Thứ Tư, 27 tháng 12, 2023

NHỮNG LUẬN CỨ ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU KHI CHO RẰNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TÁCH RỜI, ĐỐI LẬP VỚI CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

 

Những ý kiến xuyên tạc, cho rằng, Hồ Chí Minh là một người yêu nước, là một người theo chủ nghĩa dân tộc, chỉ mong muốn làm thế nào để giải phóng đất nước, giành lại độc lập cho dân tộc Việt Nam. Trong khi đó, chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết về đấu tranh giai cấp, là hệ tư tưởng chỉ của riêng giai cấp công nhân, nên đối lập với cả chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc mà Hồ Chí Minh theo đuổi. Những ý kiến kiểu này đã cố ý không thấy một thực tế là Hồ Chí Minh không chỉ muốn giải phóng đất nước, giành lại độc lập cho dân tộc, mà quan trọng hơn nữa là phải làm thế nào để toàn thể người dân được hưởng một cuộc sống hạnh phúc, ấm no thực sự sau khi giành được độc lập, như Người đã từng tâm sự: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Bởi trong quan niệm của Người, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Người chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.

Đó chính là lý do để lý giải vì sao mặc dù đánh giá cao cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp và đúc kết được những kinh nghiệm quý báu từ hai cuộc cách mạng tiêu biểu này trong thời cận đại, nhưng Hồ Chí Minh đã thẳng thắn nêu lên nhận xét về những cuộc cách mạng đó xét về bản chất đều là những cuộc cách mạng “không đến nơi”, chỉ mang lại quyền lợi cho một thiểu số người trong xã hội, trong khi đại đa số những người dân lao động vẫn phải chịu cảnh bị áp bức, bóc lột, bất công và vẫn phải mưu tính làm cách mạng lần nữa. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã quyết định không lựa chọn con đường cứu nước và phát triển của dân tộc Việt Nam theo hình mẫu của các cuộc cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp. Thực tế, như chúng ta đều biết, qua quá trình nghiên cứu, khảo sát nhiều trào lưu tư tưởng chính trị trong hành trình bôn ba nước ngoài, Người đã lựa chọn con đường cách mạng do chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra: con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện ba sự nghiệp giải phóng là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trong một chỉnh thể thống nhất để thực sự mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc triệt để cho tất cả người dân, không phân biệt giàu nghèo, vùng miền, không phân biệt dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số, có tôn giáo hay không theo tôn giáo, nam hay nữ, .... Nói cách khác, con đường cách mạng vô sản theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc một cách triệt để mà Hồ Chí Minh luôn phấn đấu thực hiện.

Lại có ý kiến cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã đánh tráo khái niệm khi luận giải Hồ Chí Minh đặt vấn đề dân tộc lên trên hết và trước hết, trong khi chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ coi trọng vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, coi trọng bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân. Như vậy, rõ ràng là tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin (?).

Đúng là trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, khi giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề dân tộc lên trên hết và trước hết và xác định vấn đề giai cấp phải xếp sau vấn đề dân tộc, phục vụ cho vấn đề dân tộc. Nhưng đây là sự vận dụng và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là sự quán triệt, vận dụng đúng đắn linh hồn của chủ nghĩa Mác-Lênin - phương pháp luận duy vật biện chứng, vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa phong kiến như Việt Nam; là sự vận dụng quy luật chung vào hoàn cảnh cụ thể, đặc thù, hết sức sinh động, muôn màu, muôn vẻ của những hiện tượng, quá trình lịch sử riêng biệt. Sự vận dụng và phát triển sáng tạo đó là cần thiết, đã thể hiện theo đúng lời dặn của V.I.Lênin: “Chúng ta không hề coi lý luận Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu với cuộc sống”. Vì vậy, không thể đánh đồng sự vận dụng và phát triển sáng tạo với sự mâu thuẫn, đối lập.

 

 

 

 

 

 

 

 

CHIẾN THẮNG “HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG” TINH THẦN BẤT DIỆT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

  

Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” không chỉ đem lại niềm tin to lớn cho quân và dân ta, mà còn được đánh giá là một trong những chiến thắng mang tầm vóc lịch sử ở thế kỷ XX, để lại nhiều bài học quý giá; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình, sáng tạo của Đảng, cũng như sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bè bạn quốc tế và nhân loại yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Cuối năm 1972, Việt Nam và Mỹ đáng lẽ đã đi tới một hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, nhưng Washington lại quyết định dùng sức mạnh của "át chủ bài" cuối cùng là máy bay ném bom chiến lược B52, để âm mưu “đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá”, sử dụng sức mạnh quân sự để buộc ta phải chấp nhận những điều kiện áp đặt của họ trên bàn đàm phán.

Ngày 14/12/1972, Tổng thống Mỹ đã ra lệnh cho Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân lập kế hoạch sử dụng máy bay B52 đánh phá Hà Nội mang tên "Chiến dịch Linebacker II". Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 17/12/1972, Tổng thống Nixon ra lệnh mở cuộc tiến công bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc.

Trước tình hình đó, quân đội Việt Nam đã triển khai, bố trí lực lượng đối phó với quân địch, đồng thời lên kế hoạch sơ tán người dân đến khu vực an toàn. Sau 4 ngày khẩn trương thực hiện, Hà Nội đã chuyển ra khỏi nội thành 26 vạn người.

Thực tế là, không phải đến cuối năm 1972, mà ngay từ 7 năm trước đó - năm 1965, khi đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam, tiến hành “chiến tranh cục bộ” và bắt đầu sử dụng lực lượng ném bom chiến lược B52 trên chiến trường, trong một lần đến thăm bộ đội phòng không Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “bê” gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa, ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Cuối năm 1967, khi làm việc với Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước mọi tình huống, càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị. Nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội”.

Trong 12 ngày đêm khói lửa (từ ngày 17/12 – 29/12/1972), Mỹ đã huy động 663 lượt máy bay B52, 3.920 lượt máy bay chiến thuật tấn công Hà Nội và các tỉnh miền Bắc của Việt Nam; thả hơn 36.000 tấn bom, vượt quá khối lượng bom đã ném xuống miền Bắc Việt Nam trong toàn bộ thời kì từ năm 1969 đến 1971. Bằng đường lối chiến tranh đúng đắn, chúng ta đã xây dựng được thế trận Phòng không - Không quân nhân dân rộng khắp, mà nòng cốt là bộ đội phòng không. Chỉ trong 12 ngày đêm ấy, lần đầu tiên trong lịch sử "siêu pháo đài bay B52” thất trận và không quân Mỹ phải chịu thiệt hại nặng nề nhất. Quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F111 và 42 máy bay chiến thuật khác, bắt 43 phi công Mỹ (có 33 phi công B-52) làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo ra bước ngoặt lịch sử cho cách mạng Việt Nam, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Để làm nên chiến thắng đó, ngoài sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, còn là sức mạnh ý chí quyết chiến, quyết thắng, sự xả thân chiến đấu cho hòa bình, độc lập của quân và dân Việt Nam. Trong đó, góp phần không nhỏ để giữ bầu trời Hà Nội trong những ngày đêm khốc liệt ấy là những trận địa lửa: Trận địa của quân và dân Hà Nội với ý chí và lý tưởng chiến đấu quật cường.

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là niềm kiêu hãnh, là bài học quý giá về sức sáng tạo, lòng dũng cảm và chiến thuật quân sự chống tiến công hỏa lực đường không của quân và dân ta. Thời gian đã lùi xa, song chiến thắng này vẫn còn nguyên giá trị về tinh thần bất diệt trong lịch sử dân tộc cũng như sự ngưỡng mộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới; đồng thời để lại những bài học sâu sắc về phát huy sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc chúng ta hôm nay và mai sau. Các thế hệ hôm nay tôn vinh lịch sử, phát huy truyền thống hào hùng và với sức sáng tạo để tiếp tục làm lên những Điện Biên Phủ, không chỉ ở mặt đất, ở trên không, mà còn có thể ở bất kỳ một vùng miền nào của Tổ quốc./.

 

CHIÊU TRÒ CHỐNG PHÁ TRONG CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI

 

Trong thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng nước ta, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thực hiện chống phá toàn diện trên mọi lĩnh vực từ chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Mục tiêu của chúng là nhằm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là âm mưu cơ bản lâu dài, phản ánh bản chất chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội của các thế lực thù địch, phản động.

Chúng thực hiện các nội dung chống phá với phương châm cơ bản là: Lấy chính trị, tư tưởng, văn hóa làm hàng đầu; lấy kinh tế là mũi nhọn; lấy ngoại giao làm hậu thuẫn; dùng nhân quyền, dân chủ, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với răn đe, uy hiếp, gây sức ép về quân sự, an ninh. Trong đó, đối ngoại là một trong những lĩnh vực mà các thế lực thù địch, phản động đặc biệt chú trọng. Việt Nam càng thành công, càng giành được nhiều thành tựu, vị thế của Việt Nam ngày càng nâng cao thì các thế lực thù địch, phản động càng hằn học gia tăng chống phá cả về cường độ, tần suất và diện bao phủ của các thông tin xuyên tạc. Chúng coi việc thực hiện những âm mưu, thủ đoạn chống phá trong lĩnh vực đối ngoại là hậu thuẫn, hỗ trợ cho các lĩnh vực, các nội dung chống phá khác. Đặc biệt, lợi dụng việc Việt Nam đã và đang đẩy nhanh tiến trình mở cửa, hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ với nhiều nước trên thế giới, các thế lực thù địch, phản động âm mưu dùng ngoại giao để hướng lái Việt Nam đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Chúng vừa kiềm chế, ngăn cản Việt Nam mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới, vừa chia rẽ Việt Nam với các nước, vừa hạ thấp vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế, ngăn cản tiến trình Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế; mua chuộc, lôi kéo Việt Nam phụ thuộc, từng bước chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Lợi dụng việc Việt Nam hoàn thành xuất sắc vai trò chủ nhà của các sự kiện đối ngoại, chúng xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại; phủ nhận thành tựu mà ta đã đạt được, phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta với các chiêu bài, như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia...

Chúng triệt để lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để tung tin thất thiệt, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước. Chúng cố tình làm nóng vấn đề Biển Đông, hướng lái dư luận phá hoại quan hệ, chia rẽ, gây mẫu thuẫn giữa Việt Nam với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Chúng tìm mọi cách lôi kéo Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, từ bỏ chính sách quốc phòng “Bốn không”.

Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, chúng lôi kéo, kích động đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép đối với Việt Nam. Chúng sử dụng các tổ chức ngoại giao chính phủ, tổ chức ngoại giao nhân dân, các tổ chức phi chính phủ, yêu sách hòng áp đặt các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền theo kiểu phương Tây vào Việt Nam...

Các nội dung chống phá trong lĩnh vực đối ngoại nêu trên được các thế lực thù địch, phản động thực hiện mọi lúc, mọi nơi, đặc biệt trong dịp các ngày lễ lớn, sự kiện trọng đại của đất nước. Chúng triệt để khai thác thế mạnh của mọi phương tiện thông tin, truyền thông cả thuyền thống và hiện đại, tạo nên “ma trận” và sức mạnh tổng hợp chống phá cách mạng Việt Nam.

Kế thừa đường lối đối ngoại qua các kỳ đại hội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII xác định tiếp tục phát triển và hoàn thiện đường lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa; “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”.

Để tiếp tục tăng cường mở cửa, hội nhập, tổ chức tốt sự kiện đối ngoại, qua đó khẳng định vị thế của Việt Nam, đồng thời góp phần đấu tranh phản bác những thông tin, luận điệu xuyên tạc, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động chống phá đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước, chúng ta cần tập trung thực hiện chặt chẽ, đồng bộ nhiều biện pháp. Đặc biệt, cần phải đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại để cấp ủy, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn thể nhân dân nhận thức sâu sắc quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, từ đó tạo sự đồng thuận xã hội, tăng cường sự ủng hộ và niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong triển khai có hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại đã xác định.

Trước những diễn biến phức tạp, nhạy cảm của tình hình thế giới và khu vực, các thế lực thù địch sẽ gia tăng mũi nhọn tấn công xuyên tạc, chống phá đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải bám sát hơn nữa tình hình thế giới, khu vực và trong nước, chủ động nắm chắc diễn biến tình hình có liên quan, phát hiện sớm để kịp thời vạch trần, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá, phản bác mạnh mẽ, thuyết phục những luận điệu sai trái, bóp méo, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam./.

 

 

DANH HIỆU BỘ ĐỘI CỤ HỒ LÀ BÁU VẬT NHÂN DÂN TRAO CHO QUÂN ĐỘI

 

Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, quân nhân cũng phải giữ gìn phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, làm cho tài sản mang giá trị tinh thần này sống mãi trong lòng nhân dân. Theo tôi, muốn vậy, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Một là, làm tốt hơn nữa công tác giáo dục chính trị, lịch sử truyền thống, giúp bộ đội nhận thức đầy đủ, sâu sắc giá trị, ý nghĩa phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; vai trò, trách nhiệm của quân nhân đối với bảo vệ, tuyên truyền và lan tỏa danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Hai là, kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện sai trái, hạ thấp giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; xử lý nghiêm những hành vi bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, xét lại lịch sử, truyền thống Quân đội ta; tuyệt đối không mắc mưu “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội. Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, xây dựng các tiêu chí, chuẩn mực về giá trị, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, phù hợp với xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Bốn là, cán bộ, chiến sĩ ra sức tu dưỡng, rèn luyện để mãi mãi xứng danh Bộ đội Cụ Hồ; luôn “tự soi, tự sửa”, ngăn ngừa những biểu hiện không tốt làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội, danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ; chú trọng xây dựng bản lĩnh chính trị, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao; thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Chăm lo xây dựng đoàn kết nội bộ; nâng cao hơn nữa đời sống vật chất, tinh thần; gắn bó máu thịt với nhân dân; có tinh thần quốc tế trong sáng.

Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ là “báu vật” nhân dân trao cho Quân đội nên cán bộ, chiến sĩ phải luôn trân trọng, nâng niu, giữ gìn như giữ gìn điều thiêng liêng nhất, là lương tâm và danh dự của mình.

"BÂY GIỜ GIỮ NỀN ĐỘC LẬP CÀNG CẦN ĐOÀN KẾT HƠN"

 

Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, ngày 3-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa.

Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa”. Lời căn dặn của Người được đăng trên Báo Cứu quốc, số 108, ra ngày 4-12-1945.

Đây là thời điểm nước ta vừa mới giành được nền độc lập, phải thực hiện nhiều nhiệm vụ cấp bách, như: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm, mở rộng quan hệ với các nước tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam... Lời căn dặn của Bác có ý nghĩa sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần đối với đồng bào các các dân tộc hãy xóa bỏ mọi bất hòa, thành kiến, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để bảo vệ nền độc lập đã giành được.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang quyết liệt thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động ý thức về tộc người và lợi dụng sự chênh lệnh về trình độ phát triển giữa các dân tộc để tạo mâu thuẫn, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, là nền tảng lý luận cho chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; định hướng, dẫn dắt cho hoạt động thực tiễn nhằm giải quyết tốt vấn đề dân tộc trong tình hình mới. Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.

Gần 80 năm qua, bằng những việc làm thiết thực như tham gia phát triển kinh tế-xã hội, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, phòng, chống thiên tai, bão lũ, hỏa hoạn, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bài trừ hủ tục mê tín, dị đoan, tệ nạn xã hội… cán bộ, chiến sĩ quân đội đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước. Trong giai đoạn mới, phát huy bản chất và truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội nguyện kề vai sát cánh với đồng bào các dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, xây dựng miền núi, vùng các dân tộc ngày càng vững mạnh, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

“BỘ ĐỘI PHẢI KÍNH TRỌNG DÂN, GIÚP ĐỠ DÂN. DÂN PHẢI THƯƠNG YÊU BỘ ĐỘI, ỦNG HỘ BỘ ĐỘI. QUÂN VÀ DÂN PHẢI LUÔN LUÔN ĐOÀN KẾT NHẤT TRÍ”

 

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong thư “Gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ Đường số 4 cùng dân quân du kích và đồng bào trong miền Đường số 4”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 1411, ra ngày 02 tháng 12 năm 1949.

Là người trực tiếp tổ chức thành lập, giáo dục và rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trong đó, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết quân dân luôn được Người quan tâm đặc biệt, thường xuyên nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Lời căn dặn của Bác ngắn gọn nhưng sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần về trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm của quân đội đối với nhân dân. Thấm nhuần lời căn dặn của Hồ Chủ tịch, gần 70 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân; gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng thương yêu dân, quý trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân; ngược lại, nhân dân cũng hết lòng yêu thương, đùm bọc, chăm sóc, giúp đỡ quân đội. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, trong khó khăn cũng như hoạn nạn, mối quan hệ quân dân “cá - nước”, đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó, làm cho tình đoàn kết giữa nhân dân và quân đội ngày càng thêm bền vững.

Hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, trước những tác động của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là những tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế, cũng như sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn, biện pháp hết sức thâm độc nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, tiến tới làm suy yếu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội. Lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, góp phần quan trọng định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết với nhân dân.

Thực hiện tốt lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải luôn có ý thức sâu sắc về nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm đối với nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua rèn luyện phẩm chất cao đẹp “Bộ đội cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Ra sức thực hiện lời dạy của Bác về “Dân vận khéo”, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quan hệ chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền, nhân dân địa phương nơi đóng quân, tăng cường các hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa đơn vị quân đội với địa phương; tích cực giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa mới; đặc biệt, luôn chủ động, dũng cảm, kịp thời giúp dân phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn...

“…CHỈ CÓ HAI HẠNG NGƯỜI KHÔNG MẮC KHUYẾT ĐIỂM”

 

Trong bài nói tại Hội nghị nghiên cứu lịch sử Đảng của Ban Tuyên giáo Trung ương, ngày 28-11-1959, được Báo Nhân Dân số 2093, đăng ngày 9-12-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “…Chỉ có hai hạng người không mắc khuyết điểm: Là đứa bé còn ở trong bụng mẹ và người đã chết bỏ vào quan tài. Có hoạt động thì khó tránh khỏi khuyết điểm. Nhưng khi có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình, hoan nghênh người khác phê bình và kiên quyết sửa chữa”.

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới với đặc điểm: Đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền, miền Bắc đã có hòa bình, dưới sự lãnh đạo của Đảng đang bắt đầu xây dựng một xã hội mới, miền Nam vẫn còn dưới ách đô hộ, áp bức của chủ nghĩa đế quốc. Đây cũng là thời điểm Đảng và Chính phủ, các cấp và các ngành từ Trung ương đến địa phương tiến hành công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc một cách kiên quyết và toàn diện, trên tinh thần đề cao, thật thà tự phê bình và phê bình (TPB&PB) để nghiêm túc khắc phục, sửa chữa khuyết điểm.

Trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn, mỗi con người và mỗi tổ chức đều có những ưu điểm và khuyết điểm, có mặt thuận lợi và khó khăn, có nhân tố tích cực và tiêu cực, có cái tiến bộ và cái lạc hậu. Quá trình phát triển của mỗi con người, mỗi tổ chức như thế nào và theo chiều hướng nào phụ thuộc chính vào cách thức giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt tốt - xấu, thuận lợi - khó khăn, tích cực - tiêu cực. Mỗi đảng viên và tổ chức đảng cũng như vậy; muốn tiến bộ và phát triển thì phải phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Muốn sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phải đề cao và thật thà TPB&PB.

Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về TPB&PB, trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động, Đảng ta luôn coi trọng TPB&PB; coi đó là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của Đảng với nhân dân. TPB&PB là biện pháp quan trọng để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, vấn đề TPB&PB càng trở nên cần thiết hơn.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đặc biệt là giáo dục về đạo đức cách mạng, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu rõ vai trò, sự cần thiết phải đẩy mạnh TPB&PB, mục đích phương pháp TPB&PB; duy trì, thực hiện nghiêm túc nền nếp chế độ TPB&PB trong các cấp ủy đảng, các tổ chức trong đơn vị. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất cao trong đơn vị, chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội thực dụng, cục bộ bè phái, mất đoàn kết. Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm cán bộ, chiến sĩ vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, xây dựng tổ chức đảng TSVM, đơn vị VMTD “Mẫu mực, tiêu biểu” hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. 

KHÔNG BÁN RẺ CHỮ ''LIÊM''

  

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích ngắn gọn: “Liêm là trong sạch, không tham lam”, là liêm khiết, là luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân. Người nhấn mạnh: “Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, chữ “liêm” trong thực thi công vụ rất quan trọng. Đối với lực lượng thực thi và bảo vệ pháp luật (công an, thanh tra, kiểm toán, kiểm sát, tòa án), chữ “liêm” còn quan trọng hơn nhiều lần. Trong điều kiện Đảng ta đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, vai trò của chữ “liêm” với lực lượng này càng quan trọng hơn nữa.

Quan trọng là bởi tính chất công việc của họ phải tìm ra chứng cứ, tìm ra sai phạm, để đưa ra ánh sáng những kẻ lợi dụng chức vụ, quyền hạn, cố tình làm sai hoặc câu kết làm sai, chiếm đoạt tiền, tài sản của dân, của nước một cách tinh vi. Quan trọng là bởi chữ “liêm” giúp họ làm việc công minh chính trực, không “gắp lửa bỏ tay người”, xử lý đúng người, đúng tội, tránh oan sai. Bởi với họ, chữ “liêm” giống như “kim chỉ nam”, giúp giữ vững bản lĩnh, khí tiết, trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, không bị mua chuộc, lôi kéo; không bị đồng tiền, vật chất đánh đổ danh dự, uy tín...

Về lý luận ai cũng hiểu như thế. Nhưng thực tế, trong lực lượng thực thi và bảo vệ pháp luật vẫn còn xuất hiện không ít những kẻ cơ hội, lợi dụng công vụ để đạt lợi ích cá nhân. Họ đã bỏ chữ “liêm” để đổi lấy vật chất bằng nhiều thủ đoạn, cách làm khác nhau. Người thì lợi dụng chức vụ, mối quan hệ để thông đồng làm việc phi pháp, thu lợi bất chính; kẻ thì dùng vị trí công tác, công việc và chứng cứ để đe dọa, tống tiền đối tượng tham nhũng, tiêu cực. Cũng không ít người lại tiếp tay, bảo kê cho đối tượng làm sai ngay từ đầu để trục lợi...

Có rất nhiều câu chuyện bán rẻ chữ “liêm” xảy ra trong lực lượng bảo vệ và thực thi pháp luật đã bị dư luận lên án. Bởi đây là hành vi xúc phạm niềm tin của nhân dân trắng trợn nhất. Để ngăn chặn hiện tượng này, vấn đề tiên quyết là phải bám sát chỉ đạo trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cụ thể là: “Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra và các cơ quan tư pháp để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ sai phạm theo quy định của pháp luật”.

Để làm tốt chỉ đạo này, cần xây dựng, bồi dưỡng, giáo dục chữ “liêm”, củng cố đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị. Ngoài ra, quá trình sử dụng lực lượng trong thực thi công vụ phải ngăn chặn, chống các biểu hiện thông đồng, móc ngoặc.

Cũng là nhằm tránh cho lực lượng bảo vệ, thực thi pháp luật không bị sa ngã trước đồng tiền thì cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan phải gương mẫu về tinh thần tận tụy, tận tâm và liêm khiết. Luôn gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện các quy định của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Phải chịu trách nhiệm về cấp dưới bằng cách tự nguyện từ chức nếu để xảy ra tiêu cực trong thực thi công vụ.

Cần xây dựng cơ chế kiểm soát, dùng công nghệ thông tin để hạn chế tiếp xúc với đối tượng; giám sát hành vi, hành động của lực lượng thực thi, bảo vệ pháp luật nghiêm ngặt; ngăn chặn biểu hiện lợi dụng công vụ, chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, “vòi vĩnh”, “chung chi”. Cùng với đó là triển khai rộng rãi hệ thống ghi âm, ghi hình, camera trực tuyến tại các địa điểm có tiếp xúc trực tiếp với người dân, doanh nghiệp và có bộ phận thường trực theo dõi, giám sát thường xuyên; công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng số điện thoại đường dây nóng để tiếp nhận các ý kiến phản ánh của người dân, doanh nghiệp về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức.

Người đứng đầu các cơ quan bảo vệ, thực thi pháp luật cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan, đơn vị và cán bộ thuộc quyền. Kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cá nhân thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật, định kỳ luân chuyển vị trí công tác đối với những vị trí nhạy cảm, phức tạp theo đúng quy định. Lựa chọn, bố trí người có đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, liêm khiết đảm nhiệm các vị trí nhạy cảm, nhất là đối với các trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra viên.

Nếu không ngăn ngừa được hành vi bán rẻ chữ “liêm” trong lực lượng bảo vệ, thực thi pháp luật thì tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là cám dỗ từ “đạn bọc đường” sẽ rất khó kiểm soát và công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta sẽ bị ảnh hưởng, không đạt hiệu quả như mong mỏi của nhân dân.

                                            

 

Chuyện người thầy trở về từ chiến trường

            Thầy Phạm Hải Triều sinh năm 1951, quê tại xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn (Ninh Bình). Năm 1969, thầy đỗ vào Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Bước vào giảng đường đại học với nhiều hoài bão, mơ ước của tuổi trẻ, nhưng đứng trước tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng sinh viên Khoa Văn Hải Triều đã tình nguyện lên đường ra mặt trận.

Năm 1971, cùng với các sinh viên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Phạm Hải Triều đã hăng hái xung phong ra trận với trái tim tràn đầy nhiệt huyết được cống hiến, hy sinh khi Tổ quốc lâm nguy. Ông nhập ngũ và được huấn luyện tại Sư đoàn 325 ở Nhã Nam, Hà Bắc. Kết thúc huấn luyện, Hải Triều được bổ sung vào Tiểu đoàn 14, Trung đoàn 58, Sư đoàn 308 (nay thuộc Quân đoàn 1), rồi hành quân vào chiến trường Quảng Trị, nơi mỗi mét vuông đất là một mét vuông đạn bom và máu đổ.

Chuyện người thầy trở về từ chiến trườngCựu chiến binh, thầy giáo Phạm Hải Triều.

Đặt chân tới chiến trường, người lính trẻ Phạm Hải Triều cảm nhận ngay sự khốc liệt của chiến tranh và có thể nói, Quảng Trị khi ấy là chiến trường ác liệt nhất. Những khoảnh khắc vào sinh ra tử, cảm giác tàn khốc khi viên đạn sượt qua đầu, chứng kiến đồng đội người bị thương nặng, người hy sinh ngay trước mắt mình, người lính Hải Triều không khỏi có lúc ớn lạnh. Nhưng bằng ý chí và bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ, anh đã không do dự, sợ hãi mà chính sự hy sinh của đồng đội đã thôi thúc anh, thắp sáng trong anh ngọn lửa của lòng dũng cảm, biến nỗi đau thành hành động, chiến đấu với quân thù.

Cựu chiến binh Phạm Hải Triều nhớ lại: “Lúc đó, Hiệp định Paris vẫn đang trên bàn đàm phán. Lính sinh viên như chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần lạc quan vì được góp phần vào công cuộc giải phóng đất nước. Giữa chiến trường, vấn đề sinh tử không ai quyết định được. Đã có nhiều người ngã xuống, nhưng khi hành quân, cảm xúc mãnh liệt nhất khi ấy là dù không biết sống chết thế nào, chúng tôi đều muốn phải nhanh chóng vượt sông Bến Hải, vào chiến trường, tham gia cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc”.

Ở nơi chiến trường ác liệt ấy, người lính Phạm Hải Triều, vì có năng lực viết lách nên còn được giao thêm nhiệm vụ vừa chiến đấu vừa viết nhật ký cho tiểu đoàn. “Tôi tận mắt chứng kiến nhiều người hy sinh, nhiều người bị thương nặng có, nhẹ có. Tôi không chỉ trực tiếp nghe, nhìn và ghi lại chi tiết những khoảnh khắc ác liệt nhất, những cái chết thương tâm nhất tại chiến trường mà chính bản thân mình cũng bị bom đạn vùi dập”- thầy Phạm Hải Triều nhớ lại. Có lẽ, chính sức mạnh tập thể, lòng yêu nước đã tôi rèn cho những người lính, dù tuổi đời còn non trẻ, họ vẫn kiên định, vững vàng đứng ở tuyến đầu cuộc chiến. Với Phạm Hải Triều khi ấy, cũng như nhiều người lính là sinh viên khoa văn khác, họ còn có một tâm hồn lãng mạn, tâm hồn nghệ sĩ. Chính những bản nhạc, những bài thơ viết vội ở chiến trường, đã thôi thúc tinh thần chiến đấu của họ.

Sau ngày chiến dịch Quảng Trị toàn thắng, trung đoàn của Phạm Hải Triều hành quân ra Bắc. Đơn vị về đóng quân tại Hà Tây, không tiếp tục tham gia Chiến dịch mùa Xuân 1975. Người lính trẻ Hải Triều khi ấy được phân công vẽ bản đồ, đánh dấu những vùng đất mới giải phóng, thu thập thông tin thắng trận. Thầy Phạm Hải Triều kể: “Mỗi lần đánh dấu những vùng đất được quân đội ta giải phóng, tôi thực sự xúc động. Lúc ấy trong lòng trào dâng một niềm vui, niềm tự hào không thể tả xiết. Dù sao, chúng tôi cũng là những người lính góp một phần xương máu của mình vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc”.

Trở về từ chiến trường, chàng sinh viên năm thứ hai ngày ấy tiếp tục hoàn thành chương trình đại học. Sau quá trình nỗ lực học tập không ngừng, Phạm Hải Triều tốt nghiệp Cử nhân Văn học năm 1977. Thầy được giữ lại làm cán bộ tổ chức và tuyên giáo ở nhà trường. Đến năm 1988, thầy trở thành giảng viên Khoa Văn hóa, Trường Nguyễn Ái Quốc 1, ngôi trường đã có nhiều lần đổi tên và hiện nay mang tên Học viện Chính trị khu vực 1.

Ngoài cương vị là một giảng viên, thầy Hải Triều còn tham gia làm việc cho các cơ quan nhà nước về các chuyên đề: Văn hóa Việt Nam, Văn hóa công sở, Văn hóa Hồ Chí Minh, Tuổi trẻ trong thời kỳ hội nhập… Đồng thời, thầy còn đảm nhận vị trí Quyền Trưởng khoa Văn hóa và phát triển Học viện Chính trị khu vực 1.

Chuyện người thầy trở về từ chiến trường Ngoài thời gian dành cho gia đình, thầy Phạm Hải Triều vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội như viết sách, ra mắt sách.

Suốt 23 năm đứng trên bục giảng (1988-2011), thầy Phạm Hải Triều, với vai trò là người chèo đò, lèo lái nhiều thế hệ sinh viên đến bến bờ trưởng thành và thầy luôn tâm niệm: “Thầy phải ra thầy, chuẩn về kiến thức, về tư cách đạo đức và phải có khả năng diễn đạt…”. Trong suốt quá trình công tác, thầy luôn cố gắng thực hiện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tích cực tham gia các hoạt động tập thể và đã đạt được nhiều thành tích đáng trân trọng.

Chính vì vậy, trong ấn tượng của lớp lớp thế hệ học sinh, nhà giáo Phạm Hải Triều được biết đến là người có vốn sống, khả năng truyền đạt tốt, mạch lạc, rõ ràng và là tấm gương về đạo đức, lối sống. Người thầy ấy luôn vững vàng quan điểm, không dao động, nắm vững đường lối của Đảng, có kiến thức chuyên sâu, phong phú trước những học viên là cán bộ, đã có học hàm, học vị… để kiến thiết nên những nhân tài tương lai cho đất nước, góp phần tô thắm vẻ đẹp phẩm chất của Bộ đội Cụ Hồ.

 

 

 

 

KẺ THÙ TRONG LÒNG TA MỚI LÀ KẺ THÙ NGUY HIỂM NHẤT

  

V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Đó có thể xem như là “lời di chúc” cho tất cả những người Cộng sản trên toàn thế giới phải luôn tự răn mình, để thường xuyên tự đổi mới, tự chính đốn; để kiên quyết loại trừ những con người nhạt phai lý tưởng, “tự diễn biến” và dẫn đến tự chuyển hóa.

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất, là gốc rễ của sự sụp đổ của “người anh cả của CNXH” lại xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại” là sự “tự diễn biến” và dẫn đến “tự chuyển hóa” và sụp đổ; cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

Đối với Việt Nam chúng ta, trong nhiều năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, thì kẻ thù đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, khó chiến thắng nó nhất lại chính là những kẻ thù ngay trong lòng ta, kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”. Những loại này nằm lẩn khuất trong đội ngũ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, hay thiếu kiên quyết. Nguy hiểm hơn là rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng và đặc biệt là “chủ nghĩa quay giáo, trở cờ”… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc và “giặc nội xâm cần phải xác định là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta, cần phải nhận diện đúng để có kế sách đối phó, bảo đảm chiến đấu và thắng lợi trước chúng.

Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với các biểu hiện khác nhau như: Thờ ơ, dao động về tư tưởng chính trị, bàng quan trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc, trước khó khăn của đất nước, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng, công khai đả kích, phủ nhận những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, cộng tác với thế lực thù địch, phản bội lại lợi ích dân tộc.

Để chủ động đấu tranh, xử lý triệt để, có hiệu quả loại giặc này, theo lão nông cần có sự đoàn kết, chung tay, góp sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân:

1. Kiên quyết cắt bỏ những khối ung nhọt trên cơ thể của ta, dù rất đau đơn nhưng đó là việc cấp bách nên làm và phải làm để về lâu về dài chúng ta có một cơ thể khỏe mạnh, đủ sức đề kháng trước mọi loại “vi trùng, vi khuẩn”. Đưa bọn “giặc nội xâm” vào nung trong lò “đốt suy thoái” của Đảng ta, không kể chúng là ai, giữ chức vụ gì.

2. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

3. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng: Cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch.

4. Cổ nhân có câu: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, có nghĩa là nghĩa là: nước nhà lúc hưng thịnh hay lúc suy vong, một người dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng cho vận mệnh đất nước; có nghĩa là “phải khoan thư sức dân”, gần gũi với nhân dân, khơi gợi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người dân để tạo thành sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là mấu chốt của mọi sự thành bại trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc ta và ngay trong thời đại Hồ Chí Minh thì tinh thần ấy được thể hiện càng rõ nét hơn; dưới chủ trương “đại đoàn kết” của Đảng và Bác Hồ thì Đảng gắn bó máu thịt với dân, vì dân quên mình, vì dân mà chiến đấu hy sinh; dân tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối vào Đảng, đó là cuội nguồn của mọi thắng lợi.

5. Kiên quyết diệt giặc nội xâm; đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ triệt tiêu được “mảnh đất mầu mỡ”, triệt được cái cớ để các thế lực thù địch, bọn phản động vin vào để chống phá ta./.

                                                       

 

NHỮNG CÁI “ĐƯỢC” KHI THAM GIA THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ CỦA THANH NIÊN

 

Theo Điều 45 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 có nêu rõ: Bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân và công dân phải thực hiện NVQS và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Và Điều 04 Luật nghĩa vụ quân sự 2015 có quy định: NVQS là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Thực hiện NVQS bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Những cái “được” khi tham gia NVQS:

- Tham gia môi trường quân ngũ không những rèn luyện ý chí, kỷ luật mà còn có một thể lực khỏe mạnh nhờ việc tập TDTT so với việc cầm điện thoại đến 1-2h sáng sau đó ngủ dậy trễ mà không giúp ích cho việc học tập mà còn hại sức khỏe.

- Từ môi trường kỷ luật, bạn sẽ sống trong nề nếp có nguyên tắc. Điều này làm giảm bớt một phần tính cách xuề xòa, không gọn gàng hiện tại của bản thân.

- Trong quá trình tham gia quân ngũ, tư duy và cách suy nghĩ của bạn sẽ thay đổi theo hướng tích cực và trưởng thành hơn, từ đó bạn sẽ chọn cho mình một lối đi riêng, một kế hoạch sau khi xuất ngũ.

- Đối với những người chưa có công việc ổn định thì sau khi xuất ngũ sẽ được tạo điều kiện học nghề, tìm kiếm việc làm… Điều này cũng làm giảm bớt tình trạng thất nghiệp trong xã hội.

- Tham gia NVQS thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hành chính cũng như hình sự (tùy theo mức độ) khi có hành vi trốn tránh thực hiện NVQS.

Thực hiện NVQS vừa là quyền và là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân để bảo Vệ tổ quốc, cũng là bảo vệ cho bản thân, gia đình của mình, mỗi thanh niên cần có tâm lý thoải mái xem việc nhập ngũ như một nghĩa vụ thiêng liêng, một sự trải nghiệm mới mẻ trong cuộc đời mỗi người.

                                                  

TIẾP TỤC KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ TO LỚN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA DÂN TỘC

  

Từ việc nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta càng cần phải tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc để tiếp thêm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng cũng như vận mệnh và tương lai của đất nước.

Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Từ khi thành lập đến nay, suốt hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thủ thách để đạt được những thành quả cách mạng to lớn. Đó là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược và đặc biệt nhất là những thành công to lớn của 35 đổi mới đất nước. Thực tế phát triển đất nước qua hơn 36 năm đổi mới đã cho thấy, Việt Nam từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; mọi mặt đời sống của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đây là một sự thật lịch sử đã được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ghi nhận và nhân dân Việt Nam tôn vinh chứ không phải giống như những luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch: “Đảng tự vinh danh, tự đeo vòng nguyệt quế vào cổ cho mình quyền cầm đầu nhân dân”. Những thành tựu rất quan trọng của đất nước trong thời gian qua là cơ sở khách quan để khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đó cũng ngày càng khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc đúng như đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định trong Diễn văn Kỷ niệm 93 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2023): Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thứ hai, có thái độ khách quan, công tâm khi nhìn nhận những khuyết điểm, thiếu sót của Đảng trong quá trình lãnh đạo đất nước.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót do giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Tuy nhiên, như một thông lệ không thể thiếu, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, nhất là kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, khi đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội qua một nhiệm kỳ, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, “tôn trọng hiện thực khách quan”, Đảng ta luôn thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta coi những sai lầm, khuyết điểm là yêu cầu, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới, nhân dân phải tiếp tục đồng lòng để vượt qua những khó khăn, thử thách. Điều này được khẳng định rõ trong Báo cáo tổng kết chặng đường 36 năm đổi mới của Đảng: “Những hạn chế, khuyết điểm đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nỗ lực phấn đấu không ngừng để khắc phục, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa”.

Nhìn nhận lại những chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua thông qua những Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI (năm 2012), Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (năm 2016), có thể nhận thấy tinh thần nghiêm túc trong tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn, giữ vững bản chất cách mạng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc. Đây không phải là sự “chắp vá”, “giật gấu vá vai” như những luận điệu mà các thế lực thù địch vẫn rêu rao mà nó thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng trong việc “tự sửa mình” và đào tạo, huấn luyện cán bộ, đảng viên. Do đó, cần có thái độ khách quan, công tâm khi xem xét những sai lầm, khuyết điểm của Đảng. Cần tránh cả hai xu hướng xem nhẹ, bỏ qua những khiếm khuyết hoặc tuyệt đối hóa, thổi phồng những khuyết điểm bởi cả hai xu hướng này hoặc là dẫn đến thái độ chủ quan, lơ là; hoặc dẫn đến thái độ cực đoan, bất mãn. Sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong thời gian qua là một bài học đắt giá cho công tác xây dựng Đảng nhưng không vì thế mà đánh đồng với đóng góp của biết bao thế hệ đảng viên với sự nghiệp cách mạng của đất nước. Cũng không vì thế mà đưa ra những lời rêu rao theo kiểu chụp mũ, vô căn cứ là “không ai muốn sống ở Việt Nam”, “những kẻ lắm tiền, nhiều của là thành phần cán bộ có chức có quyền đã tìm mọi cách đem gia đình chạy khỏi Việt Nam sau khi đã vơ vét đầy túi”.

Thứ ba, tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lòng dân của ĐCSVN.

Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là sự kế thừa các bản Hiến pháp trước đó như Hiến pháp năm 1980, năm 1992 đồng thời thể hiện ý chí, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn hợp hiến và hợp pháp. Hơn nữa, chính nhân dân Việt Nam đã tin tưởng lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất sự nghiệp cách mạng trong suốt thời gian qua.

Hơn nữa, mối quan hệ của Đảng với Nhân dân là mối quan hệ máu thịt bởi Đảng vì Nhân dân là phấn đấu, tôi luyện, trưởng thành, lấy hạnh phúc cho Nhân dân là mục tiêu phấn đấu; ngược lại, Nhân dân cũng luôn vững tin theo Đảng, cùng chung tay giúp sức xây dựng và chỉnh đốn Đảng, sát cánh bên Đảng để vượt qua những khó khăn. Mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và Nhân dân chính là nguồn gốc sức mạnh và nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Do đó, “luận điệu phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội của các thế lực thù địch là hoàn toàn trái với nguyện vọng, sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân Việt Nam. Mọi công dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác, không mắc mưu kẻ địch phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội của chúng ta”.

Như vậy, nhận diện các quan điểm sai trái về Đảng Cộng sản Việt Nam để chúng ta - những người cộng sản luôn cảnh giác trước những luận điệu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Quan trọng hơn nữa, chúng ta cũng có dịp nhìn lại hành trình hơn 90 năm ra đời và phát triển của Đảng, cảm thấy tự hào về những thành tựu to lớn, nổi bật của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời không được chủ quan, lơ là trước những sai lầm, khuyết điểm để có ý thức xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam để mỗi đảng viên thêm vững tin vào Đảng, luôn trọn một niềm tin theo Đảng, cùng sát cánh bên Đảng để vượt qua những khó khăn, thử thách nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên những chặng đường tiếp theo./.

                                                 

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG VIỆC LAN TỎA THÔNG TIN TÍCH CỰC

 

Hầu hết chúng ta nghe và nói rất nhiều về việc lan tỏa thông tin tích cực, nhưng thế nào là thông tin tích cực hay trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong vấn đề này như thế nào thì không phải ai cũng hiểu rõ. Trên thực tế, trước khi đặt ra vấn đề trách nhiệm của mình thì các cán bộ, đảng viên trong vai trò của một công dân cũng luôn quan tâm đến việc lan tỏa thông tin để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

Thế nào là thông tin tích cực

Hiểu một cách phổ biến, thông tin tích cực là thông tin đúng đắn, chính xác về một sự việc, một nhân vật, một mô hình, một giải pháp hay, có ý nghĩa, có giá trị. Thông tin đó có thể gieo cho người đọc những nhận thức, tình cảm tốt đẹp; có thể thúc đẩy người tiếp nhận có suy nghĩ tích cực, từ đó có hành vi tích cực; cung cấp cho người đọc những kiến thức, nhận thức đúng đắn, phù hợp, có ý nghĩa thiết thực… Thí dụ, hồi tháng 6/2021, báo chí đăng về việc anh Lại Văn Cường (32 tuổi) và vợ là chị Bùi Thị Hương (29 tuổi), tạm trú tại khu phố 1, phường Long Bình Tân, TP Biên Hòa (Đồng Nai), khi nhặt được điện thoại Iphone 11 đã chủ động đăng facebook, dán tờ rơi… tìm chủ nhân để trả lại. Anh Cường là người khuyết tật, đang mưu sinh bằng nghề bán vé số…. Câu chuyện này hẳn sẽ thúc đẩy suy nghĩ tốt đẹp, lương thiện trong hầu hết người tiếp nhận.

Có khi, đó là thông tin xác định rõ một vấn đề đang có nhiều ý kiến khác nhau hoặc bác bỏ một thông tin sai trái đang được lưu truyền; hoặc là thông tin giải đáp được thắc mắc, nghi vấn của nhiều người về một vấn đề nào đó.

Do đó, nhìn rộng ra, thông tin tích cực chính là các thông tin giúp củng cố lòng tin đối với tổ chức, cá nhân, dư luận xã hội…

Chọn thông tin tích cực để lan tỏa

Mỗi cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm trong việc chia sẻ thông tin tích cực, cả ở khía cạnh phải chọn thông tin phù hợp và thường xuyên thực hiện việc lan tỏa các thông tin đó. Mỗi người trước khi chia sẻ phải tư duy phản biện, thẩm định, đánh giá, phân tích, đối chiếu, so sánh… khi tiếp nhận thông tin. Không phải thông tin nào được lan truyền rộng rãi, được nhiều người đọc và chia sẻ cũng là thông tin chính xác, đúng đắn. Do đó, cần thiết phải tìm cách khẳng định tính xác thực của thông tin chứ không dễ dàng tin theo và làm lan tỏa thông tin đó khi chưa biết rõ mức độ tin cậy của thông tin. Tuyệt đối không nên xác tín theo cách “thông tin do mạng A nói”, “do ông X trên mạng B nói”… mà phải căn cứ trên những nguồn thông tin chính thức, chính thống. Như trong đợt dịch năm 2021, rất nhiều người dùng mạng xã hội chia sẻ các chỉ dẫn được cho là của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhưng trên thực tế lại không phải như vậy.

Đồng thời, phải chú ý chọn thông tin nào mà mình tin là đúng, cảm nhận được cái hay, cái đẹp, bản thân được truyền cảm hứng. Mỗi người phải luôn ý thức rằng thông tin của mình sẽ có người đọc và ít nhiều chịu tác động, nên chọn thông tin tốt nhất, hay nhất, có ích nhất, ý nghĩa nhất.

Không chỉ vậy, là cán bộ, đảng viên còn phải luôn nghĩ đến liệu thông tin có gây hiểu lầm hoặc thúc đẩy ai đó nhận thức sai lệch không; nếu cảm thấy có thì không chia sẻ.

Gợi ý cách lan tỏa thông tin tích cực

Mỗi cán bộ, đảng viên có thể sử dụng tài khoản mạng xã hội hoặc trang mạng internet cá nhân của mình để chia sẻ, đăng tải, cung cấp, định hướng thông tin có ích cho người khác, cho xã hội và đất nước. Điều này hiện có thể được thực hiện dễ dàng bởi hầu hết chúng ta đều có ít nhất một tài khoản mạng xã hội; một số người còn có nhiều tài khoản đồng thời ở facebook, instagram, zalo, twitter…

Chúng ta cũng có thể đăng trên các trang diễn đàn (trên mạng internet hoặc các nền tảng mạng xã hội), trang cộng đồng (fanpage), nhóm (group)… những thông tin mà mình có căn cứ xác thực cho là đúng đắn, chính xác để có độ lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn. Chẳng hạn, khi có căn cứ bác bỏ một thông tin chưa đúng, chúng ta có thể đưa thông tin đó vào các trang, nhóm có đông người theo dõi để tạo sự lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn.

Trong điều kiện của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tuyên truyền, động viên để nhiều người khác hiểu rõ và thực hiện các quy chuẩn, quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên khi sử dụng mạng internet và mạng xã hội. Với các cơ quan có quy chuẩn thì nên khuyến khích mọi người thực hiện theo quy chuẩn đó; hoặc gợi ý mọi người những cách thức sử dụng đúng pháp luật, văn minh, tiến bộ, hợp lý bằng các hình thức dễ hiểu, dễ thực hiện.

Trên trang mạng xã hội của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tích cực kêu gọi, động viên mọi người chấp hành tốt các quy định của pháp luật, các chủ trương, chính sách, các cuộc vận động, nhất là các nội dung có tính thời sự, đang cần sự tham gia của đông đảo người dân, các vấn đề đang có ý kiến khác nhau… Đồng thời, tích cực giới thiệu, quảng bá các hình ảnh, thông tin tốt, có ích về địa phương, cơ quan, đơn vị, về TPHCM và đất nước…; làm lan tỏa những gương người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến, các câu chuyện có giá trị nhân văn… Việc góp phần lan tỏa những thông tin tốt, hình ảnh đẹp, câu chuyện hay đó không chỉ giúp người khác thưởng lãm mà còn có thể tác động đến suy nghĩ, tình cảm, hành động của họ, từ đó có thêm những hành động tích cực khác.

Sau cùng, chúng ta nên luôn gương mẫu, chuẩn mực khi phát ngôn, đăng tải hình ảnh, chia sẻ thông tin… trên mạng internet và mạng xã hội. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên nên luôn ý thức rằng mỗi thông tin, mỗi status mình đưa lên “có ích gì cho ai không”, chứ không phải nghĩ đến câu hỏi “có hại gì cho ai không”. Bởi trách nhiệm của chúng ta là đồng thời phải làm lan tỏa thông tin tích cực và tìm cách hạn chế, đẩy lùi các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc.