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công
tác cổ động) cần góp phần truyền bá sâu rộng đường lối chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trong thời kỳ mới, kế sách chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa thành
nhận thức sâu sắc, niềm tin vững chắc, trách nhiệm chính trị cao, hành động chủ
động tích cực tự giác của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên này.
Tại
Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất:
Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới” vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát
huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất
quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Đất nước ta chưa bao giờ
có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Theo
đó, quán triệt tư tưởng: Luôn luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt
đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất
của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; dựa vào dân, lấy
"dân là gốc", khơi dậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống
văn hóa, yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng "thế
trận lòng dân", lấy "yên dân" là nhân tố quyết định mọi thắng
lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để góp
phần nghiên cứu, học tập, quán triệt và tuyên truyền Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần biên
soạn tài liệu hoặc đề cương tuyên truyền, tập trung vào một số nội dung như
sau:
Thứ nhất, bối cảnh mới của tình hình. Trong giai đoạn phát triển mới hiện nay và sắp tới,
tình hình thế giới và khu vực dự báo sẽ còn tiếp tục có những diễn biến phức
tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng
đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới.
Cục
diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ
ngày càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất
lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế
cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta.
Các
nước lớn sẽ tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa
hợp tác, thoả hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối nội bộ
nước khác. Nhiều điểm nóng về an ninh tiếp tục tồn tại, có nguy cơ lan rộng,
làm xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến
lược mới.
Khoa
học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, tạo ra những biến đổi trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội. An ninh truyền thống cũng như phi truyền thống, nhất là thiên
tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, năng lượng, an ninh
mạng... đặt ra nhiều thách thức đối với các quốc gia. Châu Á - Thái Bình Dương,
Ấn Độ Dương, Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động nhưng sẽ trở thành trọng
điểm cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn.
Ở
trong nước, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng cảnh báo vẫn còn hiện hữu, có mặt sẽ
còn diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển
hóa" trong nội bộ; sự xuống cấp về các giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống;
những mâu thuẫn, bức xúc trong xã hội sẽ còn diễn biến phức tạp; phân cực giàu
- nghèo có xu hướng ngày càng gia tăng.
Trên
một số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm và trong một số nhóm đối tượng còn
tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định. Tranh chấp biển, đảo, chủ quyền lãnh thổ,
chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng... là những nguy cơ lớn luôn
luôn có thể xảy ra.
Các
thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước sẽ còn câu
kết với nhau tăng cường các hoạt động "diễn biến hòa bình", "phi
chính trị hóa" lực lượng vũ trang với âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng
tinh vi, công khai và trực diện hơn. Trên cơ sở trình bày tình hình, cục diện
thế giới, khu vực cùng với các xu hướng trên, đề cương cần phân tích rõ những
thuận lợi nhất là những thách thức đối với nhiệm vụ chiến lược quốc phòng an
ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Thứ hai, sự đổi mới mạnh mẽ, khách quan
toàn diện về vấn đề đối tác, đối tượng.
Trình
bày ý nghĩa của đổi mới tư duy từ phân định “bạn - thù” sang “đối tác - đối
tượng”. Phân tích các phương châm chỉ đạo trong xác định đối tác - đối tượng:
Trên tinh thần thêm bạn, bớt thù, phân hóa, cô lập các thế lực thù địch chống
đối, tranh thủ tối đa sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới xác
định một số phương châm chỉ đạo trong xác định đối tác đối tượng: Không có kẻ
thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia dân tộc là vĩnh viễn; không nên xác định
cả một quốc gia là đối tượng đấu tranh mà chỉ nên nói các thế lực thù địch hoặc
một số người trong giới cầm quyền ở một số nước nào đó có hành động cực đoan,
hiếu chiến chống đối hay các cơ quan tình báo nước ngoài có hoạt động phương
hại đến an ninh quốc gia. Phải xác định được những đối tác chiến lược lâu dài,
nhất quán nhằm khai thác triệt để mặt đối tác đảm bảo lợi ích lâu dài và chắc
chắn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Làm
rõ nội hàm của “Đối tác - Đối tượng”. Đối tác là những ai tôn trọng độc lập chủ
quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác hòa bình cùng có lợi
với Việt Nam. Đối tượng là bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá
mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong tình
hình diễn biến rất nhanh và phức tạp hiện nay cần có cách nhìn biện chứng trong
mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác. Trong một số đối tác,
có thể có mặt khác biệt mâu thuẫn với lợi ích của ta. Do đó, cần khắc phục hai
khuynh hướng mơ hồ mất cảnh giác hoặc cứng nhắc trong nhận thức, chủ trương và
trong xử lý các tình huống cụ thể.
Thứ
ba, mục
tiêu, nội hàm của chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với 6 nội dung
có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đó là: Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời vùng biển của Tổ quốc Việt Nam; Bảo vệ Đảng,
Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; Bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; Bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc;
Bảo vệ an ninh chính trị, trật tự toàn xã hội và nền văn hóa; Giữ vững ổn định
chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Thứ tư, những nội dung chủ yếu của bảo
vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Bảo vệ Tổ quốc
từ sớm, từ xa là tổng thể tư tưởng và hành động của Đảng, Nhà nước và nhân dân
ta chủ động diễn ra từ trước nhằm sớm phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu
những âm mưu hành động chống phá chế độ, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích
quốc gia - dân tộc, không để Tổ quốc bị động bất ngờ, giữ vững môi trường hòa
bình, ổn định, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ
quốc từ sớm, từ xa gồm nhiều nội dung, cần tập trung phân tích những nội dung
chủ yếu sau:
Chủ
động nắm, nghiên cứu, phân tích, dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực,
trong nước. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu vì chủ động nắm bắt, nghiên
cứu, phân tích dự báo chính xác kịp thời cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn
để Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh đối
ngoại bảo vệ Tổ quốc. Tình hình thế giới, khu vực hiện nay đang diễn ra mau lẹ
và phức tạp tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn, khó dự báo đòi hỏi phải nâng cao
năng lực xử lý thông tin, dự báo, tham mưu chiến lược, chủ động nắm chắc tình
hình, kịp thời phát hiện đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu hoạt động chống phá
của các thế lực thù địch, phản động.
Chủ
động xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an
ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững mạnh. Xây dựng tiềm lực chính trị - tinh
thần, kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ, đối ngoại vững mạnh.
Xây
dựng lực lượng vũ trang: Xây dựng quân đội nhân dân công án nhân dân cách mạng
chính quy tinh nhuệ hiện đại. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu chất
lượng ngày càng cao. Xây dựng dân quân tự vệ vững mạnh rộng khắp, có số lượng
phù hợp, coi trọng lực lượng dân quân tự vệ biển và dân quân tự vệ các địa bàn
trọng điểm. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân,
thế trận lòng dân.
Phát
huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc “Từ sớm, từ xa”: Nhằm động viên, quy tụ,
phát huy cao độ sức mạnh của các nhân tố chính trị. Tinh thần, tư tưởng - văn
hóa, quốc phòng an inh, kinh tế, đối ngoại, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc và cả hệ thống chính trị. Kết hợp sức mạnh bên trong và bên ngoài, sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới và nâng cao uy tín và vị thế của
đất nước.
Phương
thức bảo vệ Tổ quốc “Từ sớm, từ xa”: Bảo vệ Tổ quốc từ sớm từ xa đã trở thành
tư tưởng chỉ đạo, hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Bảo
vệ Tổ quốc từ sớm nghĩa là về thời gian phải bảo vệ từ trước, phải chủ động
phòng ngừa, tích cực chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong
thời bình, khi đất nước chưa có chiến tranh, nguy biến. Bảo vệ Tổ quốc từ xa
nghĩa là về không gian phải chủ động bảo vệ từ bên ngoài lãnh thổ của đất nước.
Phương thức bảo vệ Tổ quốc từ sớm từ xa phải được chủ động tiến hành, lấy phòng
ngừa, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, xung đột là chính. Phương thức bảo vệ Tổ
quốc từ sớm từ xa là chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh không chỉ ngăn
chặn chiến tranh xâm lược từ bên ngoài mà còn phải phát hiện sớm và xử lý kịp
thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến, đẩy mạnh
đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù
địch.
Đẩy
mạnh công tác đối ngoại góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đối ngoại giữ
vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định,
tranh thủ tối đa mọi nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước. Do đó, cần
phải phối hợp chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại
giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, đối ngoại quốc phòng, an ninh.
Quán
triệt và thực hiện tốt các nội dung trên chính là thực hiện hóa mục tiêu bảo vệ
vững chắc Tổ quốc trong thời bình, từ sớm từ xa.
Sưu tầm
''Không dám tham nhũng'' khi toàn dân tham gia chống tiêu cực
Nghị quyết 168/NQ-CP của Chính phủ ngày 11/10/2023 về Chiến
lược quốc gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến năm 2030 đề ra 5 nhóm nhiệm
vụ, giải pháp, trong đó có việc nâng cao nhận thức, phát huy vai trò và trách
nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Đây là sự cụ thể hóa chủ trương, quan
điểm của Đảng về phòng, chống tham nhũng như lời phát biểu của đồng chí Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng,
chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 (ngày 30/6/2022): Đẩy mạnh, từng
bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để "không thể",
"không dám", "không muốn", "không cần" tham
nhũng.
Tiến tới “không dám tham nhũng”
Bất kể ở một thể chế nào thì
quyền lực nhà nước phải đi đôi với sự kiểm soát quyền lực nhà nước. Cơ chế kiểm
soát quyền lực nhà nước bằng các phương thức bên trong như giám sát tối cao từ
phía quốc hội (nghị viện) đối với hoạt động của bộ máy nhà nước; thanh tra,
kiểm tra trong bộ máy hành pháp; giám sát, kiểm tra của cơ quan cấp trên đối
với cơ quan cấp dưới; giám đốc thẩm trong hoạt động xét xử của tòa án.
Chỉ có cơ chế kiểm soát quyền
lực nhà nước bên trong thì chưa đủ, chưa hiệu quả mà cần có cả sự kiểm soát từ
bên ngoài (kiểm soát xã hội) gồm các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí, người
dân, doanh nghiệp. Việc thu hút đông đảo quần chúng tham gia kiểm soát xã hội
là cần thiết và có tác dụng tích cực, nhất là trong việc chống tham nhũng.
Ở nước ta, để nâng cao hiệu
quả trong phòng, chống tham nhũng thì rất cần có sự kiểm soát xã hội với sự
tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, báo chí,
doanh nghiệp, ban thanh tra nhân dân và đặc biệt là đông đảo quần chúng nhân
dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam coi
cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là sự nghiệp của toàn dân. Đại hội lần
thứ XIII của Đảng đề ra chủ trương phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức
chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các cơ quan báo chí - thông tấn, các
doanh nghiệp và nhân dân tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham
nhũng.
Tại Hội nghị toàn quốc tổng
kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022, đồng
chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh tới việc phát huy vai trò của
nhân dân trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm”, cuộc chiến phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực của chúng ta phải dựa vào dân, lắng nghe dân.
Để phát huy vai trò của nhân
dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thông qua thực
hiện quyền tố cáo thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thì cần phải đề cao trách nhiệm và có những
biện pháp thiết thực bảo vệ người tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo để tránh
việc trù dập, trả thù của người bị tố cáo. Nhà nước cần nghiên cứu quy định cụ
thể về nguồn kinh phí và những cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động bảo vệ
người tố cáo trong trường hợp cần thiết của các cơ quan có thẩm quyền và các cơ
quan khác có liên quan.
Nhằm tạo thuận lợi cho nhân
dân thực hiện quyền tố cáo, tố giác, cung cấp kịp thời thông tin về tham nhũng,
tiêu cực cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì ngoài hai hình
thức tố cáo bằng đơn và tố cáo trực tiếp theo quy định của Luật Tố cáo, cần
phải mở rộng thêm các hình thức phản ánh, tố cáo bằng điện thoại thông qua
đường dây nóng hoặc trên mạng xã hội.
Khi tiếp nhận tố cáo, tin báo
tố giác của nhân dân về tham nhũng, tiêu cực, cơ quan có thẩm quyền phải phân
loại, xem xét, đánh giá. Những đơn tố cáo, tố giác có cơ sở để xác minh, kết
luận thì phải khẩn trương kiểm tra, xác minh theo quy định của Luật Tố cáo và
Luật Phòng, chống tham nhũng.
Theo Viện Chiến lược và Khoa
học thanh tra (Thanh tra Nhà nước), nhiều vụ tham nhũng tầm cỡ trong thời gian
qua bị “lộ sáng” là do các cơ quan báo chí - thông tấn phát hiện và người dân
tố giác. Việc mở rộng dân chủ, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra” là biện pháp phòng ngừa tham nhũng mang lại hiệu quả to lớn.
Cơ chế giám sát dân chủ, giám sát trực tiếp của nhân dân là một trong các kênh
giám sát đối với cán bộ, công chức bên cạnh các kênh giám sát thông qua thực
thi pháp luật, sự kiểm tra của tổ chức Đảng.
Khuyến khích sự tham gia và
phát huy vai trò của người dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam
luôn được coi là một trong những biện pháp cơ bản, hiệu quả nhằm đấu tranh
chống tham nhũng, tiêu cực.
Trong cuộc đấu tranh phòng,
chống tham nhũng chúng ta cần lấy người dân làm trung tâm, phát huy sức mạnh
cộng đồng trong phản biện, giám sát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước,
tuyên truyền để người dân nhận thức được đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí
là trách nhiệm công dân của mình. Nhân dân thực hiện quyền giám sát quyền lực
nhà nước thông qua giám sát cán bộ, công chức nhà nước, góp ý xây dựng chính
sách pháp luật, giám sát việc thực thi công vụ của cơ quan nhà nước.
Nhân dân còn thực hiện kiểm
soát quyền lực nhà nước bằng việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh đối với việc thực thi công vụ của cơ quan nhà nước, tổ chức cá nhân
được nhà nước trao quyền, với các tổ chức đảng các cấp và mỗi đảng viên trong
cơ quan của Đảng, cơ quan nhà nước.
Trong văn kiện Đại hội lần
thứ XIII của Đảng có một số điểm mới về việc động viên, khuyến khích các tổ
chức, cá nhân tố cáo hành vi tham nhũng. Để làm được điều này thì phải có cơ
chế hiệu quả bảo vệ những người tố cáo hành vi tham nhũng tránh sự trả thù hoặc
trù dập.
Trước đó, ngày 10/01/2019, Bộ
Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người
đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Bộ Chính trị yêu cầu các cấp
ủy, tổ chức đảng, chính quyền phải nêu cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực
hiện công tác bảo vệ người tố cáo thuộc phạm vi mình phụ trách. Cần xác định rõ
việc bảo vệ người tố cáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã
hội, trước hết là của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và cơ quan chức
năng ở các cấp. Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của
Nhà nước về bảo vệ người tố cáo. Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì, phối hợp
với Ban Nội chính Trung ương tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành quy
định liên quan đến việc bảo vệ người tố cáo theo hướng cụ thể, đồng bộ, có chế
tài xử lý nghiêm khắc, chú trọng các biện pháp phòng ngừa; làm rõ những biểu
hiện của hành vi trả thù, trù dập người tố cáo dưới mọi hình thức để làm cơ sở nhận
diện, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý đối với các hành vi này.
Pháp luật Việt Nam cũng có
nhiều quy định bảo vệ người tố cáo tham nhũng như giữ bí mật thông tin của
người tố cáo, đảm bảo tính mạng, sức khỏe, tài sản, uy tín, danh dự, nhân phẩm
của người tố cáo và người thân của họ nhằm ngăn chặn các hành vi trả thù người
tố cáo.
Việc bảo vệ người tố cáo hành
vi tham nhũng, lãng phí được quy định trong Luật Tố cáo, Luật Phòng, chống tham
nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Nghị định số 22/2019/NĐ-CP
ngày 25/2/2019 của Chính phủ về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Công an nhân
dân, Thông tư 145/2020/TT-BCA của Bộ Công an bảo vệ người tố cáo về hành vi
tham nhũng, lãng phí, Thông tư số 03/2020/TT-BNV của Bộ Nội vụ về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ,
công chức, viên chức...
Theo lời đồng chí Tổng Bí
thư, kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cho thấy, có ba lực lượng quan
trọng, trở thành trụ cột vững vàng đó là nhân dân, cơ quan pháp luật và báo chí
truyền thông.Ở đâu người dân tích cực tố cáo và tố cáo đúng, được bảo vệ một
cách hiệu quả về hành vi dũng cảm của mình thì ở đó tệ nạn tham nhũng giảm bởi
đã xuất hiện một yếu tố quan trọng – các đối tượng tha hóa bớt “dám tham
nhũng”.
Kinh nghiệm nước ngoài bảo vệ người tố cáo
Tiến sỹ Nguyễn Thị Hồng Thúy
(Trường Cán bộ Thanh tra, Thanh tra Chính phủ) cho biết: Các báo cáo về công
tác phòng, chống tham nhũng không công bố tỷ lệ các vụ việc tham nhũng được
phát hiện và xử lý từ sự tố cáo, phản ánh của người dân. Nhưng qua thực tế
chúng ta có thể thấy, phần lớn các vụ việc tham nhũng, tiêu cực được phát hiện
là qua thanh, kiểm tra.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Hồng
Thúy, sở dĩ người dân chưa mạnh dạn tố cáo tham nhũng là vì những lý do sau:
Nhiều người chưa hiểu biết về các quy định của pháp luật trong bảo vệ người tố
cáo tham nhũng; chính một bộ phận người dân cố tình tiếp tay cho tham nhũng khi
muốn được giải quyết thủ tục hành chính nhanh chóng, giảm phiền hà nên đã bỏ
tiền ra “bôi trơn” để được việc.
Khi người dân chủ động tố
giác tham nhũng thì lại thiếu các chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội nên
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thường không thụ lý để giải quyết –có trường hợp
người dân có chứng cứ nhưng lại không tiết lộ danh tính, tức là tố cáo nặc danh
thì cũng thuộc trường hợp không được thụ lý giải quyết.
Bên cạnh đó, có rất nhiều
trường hợp người tố cáo tham nhũng bị trù dập như chuyển công tác, bị nhắn tin
đe dọa, gây thương tích hoặc khủng bố tinh thần người tố cáo và những người thân
của người tố cáo.
Một số chuyên gia pháp lý cho
rằng pháp luật Việt Nam đã ghi nhận quyền của người tố cáo nói chung và người
tố cáo tham nhũng nói riêng tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Tuy nhiên,
các quy định pháp luật nhìn chung chỉ mang tính nguyên tắc, chỉ định tính mà
không định lượng, chưa cụ thể và nằm phân tán trong nhiều văn bản với hiệu lực
pháp lý khác nhau.
Chúng ta có quá nhiều cơ quan
có trách nhiệm trong việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng trong khi thẩm
quyền của các cơ quan này còn hạn chế và chồng chéo, không có cơ quan chuyên
biệt bảo vệ người tố cáo nói chung và người tố cáo tham nhũng nói riêng.
Theo đồng chí Cao Văn Thống,
Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII, trong việc khuyến khích sự tham
gia và phát huy vai trò của người dân trong lĩnh vực tố giác tham nhũng thì
nước ta có thể tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới.
Một số quốc gia đã lập đường
dây nóng tố cáo tham nhũng hoạt động suốt ngày đêm và có hiệu quả như Colombia,
Brasil, Singapore, Ôxtrâylia… Còn Thái Lan, Singapore cũng như nhiều nước khác
chấp nhận giải quyết cả đơn tố cáo nặc danh.
Các nước có biện pháp bảo vệ
người tố giác rất chặt chẽ như Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Singapore, Australia:
giữ bí mật lời khai, chuyển chỗ ở cho người dân để tránh bị phát hiện, trả thù.
Một số nước khen thưởng người tố giác bằng vật chất giá trị cao. Tại Hàn Quốc
người tố giác tham nhũng mà mang lại lợi ích về tài sản cho xã hội hoặc giúp
tránh được thiệt hại thì được thưởng ít nhất 10% giá trị tăng thêm hoặc giá trị
tài sản đáng lẽ bị thiệt hại.
Trung Quốc đã mở trang web
12388.gov.cn để người dân thuận tiện phản ánh mọi trường hợp vi phạm, cung cấp
thông tin cho Ủy ban Kiểm tra - Kỷ luật và cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý. Bộ
Giám sát, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Ban Tổ chức
Trung ương còn mở đường dây điện thoại nóng đặc biệt hoạt động suốt ngày đêm để
nhân dân trong cả nước tố cáo tham nhũng, tiêu cực.
Bộ Tài chính Trung Quốc treo
giải thưởng 15 nghìn USD (gần 370 triệu đồng) cho người cung cấp thông tin có
giá trị về quỹ đen của các cơ quan, đơn vị và thưởng 10% giá trị tài sản của vụ
án tham nhũng cho người tố cáo.
TTXVN
Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 11-10-2023 Chiến lược
quốc gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến năm 2030.
Nghị quyết
nêu rõ: Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân
đoàn kết, chung sức đồng lòng nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tựu quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Quốc phòng, an ninh được giữ vững và
tăng cường.
Trật tự,
an toàn xã hội được bảo đảm. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính
sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực như Nghị quyết Trung
ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành
Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên
quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự
chuyển hóa", Kết luận số 10-KL/TW ngày 26-12-2016 của Bộ Chính trị về tiếp
tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X, Kết luận số 12-KL/TW ngày
6-4-2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Luật Phòng, chống tham nhũng, Chiến
lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020.
Công tác đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo chuyển biến mạnh mẽ,
có bước đột phá, gắn kết chặt chẽ giữa "xây" và "chống", có
hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần kiềm chế, ngăn chặn tình trạng
tham nhũng, tiêu cực, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình hưởng ứng,
đánh giá cao, cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Bên cạnh những kết quả đạt
được, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vẫn còn nhiều tồn tại, hạn
chế. Nhiều bộ, ngành, địa phương chưa có sự chuyển biến rõ nét trong phòng
ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực.
Tham nhũng, tiêu cực còn diễn
ra nghiêm trọng, phức tạp trên nhiều lĩnh vực, nhất là tổ chức cán bộ; quản lý
tài chính, ngân sách, tài sản công, quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh
nghiệp, đầu tư, xây dựng, đấu thầu, đấu giá; đất đai, tài nguyên, khoáng sản;
tín dụng, ngân hàng; thuế, hải quan và các lĩnh vực thực thi pháp luật liên
quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp.
Tham nhũng, tiêu cực vẫn là
một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Nguyên nhân
chủ yếu là do cơ chế quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn hạn chế, bất
cập; việc thực thi pháp luật chưa nghiêm, kết quả phát hiện, xử lý tham nhũng,
tiêu cực chưa đủ sức răn đe; tổ chức bộ máy còn chồng chéo, chưa tinh gọn, hoạt
động chưa hiệu quả; một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; sự tham gia của xã hội trong
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực còn hạn chế.
Bước vào giai đoạn phát triển
mới, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc
tế ngày càng sâu rộng, tham nhũng sẽ diễn biến phức tạp, tinh vi. Công
cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đứng trước những khó khăn, thách thức
mới. Kế thừa những thành tựu đã đạt được và tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến năm 2030.
Chiến lược đề ra 5 nhóm nhiệm
vụ, giải pháp gồm: Hoàn thiện chính sách, pháp luật trên các lĩnh vực quản lý
kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Kiện toàn tổ chức bộ máy
nhà nước, hoàn thiện chế độ công vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức liêm chính; nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật; Tăng cường công tác kiểm
tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
Nâng cao nhận thức, phát huy vai trò và trách nhiệm của xã hội trong phòng,
chống tham nhũng, tiêu cực; Tích cực tham gia, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc
tế về phòng, chống tham nhũng, thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của quốc
gia thành viên Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng.
Trong đó, rà soát, tinh gọn
bộ máy hành chính nhà nước các cấp; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, quy định cụ
thể, rõ ràng, khoa học chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp quản lý đảm
bảo minh bạch và trách nhiệm cao, có cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát hiệu
quả…
TTXVN
