Thứ Ba, 26 tháng 12, 2023

Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên

 Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận nêu trên, việc quán triệt, thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn có những hạn chế nhất định. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ chốt, quán triệt không nghiêm túc, nhận thức chưa thật đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò, yêu cầu và nội dung, biện pháp nêu gương, dẫn đến tình trạng chưa rõ trách nhiệm và nghĩa vụ nêu gương, chưa thật sự mẫu mực trong lời nói, việc làm, trong rèn luyện, tu dưỡng, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, sinh hoạt; còn có những biểu hiện “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, có hành vi tham nhũng, tiêu cực. Đặc biệt là, một số cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước rất nghiêm trọng, đến mức phải xử lý kỷ luật đảng, truy cứu trách nhiệm hình sự, gây dư luận bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Đáng chú ý là, nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ráo riết chống phá Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hòng mua chuộc, lôi kéo, làm hư hỏng, biến chất một số cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh, thậm chí có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhằm tạo ra lớp cán bộ “đỏ vỏ, xanh lòng”, coi đây là lực lượng nòng cốt để “tạo dựng ngọn cờ” chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong bối cảnh, tình hình mới, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, truyền bá các sản phẩm văn hóa xấu, độc, đề cao lối sống thực dụng, sùng bái đồng tiền, quên tình nghĩa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của Đảng; làm cho không ít cán bộ, đảng viên rơi vào suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khiến họ không còn xứng đáng là tấm gương để quần chúng nhân dân học tập, noi theo.

Hiện nay, thực tiễn đang đặt ra những yêu cầu mới về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nhất là sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”; theo đó, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi Đảng ta phải tăng cường tổng kết và tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo việc đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt, yêu cầu cấp thiết hiện nay là cần phát huy hiệu quả phương thức lãnh đạo bằng nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhằm góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới. Muốn vậy, tổ chức đảng các cấp phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với việc thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII, khóa XIII) về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết, chủ động đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; thực hiện tốt phương châm nêu gương “trên trước, dưới sau”, “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”, “trong Đảng trước, ngoài Đảng sau”, đảng viên nêu gương trước quần chúng nhân dân.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Thàng Tín, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang giúp đồng bào thu hoạch lúa_Ảnh: TTXVN

Cán bộ chủ trì các cấp phải nêu gương trong lời nói và việc làm; ở bất cứ đâu, ở mọi thời điểm, phải luôn nhất quán giữa lời nói và hành động, phải phát ngôn đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mỗi lời nói, bài viết phải thể hiện rõ sự mẫu mực về tính đảng, vì lợi ích chung của tập thể và nhân dân; đồng thời, thể hiện rõ niềm tin yêu, lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần phải luôn quan tâm, chăm lo đến lợi ích, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn, thử thách; thực hiện nói đi đôi với làm; luôn tận tụy, tâm huyết với công việc; hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; luôn là người đi đầu trong mọi hoạt động của cơ quan, địa phương, đơn vị. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh, phê phán, khắc phục mọi biểu hiện thiếu gương mẫu, “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, “nói một đằng, làm một nẻo”; phải có dũng khí vượt qua mọi cám dỗ, khó khăn, thử thách, để chiến thắng chính mình và giúp đỡ cấp dưới khi họ mắc sai lầm, khuyết điểm để ngày càng tiến bộ, trưởng thành; kiên quyết chống mọi biểu hiện tham nhũng, tiêu cực.

Để phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, cần tập trung thực hiện tốt những giải pháp cơ bản sau:

Một là, vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, quy định của Đảng, của cấp ủy, tổ chức đảng về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp cần tự giác nêu gương, tích cực tự giác học tập, nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng về việc nêu gương của cán bộ, đảng viên; đặc biệt, cần tiếp tục “Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”(5).

Phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, nhất là các cơ quan thông tấn, báo chí trong tuyên truyền, giáo dục, nhằm làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức được một cách đầy đủ, sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của trách nhiệm nêu gương. Tích cực nhân rộng những điển hình tiên tiến thành các phong trào hành động cách mạng sâu rộng, phong phú, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành các tiêu chí, quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên cho phù hợp với tình hình thực tiễn và chức trách, nhiệm vụ được giao.

Đây là cơ sở để mỗi cán bộ, đảng viên “tự soi”, “tự sửa”, phát huy vai trò nêu gương trong từng hoạt động cụ thể; đồng thời, là căn cứ để các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và mọi cán bộ, đảng viên theo dõi, giúp đỡ và kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện trách nhiệm nêu gương. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn được giao, bám sát các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về nêu gương và phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; căn cứ vào tình hình thực tiễn đơn vị, chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ từng cấp để xây dựng các tiêu chí cụ thể về nêu gương trong lời nói, việc làm, trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ, để cán bộ, đảng viên xứng đáng là tấm gương sáng cho nhân dân học tập, noi theo.

Trong quá trình triển khai thực hiện, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, cần coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết để kịp thời bổ sung, điều chỉnh các tiêu chí, quy định, bảo đảm thực hiện có hiệu quả trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; tránh cách làm phô trương, hình thức, chiếu lệ. Bản thân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải thường xuyên bám sát các tiêu chí, quy định về nêu gương để “tự soi”, “tự sửa” từ lời nói, việc làm đến tự tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt; lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ và sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân làm cơ sở để tiếp tục thực hiện tốt hơn trách nhiệm nêu gương.

Ba là, tiếp tục quán triệt, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên là sự thể hiện sinh động việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần đẩy mạnh giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng; thực hiện sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần tiếp tục giáo dục, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp, nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn trong tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời, nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò của việc thực hiện trách nhiệm nêu gương ở đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tích cực phát động các phong trào thi đua, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu vào từng hoạt động thông qua lời nói và việc làm cụ thể từng tuần, từng tháng, từng quý; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, để đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành hoạt động thường xuyên, liên tục, có hiệu quả.

Bốn là, thường xuyên tự phê bình và phê bình, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Một mặt, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị phải đặc biệt coi trọng và có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thật chặt chẽ, sát sao, bảo đảm thực hiện có hiệu quả tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Hằng tháng, hằng quý và hằng năm, các cấp ủy cần phải có nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo, xác định rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp kiểm điểm việc tự phê bình và phê bình của đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương. Ở đây, cần gắn kết chặt chẽ việc kiểm điểm, phân loại đảng viên, tổ chức đảng và nhận xét, đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ hằng năm với kiểm điểm tự phê bình, phê bình và trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Mặt khác, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên cần đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền, nhân rộng những tấm gương “người tốt, việc tốt”, những cách làm hay, những điển hình tiên tiến về thực hiện trách nhiệm nêu gương; đồng thời, phê phán mọi biểu hiện, hành vi thiếu gương mẫu trong lời nói, việc làm của cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ./.

Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên

 Nêu gương vừa là phương thức lãnh đạo của Đảng, vừa là phương pháp giáo dục có sức thuyết phục tốt nhất, hiệu quả nhất. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(1); “nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(2). Vì vậy, Người đặc biệt coi trọng trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao, đặc biệt là ở những thời điểm vô cùng khó khăn, đầy thử thách của sự nghiệp cách mạng. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có ý thức thực hành trách nhiệm nêu gương và đã trở thành tấm gương sáng ngời, có sức lan tỏa và truyền cảm hứng vô cùng mạnh mẽ để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta học tập, noi theo.

Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đặc biệt chú trọng, chăm lo giáo dục, rèn luyện, đề cao tính tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, biết bao thế hệ cán bộ, đảng viên đã trở thành những tấm gương sáng, sẵn sàng hy sinh quên mình vì thắng lợi của cách mạng và hạnh phúc của nhân dân; cho dù phải chịu cực hình tàn khốc, tra tấn, tù đày, lên máy chém của kẻ thù..., họ vẫn một lòng, một dạ kiên trung với Đảng và Tổ quốc, giữ vững khí tiết của người cộng sản, khiến cho kẻ thù phải run sợ.

Trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, phương thức lãnh đạo của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn cách mạng. Đặc biệt, phương thức lãnh đạo bằng sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng phát huy hiệu lực và có sức lan tỏa, truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với nhân dân; đồng thời, được Đảng ta và các cấp, các ngành, mọi cán bộ, đảng viên thấm nhuần, thực hiện có hiệu quả. Nhiều cán bộ, đảng viên đã không quản ngại khó khăn, vất vả, lao tâm, khổ trí, chịu đựng hy sinh, gian khổ, một lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, quyết tâm tìm tòi con đường đổi mới sáng tạo, đóng góp vào sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(3).

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều chủ trương, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên(4); đồng thời, khẳng định nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và là đạo lý của người cán bộ, đảng viên trước nhân dân. Sau khi các nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên được ban hành, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã quán triệt sâu sắc và nghiêm túc thực hiện. Ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, đã được nâng lên rõ rệt, tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ; góp phần hữu hiệu ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, quan liêu và mọi biểu hiện tiêu cực trong cơ quan, đơn vị và địa phương; góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Nêu gương - một phương thức lãnh đạo của Đảng có sức lan tỏa và truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với nhân dân

 Thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên là một trong những phương thức lãnh đạo rất quan trọng của Đảng ta trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Hành động gương mẫu, nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chính là “mệnh lệnh không lời”, trực tiếp truyền cảm hứng mạnh mẽ cho nhân dân học tập, noi theo; qua đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi các xã viên tại vườn chè của Hợp tác xã chè Hảo Đạt, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên_Ảnh: thainguyen.gov.vn

Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục giữ vững, phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên hưu trí

 Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn diễn biến phức tạp. Thực tiễn đó đòi hỏi phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trên thực tế, những quy định, hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng về công tác quản lý đảng viên, trong đó có cả quản lý về đội ngũ cán bộ, đảng viên hưu trí, chưa bao quát hết tình hình thực tiễn, còn có những “kẽ hở”. Vì vậy, để phát huy tốt vai trò của đội ngũ này, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, nêu cao tính tự giác, tính gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trước khi nghỉ hưu, cán bộ, đảng viên cần lên kế hoạch nghỉ hưu và sắp xếp những việc bản thân muốn làm để tránh sự nhàn rỗi đến mức nhàm chán. Cần xác định bản thân mong muốn điều gì, tìm kiếm những công việc thú vị, ưa thích và có ý nghĩa, như tham gia các hoạt động của tổ chức đảng, của cộng đồng,…; đồng thời, trải nghiệm những điều mới mẻ, thú vị, như đi tham quan, du lịch, thể dục, thể thao, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ. Có như vậy, những người về hưu sẽ không bị chi phối bởi các cảm xúc tiêu cực, mà thay vào đó là xây dựng những cảm xúc tích cực, hạnh phúc, vui vẻ với một “chương” mới trong cuộc đời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” để nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên, cho dù ở môi trường, hoàn cảnh nào; vì thế, người cán bộ, đảng viên hưu trí phải giữ vững bản lĩnh chính trị, lập trường, quan điểm, không ngừng rèn luyện và tu dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng, tư cách người đảng viên cộng sản. Khi nghỉ hưu, cán bộ, đảng viên không nên viện lý do “khó” để không chuyển sinh hoạt đảng, bỏ sinh hoạt đảng hoặc trốn tránh nhiệm vụ khi tổ chức đảng phân công hoặc phát ngôn, viết bài tùy tiện,... Phải nhận thức được rằng, những việc làm sai trái đó sẽ gây ảnh hưởng đến hình ảnh, không chỉ của cá nhân cán bộ, đảng viên, mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng; theo đó, phải suy nghĩ thật sâu sắc rằng, đã là đảng viên cộng sản thì phải suốt đời phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của Đảng, cho sự nghiệp cách mạng, cho tự do, hạnh phúc của nhân dân. Quan trọng hơn, mỗi cán bộ, đảng viên hưu trí cần “tự soi”, “tự sửa” hằng ngày để khắc phục những khuyết điểm, phát huy những ưu điểm, nêu cao tinh thần tự giác, tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên được ghi trong Điều lệ Đảng và lời thề danh dự khi vào Đảng. Không ngừng rèn luyện ý thức tổ chức, kỷ luật, thường xuyên tự phê bình và phê bình, tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống, tích cực tham gia và đóng góp ý kiến trong sinh hoạt chi bộ, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; tự giác nghiên cứu, học tập và tích cực tuyên truyền vận động quần chúng thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không ngừng nêu cao tính đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng trên mọi phương diện, củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng mà mình đã chọn. Tuyệt đối không để rơi vào tình trạng nhận thức mơ hồ, phiến diện; thay vào đó, cần tỉnh táo nhìn nhận, phân tích, bình luận một cách khách quan, khoa học, biện chứng vì cái chung, vì đại cục; đồng thời, phải thực hiện nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, “Về những điều đảng viên không được làm”; tích cực góp ý xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, cơ sở, ra sức xây dựng tổ chức đảng, chính quyền ở nơi cư trú trong sạch, vững mạnh.

Thứ hai, khắc phục những “kẽ hở” trong công tác quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên hưu trí hiện nay

Thời gian qua, công tác quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên hưu trí ở nhiều nơi còn lỏng lẻo, chưa sâu sát. Cụ thể như: Thủ tục chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên hưu trí có nơi thực hiện chưa nghiêm, việc thực hiện các khâu của quy trình chuyển sinh hoạt đảng được quy định tại điểm a, điểm c, mục 6.3 của Quy định số 24-QĐ/TW, ngày 30-7-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về thi hành Điều lệ Đảng” cần được thực hiện nghiêm túc. Ở một số nơi, việc ghi phiếu báo hồ sơ chuyển đảng viên tới nơi sinh hoạt mới thực hiện còn qua loa, đại khái. Một mặt, có trường hợp cán bộ làm thủ tục chuyển hồ sơ sinh hoạt cho cán bộ, đảng viên hưu trí do nể nang, nên không ghi hoặc ghi không khớp giữa nơi chuyển đến sinh hoạt đảng với nơi cán bộ, đảng viên hưu trí cư trú; từ đó, dẫn tới thực tế là có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên lợi dụng “kẽ hở” này để không nộp hồ sơ, tự ý bỏ sinh hoạt đảng. Mặt khác, tại điểm d, mục 6.3, điều 6 của Quy định trên ghi rõ: Khi chuyển sinh hoạt đảng chính thức cho đảng viên, cấp ủy nơi cán bộ, đảng viên đang sinh hoạt và công tác làm đầy đủ thủ tục, niêm phong hồ sơ, giao cho cán bộ, đảng viên trực tiếp mang theo để báo cáo với tổ chức đảng làm thủ tục giới thiệu và tiếp nhận sinh hoạt đảng theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương. Nhưng trên thực tế thì hầu hết các chi bộ đều giao trực tiếp cho cán bộ, đảng viên tự cầm hồ sơ để làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng, dẫn tới tạo “kẽ hở” trong công tác quản lý cán bộ, đảng viên, khi một số cán bộ, đảng viên thiếu tính tự giác đã cầm hồ sơ cất đi, không nộp cho tổ chức đảng cấp trên và tổ chức cơ sở đảng nơi chuyển đến sinh hoạt đảng.

Để chấn chỉnh tình trạng trên, cần phải “khép kín” quy trình chuyển sinh hoạt đảng. Cụ thể là, cấp ủy cơ sở nơi cán bộ, đảng viên sinh hoạt trước khi nghỉ hưu phải làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên tại đảng ủy cấp trên cơ sở, để cấp ủy cấp trên viết hai phiếu báo gửi về cấp ủy cơ sở và cấp ủy cấp trên cơ sở nơi cán bộ, đảng viên sinh hoạt đảng sau khi nghỉ hưu; sau đó, mới cầm hồ sơ và giấy chuyển sinh hoạt đảng về giao cho cán bộ, đảng viên thực hiện các bước tiếp theo trong quy trình chuyển sinh hoạt đảng về nơi cư trú. Do vậy, Trung ương cần có hướng dẫn cụ thể riêng cho đối tượng là cán bộ, đảng viên hưu trí, bởi đây là đối tượng có số lượng đông, có ảnh hưởng lớn đến chất lượng, năng lực, sức chiến đấu của tổ chức đảng ở cơ sở nói riêng và của Đảng nói chung. Trước thực trạng không ghi phiếu báo hồ sơ chuyển sinh hoạt đảng cho cán bộ, đảng viên hưu trí, ghi không đúng nơi chuyển đến hoặc ghi nơi chuyển đến không khớp với nơi đảng viên cư trú hiện tại, thì các quy định của Trung ương cần quy định rõ trách nhiệm của đảng ủy cấp trên cơ sở trong việc phải viết hai phiếu báo chuyển sinh hoạt đảng gửi bằng đường công văn: Một phiếu gửi cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng nơi cán bộ, đảng viên chuyển đến, một phiếu gửi cấp ủy cơ sở nơi cán bộ, đảng viên chuyển đến sinh hoạt. Muốn vậy, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc gửi phiếu báo chuyển sinh hoạt đảng, tiến hành lưu trữ, cập nhật sổ sách rõ ràng; đồng thời, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm cho cán bộ làm nghiệp vụ công tác đảng viên. Trước thực trạng cán bộ, đảng viên cư trú một nơi, nhưng khi về hưu lại xin chuyển hồ sơ sinh hoạt đảng về nơi khác, phổ biến nhất là các trường hợp cán bộ, đảng viên cư trú ở thành phố, nhưng xin chuyển sinh hoạt đảng về nông thôn, thì một mặt, đảng ủy cấp trên cơ sở nơi cán bộ, đảng viên đang sinh hoạt yêu cầu phải có ý kiến xác nhận của cấp ủy nơi chuyển đến thì mới làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng. Mặt khác, đề nghị các chi bộ cơ sở phải sâu sát, nắm bắt, rà soát thường xuyên cán bộ, đảng viên sắp về hưu, đảng viên chuyển từ nơi này sang nơi khác sinh sống mà không chuyển sinh hoạt đảng để báo cáo với cấp trên xử lý nghiêm khắc, tránh nể nang, dễ dãi; đồng thời, phải làm tốt công tác tư tưởng đối với họ, nhằm phát huy tinh thần tự giác, trách nhiệm, gương mẫu trong việc chuyển hồ sơ sinh hoạt đảng và tham gia sinh hoạt đảng.

Thứ ba, giữ nghiêm kỷ luật của Đảng.

Điều 8, khoản 1, Điều lệ Đảng ghi rõ: Đảng viên bỏ sinh hoạt chi bộ hoặc không đóng đảng phí ba tháng trong năm mà không có lý do chính đáng; đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, không làm nhiệm vụ đảng viên, đã được chi bộ giáo dục mà không tiến bộ thì chi bộ xem xét, đề nghị cấp trên có thẩm quyền xóa tên trong danh sách đảng viên. Một biện pháp quản lý cán bộ, đảng viên hưu trí được các cấp ủy đồng tình cao, đó là khi phát hiện được cán bộ, đảng viên tự ý bỏ sinh hoạt đảng thì thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về xóa tên đảng viên đó trong danh sách đảng viên để bảo đảm tính nghiêm minh trong kỷ luật của Đảng. Đối với trường hợp viện dẫn đủ lý do không chính đáng để lạm dụng chủ trương miễn sinh hoạt đảng hoặc bỏ sinh hoạt đảng, cần có hình thức kỷ luật thật thích đáng. Để chấn chỉnh tình trạng này, Trung ương cần điều chỉnh quy định, theo đó thẩm quyền miễn sinh hoạt đảng phải là đảng bộ cấp trên cơ sở, kèm theo đơn xin miễn sinh hoạt của cán bộ, đảng viên và cần có xác nhận của cơ quan y tế về tình trạng sức khỏe không bảo đảm việc tham gia sinh hoạt đảng. Bên cạnh đó, cấp ủy cần tăng cường kiểm tra, giám sát, kết hợp với tuyên truyền, giáo dục, nhằm nâng cao tính tự giác, vai trò lãnh đạo, tính tiền phong gương mẫu của người cán bộ, đảng viên hưu trí. Đối với những cán bộ, đảng viên hưu trí có biểu hiện đùn đẩy, trốn tránh trách nhiệm hoặc cố tình không nhận nhiệm vụ được giao, thực chất là “không làm nhiệm vụ đảng viên” như Điều lệ Đảng đã ghi, thì ngoài việc tuyên truyền, vận động nêu cao tinh thần, trách nhiệm, sẵn sàng nhận nhiệm vụ của người đảng viên, thì các cấp ủy, chi bộ quản lý trực tiếp cần có các biện pháp tham mưu cho cấp ủy xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên theo quy định. Tránh tình trạng cấp ủy biết rõ cán bộ, đảng viên hưu trí có biểu hiện thoái thác nhiệm vụ, cố tình trốn tránh trách nhiệm, nhưng vẫn bỏ qua, thậm chí cuối năm vẫn bình bầu “hoàn thành tốt nhiệm vụ” hoặc “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Đối với cán bộ, đảng viên không tôn trọng kỷ luật phát ngôn, viết và đăng tải tin, bài sai sự thật, thì tùy theo mức độ nặng nhẹ, cần phải được xử lý nghiêm, như trong Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, chỉ rõ: “Đảng viên vi phạm Quy định này phải được xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước”. Các cấp ủy, chi bộ cơ sở cần coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, bảo đảm giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng nói chung và kỷ luật phát ngôn nói riêng; đặc biệt, khi có trường hợp viết bài trái với quan điểm của Đảng để phát tán thì phải báo cáo kịp thời lên cấp ủy cấp trên để có hình thức xử lý; đồng thời, thường xuyên quan tâm làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ, đảng viên hưu trí.

Thứ tư, tăng cường công tác quản lý đảng viênđổi mới sinh hoạt chi bộ hưu trí. Các cấp ủy, chi bộ hưu trí cần tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên hưu trí theo Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng. Trung ương cần bổ sung, hoàn thiện quy định về quản lý cán bộ, đảng viên nói chung và quản lý cán bộ, đảng viên hưu trí nói riêng, xóa bỏ những “kẽ hở” dễ bị lợi dụng. Cụ thể là, cần bổ sung, hoàn thiện quy định về thủ tục chuyển sinh hoạt đảng, về điều kiện, thẩm quyền, thủ tục xét duyệt miễn sinh hoạt đảng, về cán bộ, đảng viên không chấp hành sự phân công của tổ chức đảng, về kỷ luật phát ngôn, viết bài phát tán tùy tiện,… cho phù hợp với tình hình mới. Các cấp ủy, chi bộ nơi cán bộ, đảng viên hưu trí sinh hoạt cần đổi mới phong cách, phương thức lãnh đạo, đổi mới cách ra nghị quyết, tăng cường tổ chức thực hiện nghị quyết, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động của chi bộ, cấp ủy. Sinh hoạt cấp ủy, chi bộ cần ngắn gọn, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm, đẩy mạnh và tăng cường tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt chi bộ, khắc phục tình trạng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ rườm rà, mất thời gian, nặng về thủ tục giấy tờ và cần đi thẳng vào những nội dung trọng tâm, chủ yếu, sâu sát với thực tiễn ở cơ sở./.

Tình hình đội ngũ cán bộ, đảng viên hưu trí hiện nay

 Đội ngũ cán bộ, đảng viên hưu trí là lực lượng quan trọng, nòng cốt ở các chi bộ, đảng bộ cơ sở. Đây là đội ngũ đã kinh qua nhiều lĩnh vực và môi trường công tác, có trí tuệ và hiểu biết sâu rộng, có uy tín và kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ; từng có nhiều đóng góp cho công tác đảng và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đa số cán bộ, đảng viên hưu trí có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ và bề dày kinh nghiệm qua quá trình công tác, có phẩm chất, đạo đức và lối sống lành mạnh, khi về hưu đều thực hiện đúng thủ tục, thời gian quy định chuyển sinh hoạt đảng, chấp hành nghiêm các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia sinh hoạt đảng, đóng đảng phí đầy đủ, chấp hành sự phân công công tác của tổ chức đảng giao. Trong sinh hoạt đảng, nhiều đồng chí nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, thẳng thắn, có nhiều đóng góp xây dựng nghị quyết của chi bộ, giữ gìn tư cách người đảng viên, đi đầu trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Số đông đội ngũ cán bộ, đảng viên hưu trí luôn nêu cao trách nhiệm, gương mẫu trong các hoạt động công tác, tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân nơi cư trú chấp hành, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương, cơ sở. Nhiều đồng chí có bề dày hoạt động công tác, tích cực đóng góp ý kiến, công sức, trí tuệ trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ của chi bộ, trong xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở nơi cư trú. Không ít cán bộ, đảng viên hưu trí vẫn nhiệt tình, gánh vác nhiệm vụ của Đảng giao, như đảm đương chức vụ bí thư, phó bí thư, cấp ủy viên hay công tác trong các đoàn thể nhân dân ở địa phương, giúp cấp ủy, chi bộ, đoàn thể đưa ra những chương trình, nghị quyết sát với thực tiễn ở cơ sở. Trên cương vị công tác của mình, hầu hết các đồng chí đều phát huy tốt vai trò lãnh đạo của người đảng viên, nêu cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ, được quần chúng nhân dân tín nhiệm. Họ suy nghĩ rằng, tham gia hoạt động công tác ở cơ sở không vì có thêm một chút thu nhập, mà xuất phát từ chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên, không chỉ góp sức mang lại lợi ích cho tập thể, cho cộng đồng, mà còn thực hiện được mục tiêu, lý tưởng của người đảng viên cộng sản. Họ thấu hiểu rằng, Điều lệ Đảng không quy định tuổi nghỉ hưu cho đảng viên, nên còn sức khỏe là còn cống hiến, không tự biến mình thành những người “vô lo, vô nghĩ”, mà luôn phát huy vai trò lãnh đạo, tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên cộng sản.

Tuy nhiên, có không ít cán bộ, đảng viên khi về hưu bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm, với những biểu hiện chính sau đây:

Một làkhông thực hiện thủ tục chuyển sinh hoạt đảngQuy định số 24-QĐ/TW, ngày 30-7-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về thi hành Điều lệ Đảng” quy định, đảng viên được cấp có thẩm quyền quyết định chuyển công tác sang đơn vị mới, được nghỉ hưu, nghỉ mất sức, thôi việc, phục viên hoặc thay đổi nơi cư trú lâu dài thì trong thời hạn 60 ngày làm việc kể từ ngày quyết định có hiệu lực hoặc thay đổi nơi cư trú phải làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng chính thức. Đồng thời, trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày giới thiệu chuyển đi, đảng viên phải xuất trình giấy giới thiệu sinh hoạt đảng với chi uỷ nơi chuyển đến để được sinh hoạt đảng. Nếu quá thời hạn trên, đảng viên hoặc tổ chức đảng vi phạm phải báo cáo lý do cụ thể để cấp uỷ có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định. 

Trong khi đa số thực hiện đúng quy định trên, thì vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên khi nghỉ hưu vẫn không thực hiện đúng quy định về thủ tục chuyển sinh hoạt đảng; cụ thể là kê khai không trung thực giữa nơi sinh hoạt đảng và nơi cư trú để “trốn” sinh hoạt đảng; thậm chí còn không nộp hồ sơ đảng, không làm thủ tục chuyển sinh hoạt về nơi cư trú hoặc có nộp, nhưng sinh hoạt thất thường hoặc bỏ sinh hoạt đảng. Tình trạng này đã và đang diễn ra ở khá nhiều nơi, thậm chí có cả đảng viên lúc đương chức là cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, thành phố, cán bộ trung, cao cấp ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang. Thực tiễn ở nhiều địa phương thời gian qua cho thấy, có những trường hợp cán bộ, đảng viên sinh sống ở thành phố không thực hiện chuyển sinh hoạt về đảng bộ xã, phường, thị trấn, khi cấp ủy nơi cư trú có ý kiến thì được trả lời là “đã chuyển sinh hoạt đảng về quê”. Cũng có trường hợp đúng là có chuyển sinh hoạt đảng về quê, nhưng không sinh hoạt, mà nhờ người thân trong gia đình, họ hàng báo vắng với lý do bận việc này, việc khác. Có một bộ phận cán bộ, đảng viên quan niệm rằng, đã nghỉ hưu là hoàn thành nhiệm vụ, được nghỉ ngơi, nên không cần thiết phải sinh hoạt đảng nữa, mà không hiểu rằng, họ đã tự đánh mất vai trò của người đảng viên cộng sản và cố tình quên đi lời hứa danh dự của mình trước Đảng là “suốt đời phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng”. Có thể nói, việc không chuyển sinh hoạt đảng để bỏ sinh hoạt đảng là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, gây ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đến uy tín của cá nhân đảng viên, mà còn đến uy tín của cả tổ chức đảng. Đây là “kẽ hở” lớn trong công tác quản lý cán bộ, đảng viên hiện nay.

Hai làviện mọi lý do để bỏ sinh hoạt đảng. Quy định số 24-QĐ/TW, ngày 30-7-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về thi hành Điều lệ Đảng”; Hướng dẫn số 01-HD/TW, ngày 28-9-2021, của Ban Bí thư, “Về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng” quy định, đảng viên tuổi cao, sức yếu không thể tham gia sinh hoạt đảng thì được xét miễn công tác và sinh hoạt đảng. Quy định này cho phép đảng viên được miễn sinh hoạt, nhưng vẫn bảo đảm các quyền lợi, như được dự đại hội, được cung cấp thông tin theo quy định, được xét tặng Huy hiệu Đảng khi có đủ tiêu chuẩn. Nhưng trên thực tế, không ít cán bộ, đảng viên khi nghỉ hưu thì có tâm lý muốn nghỉ ngơi, xả hơi sau một thời gian dài công tác, nên tìm mọi lý do để được miễn sinh hoạt đảng, thực chất là bỏ sinh hoạt đảng; trong số này, có cả cán bộ, đảng viên trung, cao cấp, những cán bộ, đảng viên từng giữ cương vị trong hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi nghỉ hưu.

Thực tiễn cho thấy, từ năm 1991 đến nay, có không ít cán bộ, đảng viên xin nghỉ sinh hoạt đảng, lấy lý do sức khỏe yếu và nhiều lý do khác. Thật khó để xác định các lý do mà những cán bộ, đảng viên này đưa ra là đúng hay chỉ là nguyên cớ để bỏ sinh hoạt đảng. Tình trạng cán bộ, đảng viên hưu trí lấy lý do sức khỏe hoặc nhiều lý do khác để bỏ sinh hoạt đảng đã và đang diễn ra ở một số nơi, thậm chí có người còn vận động, thuyết phục các đảng viên hưu trí khác bỏ sinh hoạt đảng. Thực chất đây là biểu hiện của sự “nhạt Đảng”, của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, với các biểu hiện khác nhau, như thờ ơ, dao động về tư tưởng chính trị, bàng quan trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc, trước khó khăn của đất nước, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, gây ảnh hưởng xấu không chỉ đến tổ chức đảng, mà còn có tác động tiêu cực tới các lĩnh vực trong đời sống chính trị - xã hội. Do vậy, cần nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, nhằm giải quyết vấn đề đang đặt ra trong công tác quản lý cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ và đảng viên hưu trí nói riêng hiện nay.

Ba là, không chịu nhận nhiệm vụ, thoái thác trách nhiệm. Một hiện tượng đáng lưu ý và khá phổ biến là nhiều cán bộ, đảng viên hưu trí không nhận nhiệm vụ, sợ va chạm, sợ trách nhiệm và áp lực công việc, nên tìm mọi cách thoái thác khi tổ chức đảng phân công. Thậm chí, có cán bộ, đảng viên khi còn công tác là cán bộ lãnh đạo, nhưng khi về hưu là “dân thường” thì ít tham gia sinh hoạt chi bộ, không nhận nhiệm vụ khi tổ chức đảng phân công. Có cán bộ, đảng viên hưu trí đến kỳ đại hội chi bộ, lấy đủ lý do “trốn” không tham dự để không phải nhận nhiệm vụ. Một hiện tượng đáng lưu ý là nhiều cán bộ, đảng viên hưu trí không muốn nhận nhiệm vụ ở các đoàn thể nhân dân ở cơ sở xã, phường, thị trấn, thôn, bản, tổ dân phố; không tham gia hoạt động trong các phong trào do địa phương phát động. Đây là một thực tế đáng lo ngại, dễ dẫn đến nguy cơ làm giảm sút tính chiến đấu, tính kỷ luật của tổ chức đảng ở cơ sở. Bởi lẽ hiện nay, việc kết nạp đảng viên mới ở cơ sở, nhất là ở nông thôn rất khó khăn, vì thiếu nguồn phát triển đảng viên, khi có tình trạng phổ biến là nhiều thanh niên, đảng viên trẻ rời địa phương đi làm ăn xa. Vì vậy, cán bộ, đảng viên hưu trí không đảm đương công tác, sẽ tạo ra khoảng trống lớn ở cơ sở. Có thể nói, việc thoái thác nhiệm vụ được giao của một bộ phận cán bộ, đảng viên hưu trí là biểu hiện thiếu tính tự giác, thiếu tính tiền phong, gương mẫu, thiếu tính đảng, tự đánh mất vai trò lãnh đạo của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Bốn là, phát ngôn tùy tiện, viết và đăng bài sai sự thật. Tình trạng phát ngôn tùy tiện, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, nói không nhất quán, đang tồn tại trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; trong đó, có cả cán bộ, đảng viên hưu trí, mà trước khi về hưu đã từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền. Gần đây, có một bộ phận cán bộ, đảng viên hưu trí tỏ thái độ công thần, bất mãn, hay nói ngang, nói trái, nói và làm không nhất quán giữa lúc đương chức với khi nghỉ hưu, nói trong hội nghị một kiểu, nói ngoài hội nghị một khác, nêu những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận phê phán lịch sử thiếu khách quan, thiếu toàn diện, gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ. Một số cán bộ, đảng viên khi còn đương chức thì tuân thủ nghiêm kỷ luật của Đảng, nhưng khi về hưu có thì biểu hiện “trở cờ”, “sám hối”. Ở mức độ nhẹ, họ nêu ra ý kiến một chiều về những vấn đề nhạy cảm trong xã hội, mà chưa được kiểm chứng hoặc có một bộ phận cán bộ, đảng viên còn hùa theo, ủng hộ một cách vô nguyên tắc những ý kiến sai trái. Ở mức độ cao, họ lấy lý do là “phản biện xã hội”, là “dân chủ” để phát ngôn, tuyên truyền công khai những ý kiến chủ quan, những quan điểm sai trái, công khai chê bai, đả kích, phủ nhận đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; khai thác về đời tư rồi bịa đặt, thêm thắt, nhằm xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp uy tín lãnh tụ và đội ngũ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta.

Có một bộ phận thường xuyên nghe đài, xem video, các phương tiện truyền thông xã hội của các thế lực phản động hoặc chia sẻ những thông tin xấu, độc, thông tin trên không gian mạng chưa được kiểm chứng. Nguy hại hơn, một bộ phận cán bộ, đảng viên trí thức, hưu trí, thậm chí có cả cán bộ, đảng viên trung, cao cấp có hiểu biết rộng, nhưng do mâu thuẫn cá nhân, bất mãn, nên đã viết “hồi ký” rồi phát tán, viết bài dưới góc độ chủ quan, bình luận, tuyên truyền các vấn đề sai trái, đăng tải tin, bài sai sự thật trên mạng xã hội, mà thực chất là phủ nhận những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam; thổi phồng khuyết điểm, khoét sâu những tiêu cực, bôi đen hình ảnh đất nước, gây nguy hại trong dư luận xã hội. Nhiều trường hợp thường xuyên trả lời báo chí nước ngoài mang tính chống phá hoặc tham gia các nhóm “xã hội dân sự”. Một số khác, khi được các trang mạng tán dương, dưới những mỹ danh “nhà yêu nước”, “nhà dân chủ” thì lại càng khoe mẽ, tỏ ra hợm hĩnh, mà không biết mình đang bị lợi dụng để trở thành “cái loa”, “con rối” trong tay bọn cơ hội, phản động, phản bội lại lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Có thể nói, thực trạng nêu trên là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gây tác hại không nhỏ cho Đảng, ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của tổ chức đảng, tác động trực tiếp đến tư tưởng, tâm lý, mục tiêu, lý tưởng phấn đấu vào Đảng của thế hệ trẻ - những nhân tố tích cực tiếp tục sự nghiệp vẻ vang của Đảng. Tác hại của những hiện tượng trên là rất nghiêm trọng, trực tiếp làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước.

Tiếp tục giữ vững, phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên hưu trí

 Cán bộ, đảng viên hưu trí là đội ngũ đông đảo, có kinh nghiệm, bản lĩnh, uy tín, tiếp tục có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, địa phương, đóng góp xây dựng tổ chức đảng các cấp. Tuy nhiên, cán bộ, đảng viên khi nghỉ hưu thường đứt gãy, gián đoạn vai trò lãnh đạo do chuyển đổi trạng thái từ “cán bộ” thành “thường dân”, một số đánh mất vai trò lãnh đạo, vi phạm nguyên tắc, không làm tròn vai trò lãnh đạo như đã tuyên thệ ban đầu, khi còn đương chức. Do đó, rất cần những giải pháp giữ vững, nâng cao vai trò lãnh đạo của cán bộ, đảng viên hưu trí gắn với định hình chế độ quản lý cán bộ, đảng viên nghỉ hưu phù hợp trong bối cảnh hiện nay.

Cán bộ, đảng viên hưu trí là đội ngũ đông đảo, có kinh nghiệm, bản lĩnh, uy tín, tiếp tục có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, địa phương (Trong ảnh:  Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặp mặt đại biểu dự Đại hội toàn quốc Hội Người cao tuổi Việt Nam)_Ảnh: TTXVN

Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo ngày nay

 Thứ nhất, nghiêm túc quán triệt, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ cũng như phát huy dân chủ trong quần chúng nhân dân(24). Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, phong cách, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, xem đây là nhiệm vụ thường xuyên, căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng các khía cạnh trong công tác xây dựng Đảng trên tinh thần “phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(25).

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, tinh thần cống hiến vì mục tiêu mang lại lợi ích của nhân dân, coi lợi ích của nhân dân là trên hết. Từ tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo ngày nay cần đặt lợi ích của nhân dân lên cao nhất, theo đó trong công việc, nhiệm vụ, phải có sự tận tâm, lo lắng, quyết tâm xử lý, giải quyết những vấn đề nảy sinh liên quan đến cuộc sống và sinh kế của người dân. Bên cạnh đó, luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, nhất là đức tính trung thực, kiên định, khiêm tốn, minh bạch. Cụ thể, người lãnh đạo cần giữ lời hứa, thực hiện các cam kết, từ đó, tạo niềm tin vững chắc cũng như sự tôn trọng từ nhân dân. Mặt khác, cần đổi mới để có các biện pháp xử lý phù hợp, đủ mạnh, đủ sức răn đe hơn, tránh kẽ hở, yếu kém để các đối tượng vị lợi, thoái hóa, biến chất lợi dụng hòng tham nhũng, trục lợi, chà đạp lên lợi ích, vô trách nhiệm với đời sống người dân.

Thứ ba, chú trọng đúng mức nhiệm vụ đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Theo đó, đội ngũ lãnh đạo cần nhanh chóng nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo và đổi mới phương thức quản lý và phát triển xã hội. Mặt khác, nâng cao ý thức học hỏi và tự phát triển, cập nhật kiến thức và phát triển kỹ năng lãnh đạo của mình để có khả năng đối phó với thách thức của tình hình mới; tạo điều kiện kết hợp giáo dục rèn luyện trong tập thể với phát huy tính chủ động, tự giác trong rèn luyện và tu dưỡng cá nhân. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Thứ tư, biết lắng nghe, thương yêu, có trách nhiệm với đời sống người dân. Người cán bộ lãnh đạo ngày nay cần lắng nghe ý kiến của cộng đồng, đồng thời tạo cơ hội cho người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định về các vấn đề chung. Ngoài ra, “vị thế công bộc” cần được đi kèm với trách nhiệm và lòng tự trọng; tuân thủ nguyên tắc đạo đức và dám chịu trách nhiệm trong tất cả quyết định và hành động của mình. Hiện nay, để tránh tình trạng không dám nghĩ, dám làm, “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo vừa phải không ngừng trau dồi bản lĩnh, ý chí kiên định thực hiện mục tiêu cách mạng, vừa luôn học hỏi và lắng nghe nhân dân; dám nghĩ, dám làm và dám ra quyết định ở những thời điểm khó khăn, có tính bước ngoặt; gần gũi, chân thành, tin tưởng đồng chí, đồng bào,... để quy tụ được mọi người, kiến tạo nguồn sức mạnh của khối đoàn kết trong chính quyền và nhân dân.

Thứ năm, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông trong việc phát hiện những biểu hiện thoái hóa, biến chất cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao nhằm trục lợi, tham ô, tham nhũng, gây hậu quả nghiêm trọng. Mặt khác, kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực; xây dựng văn hóa tiết kiệm; cấp ủy, đảng viên phải luôn luôn dựa vào dân, lắng nghe dân, gắn bó máu thịt với nhân dân,... Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo cần giữ gìn đức tính trong sạch, trọng liêm sỉ, danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực, ỷ lại, vô trách nhiệm với nhân dân, đất nước./.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo

 Về nội hàm, thuật ngữ “công” nghĩa là thuộc về nhà nước, việc chung cho mọi người, “bộc” có nghĩa là “đầy tớ”(1); như vậy, cụm từ “công bộc của dân” dùng để mô tả “người đầy tớ chung của dân”(2).Thực tế, công bộc của dân thường được hiểu như một triết lý, tư duy quản lý gắn trách nhiệm và nghĩa vụ của quan chức, người nắm quyền lãnh đạo (hoặc mở rộng là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước) trong thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích của nhân dân. Trên thế giới, khái niệm công bộc của dân (servant of the people) xuất hiện khá sớm, có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “servus” với nghĩa là nô lệ. Ở nước ta thời phong kiến, người thực hiện điều hành cơ quan công quyền là “quan” và “lại”, khi đó, khái niệm “công bộc của dân” chưa xuất hiện. Đến năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập, các khái niệm cán bộ, công chức, viên chức lần lượt ra đời, được Chủ tịch Hồ Chí Minh gói gọn trong thuật ngữ “công bộc của dân”.

Thực tế, lợi ích của đảng cộng sản cầm quyền luôn gắn bó, thống nhất với lợi ích giai cấp, như C. Mác và Ph. Ăng-ghen chỉ rõ: “Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản(3)”. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng ngoài lợi ích của nhân dân và của giai cấp công nhân, Đảng ta không có lợi ích nào khác(4)vàchính bản thân Người là một tấm gương sáng về đạo đức, tác phong của người cán bộ trong vai trò “người công bộc”; là hình ảnh đẹp, vĩ đại để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân noi theo. Trong hệ thống quan điểm của Người về công tác cán bộ, “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo đất nước là nội dung nổi bật; các phát biểu, bài viết của Người đã nhiều lần nhấn mạnh chức vụ, quyền lực của mỗi cán bộ lãnh đạo là do nhân dân tín nhiệm, ủy thác, cho nên, cùng với việc Đảng cầm quyền, được giao đảm nhiệm các vị trí trọng yếu trong cơ quan Nhà nước, khi thực thi các quyền lực đó, cán bộ lãnh đạo là những người đại diện cho nhân dân, là “công bộc của dân”, chứ không phải “làm quan cách mạng, ăn trên ngồi trốc. Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đày tớ của nhân dân”(5), điều này cũng có nghĩa,“tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân(6) và làm cán bộ chính là “suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”(7),...

Trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước, Người chỉ rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(8). Người tin tưởng và đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo giữ trọng trách lèo lái đất nước; coi họ là người có trách nhiệm chính định hình chính sách, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự thống nhất, đoàn kết của nhân dân. Nhìn chung, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo biểu hiện ở lòng trung thành với Đảng, với nhân dân. Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nhà nước của dân, do dân, vì dân được thành lập vào năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra(9). Theo đó, vị thế công bộc, đầy tớ của cán bộ bắt nguồn từ bản chất của chế độ dân chủ, cụ thể: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”(10). Như vậy, nhân dân là chủ thể đích thực của chế độ, người dân chỉ trao cho Đảng, Nhà nước quyền thực thi quyền lực lãnh đạo, quản lý xã hội theo ý tưởng và lợi ích của dân. Do đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là công bộc, là đầy tớ cho người đã giao quyền cho mình và có quyền phế truất mình; nhân dân là ông chủ nắm chính quyền, bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấyvà nếu “Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(11). Để giữ được “vị thế” trong lòng dân, Người căn dặn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, những đại biểu thay mặt nhân dân thi hành quyền lực nhà nước phải yêu thương và trung thành tuyệt đối với Đảng và lợi ích dân tộc, không ngừng tạo dựng niềm tin, sự ủng hộ từ nhân dân.

Thứ hai, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở sự tận tụy và trách nhiệm với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nhiệm vụ của chính quyền và các đoàn thể là phụng sự nhân dân, là làm đầy tớ cho dân(12). Tuy nhiên,từ “đầy tớ” ở đây không có nghĩa là “tôi tớ”, “tay sai” mà là tinh thần tận tâm, tận lực phụng sự, mang lại lợi ích cho nhân dân. Người yêu cầu: “Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò”(13), tức là “việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”(14); rằng “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi”(15). Theo đó, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải ghi nhớ rằng họ đang phục vụ lợi ích của nhân dân, đất nước với tinh thần “Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”(16). Thực tế, sứ mệnh phụng sự nhân dân chính là phụng sự chân lý lớn nhất, nên dù người cán bộ thực hiện vai trò gì, công việc gì, nhưng có lòng tận tụy vì dân thì đều là điều cao quý; đồng thời, cần xác định có làm tốt chức năng của “người lãnh đạo” mới có cơ sở làm tốt chức năng của “người đầy tớ” và chỉ khi làm tốt chức năng “người đầy tớ” thì mới có thể làm tốt chức năng “người lãnh đạo”. Thêm vào đó, người đầy tớ tận tâm, tận lực với dân thì sẽ được dân tin yêu, ủng hộ và quyền lãnh đạo của người làm lãnh đạo, cũng như “vị thế công bộc” được Đảng và nhân dân giao phó sẽ được bảo đảm. Như vậy, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở việc luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, đó cũng là phương pháp, tiêu chí đánh giá năng lực của chính người cán bộ lãnh đạo.

Thứ ba, cán bộ lãnh đạo cần giữ gìn chuẩn mực đạo đức cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức của cán bộ lãnh đạo, như “công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm”(17) là phẩm chất căn cốt của người “đầy tớ” nhân dân. Để khẳng định “vị thế công bộc” của mình, người cán bộ phải tuân theo những chuẩn mực nhất định, như “Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ. Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô, lãng phí. Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân”(18); mặt khác, luôn sẵn sàng đi đầu trong công việc, nỗi lo của dân, nhưng thành quả, niềm vui đạt được thì nhân dân phải được thụ hưởng trước; tránh biến quyền lực dân trao thành quyền lực cá nhân.

Thứ tư,“vị thế công bộc” còn được biểu hiện ở những đức tính, như cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư và phong cách ứng xử văn hóa, nhân văn, trọng nghĩa tình, nói đi đôi với làm, sống giản dị,... Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có một đặc điểm rất nổi bật là sự khiêm tốn, giản dị. Trong một chế độ mà ngay cả vị Chủ tịch nước luôn coi mình là đầy tớ của dân và khiêm tốn, dám nhận sai, không ngừng học tập, trau dồi để đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước thì chế độ ấy đích thực là của dân, do dân làm chủ. Theo Người, đức tính khiêm tốn, giản dị là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người, do đó người cán bộ lãnh đạo phải luôn lắng nghe, cập nhật kiến thức, phục vụ nhân dân một cách tận tâm, tránh lối sống tự phụ, xa cách với cuộc sống khó khăn, cực nhọc của người dân.

Ngoài ra, người cán bộ lãnh đạo phải có tinh thần tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Mặt khác, cần học hỏi và bàn bạc, giải thích với dân chúng về mọi việc, nhưng “tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng(19), dân chúng nói gì cũng làm theo, mà phải có bản lĩnh vững vàng để vừa nâng cao trình độ giác ngộ, dân trí của quần chúng, vừa tránh “sợ sai”, “sợ khuyết điểm”; phải có tư duy độc lập, không bị ảnh hưởng bởi mọi yếu tố ngoại lai; tuyệt đối tránh tư duy cá nhân, thái độ kiêng kỵ, vừa tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của một bộ phận quần chúng “chậm tiến”, vừa thực hiện tốt vai trò “cầm lái” của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chính tư tưởng bảo thủ, duy ý chí, không chịu đổi mới là sợi dây cột chân cột tay người ta, kìm hãm sự tiến bộ, phát triển nên phải tháo bỏ nó đi. Theo Người, muốn cán bộ công tác giỏi, muốn sự nghiệp đổi mới tiến lên, gặt hái được nhiều thành tựu năm sau to hơn năm trước thì nhất định phải dám nghĩ, dám làm, có gan phụ trách; bởi “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng” không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(20). “Vị thế công bộc” của người lãnh đạo chính là ở ý chí kiên định và dám làm, dám chịu trách nhiệm như vậy. 

Thứ năm, duy trì tinh thầnluôn học hỏi, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm và tự cải thiện bản thân để có năng lực đáp ứng công việc. Thực tế, năng lực để “phục vụ nhân dân” được thể hiện qua các yếu tố, như tri thức, kỹ năng, thái độ, hành vi,... Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc học hỏi, tự cải thiện là điều cần thiết cho người cán bộ lãnh đạo, phải “học tập, học tập nữa, học tập mãi” để nâng cao trình độ và khả năng lãnh đạo của mình. Người cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chất lượng, tận tụy, có đủ tri thức, khả năng thích nghi với tình hình và giải quyết các vấn đề phức tạp - yếu tố quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững của dân tộc. Người xem xét vị thế công bộc của người cán bộ lãnh đạo như một sứ mệnh lớn, phải đảm nhận trách nhiệm cao cả để thực hiện mục tiêu của cuộc cách mạng và phục vụ cho lợi ích của nhân dân, đất nước.

Dựa trên quan điểm của Chủ tịchHồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của đội ngũ cán bộ và quá trình đúc kết kinh nghiệm trong thực tiễn, đến nay, đã có nhiều chủ trương, chính sách được Đảng và Nhà nước ban hành nhằm bảo đảm xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với nâng cao năng lực, phẩm chất, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức, như Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW,ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương”; Quy định số 08-QĐi/TW,ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, trong đó, đề cao tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tránh tình trạng độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân; đặc biệt, Quy định số 214-QĐ/TW, ngày 2-1-2020, của Bộ Chính trị, về “Khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý” xác định rõ đội ngũ cán bộ, quản lý phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất năng lực và đạo đức cách mạng(21). Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, phải xây dựng “đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(22).

Một số vấn đề đặt ra:

Hiện nay, dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, như mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học - công nghệ,... đã hướng sự quan tâm của con người đến lợi ích vật chất, khiến một số người quá đề cao các yếu tố vật chất, hình thành, phát triển lối sống thực dụng, bỏ qua những giá trị, chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người, văn hóa xã hội; trong đó có một bộ phận không nhỏ nằm trong hàng ngũ “công bộc của dân”. Mặt khác, nhiệm vụ đổi mới tư duy chính trị và đổi mới tư duy kinh tế chưa có sự đồng bộ, thống nhất nên còn diễn ra tình trạng “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi đuôi chuột”. Thêm vào đó, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên có nơi, có lúc chưa thường xuyên; tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) của không ít cán bộ, đảng viên bị suy giảm nghiêm trọng; vấn nạn tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nhức nhối về đạo đức trong Đảng, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân và xã hội,...

Bên cạnh đó, căn bệnh “sợ trách nhiệm” đang có dấu hiệu ngày càng xuất hiện phổ biến và dễ lây lan, khó chữa trị; là biểu hiện tâm lý sợ bị liên lụy, thiếu tinh thần, trách nhiệm trong hoạt động công vụ, lo rằng lợi ích cá nhân bị ảnh hưởng, thiệt thòi... của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Những người mắc bệnh “sợ trách nhiệm” sẽ không dám đương đầu với khó khăn, thách thức, không dám đổi mới, sáng tạo; thường rụt rè, do dự, chỉ muốn làm việc cầm chừng cho “đủ bổn phận”, mong tránh phạm phải khuyết điểm; ngại “va chạm” trong quan hệ công việc, cơ quan, nhất là với cấp trên, thậm chí, lấy lý do làm việc tập thể, tôn trọng tập thể để dựa dẫm vào tập thể(23),... Từ thực tiễn đó, Đảng ta đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” nhằm chấn chỉnh những đối tượng đang “mắc phải” bệnh sợ trách nhiệm, đồng thời, bảo vệ đội ngũ cán bộ chính trực, dám nghĩ, dám làm.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Xuân Ký lắng nghe kiến nghị của nhân dân phường Hồng Phong, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh_Nguồn: baoquangninh.vn

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo và giá trị tham khảo trong công tác cán bộ hiện nay

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng nhiệm vụ rèn luyện tư cách, tác phong, phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, thể hiện trong hệ thống quan điểm, chỉ dẫn của Người về công tác cán bộ; trong đó, nội dung “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo vẫn còn nhiều giá trị tham khảo cả về lý luận và thực tiễn. Thời gian tới, cần tiếp tục vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo, góp phần xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ gặp gỡ nhân dân tại khu tái định cư sân bay Long Thành tại xã Lộc An, Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai_Nguồn: quochoi.vn

Lịch sử khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất đủ uy tín và năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi

 Sự thực là, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam đủ uy tín, năng lực lãnh đạo thắng lợi trong đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945).

Vừa mới ra đời, trong điều kiện chủ yếu phải hoạt động bí mật, trong 15 năm (1930 - 1945), tổ chức đảng bị thực dân đế quốc khủng bố, hệ thống tổ chức của Đảng hai lần phải xây dựng lại. Trong 15 năm ấy, Đảng chịu nhiều tổn thất, 4 đồng chí Tổng Bí thư của Đảng đã hy sinh, nhưng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng vẫn kiên trung vì lợi ích dân tộc, không nhụt chí trước kẻ thù. Đường lối chiến lược vạch ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên và bổ sung ở Luận cương (tháng 10-1930) đã đáp ứng khát vọng giải phóng dân tộc. Đi theo ngọn cờ của Đảng, dân tộc Việt Nam đã làm nên kỳ tích vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với sự kiện này, “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(6). Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, làm thay đổi vận mệnh dân tộc, thay đổi thân phận của người dân Việt Nam, từ người nô lệ trở thành người làm chủ nước nhà.

Bình luận về ý nghĩa lịch sử và tác động của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến những bước tiến của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX, nhà sử học người Pháp Charles Fourniau khẳng định: Cách mạng Tháng Tám “đã đem đến chiều sâu lịch sử của nó vào cuộc đấu tranh mà nhân dân Việt Nam đã tiến hành thắng lợi từ 1945 đến 1975”(7).

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dù có những tổ chức ra sức công kích, tranh giành quyền lãnh đạo, nhưng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo thắng lợi các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Giai đoạn 1945 - 1954: Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, chính thức khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, không bao lâu sau, thực dân Pháp đã quay lại xâm lược Việt Nam, đánh dấu bằng việc chúng nổ súng ở Nam Bộ. Lúc này, ở Việt Nam, vừa có hoạt động của trên 30 vạn quân ngoại quốc (Nhật, Tưởng, Anh, Pháp), vừa có các đảng phái phản động, nhất là Việt Quốc, Việt Cách. Trước bối cảnh chính quyền còn non trẻ, Đảng vừa ra hoạt động công khai, nắm chính quyền cách mạng lại phải đối phó với vô vàn khó khăn, buộc phải rút vào hoạt động bí mật, nhưng vẫn giữ vững sự lãnh đạo đối với cách mạng. Trước 3 thứ giặc (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm), cách mạng Việt Nam rơi vào tình thế như “nghìn cân treo sợi tóc”. Được nhân dân tin tưởng, Đảng đã khéo vận dụng nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến”, đưa cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo trong những năm 1945 - 1946, vững tâm thế bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc, với đường lối toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc Mỹ (1945 - 1954) đã bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng miền Bắc, đưa cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục tiến hành cách mạng giải phóng ở miền Nam. “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”(8).

Tại Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trong 31 đồng chí hiện nay là Ủy viên Trung ương Đảng ta, trước ngày khởi nghĩa đã được đế quốc Pháp tặng cho 222 năm tù đày”(9). Chỉ tính trong 15 năm đấu tranh trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và 9 năm kháng chiến, biết bao đảng viên ưu tú và quần chúng cách mạng đã vì dân, vì Đảng mà hy sinh một cách cực kỳ oanh liệt. Chỉ riêng trong cấp Trung ương, đã có 14 đồng chí bị thực dân Pháp bắn, chém, hoặc giết trong nhà tù. Bản lĩnh của Đảng sáng chói. Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Đúng là: Sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ cộng sản, của các anh hùng, liệt sĩ chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do.

Giai đoạn 1954 - 1975: Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, với mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành “con đê” ngăn chặn “làn sóng đỏ” (tức sự phát triển của chủ nghĩa xã hội) sang Đông Nam Á, đế quốc Mỹ đã xâm lược miền Nam, chia cắt đất nước Việt Nam. Những năm 1965 - 1968 và 1972, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Việt Nam đã tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, đồng tâm hiệp lực, hướng về mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Đây là một điểm sáng tạo độc đáo của đường lối cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước.

Sự thực là, sau 21 năm kháng chiến kiên cường, bất khuất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới của đế quốc Mỹ, chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước. Chiến công ấy là “một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”(10). Dân tộc Việt Nam tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên cả nước hòa bình, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sự thật cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất khởi xướng, lãnh đạo đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nâng tầm vị thế của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong hơn 10 năm 1975 - 1986, trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã tìm tòi con đường thích hợp đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở hai đầu biên giới; đồng thời, từng bước tháo gỡ khó khăn từ cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, hoạch định đường lối đổi mới toàn diện đất nước, tạo một bước ngoặt mới của cách mạng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.

Nêu cao trách nhiệm trước dân tộc, Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã xác định 4 nội dung trọng tâm cần đổi mới: “Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”(11). Gần 40 năm đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay), trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp, các thế lực thù địch không ngừng chống phá, song với bản lĩnh chính trị vững vàng và quyết tâm đổi mới, kiên định mục tiêu mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã chọn, Đảng đã giữ vững vai trò lãnh đạo, đưa cách mạng vượt qua cơn chấn động của thời cuộc, nhất là khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở các nước Đông Âu và Liên Xô khủng hoảng và đi vào đổ vỡ. Thông qua đổi mới, Việt Nam đã phá thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ quốc tế, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Việt Nam “tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam”(12).

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đang đi vào chiều sâu, đánh dấu sự trưởng thành mọi mặt về sự lãnh đạo của Đảng, mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng. Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử ấy thể hiện ở chỗ: Việt Nam đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng. Kinh tế tăng trưởng cao và ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa, xã hội có bước phát triển mới; đời sống nhân dân từng bước được nâng lên; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được củng cố; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, nếu năm 1989 GDP mới đạt 6,3 tỷ USD(13); năm 2000 là 40 tỷ USD(14), thì đến năm 2022 đạt 409 tỷ USD(15). Gần 40 năm đổi mới cũng là một chặng đường từng bước hội nhập quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức. Đại hội XIII của Đảng khẳng định sự thật: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(16).

Qua gần 40 năm đổi mới, trong một thời gian không dài, trong những điều kiện rất khó khăn, phức tạp, những thành tựu ấy đã minh chứng thuyết phục cho tính chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng. Đó cũng là cơ sở để khơi dậy khát vọng của nhân dân Việt Nam về một xã hội xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc.

Niềm tin chiến thắng _Nguồn: nld.com.vn

Nhiều học giả, chính trị gia, chuyên gia quốc tế đã có đánh giá tốt về thành tựu công cuộc đổi mới của Việt Nam. Đồng chí Tề Kiến Quốc, Đại sứ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam khẳng định: “Với những thành tựu nổi bật, công cuộc đổi mới đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt đất nước..., có ảnh hưởng vượt tầm quốc gia, gây ấn tượng cho cả thế giới”(17).  PGS, TS V.I. An-tô-sơ-chen-cô, Phó Giám đốc Trung tâm Việt Nam học thuộc Đại học quốc gia Mát-xcơ-va, Liên bang Nga, nhận xét: “Mười lăm năm trong tiến trình hàng nghìn năm lịch sử của Việt Nam là một khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi, nhưng nhân dân Việt Nam đã làm được những việc phi thường. Thắng lợi của công cuộc đổi mới đã chứng tỏ với thế giới rằng Việt Nam không phải chỉ là một dân tộc kiên cường bất khuất, giỏi chống giặc ngoại xâm mà còn có đủ tài trí để xây dựng và phát triển đất nước”(18). GS, TS Cho Jae Hyun, Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc, nhấn mạnh: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được đường lối chính trị đúng - một đường lối thể hiện sự kiên định về chiến lược; sự sắc sảo, mềm dẻo về sách lược; sự phong phú, sáng tạo và linh hoạt về phương pháp cách mạng... Việc Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của sản xuất hàng hóa và thị trường thực sự là một bước đổi mới tư duy. Điều này cũng cho thấy rằng, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng được Việt Nam vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể của mình... Công cuộc đổi mới ở Việt Nam là một chiến lược rất đúng đắn”(19).

Tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam còn được đấu tranh bảo vệ bằng cơ sở pháp lý. Việc hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng đã trở thành yêu cầu khách quan trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, được khẳng định trong tiến trình xây dựng Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 đến nay.

Hiến pháp đầu tiên của đất nước Việt Nam hiện đại (năm 1946) ghi rõ: Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của Cách mạng. Lời nói đầu Hiến pháp năm 1959 khẳng định: Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng lao động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới; Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được những thắng lợi vẻ vang. Hiến pháp năm 1980 hiến định: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lê-nin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Hiến pháp năm 1992 tiếp tục hiến định: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đến Hiến pháp năm 2013, Khoản 1, Điều 4 khẳng định và làm rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Khoản 2, Điều 4 bổ sung nội dung mới, thể hiện rõ hơn vai trò, trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân: Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Cả hai chiều quan hệ: Đảng với nhân dân và nhân dân với Đảng được xác định một cách biện chứng, bản chất là giải quyết mối quan hệ giữa lực lượng cầm quyền và cơ sở xã hội của nó.

Từ lịch sử đến hiện tại, vai trò lãnh đạo và trọng trách của Đảng đã được khẳng định trong Hiến pháp - luật cơ bản của Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất, ghi nhận địa vị pháp lý của đảng cầm quyền và được pháp luật bảo vệ. Đây là cơ sở pháp lý tối thượng, phản ánh ý chí, nguyện vọng và quyền lực thực sự của nhân dân Việt Nam; là kết quả vận động tất yếu khách quan của lịch sử. Những cơ sở lịch sử và pháp lý đó góp phần cung cấp luận cứ chủ yếu, cần được nắm vững và sử dụng hiệu quả trong đấu tranh bảo vệ tính chính danh, chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới./.